Mặt khác, về mặt pháp luật, chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH được ghi nhận trong bốn bản Hiến pháp của nước ta và các luật như: Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2Để hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình với các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội- nơi tôi đã học tập ba năm qua và các bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình với Thầy giáo, Giáo Tiến sĩ Trần Ngọc Đường đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn này
sư-Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 3
1 Đại biểu Quốc hội: ĐBQH
2 Ủy ban Thường vụ Quốc hội: UBTVQH
3 Tòa án nhân dân tối cao: TANDTC
4 Viện kiểm sát nhân dân tối cao: VKSNDTC
Trang 4Nội dung Trang Lời nói đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất vấn của ĐBQH
1.1 Chất vấn – quyền cơ bản của ĐBQH
1.1.1 Khái niệm chất vấn và bản chất của quyền chất vấn của
ĐBQH
1.1.2 Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH và vai
trò của nó trong việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
1.2 Vai trò của chất vấn và các bảo đảm thực hiện quyền chất
vấn của ĐBQH
1.2.1 Vai trò của chất vấn của ĐBQH
1.2.2 Các bảo đảm thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
Chương 2: Thực trạng chất vấn của ĐBQH và yêu cầu, giải
pháp nâng cao chất lượng chất vấn của ĐBQH Việt Nam
2.1 Thực trạng pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH
2.1.1 Quy định của pháp luật về chất vấn của ĐBQH trước khi
có Hiến pháp 1992
2.1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về chất vấn của ĐBQH
2.2 Thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH nước ta trong thực
tiễn
2.2.1 Thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH nước ta trước khi có
Hiến pháp 1992
2.2.2 Thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH nước ta hiện nay
2.2.2.1 Chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
2.2.2.2 Chất vấn tại phiên họp của UBTVQH
2.3 Các yêu cầu nâng cao chất lượng chất vấn của ĐBQH
Trang 52.4.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về chất vấn và trả lời chất vấn
của ĐBQH
2.4.2 Các giải pháp khác nâng cao chất lượng chất vấn của
ĐBQH
2.4.2.1 Đảm bảo điều kiện về chính trị- pháp lý theo định hướng
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.4.2.2 Đảm bảo điều kiện về thông tin
2.4.2.3 Đảm bảo điều kiện về bộ máy tham mưu, giúp việc
2.4.2.4 Đảm bảo điều kiện về tài chính
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2) “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” (Điều 6) Ở tầm cao và rộng nhất, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Vì vậy, Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH Trong đó, chất vấn của ĐBQH đối với Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC là một hình thức giám sát rất quan trọng và hiệu quả Đây
là hình thức giám sát trực tiếp, thể hiện bản lĩnh của ĐBQH và năng lực điều hành, lãnh đạo của những người đứng đầu cơ quan nhà nước Hoạt động chất vấn của ĐBQH có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng về mặt lý luận, trong những năm đổi mới, cùng với chủ trương tăng cường vai trò của Quốc hội, đã
có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các chức năng của Quốc hội, trong
đó có chức năng giám sát, song có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể về chất vấn của ĐBQH Do vậy, những vấn đề lý luận về hoạt động này dường như còn bỏ ngỏ
Trang 7Mặt khác, về mặt pháp luật, chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH được ghi nhận trong bốn bản Hiến pháp của nước ta và các luật như: Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và các văn bản có liên quan
Có thể nói, Hiến pháp và Luật đã quy định hoạt động chất vấn của ĐBQH nhưng còn cần hoàn thiện để nâng cao chất lượng của hoạt động này
Về mặt thực tiễn, qua các khoá Quốc hội, đặc biệt là các khoá Quốc hội gần đây thì hoạt động chất vấn của ĐBQH đã có nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều hạn chế, có những chất vấn chưa thể hiện xứng tầm; chưa thật sự phát huy vai trò là phương thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, chưa phản ánh được lòng mong mỏi và nguyện vọng của nhân dân
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Chất vấn của ĐBQH ở Việt Nam
hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là cần thiết, góp phần xây
dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận; cơ sở pháp lý về hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của chất vấn và trả lời chất vấn, đóng góp vào việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động giám sát của Quốc hội, ĐBQH; phát huy quyền làm chủ của nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nâng cao hiệu quả của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được Đảng, Nhà nước, các ĐBQH và nhân dân quan tâm Tuy nhiên, chất vấn là vấn đề mới ở nước ta, không thuần tuý mang tính chất pháp lý mà còn mang tính chất chính trị và kỹ năng của từng Đại biểu nên việc nghiên cứu vấn đề này còn hạn chế Liên quan đến đề tài luận văn, có thể kể đến một số công trình sau:
- “Quyền chất vấn của ĐBQH tại kỳ họp: thực trạng và kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả” của Tiến sĩ Phan Trung Lý; “Luận cứ khoa học để xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Quốc hội”- đề tài khoa học cấp Nhà nước do Văn phòng Quốc hội chủ trì
- Luận văn thạc sĩ luật học: “Hoàn thiện pháp luật về ĐBQH” của tác giả Nguyễn Đình Quyền; Luận án tiến sĩ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của
Trang 8việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện hiện nay” của tác giả Lê Thanh Vân
- Các sách: “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của PGS,TS Bùi Xuân Đức (2007), Nxb Tư pháp, Hà Nội; “Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền” do PGS,TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên (2007), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội…
- Một số bài báo chuyên khảo đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp như: “Một vài suy nghĩ về hoạt động chất vấn của Quốc hội” của tác giả Tuyết Mai; “Hoạt động chất vấn - nhìn từ thực tế một kỳ họp Quốc hội” của tác giả Nguyên Thành; “Hoạt động chất vấn của ĐBQH- một số vấn đề cần quan tâm” của tác giả Trần Hoàng Minh…
Với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nêu trên đều đề cập đến Quốc hội, chất vấn của ĐBQH Tuy nhiên, các công trình này chỉ nói rất ít đến chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH mà chưa coi hoạt động này như là một vấn đề nghiên cứu độc lập Do đó, chất vấn của ĐBQH chưa được nghiên cứu một cách toàn diện để phục vụ hoạt động của ĐBQH, của Quốc hội được tốt hơn
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
và pháp lý, đặc biệt là thực tiễn chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH theo pháp luật hiện hành Ngoài ra, luận văn có đề cập đến pháp luật và thực tiễn hoạt động chất vấn ở một số nước nhằm tìm kiếm những yếu tố hợp lý góp phần hoàn thiện hoạt động chất vấn của ĐBQH nước ta
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: được sử dụng để nghiên cứu
lý luận về chất vấn của ĐBQH và đánh giá hoạt động chất vấn, trả lời chất
Trang 9vấn trong thực tiễn Đồng thời, từ xem xét, đánh giá thực tiễn mà khái quát thành những vấn đề có tính chất lý luận về chất vấn, trả lời chất vấn và đề xuất các phương hướng hoàn thiện hoạt động này
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để tìm hiểu các quan điểm, quy định của pháp luật và thực tiễn của hoạt động chất vấn; khái quát
để rút ra những cái thuộc về bản chất của chất vấn và trả lời chất vấn Từ đó rút ra các kết luận và kiến nghị phù hợp
- Phương pháp hệ thống được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận văn theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu xác định cho luận văn
- Phương pháp thống kê và phương pháp luật học so sánh được sử dụng
để liệt kê các chất vấn trong một số kỳ họp Quốc hội và so sánh các chất vấn
để có những đánh giá và kết luận thích hợp Ngoài ra, phương pháp luật học
so sánh còn được vận dụng khi tham khảo kinh nghiệm chất vấn của các nước
để tìm kiếm những yếu tố hợp lý góp phần hoàn thiện hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH nước ta
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận văn là phân tích làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về hoạt động chất vấn của ĐBQH để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện hoạt động này Để thực hiện mục đích trên, luận văn
có các nhiệm vụ sau:
