1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay

230 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 26,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy định vể những loại hợp đồng phải có chứng nhận của công chứng hoặc Ưỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, Nhà nước ta mới có 2 văn bản ờ cấp Nghị định của Chính phủ, đó là Nghị định số 4

Trang 2

HỘ GIÁO DỤC VẢ ĐẢO TẠO TRUNG TÂM KHOA HỌC XẢ HỘI VÀ NIIÂN VÃN

QUỐC C.IAVIỆN NGI UẼN CỨU NHÀ NƯỚC VẢ PHÁP LUẬT

DẶNG VẦN KHANH

n h ũ n g v â n đ è l ý l u ậ n v à t h ự c t i ễ n t r o n g v i ệ c x á c ĐỊNH PHẠM VI, NỘI DUNG HÀNH VI CÔNG CHÚNG VÀ GIÁ TRỊ PIIẢP LÝ CỦA VĂN 1ĨẢN CÔNG CHÚNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

N G U Ờ II IUỚNG DẪN KÍIOA HỌC: PGS - TS Khoa liọc Đào Trí ú c

Viện trưởng viện Iiựhỉên cứu Nhà nước và Pháp luậl

Trang 3

LỜ I C A M Đ O A N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

ĐẢNG VĂN KHANH

Trang 4

M ỤC LỤC Trans

Chương I: Những vấn đề lý luận về xác định phạm vi, nội dung hành vi LOcông chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Clurưng 2: Thực trạng pháp luật về phạm vi, nội dung hành vi công chứng 74

và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta

2.1 Các quy định pháp luật về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và 74giá trị pháp lý của văn bản công chứng trước Nghị định 3 1/CP( 18/5/1996)

2.2 Các quy định pháp luật về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và 85giá trị pháp lý của văn bản công chứng theo Nghị định 31/CP ngày 18/5/96

Clurưng 3: Hoàn thiện pháp luật công chứng về xác đinh phạm vi, nội 137

dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở

nước ta hiện nay

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật công chứng về phạm vi, nội dung 137hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ỏ' ntrớc ta

Trang 5

LỜI NÓI Đ Ẩ U

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nền kinh tế của đất nước ta trong suốt một thời gian dài do điều kiện chiến tranh là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu mang tính chất tự cấp, tự túc; Nhà nước quán lý và điều hành nền kinh tế của đất nirớc theo hình thức mệnh lệnh, hành chính, bao cấp; Trong xã hội, các giao dịch dân sự hầu như không phát triển, các giao dịch dân sự giữa các công dân với nhau chủ yếu dựa trên sự tin cậy, các thoá thuận được thực hiện phân lớn bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quan hành chính Nhà nước (Ưỷ ban các cấp) thị thực Trong điểu kiện nền kinh tế-xã hội như vậy, việc tổ chức một hệ thống cơ quan chuyên trách để thực hiện chức năng chứng nhận các giấy tờ, hợp đổng cho công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chưa đươc đặt ra một cách gay gắt

Từ đầu những nàm 90 tới nay, cùng với sự đổi mớ toàn diện của đất nước, các thành phần kinh tế ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu cũng ngày càng được mở rộng, ngoài hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, Nhà nước còn thừa nhận các hình thức sỏ hữu khác như: sở hữu của các tổ hợp tác, sở hữu

tư nhân vể tư liệu tiêu dìing cũng như tư liệu sản xuất Đổng thòi Nhà nước ta cũng đã khẳng định sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bảo hộ cho các ihành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bán tư nhân phát triển, khuyến khích các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Chính vì vậy mà những năm qua, nền kinh tế của đất nirớc

ta đã không ngừng phát triển, đ ÌH tir của nước ngoài vào các lĩnh vực kinh tế Irong nước ngày càng tăng lên; Giao lưu giữa nước ta với các mrớc trong khu vực cũng như các nước trên thế giới trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội ngày càng được mở lộng; Các giao dịch dân sự ở trong nước ngày càng phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp Tất cà các điều đó đã trở thành điều kiện kluích quan đòi hỏi Nhà nước cÀn phải có những biện pháp hữu hiệu đổ qn MI lý

1

Trang 6

các giao dịch dán sự, kinh tế cũng như báo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cua các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân Những yếu lố

đó đã llnlc đẩy việc ra đời, hình thành và phát triển hệ thống công chứng ở nước

la trong những năm qua

Chỉ sau một Lhời gian ngắn kể từ ngày ban hành Nghị định sô 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đổng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước, tới nay trong cả nước ta đã hình thành một hệ thống các Phòng công chứng Nhà nước ở tất cả các lỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm 94 Phòng công chứng, trong đó có 61 phòng số 1, 23 phòng số

2, 9 phòng số 3 và 1 phòng số 4, với tổng số 220 công chứng viên, tính ít nliấl cũng đã thành lập 1 phòng, tỉnh nhiều cũng đã thành lộp được 4 phòng công chứng (theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp, đến tháng 6 năm 1999) Khối lượng các việc công chứng do các công chứng viên thực hiện cũng không ngừng

táng lên, đặc biệt là ồ các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải

Phòng, Hà Tây Thực tiễn hoạt động công chứng ở nước ta trong những năm qua clio thấy, hoạt động công chứng đã góp phần tích cực trong việc phục vụ cho các hoai động kinh tế, xã hôi của đất nirớc; Các văn bản công chứng đã trở thành

CƯ sở pháp lý lũru hiệu nhằm đám báo an toàn vể mặt pháp lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân khi Ỉ1Ọ tham gia các quan hệ dán sự, kinh tế, tlnrơng mại phòng ngừa các tranh chấp và vi phạm pháp luật, từng bước tạo ra sự ổn định cho các quan hệ dân sự, kinh tế, dám bảo trật tự, kỷ cương pháp luật Đồng thời các văn bản công chứng còn là những chứng cứ đáng tin cậy giúp cho các cơ quan tư pháp giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế

Tuy nhiên, trên thực tế cũng cho thấy về mặt lý luận lới nay ở nước ta háu như chưa có những công trình khoa học nào đi vào nghiên cứu một cách đẩy đủ

và chuyên sâu về vân đề công chứng Nhiều vấn đề cơ bản như: Khái niêm công chứng, tổ chức hoạt động công chứng chưa được nghiên cứu một cách đẩy đủ

vể mặt lý luận; Trong đó có những vấn đề như phạm vi công chứng, nội dung

Trang 7

hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng là những vấn đề rất quan trọng của chế định công chứng, có liên quan trực tiếp, thường xuyên đến hoạt động công chứng cũng chưa được nghiên cứu cụ thể, có hệ thống; Do

đó thiếu cơ sở khoa học để xác định một cách rõ ràng, chính xác những loại việc nào thuộc phạm vi công chứng; Trình tự, thủ tục thực hiện các hành vi công chứng; cũng như giá trị pháp lý của văn bản công chứng

v ể pháp luật thực định, ngoài một số văn bản pháp luật như Luật Dân sự, Luật hàng hải quy định vể những loại hợp đồng phải có chứng nhận của công chứng hoặc Ưỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, Nhà nước ta mới có 2 văn bản

ờ cấp Nghị định của Chính phủ, đó là Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991

của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước và Thông tư của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc công chứng

Chính vì vậy, trên thực tế đã và đang xảy ra tình tiạng hoặc là đề cao quá mức hoặc quá xem thường giá trị pháp lý của văn bản công chứng, thạm chí còn

có những nhạn thức khùng đầy đủ về công chứng, coi công chứng chỉ là việc chứng nhận bán sao các giấy tờ, tài liêu [43,82]; Nhiều giao dịch dan sự, kinh tế cẩn phải có sự chứng nhận của công chứng viên lại không được quy đinh trong các văn bản pháp luật, ngược lại có những loại việc không thuộc phạm vi công chứng (như việc công chứng bản sao các giấy tờ, tài liệu) ỉại được quy định như một sự bắt buộc phải công chứng Trong hocạt động thực tiễn, các phòng công chứng đều bị lúng túng, không thống nhất trong việc tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu công chứng của nhân dân; thậm chí cùng một loại việc công chứng, mỗi phòng công chứng giải quyết một cách khác nhau v ề phía người dân thì phải

đi lại, xếp hàng chờ đợi để xin công chứng, nhất là trong việc công chứng bản sao các giấy tờ, tài liệu, dẫn đến hậu quả là vừa ách tắc trong hoạt động của các phòng công chứng, vừa gây phiền hà cho các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân khi họ đến yêu cầu công chứng Vân để công chứng đã và đang trở thành một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta quan râm; Vì vộy Nghị

3

Trang 8

qu yết s ố 38/CP ngày 04/5/1994 ciìa Chính phủ đã xác định cải cách công tác tư pháp tiong đó có vấn đề cải cách thủ tục công chứng là một trong nlũrng công

lác Irọng lAm của công tác cải cách hành chính ở nước ta hiện nay [36]

Thực tiễn đã và đang đặt ra yêu cẩu cần phải giải quyết về mặt lý luận một cách cơ bán, có cơ sở khoa học nhiều vấn đề như: Khái niệm công chứng; Hình thức tổ chức công chứng; quyền hạn, trách nhiệm của công chứng viên; Phạm vi công chứng; Nội dung hành vi công chứng; Giá trị pháp lý của các văn ban công chứng

Phạm vi công chứng, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý cỉin văn bản công chứng là ba yếu tố cơ bản của chế định công chứng, chúng liên CỊiian mật thiết với nhau Việc xác định phạm vi công chứng tức là xác định những loại việc nào thì thuộc thẩm quyền chứng nhận của các công chứng viên, người có thẩm quyền công chứng, loại việc nào thì không thuộc thẩm quyền chứng nhận của họ, sẽ làm cơ sở cho việc xác định trình tự, thủ tục thực hiện các loại việc công chứng; Và một khi đã xác định đirợc trình tự, thủ tục thực hiện các hành vi công chứng sẽ là cơ sở cho việc xác định giá trị pháp lý

Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về phạm vi công chứng, nội đung hành vi công chứng và giá trị pháp lý cua các văn bản công chứng ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay không ch' có ý nghĩa quan trọng trong việc giậ quyết về mặt lý luân, xây dựng các luận cứ khoa học, trên cơ sơ đó xác định một cách chính xác, những loại văn bản, hợp đổng nào bắt buộc phải công chứng, những loại văn bản, hợp đổng nào không nhất thiết bắt buộc phải công chứng; Trình tự, thủ tục thực hiện các hành vi công chứng, ciĩng như xác định giá trị pháp lý của các loại văn bản công chứng, làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật về công chứng, ciĩng như trong giảng dạy về chuyên đề công chứng ở các trường đại học luật, giảng dậy chuyên ngành công chứng (rong khAu đào lạo các công chứng viên; Mà CÒI1 có ý nghĩa "to lớn trong hoạt động công chứng nói chung và cỉia công chứng viên nói riêng trong loàn quốc,

Trang 9

góp phần vào công cuộc cái cách nền hành chính quốc gia nói chung, cải cấch tư

pháp nói riêng; làm cơ sở cho việc “Cdi tiến nội dung, thủ tục công chứng đ ể

phục vụ thuận tiện cho nhân dân” như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp

hành Trung ương Đàng (Khoá VIII) [35,58] đã chỉ ra

Tất cả các vấn đề đã nêu tiên chính là lý do vì sao chúng tôi chọn “Những vấn để lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công

chứng và giá trị pháp lý của các văn bản công chứng ồ nước ta hiện nay” làm đề

tài luận án của mình

2 Tình hình nghiên cứu :

Đối với nhiều nước trên thế giới, vãn đề công chứng đã được quy định khá

rõ ròng và cụ thể trong các văn bẳn pháp luật thực định; Hộ thống tổ chức công chứng được hình thành và đi vào hoạt động ổn định; Người dân đã quen thuộc với vai trò cỉia công chứng trong các giao dịch dân sự, kinh tế mà họ tham gia

Ở nirớc ta, trong suốt một thời gian dài (ở miền Bác từ năm 1946, ở miền Nam tìr năm 1975 đến năm 1991) chúng ta không thành lập cơ quan công chứng, thậm chí không có quan niệm vế lĩnh vực này; Vì vậy, mặc dù hộ thống các phòng công chứng Nhà nước đã được thành lộp ở tâ't cá các tỉnh, thành phố trong cả nước và đã đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 1991 (khi Hội đổng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT) thì trên thực tế lĩnh vực công chứng vẫn là một lĩnh vực quá mới mẻ đối với nhân dân ta, kể cả cán bộ, viên chức Nhà nước

v ể lý luận, đã có một số bài viết và đề tài mang tính chất nghiên cứu về lĩnh vực này như:

- Đề tài khoa học mang mã số 92-98-244 về “Cơ sở lý luận và thực tiễn xăy

dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam” do Bộ Tư

pháp tổ chức nghiên cứu và nghiêm thu vào tháng 5-1993

- “Công chứng Nhà nước thành phố Hà nội, những vãn đề cần quan tâm” của tác giả Tvần Anh Tuấn đăng trên tạp chí quản lý Nhà nước số 11 tháng 6 năm 1995

5

Trang 10

- “Tinh hình công chứng hiện nay và những vấn đề đặt ra” cỉia tác giả Tiần Kiên đăng trên Tạp chí Pháp ỈLiột số chuyên đề tháng 7 năm 1995.

- “Công chứng Nhà nước - công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cua công dãn và các tổ chức” của tác giả Dương Đình Thành đăng trên Tạp chí Pháp luật số chuyên đề tháng 7 năm 1995

- “Nghị định số 45/HĐBT về công chứng Nhà nước và những vấn đề mới đặt ra hiện nay” của Phó tiến sĩ Trần Thất đăng trên số chuyên đề công chứng của Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)

- “Một số nhận xét về pháp luật hiện hành về công chứng Nhà nước và hướng hoàn thiện” của Phó tiến sĩ Trần Thất và Đặng Văn Khanh (Tạp chí dân chủ và pháp luật số 4/1998)

- “Tập bài giảng công chứng, luật sư, giám định Tư pháp, Hộ tịch” của Trường đại học luật Hà nội năml997

- “ Công chứng Nhà nước” (quy định mới nhất) của Luật gia Dương Đình Thành - NXB Chính trị quốc gia-1998

Các tài liệu nói trên chủ yếu cung cấp những kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động công chứng ở các nước trên thế giới, nêu ra một số vấn đề cần phải giái thích cho rõ hơn, cần phải sửa đổi trong các văn bản pháp kiật thực định cho phù hợp với thực tế hiện nay hoặc lý giải, viện dẫn pháp luật thực định (Nghị định số 45/HĐBT và Nghị đinh số 31/CP) Riêng đề tài khoa học mang mã số 92-98.224 của Bộ Tư pháp là một đề tài ngiên cứu tương đối toàn diện về lĩnh vực công chứng; Trong đó tập thể tác giả của đề tài này đã nêu lên nhiều ý kiến xung quanh các vấn để : Khái niệm công chứng; Tổ chức và hoạt động của công chứng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay; Giá trị pháp lý của các văn bản công cliírng .Tuy vậy đề tài khoa học này cũng mới đưa ra được những luận điểm chung và khái quát vế những vấn đề đã nêu trên

Những năm gần đây, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (thuộc Trường đại học Quốc gia Hà Nội) cũng

đã biên soạn giáo trình và đưa vào giảng dộy về công chúng, trong chương trình giảng dạy chung về công chín g, luật sư, giám định tư pháp, hộ tịch song số tiết

Trang 11

dành cho công chứng còn quá ít, nội dung chủ yếu dựa trên việc phân tích Nghị định só 3 1/CP và Thông tư 1411/TC-CC của Rộ Tir pháp.

Ngoài ra cũng đã có hai luận án Cao học nghiên cứu về lĩnh vực công chứng, đó là đề tài “Công chứng Nhà nước những vấn đề lý luận và thực tiễn ở

11 ƯỚC ta” , tác giả Trần Ngọc Nga; Đề tài “ Mộ số vấn đề công chứng các giao dịch về tài sản ở Việt Nam- thực trạng và giải pháp”, tác giả Đỗ Xuân Hoà Chính vì vậy, có thể nói rằng đến nay ở nước ta vãn chua có một công trình nghiên cứu khoa học nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của các văn bản công chứng

3 Phạm vi và nhiệm vụ của luận án

Như trên đã trình bày, công chứng là một lĩnh vực lộng và phức tạp, lại lất mới mẻ đối với nước ta, cẩn phải có nhiều công trình nghiên cứu mới có thể giải quyết được một cách toàn diện nội dung của nó Vì vậy, khi thực hiện đề tài này, tác giả của Luận án không có tham vọng làm sáng tỏ mọi vấn đề thuộc lĩnh vực công chứng, mà chỉ nhằm giải quyết một cách tổng thể, toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luân vể việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng; Phân tích đánh giá thực [rạng điều chỉnh pháp luật của nước ta trong lĩnh vực này, từ đó đưa ra các kiến nghị , giai pháp

về những vấn đề hoàn thiện pháp luật công chứng nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi còng chứng và giá trị pháp lý của văn bán công chứng ớ nước ta hiện nay

Để đạt được những mục đích nêu trên, nhiệm vụ đặt ra cho việc nghiên cứu của đề tài này là:

- Làm sáng tỏ về mặt lý luận những vấn đề về phạm vi, nội dung hành vicông chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

- Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành của nước ta về phạm vi, nội dunghành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật công đhímg ở nước ta hiện nay trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị phấp lý của văn bản công chứng

Trang 12

- x a y dựng phương hướng, nội dung và các biện pháp hoàn thiện pháp luột

về công chứng nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở phương pháp luận xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận án là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét chế định công chứng nói chung, trọng tâm là các quy định về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng nói liêng trong qua trình VỘ11

động và phát triển của nó, đồng thòi xem xét, phân tích các quy định này trong những điều kiện của từng giai đoạn cụ thể

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được luận án sử dụng là phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp Dựa trên quan điểm đổi mới một cách toàn diện của Đảng và Nhà nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành ở nước ta về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, đổng thời luận án cũng chú trọng sử (lụng những phương pháp liêng của lý luận vể Nhà niróc và pháp luật như: Phương pháp cấu trúc hệ thống, phương pháp luật học so sánh trong việc phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng của một số nước trên thê

giới; Trên cơ sở đó so sánh với các qui định về lĩnh vực này trong pháp liỉật thực

định của nước ta Luân án cũng lất chú trọng phân tích, đánh giá tình hình thực

tế hoạt động của các phòng công chứng ở nước ta trong những năm qua (đặc biệt

là ở các tỉnh, thành phố lớn như : Hà Nội, thành phố Hổ Chí Minh, Hải Phòng,

Hà Tây, Cần Thơ) từ đó lút ra những vấn đề có liên quan tới việc xác định phạm

vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản cống chứng, và từ

đó nêu lèn những kiến nghị và giải pháp trong việc hoàn thiện pháp luật về công chứng nói chung, hoàn thiện các quy định về phạm vi, nội díing hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng nói riêng

Trang 13

5 Cái mới và ý nghĩa thực tiễn củ 1 luận án

Nhu' trên đã irình bày, ở mrớc ta cho đến nay vẫn chua có một công tiình

Ii o h iê n cứu nào chuyên sãu vể lĩnh vực công chứng nói chung và trong việc xác dinh phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng nói riêng, vì vậy những vấn đề đặt ra nghiên cứu và giải quyết trong luận

án này sẽ là những điểm mới vể mặt lý luận ỏ' nước ta hiện nay, cụ thể là :

-Góp phần làm sáng tỏ về khái niệm công chứng cũng như bản chã't của nó

- Xây dựng khái niệm phạm vi công chứng, xác định phạm vi hành vi công chứng (theo chức năng cũng như theo địa hạt)

- Xây dựng khái niệm hành vi công chứng, xác định trình tự, thủ tục thực hiện các hành vi công chứng

- Xây dựng khái niệm văn bản công chứng và xác định giá trị pháp lý của văn bản công chứng

Mặt khác, trên cơ sở của những luận cír khoa học đã được trình bày, luận án cũng đã đề xuất một số vấn đề hoàn thiện pháp luật vể phạm vi công chứng, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, cũng như

tổ chức hệ thống cơ quan công chứng, xây dựng quy chế còng chứng viên, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chứng viên ở nước ta hiện nay

6 lỉõ cục của luận án

Từ cách đặt vấn đề, xác định mục đích và nhiệm vụ cỉia đề tài như đă trình bày, Luận án gồm 176 trang, và được bố cục như sau: Ngoà' lừ nói đầu và phần kết luận, nội dung luận án được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luân về xác định phạm vi, nội dung hànlì vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản cồng chứng

Chương 2: Thực trạng pháp luật về phạm vi, nội dung hành vi cồng chứng

và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật công chứng về xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay

Trang 14

CH Ư Ơ NG 1

NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH PHẠM VI,

NỘ I DUNG HÀNH VI C Ô N G CH Ú N G VÀ GĨÁ T R Ị PHÁP LỶ

CỦA VĂN BẢN CÔNG CHÚNG

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG CHÚNG

1.1.1 Sơ luọc quá trình hình thành và phát triển công chứng của các nước trên thế giới:

1.1.1.1 Ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hoạt động công chứng (dưới hình thức này hocặc hình (hức khác) Công chứng đã trở thành một loại công việc, thậm chí là một ngành, một nghề hoạt động xã hội nói chung và trong quản lý Nhà nước nói liêng Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển trên qui mô không chỉ ở từng quốc gia mà toàn thế giới; Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ dân sự và kinh tế ngày càng chặt chẽ, tỷ mí thì hoạt động công chứng càng không thể thiếu được

Xét về mặt lịch sử, công chứng với tư cách là một thể chế, đã xuất hiện rất sớm (khoảng thế kỷ 10 - 11) ở một số nước châu Âu lục địa như Pháp, Đức.v.v Sau đó phát triển, du nhập sang nhiều nước khác, như Anh, Mỹ, các nước Châu

Á, Châu Phi bằng nhiều con đường khác nhau và có sự thích ứng với điều kiện, đặc điểm của từng quốc gia Công chứng là một loại hình hoạt động gán liền với Luật dân sự, bổ trợ cho các chế định của Luật dãn sự như: Quyền sở hữu (đặc biệt là sở hữu bất động sản), hợp đồng, thừa kế

Quá trình phát triển công chứng gắn liền với lịch sử phát triển của chứng

cứ Suốt từ thời cổ đại đến trung cổ, công chứng viên và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõ ở thời cổ đại, người ta thấy những viên thư lại thảo những khế ước (những người này là ông tổ của ngành công chííng), mà nhiệm vụ quan trọng trước hết là đem lại cho các khế ước có một lliể thức chặt chẽ, khó có

Trang 15

thế bị thay đổi vể sau, khác hẳn với những khế ước khỏng thành văn (giao kết miệng) mà trong đó lòng tin giữa các bên vào nó rất bị hạn chế.