Một là: phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của chất vấn và trả lời chất vấn
như: nguồn gốc, bản chất, vai trò của chất vấn và trả lời chất vấn trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Hai là: khái quát quá trình hình thành và việc áp dụng các quy định của
pháp luật về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH Từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế của hoạt động này trong thực tiễn
Trang 10Ba là: đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chất vấn và trả lời
chất vấn của ĐBQH
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Lần đầu tiên luận văn xây dựng cơ sở lý luận về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH tương đối hệ thống, làm rõ bản chất, vai trò của chất vấn trong mối quan hệ với việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội Luận văn đã tập trung đánh giá thực trạng chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH hiện nay và đề xuất phương hướng, giải pháp khả thi, nâng cao chất
lượng chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, thì phần nội dung gồm hai chương
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
1.1 Chất vấn – quyền cơ bản của ĐBQH
1.1.1 Khái niệm chất vấn và bản chất của quyền chất vấn của ĐBQH
“Chất vấn (interpelation), theo định nghĩa của Từ điển Webster’s 1913 Dictionary là yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những câu hỏi buộc phải trả lời; là vấn đề nổi lên trong khi tranh luận Còn Từ điển mạng (WordNet Dictionary) giải thích đó là quy trình trong Nghị việnnhiều nước nhằm yêu cầu Chính phủ giải thích một động thái hoặc chính sách của mình Đó là yêu cầu bằng văn bản của cả Nghị viện hoặc một nhóm nghị
sỹ đối với Chính phủ hoặc Bộ trưởng giải trình về một vấn đề chính trị lớn, hoặc đường lối chính trị chung của Chính phủ Quy chế của Hạ viện Italy định nghĩa chất vấn như một yêu cầu “dưới hình thức văn bản buộc Chính phủ giải trình về kết quả hoạt động của mình và dự định tiếp theo của Chính phủ” Nói cách khác, có thể coi chất vấn là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng, hay các thành viên của Chính phủ trước phiên họp toàn thể của Nghị viện để trả lời về việc thực thi chính sách, hay một vấn đề nào đó của quốc gia”[47] Ở nước ta, theo Từ điển tiếng Việt, chất vấn là “yêu cầu phải giải thích rõ ràng- ĐBQH chất vấn Chính phủ”[33, tr 200] Điều 2 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 đã giải thích cụ thể hơn rằng: "Chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó ĐBQH nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC và yêu cầu những người này trả lời”
Có thể nói, chất vấn gắn liền với quyền giám sát của Nghị viện Trong một Báo cáo nghiên cứu của Viện Dân chủ Quốc gia, giám sát của Nghị viện được định nghĩa: “là những hoạt động đương nhiên tiếp theo hoạt động lập pháp Sau khi tiến hành các hoạt động lập pháp, vai trò cơ bản của cơ quan
Trang 12lập pháp là xem xét liệu các đạo luật đó có được thực thi hiệu quả hay không
và liệu trên thực tế các đạo luật có định rõ và giải quyết được các vấn đề như
dự định của các nhà soạn thảo hay không”[18, tr.181]
Ở nước ta, chất vấn gắn liền với quyền giám sát tối cao của Quốc hội được quy định tại Điều 83 của Hiến pháp 1992 Theo Khoản 1, Điều 2 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội thì, giám sát là việc Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH
Giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước là một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội Trong đó chất vấn là một hình thức thực hiện quyền giám sát của Quốc hội Thực chất, chất vấn của ĐBQH là yêu cầu của đại biểu với tư cách là đại diện có thẩm quyền của nhân dân đối với người
bị chất vấn, buộc người bị chất vấn phải giải thích trước Quốc hội về những khuyết điểm, tồn tại trong hoạt động, công tác của cơ quan mà cá nhân đó phụ trách, trả lời về nguyên nhân và biện pháp khắc phục các khuyết điểm đó Chất vấn thể hiện cụ thể, trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội Nó không phải là một cuộc hỏi đáp thông thường Nó là một cuộc tranh luận chung ở Quốc hội mà tất cả các ĐBQH đều có quyền tham gia Thông qua hoạt động chất vấn, Quốc hội biểu thị mức độ thỏa mãn của mình đối với câu trả lời của các quan chức có liên quan Chất vấn không phải là hỏi đáp vì hỏi đáp không dẫn đến việc Quốc hội biểu quyết về sự thỏa mãn hay không thỏa mãn với các câu trả lời Hỏi đáp đơn thuần chỉ là việc đề nghị giải thích một vấn đề hoặc yêu cầu cho biết thông tin, yêu cầu giải quyết Chất vấn được coi