Công chứng với tư cách nhân danh Nhà nước để thực hiện một quyền năng

là chứng thực các khế ước được xuất hiện trong thời kỳ trung cổ Công chứng xuất hiện cùng với những yêu cáu về an toàn pháp lý của những hoạt động tài

p h á n đ a n g p h á t t r i ể n lúc b ấ y g i ờ , n ó g i ú p t h ẩ m Ị)hán p h á n q u y ế t đ ố i với c á c b ê n

IIanh chấp

Với tư cách là một nghề đem lại cho các khế irớc một hiệu lực thi hành như phán quyết của toà án, công chứng đã xuất hiện ở Đế chế La Mã Những chứng thư do những viên thư lại (Tabellions) lập được đóng dấu, mang giá trị bằng chứng vá phải được những viên lục sự của toà án ghi vào sổ Viên thư lại (hay Công chứng viên) thời đó không chỉ là người thảo ra các điều khoản phù hợp với

ý chí của các bên, mà còn làm luôn các chức năng hoàn chỉnh khế ước và lấy chữ ký của quan toà giống như những viên lục sự ngày nay Để hiểu thèm nguồn gốc, lịch sử của thể chế công chứng, chúng ta có thể xem xét một ví dụ điển hình, đó là quá trình hình thành và phát triển của thể chế công chứng ở nước Pháp

ớ nước Pháp vào thời Hoàng đế Charlemagne đã đưa khái niệm còng chứng gắn liển với chức năng tài phán và lộp ra các chức danh cho những người lập khế ước, đó là chức danh "chưởng khế", yêu cầu bổ nhiệm chưởng khô bên cạnh các quan toà, và đề nghị các phái đạo cũng làm như vậy

ớ miển Nam nước Pháp, những vị linh mục và các lãnh chúa có quyền xét

xử ở lãnh địa của mình đã tạo ra những người chuyên thảo văn tự (Tabellions) theo luật chứng cứ, theo phạm vi địa hạt để giảm bớt gánh nặng cho việc giám sát xét xử và bảo đảm giá trị pháp lý của hợp đổng Chính từ đây, những người làm nghề công chứng đã xuất hiện, để đem lại cho các văn ban và hợp đổng một giá trị đích thực

Năm 1270, Vua Sainl Louis đã bổ nhiệm 60 công chứng*viên ở Chatelet - Pari, sau đó Vua Philippe Le Bel cũng đã bổ nhiệm công chứng viên ở các khu

11

Trang 16

VII'C khác chiểu theo công chừng của Chatelet, và tiếp đó các phái đạo cũng ihành lập công chứng để phục vụ lợi ích của mình Như vậy, ỏ' nước Pháp lúc bấy giờ có hai loại công chứng viên: công chứng viên cung đình do Vua bổ

nhiệm và công chứng viên của các phái đạo do các linh mực lâp ra

Hoạt động công chứng dần dần được qui định chặt chẽ sắc lệnh Amiens Iháng 7 năm 1304 đã buộc công chứng viên phải đọc cho các bên đương sự nghe vãn bản công chứng trước khi ký và ghi vào một quyển sổ gọi là sổ danh mục Sắc lệnh Villers - Cotterêts năm 1539 qui định cho công chứng viên phải bỏ việc đùng chữ La tinh và thay vào đó là việc sử dụng tiếng Pháp khi lộp các hợp đổng, giấy tờ, phái lưu giữ lâu dài các bản gốc và lập ra một quyển sổ gọi là sổ tra cứu các văn bản công chứng và phân định rõ thẩm quyền hoạt động theo địa hạt của các văn phòng công chứng

Dưới thời Louis XIV đã có 112 công chứng viên ở Paris Đối với các tỉnh, Đạo dụ năm 1664 đã ấn định số lượng là 20 văn phòng cho một thành phố Ihuộc tính, 4 văn phòng cho một thị xã, 2 văn phòng cho một thị trấn có trên 60 hộ dồn

cư Số lượng công chứng viên được bổ nhiệm nhằm đáp ứng các nhu cầu pháp

lý, cũng như sự phát triẩn kinh lế và trao đổi về thương mại ở thế kỷ XVI

Các văn bản công chứng trồ nên ngày càng đa dạng Bên cạnh những hành

vi công chứng về luật gia đình nhir thừa kế, tạng cho, hợp đổng hôn nhan, những chứng thư vể các chức danh trong giới quí tộc, trong các phái đạo, công chứng viên còn phải lạp những hợp đổng vể tín dựng, mua bán dưới hình thức trả góp, mua bán cổ phần v.v, giữa các cá nhân, tổ chức và tôn giáo

Từ đầu thế kỷ XVIII, số hrợng văn phòng công chứng và công chứng viên phát triển lất mạnh trước nhu cầu vể pháp lý và hợp đổng của nhân dân, mà đỉnh cao là thời kỳ Cách mạng (1789) với số hrợng công chứng viên là 13000 ngirời.Trirớc những yêu cầu thực tế của xã hội, năm 1803, Bonaparte đã ban hành một đạo luật về tổ chức công chứng mà những điều khoán cơ bản của nó có hiệu lực đốn lẠn ngày nay - đó chính là lu Ạt 25 Venlose; Cùng với những qui định vể

Trang 17

|Ịn[i Vực công chứng trong Bộ luât dân sự, Luât 25 Ventose đã tạo nên "Bản hiến

Lụật Ventose đánh dấu một sự tiến triển của những mối quan hệ giữa hoạt dộng phòng ngừa tranh chấp và hoạt động tài phán Công chứng viên lãnh hội một sứ mạng to lớn của một nhà thực hành về pháp luật khác hẳn với nhiệm vụ ci'ia các luật sư trong các hoạt động tố tụng Công chứng viên phải là người hướng dẫn dân áp dụng luật pháp

Năm 1912, một tổ chức công đoàn toàn quốc các công chứng viên Pháp đã

ra đời, cùng liíc đó Hiệp hội các công chứng viên Pháp cũng được thành lập và đến năm 1941 I 1 Ó trở thành Hội đổng công chứng tối cao Và cũng từ thời gian

đó, công chứng Pháp đã tổ chức ra Hội nghị thường niên của các công chứng viên nhằm trước hết là để bảo vệ quyền lợi cỉia công chứng và sau đó hướng vào các hoạt động nghiên cứu pháp lý và xã hội

Vào thời điểm 1-1-1970 ở Pháp có 6184 văn phòng công chứng vói 6237

công chứng viên, trong đó có 95% hành nghề trong các văn phòng tư nhân, còn

lại 5% hành nghề Irong các văn phòng gồm nhiều cổ đông.

Tính đến ngày 1-1-1996, số lượng văn phòng công chứng giảm xuống còn

4665 (do sự phát triển của các hiệp hội và sự hợp nhất của nhiều văn phòng cổng chứng có một công chứng viên thành văn phòng công chứng tập thể), số công chứng viên tâng lên 7534 người, trong đó có 70% hành nghể trong các văn phòng công chứng tập thể

l.J 1.2 Các hệ thống công chứng: Có thể nói thể chế công chứng đã có lịch

sử hình thành và phát triển lâu dài và tới nay đã rộng khắp ở các nước trên thế

giới Mặc dù xét về bản chất thì thể chế công chứng của các quốc gia có những điểm giống nhau, nhưng xét về khía cạnh cụ thể như: Phạm vi công chứng, nội dung hành vi công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng v.v thì có sựkhác nhau đáng kể Điểu đó phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội cũng như

tmyén thống pháp luật của mỗi nước Hiện nay trên thế giới đã hình thành hai

hệ thống công chứng, đó ] à liệ thống công chứng ciìa các nirớc theo hệ Ihống

Trang 18

lu li viết và hệ thống công chứng của các nước theo hệ thống luật áiì lệ, ngoài ra cũng phả' kể đến hệ thống công chứng của các nước trong phe Xã hội chủ nghía [Iirớc đây Để phục vụ cho việc nghiên cứu của luận án, chúng tôi thấy cần thiết phái tìề cập một cách phổ quát các yếu tố về phạm vi công chứng, nội dung hànli vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng của từng hệ ihống còng chứng này.

H ệ thống công chúng theo hệ thống luật viết: (hay còn gọi là hệ thống

công chứng Latinh) bao gồm các nước ở châu Âu lục địa, chãu Phi (các nước iluiộc địa cũ CLÌa Pháp), một số nirớc châu Á như :Nhật Bản, Thổ Nhì Kỳ, cũng ihuộc hệ thống này Hiện nay hệ thống công chứng Latinh đã hình thành tổ chức quốc tế ciìa mình, đó là Liên đoàn công chứng quốc tế hệ Latinh (viết tắt là UINL) với số thành viên chính thức khoảng 60 niróc tham gia [58] Do đặc điểm của các nước theo hệ thống luật viết lă trọng VcỊt chứng hơn nhăn chứng; Vì vậy,

hệ thống công chứng Latinh có những đặc điểm chính sau đây:

- Phạm vi công chứng được pháp luật qui định cụ thể, chặt chẽ bằng cách quy định những việc nào phải công chứng (công chứng bắt buộc), loại việc nào không bắt buộc phải côĩig chứng, nhưng nếu đương sự yên cầu thì sẽ được công chứng (công chứng tự nguyện), những loại việc nào không được công chứng Nhung cách phổ biến hơn cá là pháp luật qui định những nhóm việc công chứng, trên cơ sở đó xác định từng loại hành vi công chứng cụ thể

- Nội dung hành vi'công chứng, hình thức văn bản công chứng được pháp luật qui định chặt chẽ

- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng rất cao: Nói chung nếu không có khiếu kiện về sự không khách quan, vô tư của công chứng viên khi lập văn bản công chứng thì văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên đương

sự như một phán quyết của toà án Bởi vậy, ở một số nước người ta còn gọi công chứng viên là "Thắm phán về hợp đổng"

- Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm: Họ có thể là công chức hoặc không phai là công chức, nlumg để hành nghề công chứng họ phai được Nhà

Trang 19

HIIỚC bổ nhiệm và phải hoạt động chuyên trách về công chứng mà không được kiêm nhiệm bất kỳ một công việc nào khác Ngoài ra, pháp luật của những nước iheo hệ thống công chứng này cũng qui định các nguyên tắc hành nghề của công chứng viên, qui định những trường hợp không được công chứng khi vụ việc có lièn quan đến người thân của công chứng viên đó và do đó không đảm báo sự khách quan, vô tư của công chứng viên.

Hệ thống công chừng của các nước theo luật án lệ (hay còn gọi là hệ tlìống A nglô - Sacxon) : Như clúmg ta đã biết, bản thAn hệ thống luật án lệ

tương đối linh hoạt, và ở các nước theo hệ thống luật này, nhân chứng được tôn

trong hơn các vật chứng;_Vì vộy, hoạt động công chứng theo hệ thống luật này cũng mang đặc điểm tương tự Cụ thể là:

- Phạm vi các việc công chứng không được qui định rõ làng ,cụ thể

- Nội dung hành vi công chứng, hình thức vãn bản công chứng cũng không được pháị) luật qui định cụ thể, chặt chẽ;

- Vãn bản công chứng không có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên đương sự như một phán quyết của toà án

- Công chứng là một nghể tự do hoàn toàn, tương tự như nghề luật sư Vì vậy luật sư có thể kiêm nghề công chứng

Với những đặc điểm nêu trên, có thể nói tính chất chuyên môn nghề nghiệp

về công chứng ở các quốc gia này không cao Tuy vậy, cũng không thể hạ thấp

vai trò công chứng ở các quốc gia đó.

H ệ thống công chúng của các nước x ã hội chủ ngìiĩa (truóc đây): Bao

gồm Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu (cũ) Trong điều kiện của nền kinh

lế bao cấp và chủ yếu chỉ có hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể, các giao kết vể dân sự không phát triển, vai trò của công chứng không được để cao, không có điểu kiện để phát triển Vì vậy, công chứng ở các nước XHCN (trước đây) nhìn chung mang (inh hình thức Những đặc điểm của hệ íhống công chứng này có thể tóm tắt như sau:

Trang 20

- Công chứng ở các nước XHCN (trước đây) là công chứng Nhà nước, công chứng viên là công chức Nhà nước; Phòng công chứng là cơ Cịiian Nhà nước, dược Nhà nưức lập ra theo đơn vị hành chính; Những nơi chưa có phòng công chứng thì chính quyền thực hiện việc công chứng Có nơi phòng công chứng và chính quyền cìing thực hiện các hành vi công chứng (ở Việt Nam hiện nay cũng tượng tự như Vcậy).

- Phạm vi các việc công chứng được xác định một cách rõ làng, cụ thể bằng cách liệt kê ra những việc mà công chứng viên được phép thực hiện; Ngoài những việc đã được pháp luật quy định ra, công chứng viên không được quyền thực hiện công chứng các việc khác khi đương sự yêu cầu, mặc dù việc đó không trái với các quy định ciía pháp luật, và nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

- Nội dung hành vi công chứng cũng như hình thức của văn bản cồng chứng không được quy định cụ thể; đặc biệt rất ít quan tâm đến công tác lưu trữ văn bán công chứng

- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng không được coi trọng, vai trò

trách nhiêm của công chứng viên (đặc biệt là trách nhiêm VỘI chất) không được

đề cập Họ chỉ chịu trách nhiệm hành chính trước cơ quan Nhà nước cấp trên mà không chịu trách nhiệm dân sự trước đương sự

Sau khi Liên Xồ và các nước XHCN Đông Âu tan rã, thì hầu hết tại các nước này, hệ thống cồng chứng được chuyển dần theo mô hình công chúng Latinh (như Ba Lan, Đức) Ớ Việt Nam hiên nay, hệ thống công chứng vẫn chịu ánh hưởng của hệ thống công chứng ciìa các nước XHCN Đông Âu nói trên

1.1.1.3 Các mô hình tổ chức công chứng: Khi xem xét dưới góc độ về hình thức tổ chức, chúng ta thấy rằng, hiện nay trên thế giới có hai mô hình tổ chức công chứng, đó là: Mô hình công chứng hành nghề "tự do" và mô hình “ công chứng Nhà nước” Xét về nội dung, ý nghĩa, mục đích công chứng của hai mò hình tổ chức công chứng này thì nhìn chung không khác nhau Bởi vì, chúng đều

Trang 21

dược tổ chức ra nhằm thực hiện các hành vi công chứng, nhằm làm cho các họp đổng, giãy tờ của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội và cứa công dàn sau khi dược công chứng, có giá trị pháp lý cao hơn các tư chứng thư Công chứng viên là những người được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện chức năng vể công chứng Sự khác nhau cơ bản của hai mô hình công chứng này là về cách thức tổ chức, quản lý đối với hoạt động công chứng mà thôi Những điểm khác Iiluui giữa hai mô hình tổ chức này được thể hiện ở những điểm chính sau đày:

M ô hình tổ chức công chúng hành nghề "tự do" í hì lioạl động công

chứng do các công chứng viên tự tổ chức theo qui định cỉia luật pháp Sau khi được bổ nhiệm, công chứng viên có thể mơ văn phòng công chứng (văn phòng công chứng đó có thể do một công chímg viên lập nên và hoạt động, có thể do 2 hay nhiều công chứng viên lập nên và cùng nhau hoạt động - văn phòng công chứng tộp thể) Các công chứng viên không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước,

111 à được thu lệ phí công chứng theo mức quy định của Nhà nước; Các văn phòng công chứng này tự hạch toán và làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước (gần giống như một tổ chức kinh doanh, dịch vụ) Công chứng viên phải chịu Irách nhiệm dân sự tnrớc đương sự Để t lo đảm cho việc bổi thường thiệt hai do hành vi công chứng của mình gây ra cho đương sự, các công chứng viên phái ký Cịiiỹ một khoản tiền lương đối lớn Mỗi công chứng viên có con dấu riêng

M ô hình tổ chức “công chúng N h à nước” có đặc điểm là: cơ quan công

chứng là cơ quan Nhà nước, các công chứng viên là những viên chức trong bộ máy Nhà nước Mỗi phòng công chứng chí có một con dấu mang tên phòng công chứng Nhà nước đó Lê phí công chứng thu được phải nộp vào ngân sách Nhà nước; các công chứng viên được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo ngạch, bạc, cộng thêm một khoản tiển tính theo tỷ lệ nhất định trong số tiển lệ phí mà phòng công chứng thu được hàng tháng; Nhà nước chịu trách nhiệm dân

sự vể những thiệt hại do công chứng viên gây ra đối với đương sự; Công chứngviên chiu trách nhiêm hành chính tnrớc Nhà mtác Đế.i J n-b.n \ iêc Nhà nước

Trang 22

11,1111 nliấl định trong tổng sô tiền lệ phí công chứng và tiền công thu được (đối với những nước thu cá ]ệ phí và tiền công làm công chứng) để lập một quỹ báo

văn Lự, khế ước này, mà người ta gọi là “thầy đề”.

Theo tài liệu lưu trữ hiện còn lại thì văn bản công chứng đầu tiên được lạp

ở Việt Nam là vào năm 1886 (Văn bản này hiện nay còn được lưu giữ tại phòng công chứng Nhà nước số 1 thành phố Hổ Chí Minh)

Nhưng công chứng với tư cách là một thể chế (tức là tổ chức, hoạt động công chứng được Nhà nước quy định và điều chính bằng các*văn bản pháp luật), thì nó mới đirợc hình thành ở Việt Nam từ thời kỳ Pháp thuộc Bằng sắc lệnh ngày 24/8/1931 cíia Tổng thống Cộng hoà Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 07/10/1931 của viên toàn quyền Đông dương p Pasquies), thực dân Pháp đã tổ chức hệ thống công chứng ỏ' nước

la thời kỳ bấy giờ, và khi đó ở Việt Nam chí có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn; Ngoài ra ở các thành phổ Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẩng thì việc công chứng do chánh lục sự toà án sơ thẩm kiêm nhiệm Đây là văn bản pháp lý đẩu tiên làm cơ sở cho việc xác lộp hệ thống công chứng ở Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc <

Ở miền Num, sau hiệp định Giơnevơ (1954) với âm mưu chia cắt đâ'r nước làu dài, cùng với việc thiết lộp, củng cố bộ máy hành chính, chính quyển Sài

Trang 23

Gòn cũng đã quan tâm đến việc thiết lộp ra llìể chế công chứng ỏ' M iề n Nam Việt Nam Văn bản làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thể chế công chưng này là Dụ số 43 (ngày 29/11/1954) ấn định quy chế chung về ngạch chưởng khế do Bảo Đại (với tư cách là Quốc tnrởng lúc bấy giờ) ký ban hành,

về cơ bản nội dung của Dụ số 43 nói trên là sự sao chép lại những qui định về

tổ chức và hoạt động công chứng của Pháp ở Đông Dương và được gọi dưới cái tên là Chưởng khế Tuy vậy, về mặt tổ chức có sự thay đổi lất Cịiian trọng đó là: thể chế chưởng khế (theo Dụ số 43) là thể chế công chứng Nhà nưóc - Chưởng khế là công chức hưởng lương Nhà nước

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dãn chủ

cộng hòa ra đời Trong hoàn cảnh đổy khó khăn, phức t p của những ngày đÀii giành chính quyển lúc bấy giờ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không quên việc giải quyếl vấn đề thể chế công chứng Ngày 1 tháng 10 năm

1945 (tức chỉ một tháng sau khi tuyên bố độc lập) Bộ trưởng Tir pháp lúc bấy giờ (ông Vũ Trọng Khánh) đã ký Nghị định bãi chức công chứng viên của ông Deroche (nguyên là công chứng viên người Pháp tại văn phòng còng chứng ở Hà Nội), đồng thời hổ nhiệm ông Vũ Ọuý Vỹ - NgưỜL mang quốc tịch Việt Nam, luật khoa cử nhân, luật sư tập sự tại toà thượng thẩm Hà Nội làm công chứng viên tại Hà Nội Trong nghị đ"ih này đã chỉ rõ các luật lộ cũ về công chứng vẫn

được thi hành, trừ những điều khoản không hợp với nền độc lạp và chính thể

Việt Nam Dân chủ cộng hòa Do hoàn cảnh kháng cl iêri chống, thực dãn Pháp lúc bấy giờ, nên trên thực tế văn phòng công chứng C' a ông Vũ Quý Vỹ chỉ hoạt động trong một thời gian lất ngắn và cũng không hoạt động được nhiều Sau này, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, không thấy có tài liệu nào’vể việc bãi nhiệm hay miễn nhiệm chức vụ công chứng viên của ông Vũ Quý Vỹ

Để đáp ứng những nhu cầu về việc chứng nhận các giao kết dãn sự của nhãn dân, ngày 15/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hàiih sắc lệnh số 59/SL "ấn định Thể lệ về việc thị thực các giấy tờ", trong đó kê’ cá các khế ước chuyển dịch bất động sản (41}; Tiếp theo, ngày 29/2/1952 Chủ tịch Hồ Chí

Trang 24

iviinh ban hành tiếp sắc lệnh số 85/SL về "Thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, c|l0 đổi nhà cửa, ruộng đất” [42].

Hai Sắc lệnh nói tiên (Sắc lệnh số 59/SL và sắc lệnh 85/SL) là cơ sở pháp lý clni yếu cho hoạt động thị thực của u ỷ ban hành chính kháng chiến và sau này

là của Uỷ han nhân dân trong suốt thời gian hơn 4 thập kỷ qua Trong thời gian

Jó có thể nói, mọi công việc có tính chất công chứng đều do u ỷ ban nhân dân cấp cơ sở thực hiện theo hình thức thị thực, chứng thực Nguyên nhân chủ yếu

dẫn đến tình hình đó, theo chúng tôi là do điều kiện kinh tế - xã hội cỉia nước ta

ihời kỳ này Một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, các giao lưu kinh

tế, dân sự chủ yếu dựa tiên quan hệ hành chính, bao cấp, sản phám xã hội không mang tính chất hàng hóa; Vì vậy các giao lưu dân sự, thương mại hầu như không phát triển; Do đó trong xã hội không đòi hỏi phải có hệ Ihốrtg cơ quan chuyên trách trong việc thực hiện chức năng chứng nhận các họp đồng, giấy tờ cho các

co quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội và công dân; Và như vậy, cũng không

có nhu cẩu phải Xily dựng, thiết lẠp một thể chế công chứng.

Vấn đề thành lập trở lại hệ thống công chứng ở hước ta được đặt ra và ghi nhận trong Nghị định số 143 - HĐBT ngày 22/11/1981 của Hộí đổng bộ ưưởng quy định "về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Bộ Tư pháp", nhung mới chỉ có hai từ "công chứng" [32] Đến những năm cuối của thẠp kỷ tám mươi, sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện ở đát nước ta dưới sự lãnh đạo của Đáng cộng sán Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu đáng kế Trong rinh vực kinh tế chúng ta đã tiến những bước dài trong việc xoá bỏ cơ chế tập trung bao cấp, chuyển sang cơ chế.kinh tế thị tnrờng có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhà nước ta ghi nhận, khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tạp thể, sở hữu tư nhân ) cùng tổn tại

và phát triển [21] Chính trong môi trường kinh tế, xã hội đó, các nhu cầu về giao lim dí\n sự, kinh fế, lliương mại.v.v của công đủn và các tổ chức pliál triển mạnh mẽ, nó đòi hỏi phải có nhũng thiết chế mới phù họp, phục vụ cho cơ chế kinh lê đó Xét theo góc độ liên quan đến công chứng, chúng la thay rằng các

Trang 25

|UI cẩu về giao k ết dân sự, kinh tế phát triển nhanh đòi hỏi phái có 111ỘI tò chức uiP chứng hoạt động chuyên nghiệp, với những nguyên tắc tổ chức và lioạl Iòn° đọ° & 1'1 c^ L"r không thể để tình trạng u ỷ ban nhân dân kiêm nhiệm các

•ÔDƠ việc công chứng như trước đây được nữa Trên thực tế u ỷ ban nhân dân

các cấp cũng đã không đáp ứng được các yếu CÀU công chứng ciìa đời sống xã

1,01 “tình trạng này đã gây ìiỉìiềii khó khăn cho công dân, các cơ quan, tổ chức iroiiỵ viêc bão vệ các quyền và lơi ích hợp pháp của mình, là ruột trong những iiíỊtiồn làm phát sinh nhiều vụ tranh chấp, vi phạm pììáp luật .” [54] Chính vì

lý do đó, ngày 10/10/1987 Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 574- QLTPK "về công tác công chứng Nhà nước", nhằm hướng dẫn u ỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc công chứng; Đồng thời, chỉ đạo thành lạp thí điểm phòng công chứng Nhà

nước ở thành phố Hà Nội và Ihành phố Hổ Chí Minh; Sau đó ử một sò lỉnh,

Đổ giúp cho các địa phương và các công chứng viên ở các phòng công chứng khi được thành lập thực hiện tốt các việc công chứng, ngày 15/10/1987

Bộ Tư pháp đã ra tiếp Thông tư số 858/QL-TPK hướng đẫn thực hiện các việc công chứng cụ thể [55] Thực hiện 2 Thông tư nói trên, các tỉnh, thành phò trong

cá mrỚQ đã từng bưóc tiến hành thành lạp các phòng cống chứng Nhà nước Tính đến ngày 27/02/1991 (ngày Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định 45/HĐBT) liong cả nước đã thành lẠp được 29 phòng công chứng ở 29’ tỉnh, thành phố

Từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn (tuy còn lất ít ỏi) của các phòng công chứng, ngày 27/2/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định sô 45- HĐBT "về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước" Đây là văn bản qui phạm pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta quy định những cơ sở pháp lý một

cách lương đối loàn diện, đẩy đủ về Lổ chức và hoạt động của công chứng ở nước

ta Có thể nói, Nghị định số 45 - HĐBT đã khai sinh ra thể chế công chứng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã đáp ứng kịp thời những yêu

cán về công chứng cỉia một xã hội đang chuyển mình sôi động^theo cơ chẻ kinh

tế thị trường.

Trang 26

Sau hơn 5 năm thực hiện Nghị định 45/HĐBT (từ tháng 2/1991 - 5/1996),

•hứng ta đã đạt được khá nhiều thành công trong việc tổ chức và hoạt động công

• l i ứ n g - Nói cách khác, thể chế ^òng chứng ở nước ta đã được hình thành và phát

[riển khá nhanh, trên thực tế do gặp được môi trường thuận lợi, đó là cơ chế kinh l£* thị trường Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng của cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta, các nhu cầu về giao kết dAn sự, kinh tế của công dAn và các

lổ chức có nhiều thay đổi liên quan đến hoạt động công chứng và Nghị định số

45- HĐBT tỏ ra không còn đáp ứng dược yêu cáu thực tế Chính vì vậy, ngày 18/5/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị địiìh số 31/CP "về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước", thay thế Nghị định số 45- HĐBT nói trên; Ngày 03 Iháng 10 năm 1996 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 1411/TC-CC hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 3 l/CP nói trên

1.1.3 Khái niệm, bản chất công chứng

Như phần tiên đã trình bày, công chứng ở Trước ta đã được hình thành từ

những năm 1930 của thế kỷ này; xong do điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước

ta trong một thời gian dài, Nhà nước ta không thành lập tổ chức công chứng, mãi tới năm 1991 tổ chức còng chứiig mới chính thức được thành lập trong cả nước, đánh dấu bằng việc ra đời Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đổng

Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước Qua nghiên cứu chúng tôi thấy: Cho tới nay, về mặt khoa học chiìng ta chưa có

sự nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vể khái niệm công chứng, cũng như bản chất của nó theo pháp luật Việt Nam Trong một số công tiìiih khoa học vốn còn rất ít ở nước ta vể vấn đề này, chỉ mới giới thiệu qua khái niệm công chứng theo

pháp luẠt của một số nước trên thế giới để từ đ ó bàn tới nhưng vấn đề khác đang

rât bi'0 xúc trong hoạt động thực tiễn công chứng ớ nước ta (Như đề tài khoa học mang mã số 92-98-224 của Bộ Tư pháp [15] và một số bài viết khác như:

“Một số vân đề chung về công chứng và tổ chức công chứng” của Phó tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hiến [22,267-268], “Công chứng Nhà nước" cỉra tác giả Dương Đình Thành [44,17-18]; Giáo trình Luật Tổ chức toà án, viện kiểm sát, công chứng, luật sư của Khoa Luât - Tnrờng đại học Khoa học xã hội và nhan văn

Trang 27

(pHQGHN) [ í 7]; Tập bài giảng về công chứng ciìa Trirờng đại học Luậl 1 là Nội

ị5 18] Những bài viết này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu lên nguyên văn khái ìiẻm công chứng đã được ghi tại điều 1 Nghị định số 3 l/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ- Vì vậy, để làm rõ khái niệm, bản chất công chứng, chúng tôi thấy

ciing cần bắt đáu từ khái niệm pháp lý về công chứng được nêu lên tại điều 1 ciìa nghị định 31/CP nói trên, điểu 1 quy định: "Công í ỉiử/iỵ Là việc chứng nhận lính xác tìiực của các hợp dồng và giấy tờ theo quy âịnỉi của pháp luật nliằin bào vệ quyên, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan Nhà nước, tô chức ki/ih

tê tổ chức x ã hội ( ) góp phẩn phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế x ã hội chủ nghĩa.

Các hợp đồng và giấy tờ đ ã dược công chiữig Nhà nước chứng nỉiận hoặc

uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chửng tỉiực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Toà án nhân dân tuyên b ố là vô hiệu" [33]

Trong khái niệm vừa nêu, chúng tôi thấy trước tiên cần phân biệt hai động

từ “chứng nhận” và “ chứng thực” trong hoạt động công chứng ờ nước ta hiện

nay Như chúng ta đã biết, trong đời sống thực tế hiện nay những động tìr sau đây thường được dùng lẫn lộn, ít phân biệt, đó ]à: "chứng nhộn", “chứng llnrc”,

"thị thực", "nhân thực", "xác nhận" Nhưng về mặt pháp lỵ, trong Bộ luật DAn sự của nước ta tại các điều 330 (khoản 2); 347 (khoản 1); 367; 443; 459; (khoản 1); 489; 506; 586; 660; 716; 731.vv cũng như trong khái niệm nêu trên và Thông

tư 1411/TC-CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp đã chính thức sử dụng hai động từ “chứng Iihân” và “chứng thực” có dụng ý nhằm phân biệt hành vi công chứng của hai cơ quan khác nhau, đó là "chứng nhận" - Chỉ hành vi công chứng của công chứng viên, và “chứng thực" - Chỉ hành vi công chứng của u ỷ ban nhân dãn có thẩm quyền công chứng

Theo từ điển tiếng Việt thì nghĩa của hai động từ này như sau:

"Chứng nhận: nhận cho đ ể làm bc Ig là có, là đúng sự thật"

"Chửng thực: nhận cho đ ể làm bằng là đúng sự thật" hoặc "xác nhận là cIl ì i i ì ị " [ 6 6 , 1 8 6 ]

Trang 28

Như vậy, xét về góc độ ngữ nghĩa thì hai tlộng từ nói trên có nội (.lung

là lUíng với sự thật

Xét theo khía cạnh pháp lý chúng ta thấy rằng: Mcặc dù Bộ luật Dân sự và liếp dó là Nghị định 31/CP tuy về mặt hình Lhức có sử dụng hai động từ nói trên chí hành vi của hai loại cơ quan khác nhau có thẩm quyển công chứng (|)liòng Công chứng Nhà nước và UBND cấp có thám quyền) trong việc thực hiện hành vi công chứng, nhưng cho đến n;iy vẫn chua có sự giai Ihícli, phân

biệt một cách chính thức nào về ý nghĩa pháp lý CLÌa hai loại hành vi "chứng

nhạn" và ' chứng thực" này Trong khi đó -Bộ luật dân sự, cũng như Nghị định 31/CP lại xếp ngang hàng giá trị pháp lý của hai loại hành vi đó; Minh chứng là:

lại các diều luật nêu trên của Bộ luật dân sự hầu hết đều dùng công thức "phải

có chứng /ihậ/i của phòng công chửng Nhà nước hoặc chứng thực cùa Uỷ ban Iilìâii dân cấp có thẩm quyền” [6] Tại điểu I nói trên của Nghị định 31/CP lại

khẳng định một cách rõ làng hơn là: “ Các lìựịỉ đồng và íỊÌâỳ tờ d ã được pliò/ỉệ

Công chửng NỈIÙ ìiiiớc chứng nhận hoặc UBND cấp có tììẩrn (ỊIIvê /1 chứng thực

t ó ỵiá trị chứng cử, n ữ trường hợp bị toà án Iiliân dân tuyên 1x5là 1Y) hiệu ĩvlặt khác, tại khoản 2 điều 24 Nghị định 31/CP lại quy định: “Phâ chã rịch

thường trực u ỷ ban nhân dân cấp huyện hoặc uỷ viên u ỷ ban Iihâii dân cấp huyện là Chánh văn pìiòng lì ỷ bơn tiỉiâìi dân cấp huyện thực hiện việc chứng thực phđi tuân theo các điền 21,22 vù 23 của Nỵỉìị định này“, tức là phái tuân

llieo những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của công chứng viên khi thực hiện hành vi công chứng, cũng như những việc mà công chứng viên không được phép lliực hiện công chứng Như vậy, xét theo góc độ ngữ righĩa cũng nhu theo góc độ

ý nghĩa pháp lý thì hành vi "chứng nhộn" của công chứng viên và hành vi

"chứng thực" của UBND cấp có thẩm quyền công chứng là giống nhau, là như nhau

Trở lại khái niệm công chứng đã nêu lại điểu 1 của Nghị định số 31/CP:

Công cỉiứ/ig lả viêc chứng nhâu tính xác thiíc của ỉiơp (lồng và íịiấỴ tờ theo quy

Trang 29

linh <~'L'ia luột Theo từ điển tiếng Việl thì “.vcír tliựi ” có nghĩa là "(lủng

sl( thật” [66,1101] Có ý kiến cho rằng tính xác thực có nghĩa là chính xác và

dích thực [44,18], việc giải thích như trên vẫn chưa làm sáng tỏ được gì về vấn t|é này, bởi vì chiíng ta vẫn có thể đặt ra câu hỏi là: Cái gì là chính xác ? Yếu tố nào là đích thực?

Phải chăng việc chứng nhân tính xác thực của các hợp đổng, giấy tò tức là sir công nhận về mặt pháp lý các yếu tố trong họp đổng, giấy tờ đó là đúng sự thật- Hay nói một cách khác : Các hợp đổng, giây tờ khi đã được người có thẩm

quyển công chứng chứng nhận bao hàm các yếu tố, mà những yếu tố này là đííng sự thật Đây chính là mục đích trực tiếp của công chứng, còn mục đích xa hơn của nó, đó là tạo iâp nên một loại chứng cứ viết có giá trị pháp lý cao mà người ta thường gọi là “công chứng thir” (Acte aulhentique)

Nhưng vân đề được đặt ra là: những yếu tố nào của các họp đổng, giấy tờ cán phải được chứng nhận một cách chính xác, đúng sự thạt Bởi vì khi thực Ịiiện

Iliực hiện hành vi công chứng phải quan tủm như : Người tham gia ký kết văn bán, hình thúc pháp lý của văn bản, các giấy tờ, tài liệu dùng làm căn cứ để lập văn bản, nội dung của văn bản Vậy yêu cầu công chứng 1 đây có phải đảm

báo tất cả các yếu tố trong văn bản (hựp đổng, giấy tờ) đó là “chính xác” đứng

với sự thật không, hay chỉ một số yếu tố nào đó? Làm lõ vấn đề này có ý nghTa lất quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến trách nhiệm pháp lý của công chứng viên cũng như người có thẩm quyền công chứng Chúng tôi xin đơn cử một số yếu tố cần phải xem xét sau:

Thứ nhất: v ề các giấy tờ, tài liệu dììng làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện

cỏng chứng Điều 22 Nghị định số 31/CP quy định:” Khi thicc hiện công chíũig,

công chửng viên có quyền:

1 Yêu cầu đương sự xuất trình đầy đá các giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc tìiực hiện công chửng ” Trên cơ sở các giấy tờ, tài liệu do đương sự xuất

l|mh đó công chứng viên xem xét yêu cẩu công chứng ciìa đương sự có phù hợp

•V

25

Trang 30

jj pbáp lLiột không? Có thực hiện được hành vi công chứng không ? Điều 6

ỊS 'lị định 31/CP quy định: “ Người yêu cầu công chứng pỉu ■ xuất tiinìi đáy lt'i cóc giấy tờ, tài liệu hợp pháp cho việc tỉiực hiện công chứng' Như vậy, việc

dàm bao tính đích thực, chính xác, đúng sự thật của các giấy tờ, tài liệu này ilmỏc vể trách nhiệm của đương sự Thực tế cho thấy, tình trạng giá mạo giấy tờ

hiên nay à nước ta đã và đang là ván đề làm đau đầu các cư quan bảo vệ pháp

I11ÍU (theo báo cáo của Phòng Công chứng Nhà nước số l thành phố Hà Nội nong những năm qua phòng đã thu giữ được 135 văn bản giả, trong đó có tới 3 víln bản giả mạo cả con dấu và chữ ký công chứng viôn Phòng công chứng Nhà nước số 1 thành phố Hà Nội Còn tại Phòng công chứng Nhà nước số 2 thành phố Hà Nội, trong 4 năm cũng đã thu giữ tới 414 văn bản giả, trong đó 1995 +

1996 thu giữ 191 văn bản; 1997 thu giữ 125 văn bản; 1998 thu giữ 98 văn bản), nong khi đó công chứng viên, người có thẩm quyền công chứng không có khả Háng, cũng như điều kiện để phát hiện ra những giấy tờ giá mạo này Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi công chứng, công chứng viên vẫn phải kiểm tra tính hợp phấp của các tài liệu dùng làm cơ sở cho việc thực hiện hành vi công chứng của

mình (như kiểm tra nội dung tài liệu có hợp pháp không? Tài liệu đó được ban

liànli có đúng thẩm quyển không?) Khoản 7 mục A phần 3 Thông tư 1411/TC-

cc ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp quy định: “ Khi tiếp nhận Ììồ sơ, công

chứng viên phải kiểm tra tính hợp pháp của những giấy tờ có trong hồ so”.

Thứ hai: v ể việc đẵrri bảo tính xác thực, đúng sự thật của nội dung văn bản cóng chứng, v ề vấn để này, khoản 3, điều 21 Nghị đ ứi 31/CP về nhiệm vụ của

công chứng viên đã quy định công chứng viên phải “Giải thích cho người yêu

cau công chứng hiểu rỗ quyền, ngỉũa vụ và lợi ích hợp pháp c a họ, ý nghĩa pháp lý của việc công chíùig"\ Khoản B mục A phần III Thông tư 1411/TC-CC

cụ thể hoá thêm một bước nhiệm vụ của công chứng viên khi công chứng hợp

dỏng là “Công chíữig viên đọc lại toàn bộ dự thảo hợp dồng cho các bên nghe;

&UI (hích rõ rùng quyền và nghĩa vụ của ruổi bên; Trách nhiện pháp lý khỉ hợp (lông vô hiệu theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc các hên vi phạm hợp đồng”.

Trang 31

■ỵiU mục B về chứng nhạn di chúc quy định “Cô/Ig chửng viên xác định tiăníỊ h(c hành vi của người lập di chúc, cồng chứng viên phái đật câu hỏi đ ể xác định ỊỊOiíời lập di chúc có minh mẫn, sáng suốt, có bị lừa dối, đe doạ hoặc cưdììg ép hay không”

Những quy định trên nhằm đảm bảo cho những điều đã được ghi nhộn trong văn bản công chứng là hoàn toàn xác thực, đúng với ý chí nguyên vọng cùa người yêu cáu công chứng, đồng thời họ phải hiểu rõ và thừa nhận nó Và khi người có thẩm quyền công chứng thực hiện hành vi chứng nhộn vào văn bán

dó tức là công nhận về mặt pháp lý những điều mà đương sự đã thoả thuận nong văn bản là “chính xác”, “đích thực” của họ

Câu hỏi được đặt ra ở đây là: Tính xác thực của các hợp đổng và giấy tờ dược công chứng có bao gồm cả tính hợp pháp không ? Nếu xét theo ngữ nghĩa thì "xác thực" và "hợp pháp" là hai phạm trù không đổng nhất (chúng có nhiều điểm không trùng khít nhau) Có những trường hợp xác thực nhưng không hợp pháp; Ví dụ: Trong hợp đổng mua bán nhà được lập và chứng nhân tại Phòng

Công chứng, ông Nguyễn Văn A (bên bán) khai và cam đoan rằng ông ta chưa

có vợ, khi kiểm tra hộ khẩu, công chứng viên cũng thấy chỉ có tên một mình ỏng

ta, kiểm tra nội dung của hợp đồng cũng không có điều gì trái pháp luật, bên bán và bên mua cũng đểu tự nguyện và thừa nhận những điểu đã thoả thuận trong hợp đồng là đúng với ý chí, nguyện vọng của họ Vì vậy công chứng viên

dã chứng nhận hợp đổng mua bán nhà này Như vậy nội dung của bản hợp đổng này là “ xác thực” Nhưng nó sẽ không hợp pháp khi ông A đã có vợ và ngôi nhà này có trong thời kỳ hôn nhân, mà ông A đã cố tình che dấu điều này

Mặt khác theo qui định tại điều 2 Nghị định 31/CP thì công chírng viên

cluíng nhận các hợp đổng và giấy tờ phải "theo quy định của luật pháp", và tại

điểu 23 (khoản.2) của Nghị định này, cấm công chứng viên không được chứng nhận trong trường hợp yêu cầu công chứng của đương sự trái với pháp luật

Nói tóm lại: Trong mọi trường hợp thì công chứng viên, người có thẩm quyền công chứng đều phải chịu trách nhiệm về tình “xác thực”, cũng như tính

27

Trang 32

■‘hợp pháp” của các văn bản công chứng do mình thực hiện Trong trường hựp vãn bản công chứng không đảm bảo tính xác thực hoặc không hợp pháp, thì phải xác định rõ nguyên nhãn gây ra tình trạng đó và lỗi thuộc về ai (công chứng viên hay đương sự), trên cơ sở đó xác định hậu quả pháp lý mà người có “ lỗi” phai gánh chịu Như vậy, theo Nghị định 31/CP thì công chứng viên, người có thắm quyền công chứng phải đảm bảo cho văn bản công chứng không chỉ có tính xác thực mà còn phải đảm bảo cho văn bản công chứng đó hợp pháp.Tuy nhiên, tính hợp pháp của văn bản công chứng ở đáy có thể hiểu như là một nguyên tắc phải tuân thủ trong quá trình thực hiện công chứng, còn tính xác thực là mục đích quan trọng của văn bản công chứng Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất, chức năng của công chứng là nhằm tạo lập ra một loại chứng

cứ bằng văn bán có độ tin cậy cao

Qua nghiên cứu hoạt động thực tiễn của các phòng công chứng ở nước ta

10 năm qua và những văn bản công chứng của một số nước trên thế giói mà chúng tôi có điều kiện tiếp xúc, chúng tôi thấy mặc dù việc thực hiện các hành

vi công chứng ở mỗi nước có sự khác nhau, nhưng tựu chung vẫn được thể hiện dưới hai dạng sau:

a) Khi đương sự có yêu cầu công chứng một loại văn ban, giấy tờ hoặc một

sự việc nào đó, thì phải đến tnrớc mặt công chứng viên, khi đó công chứng viên chỉ cần kiểm tra xem đương sự có đủ năng lực hành ví và năng pháp lý để ký kết

văn bản, giấy tờ đó không, mà không cẩn phải kiểm tra tính xác thực trong nội

dung của văn bản, giấy tờ đó Nếu đương sự có đủ năng ỉực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết các văn bản, giấy tờ đó, thì công chúng viên cho đương sự ký,

và công chứng viên chứng nhận lằng đương sự đã ký tên vào văn bản đó trước mặt mình; Chúng ta thể xem đây là dạng công chứiig m ang tính chất hình

thức Các văn bản, giấy tờ được thực hiện theo dạng công chứng này, chỉ có giá

trị chứng minh lằng: Việc đương sự đã kí tên vào văn bản, giấy tờ đó là có thật

và đííng vào ngày, tháng, năm lập văn bản, giấy tờ đó, chữ kí trên văn bản, giấy

tờ đó đích thực là của đương sự, mà không phái của một người nào khác; Còn

Trang 33

,jêo xem xét về nội dung của các văn bản, giấy tờ đó có đúng sự thực khách qirin hay không lại thuộc về các cơ quan chức năng khi tiếp nhận văn bản, giây

lờ đó

Ví dụ: Một đương sự lạp một bản di chúc để định đoạt tài sản thuộc quyền

sử hữu của mình sau khi người đó chết Nếu thực hiện công chứng bản di chúc này theo dạng công chứng hình thức thì: Đương sự mang bản di chúc do mình tự lạp (do họ tự viết hocặc nhờ một người khác viết hộ) đến tnrớc mcặt công chứng viên, công chứng viên tiến hành kiểm tra giấy tò tùy thân, kiểm tra xem người

đó có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật trong việc lập di chúc của mình không ? Nội dung bản di chúc có thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng của họ không? Nếu người đó vẫn còn đủ khả năng nhận thức vể việc lẠp di chúc của mình, và thừa nhận nội dung bản di chúc đó là ý chí, nguyện vọng của họ thì công chứng viên đồng ý để người đó ký tên vào bản di chííc do họ lập ra, đồng thời tiến hành việc chứng nhộn chữ ký của đương sự trong bản di chúc này Và như vậy, sau khi người lập di chúc chết, việc mở thừa kế được thực hiện, thì việc xem khối di sản do người chết để lại có thật hay không? Việc định đoạt trong di chúc của người quá cố có đúng với các quy đinh của pháp luật hay không? là do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định

b) Dạng thứ hai cho thấy khi tiến hành công chứng, các công chứng viên

không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra xem đương sự có đủ năng lực hành vi, năng

lực pháp lý trong việc ký kết các văn bản, giấy tờ đó không, nội dung của văn bản, giấy tờ do đương sự lập ra có thực sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của họ hay không? Có phù hợp với luật pháp của Nhà nước hay không? Mà điều rất quan trọng là công chứng viên phải kiểm tra xem các đương sự có đủ quyền năng pháp lý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được ghi trong văn bản, giấy tờ đó không? Những điều đã được ghi nhộn trong văn bản, giấy tờ đó có đúng vói sự thật khách quan không; Và như vậy việc chứng nhận của công

chứng viên không dừng lại ò mức độ chỉ chứng nhận chữ kí của đương sự trên

văn bán, giấy lờ đó, mà còn chứng nhân cả về nội dung của văn bản, giấy tờ đó

Trang 34

jira Chứng ta có thể xem đãy là dang công chứng m ang tính chất công chứ ng

nội dung.

Trở lại ví dự nêu trên, nếu bản di chúc đó được công chứng theo dạng công

lưc pháp luật của đương sự ra, công chứng viên còn phái kiểm tra các giấy tờ có liên quan lới việc chứng minh quyền sở hữu của dương sự đối vứi nlũrng tài sản (tược định đoạt trong bản di chúc đó, cũng như việc định đoạt của ngươi lâp di chức đối với các tài sản đó có đúng các quy định của pháp luật hiện hành không,

nếu việc định đoạt đó không đúng với các quy định của pháp luật hiện hcành, thì

công chứng viên phải giải thích, tư vấn cho họ hiểu, trên cơ sở dó họ phải định đoạt lại cho đúng; Chỉ khi đó công chứng viên mới đồng ý cho họ ký vào bản di chức và thực hiện việc chứng nhận của mình

Từ những vấn để đã phân tích ở trên và thức tiễn hoạt động công chứng ở nước ta những năm qua cho chúng ta thấy, những yếu tố sau đây của văn bản công chứng (đối với cả hai dạng công chứng - công chứng nội dung và công chứng hình thức) phải được đảm bảo chính xác, đích thực, đó là:

- Ngày, tháng, năm lộp văn bản được đảm bảo chính xác, không thể đem ra tranh cãi

- Những điểu đã được ghi nhân trong văn bản, giấy tờ đó đích thực là ý chí, nguyện vọng của đương sự

- Đương sự chính là người đã ký kết hợp đổng, giấy tờ đó

Riêng trong trường hợp công chứng nội dung, ngoài 3 yếu tố trên ra, văn bản công chứng còn phải đảm bảo cho các điều đã được ghi nhận trong văn bản,

giấy tờ đó (ý chí nguyện vọng của đương sự) phải đúng với sự thạt khách quan

Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nội dung hành vi công chứng cũng như xác định giá trị pháp lý của văn bản công chứng (mà chúng tỏi

Và như vậy, bán chất của công chứng không chí là việc "chứng nhộn" các hợp đổng, giấy tờ mà còn là việc “tạo lâp” ra các hợp đồng, giấy tờ đó, đảm bảo

Trang 35

;lio nội dung của các hợp đổng, giấy tờ đó không được trái với các quy định của

^ áp luật, phải phản ánh đứng ý chí, nguyện vọng của đương sự, đảm bảo đííng }ơày tháng lập văn bản; Trong đó:

+ Tạo lạp văn bản công chứng được hiểu là việc công chứng viên, người có hẩm quyền công chứng giúp đương sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình bằng cách lập các văn bản, hợp đồng theo yêu cẩu của đương sự hoặc kiểm tra, góp ý để đương sự thể hiện được một cách rõ ràng, đấy đủ ý chí nguyện vọng của họ trong trường hợp văn bản, hợp đổng do đương sự tự thảo.v.v Trong cả

hai trường hợp này đểu có ý nghĩa là công chứng viên giúp cho điĩơng sự thể

hiện ý chí của họ bằng văn bản ở đây, vai trò tư vấn của công chứng viên có một ý nghĩa hết sức quan trọng

+ Chứng nhận văn bản công chứng là việc công chứng viên, người có thẩm quyển công chứng, với tư cách là người được Nhà nước giao cho quyền năng pháp lý là thay mặt Nhà nước để chứng nhận các văn bản, hợp đồng theo quy định của pháp luật, thực hiện hành vi chứng nhận các văn bản, hợp đồng đó, và khi đó văn bản, hợp đổng này được gọi là văn bản công chứng

Tham khảo pháp UicỊt thực định của một số nước trên thế giới quy định vềvấn đề này, chúng tôi thấy:

ở Cộng hoà Pháp, theo điểu 1 của sắc lệnh số 45 - 2390 ngày 02/11/1945

thì: "Công chứng viên là viên cỉiức được b ổ nhiệm đ ể tiếp nhận các văn bản và

hợp đồng mà các bên đương sự phải hoặc muốn tạo cho chúng tính xấc thực giống như các văn bản của chính quyền và đ ể đảm bảo đúng ngày, tháng, năm, liỉu giữ các văn bản, họp đồng và cấp các bản sao vãn bản và hợp đồng đó "

[61,12]

Điều 1 Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của Tổng Thống Cộng hòa Bê Nanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên đây của Cộng hòa Pháp [16]

Trang 36

ớ Vương quốc Anh, Qui chế công chứng năm 1801, 1833, L834 quy định:

"Công chứng viên là công cỉiửc dược bổ nhiệm d ể thực hiện các hành vì công chứng sau: Soạn thảo, chửng nhân hoăc xác lập chửng thư và các giấỷ tờ khác,

có liên quan đến việc: Chuyển nhượng bất dộng sản và tủi sản cá nhân, giấy IIỷ

q u y ề n liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, x ứ \ Vcdes, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ỏ HƯ Ớ C ngoài; Chửng lìỉiận hoặc xóc nìiận các văn bẩn giao dịch, soạn tì lảo di chúc hoặc cúc giấy tờ liên quan dến (li chúc, lập kháng nghị hàng hải vê sự c ố xẩy ru đối với tàu và ỉiàng ìioá trên tầu trong thời gian tàu đi trên biển [19,21]

So sánh những qui định nêu trên chúng ta thấy rằng: Nội dung chi tiết về chức năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật các nước có những

điểm khác nhau, nhưng về bản chất pháp lý của chúng là giống nhau, là nhằm

tạo lâp nên một loại chứng cứ bằng văn bản (Công chứng thư - acte authentique)

có giá trị pháp ly cao hơn hẳn những loại chứng cứ khác, bởi nó mang dấu ấn của công quyển và đirợc bảo đảm bằng trách nhiệm của cóng chứng viên, người

có thẩm quyền công chứng-Những người được Nhà nước trao cho quyền năng pháp lý là để thực hiộn chức năng công chứng; Và đều có điổrn chung, thống nhất là: Xác định công chứng không chỉ là việc các cỏng chứng viên "chứng nhậrTcác văn bản, hợp đồng, mà chính là “ tạo lập” ra các văn bản, hợp đổng đó.Mặt khác, xét về mặt ngữ nghĩa chúng ta thấy: Thuật ngữ “Công chứng” trong từ điển tiếng Việt, tương ứng với thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp), Notory (tiếng Anh) , Hotapial (tiếng Nga) đều có gốc La-tinh là Notarius có nghĩa là viết, ghi chép [15,16] Theo từ điển tiếng Việt thì Chưởng khế, Công chứng viên

“ló người có chức vụ chứng thực và quản lý giấy tờ, k h ế ước” [66,181.201]

Như vậy, chúng ta có thể xác định về nội hàm của khái niệm công chứng

là tạo lập nên một loại chứng cứ viết (các hợp đổng, giấy lờ) có giá trị pháp lý cao, vì các hợp đồng , giấy tờ này được chứng nhộn tính xác thực của nó; Và chính vì các hợp đổng, giấy tờ này được những người có thẩm quyền công chứng chứng nhộn nên nó mang dấu ấn của công quyền và trở thành “công

Trang 37

chứng thư” (Acte authertique) Đồng thời, các hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng đó còn được những người có thẩm quyền công chứng đảm bảo bí mật, lưu ơiĩr một cách cẩn thận, lâu dài Đó chính là những bằng chứng không thể chối cãi khi có tranh chấp xảy ra.

Về ngoại diên của khái niệm công chứng bao hàm các hợp đồng, giấy tờ

được những người có thẩm quyền công chứng chứng nhận, gồm những hợp

đổng, giấy tờ theo quy định của pháp luật bắt buộc phải công chứng, và những hợp đổng, giấy tờ tuy pháp luật không bắt buộc phải công chứng, nhưng đương

sự muốn cho nó có giá trị pháp lý cao hơn những hợp đổng, giấy tờ do họ tự lẠp

ra (tư chứng thư)

Tìr những phân tích vế bản chất của công chứng như đã nêu ở trên, chúng ta

có thể đi đến khái niệm về công chứng ờ nước ta hiện nay như sau: Công chứng

là việc công cỉiứiig viên, người có thẩm quyền công chứng tạo lập ra ìihữìig văn bản, họp đồng mà đươìig sự p h ả i hoặc m uốn tạo cho chúng có giá trị pháp lý n h ư n h ữ n g văn bản của các cơ quan N hà nước.

1.2 PHẠM VI CÔNG CHÚNG

1.2.1 K hái niệm phạm vi công chứ n g

Như chúng ta đã biết, do điều kiộn kinh tế, xã hội cũng như điều kiện hình

thành và phát triển hệ thống tổ chức công chứng ở mỗi nước khác nhau, dẫn đÊii

việc qui định hình thức tổ chức công chứng ở mỗi nước cũng khác nhau- Tức là Nhà nước tổ chức thực hiện việc chứng nhạn các giấy tờ, hợp đổng cho các

đương sự ở mỗi nước cũng khác nhau Tuy vậy, nếu xem xét dưới góc độ theo

lãnh thổ quốc gia, thì chúng ta thấy lằng: Có những hành vi công chứng được thực hiộn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, đổng thời cũng có những hành

vi công chứng được thực hiộn ngoài lãnh thổ của quốc gia đó Qua nghiên cứu pháp luật thực định của nước ta cũng như của các nước trên thế giới cho thíy:

- Việc thực hiện các hành vi công chứng ở ngoài lãnh thổ quốc gia được Nhà nước giao cho các cơ quan đại diện ngoại giao của nước đó ở nước ngoài

thực hiện Điều 16 Nghị định 31/CP quy định: “ Cơ quan đai diện ngoại giao

Trang 38

hoặc lãnh sự của nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện yêu cầu công chứng của công dân, tổ chức của Việt Nam ở nước ngoài theo quỵ địnìi tại pháp lệnh Lãnh si/' Mục D phần n Thông tư 1411/TC-CC còn quy định rõ:

"Trình tự, thủ tục công chứng tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự phái tuân thủ quy định của Pháp lệnh Lãnh s (, Nghị định 31ICP ngày 1815/1996 của Chính phủ và hướng dẫn của Thông tư này”.

Trong pháp luật thực định của một số nước trên thế giới cũng có những quy định tương tự như vậy Ví dụ: Pháp luật công chứng của nước Anh quy định: Đại

sứ, Công sứ, Tuỳ viên ngoại giao, Thư ký đại sứ quán, Đại diện ngoại giao, Tổng lãnh sự, Lãnh sự, Phó lãnh sự, Quyền lãnh sự, Đại diện lãnh sự, Quyền tổng lãnh

sự đang thi hành công vụ ở nước ngoài có thể tổ chức cho tuyên thệ, lấy lời khai

có tuyên thệ và thực hiện bất kỳ một việc công chứng nào Những tuyên thệ, lời khai có tuyên thệ cũng như những văn bản do những nhân viên ngoại giao nói trên thực hiện công chứng có giá trị pháp lý như được công chứng ở Vương quốc Anh [19,22-23]

Điều 15 Luật ngày 19/7/1973 của Liên bang Xô Viết về hệ tliống cóng chứng Nhà nước cũng quy định 16 hành vi công chứng do các cơ quan lãnh sự Liên Xô ở nước ngoài thực hiện đối với các công dân, tổ chức của Liên Xô ở nước ngoài (16 hành vi công chứng này cũng giống như những hành vi công chứng do các côag chứng viên của các phòng công chứng Nhà nước thực hiện trên lãnh thổ của Liên Xô) [27]

- Việc thực hiện các hành vi công chứng ở trong nước:

Ở những nước mà hệ thống cơ quan công chứng chưa được tổ chức một cách đều khắp trong toàn quốc thì các hành vi công chứng được giao cho các công chứng viên hoặc cơ quan chính quyển (Uỷ ban, Ban chấp hành Xô viết .) thực hiện Ví dụ: ở nước ta, Nghị đinh 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ, bên cạnh việc giao cho các phòng công chứng Nhà nước thực hiện các hành vi công chứng, Nhà nước còn giao cho u ỷ ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã,

Trang 39

(hành phố thuộc tỉnh, cũng như u ỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn được thực hiện một số hành vi công chứng như: Chứng nhộn một số hợp đồng dân sự, chứng nhận di chúc, chứng nhân từ chối nhộn di sản thừa kế (điều 15,18,19 Nghị định 31/CP; mục A,B,C phần II Thông tư 1411/TC-CC ) Ở Liên Xô và các

thực hiện các hành vi công chứng ở trong nước được giao cho các phòng công

chứng Nhà nước thực hiện; còn những nơi chưa có phòng công chúng Nhà nước thì việc thực hiện các hành vi công chứng được giao cho Ban chấp hành

Xô Viết đại biểu lao động Điều 3 luật của Liên bang Xô Viết về hệ thống tổ chức công chứng nhà nước ngày 19/7/1973, cũng như điều 3 luật Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Xô Viết Ưcraina về công chứng Nhà nước đều quy định rõ: “ Tại

các vùng dân cư không có phòng công chứng , thì ban chấp hành xô viết đại biểu lao động thànìi phố, thị trấn, x ã thực hiện hành vi công chửng” [27],

[24]

ở các nirớc mà hệ thống cơ quan công chứng được tổ chức đều khấp các địa phương trong toàn quốc thì các hành vi công chứng chỉ do các công chứng viên thực hiện Ví dụ: ở Cộng hoà Pháp, do hệ thống công chứng đã được hình Ihành và phát triển từ thời Sant Louis (1270) và đã ltển tực phái triển từ đó cho tới ngày nay (năm 1994 toàn nước Pháp đã có tới 4600 văn phòng công chứng với 7600 công chứng viên) và đã hình thành một hệ thống tổ chức qu '11 lý tìr trung ương xuống cơ sở, gồm:

* Hội đổng công chứng tối cao (Conseil superieur des notaires);

* Hội đổng công chứng khu vực (Conseil regional des notaires);

* Phòng quản lý công chứng (Chambre des notaires);

Vì vậy, việc thực hiện các hành vi công chứng ở trong nước đều được giao cho các công chứng viên thực hiện

Từ sự phân tích và dẫn chứng nêu ở trên, cho phép chúng ta có thể khẳng định lằng: Hành vi công chứng là việc những người hoặc cơ quan Nhà nước được Nhà nước bổ nhiệm (đối với công chứng viên) hoặc giao quyển (đối với

Trang 40

■ác cứ quan nhà nước) và được Nhà nước giao cho chức năng công chứng, thực

liièn việc chứng nhộn các văn bản, hợp đổng của các công dân, tổ chức nhằm

Jem lại ch ° những văn bản, hợp đổng này có giá trị pháp lý như những văn bản cùa chính quyền Và như vậy, việc xác định phạm vi công chứng là nhằm xác dinh xem những loại văn bản, hợp đồng nào thì thuộc thẩm quyền chứng nhận cùa các công chứng viên và những người có thẩm quyền công chứng; Còn những vAn bản, hợp đổng nào thì không thuộc thẩm quyền chứng nhận của họ Việc xác định phạm vi công chứng này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mỗi nước cũng như trong mọi giai đoạn, và được quy định trong các văn bản pháp luật vẻ công chứng Từ những vấn đé đã phân tích ở trên, chúng ta có thể

iLÌt ra kết luận vể phạm vi công chứng như sau: Phạm vi cóng chứng là giói hạn

Ịihững việc mà theo quy định của p h á p luật, nhữ ng ngưòi (cá nhân hoặc cơ quan N h à nước) được N hà nước giao cho thẩm quyền công chứng được quyền chứ ng nhận.

1.2.2 Phân loại cách xác định phạm vi công chứng

Qua nghiên cứu về phạm vi các việc công chứng đã được quy định tại Nghị (.lịnh số 45/HĐBT của Hội đổng Bộ trường, Nghị định số 31/CP của Chính phủ

và pháp luật công chứng của một số nước, chúng tôi thấy rằng: Do đạc điểm kinh tế, xã hội cũng như hệ thống pháp luật của mỗi nước khác nhau, dẫn đến

việc quy định phạm vi công chứng ở mỗi nước cũng khác nhau; Thậm chí ờ mỗi

quốc gia, việc quy định phạm vi cóng chứng trong mỗi giai đoạn cũng có những

thay đổi khác nhau, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, cũng như phụ thuộc vào quan điểm của Nhà nước đối với các giao dịch dân sự, kinh tế mà Nhà nước đó cần quản lý, điều chỉnh thông qua hoạt động công chứng Ví dụ: Ỡ nước ta, Nghị định 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đổng Bộ trưởng quy định phạm vi công chứng khá rộng, trong đó có các

hành vi công chứng như: “Chứng nhận tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản

riêng cua vợ hoặc chồng"', “Chứng nhận nhường quyền ỉiưởng di sản, cìiíùig nỉiận ịỊÌâỳ tỉiocỉ thuận phân chia di schr (điều 15), nhưng đến Nghị định 31/CP

Ngày đăng: 15/08/2020, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w