là một trong các công cụ giám sát mạnh nhất của Quốc hội và ĐBQH vì mục đích của chất vấn là làm rõ trách nhiệm chính trị của người được chất vấn Trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý là hai loại trách nhiệm khác nhau “Trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi (thể hiện
Trang 13ở việc tước đoạt hoặc hạn chế những quyền, lợi ích) của chủ thể vi phạm pháp luật hoặc có liên quan đến việc gây ra hậu quả xấu vì những nguyên nhân được pháp luật quy định”[32] Chúng ta không thể áp dụng điều luật về tội thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng cho quyết sách liên quan đến một ngành nhất định, vì hậu quả thì có, nhưng sự thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm pháp luật thì không “Những quyết sách rất có tinh thần trách nhiệm thì vẫn có thể thiếu một tầm nhìn Mà thiếu tầm nhìn, thì người ta chỉ có thể chịu trách nhiệm về chính trị
Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm về chính sách, không phải trách nhiệm về hành vi Hoạt động chất vấn vì vậy sẽ lạc đề nếu tập trung vào các
vụ việc cụ thể mà không làm rõ được các vấn đề ở tầm chính sách Ngoài ra, một chính sách được cải thiện, lợi ích sẽ đến với hàng triệu người Một vụ việc được giải quyết, lợi ích có thể chỉ đến được với một hoặc một vài người Giải quyết được công việc cho một người cũng tốt, thế nhưng công việc của muôn người thì sao? Nếu chất vấn vào các vụ việc cụ thể, Quốc hội sẽ không bao giờ có đủ thời gian để xem xét những vấn đề to lớn của đất nước”[48] Mục đích của chất vấn là nhằm kiểm tra, đánh giá hoạt động quản lý, điều hành của những người được chất vấn Qua hoạt động này, Quốc hội thấy được năng lực của những người được Quốc hội bầu một cách thực chất nhất Hoạt động này cũng phản ánh tiếng nói, sự cảnh báo về một vấn đề hoặc một tình trạng cần giải quyết, tạo sức ép để Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát hoạt động đúng đắn hơn Mặt khác, chất vấn còn tạo cho Quốc hội cơ hội tiếp cận được các thông tin từ thực tiễn cuộc sống để từ đó quay lại hoàn thiện hoạt động của chính mình
Với khái niệm và mục đích như vậy, để ĐBQH không bị nhầm lẫn chất vấn với các hoạt động khác, người bị chất vấn không ngụy biện trong trả lời chất vấn thì phải có các tiêu chí để xác định một chất vấn và câu trả lời chất vấn đạt yêu cầu Từ trước đến nay, lý luận cũng như pháp luật thực định chưa đưa ra tiêu chí chuẩn cho câu chất vấn và trả lời chất vấn Xuất phát từ bản
Trang 14chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân của Quốc hội; xuất phát từ bản chất ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri cả nước đồng thời đại diện cho cử tri địa phương bầu ra mình, từ bản chất hoạt động giám sát của Quốc hội, thì một câu hỏi của ĐBQH được coi là chất vấn khi:
- Nó phản ánh đầy đủ ý chí và nguyện vọng của nhân dân cả nước về những vấn đề lớn, ở tầm khái quát, vĩ mô hoặc những vấn đề nổi cộm, bức xúc được cử tri, nhân dân đang rất quan tâm, hoặc những vấn đề đang cần tập trung giải quyết chứ không sa vào những vấn đề vụn vặt, nhỏ lẻ
- Nội dung chất vấn phải nêu rõ vấn đề đang xảy ra, người bị chất vấn có biết không? Nguyên nhân của tình trạng này? Giải pháp khắc phục? Các kinh nghiệm từ sự việc này? Chế độ trách nhiệm của người bị chất vấn? Vì vậy, chất vấn phải gửi đến đúng người có thẩm quyền Không thể chất vấn một vấn
đề mà người được chất vấn không có thẩm quyền giải quyết Mặt khác, chất vấn phải không liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật Việc trả lời chất vấn phải đi đúng vào trọng tâm chất vấn, nghĩa là phải trả lời được câu hỏi nguyên nhân của vấn đề, giải pháp khắc phục; người bị chất vấn có biết vấn đề hay không và trách nhiệm của người bị chất vấn đến đâu Điều này rất quan trọng để Quốc hội bày tỏ thái độ của mình đối với người bị chất vấn Ở nhiều nước, việc chất vấn và trả lời chất vấn còn là cơ sở
để Quốc hội bày tỏ thái độ đối với cả nội các chứ không riêng gì một thành viên nội các
Hoạt động chất vấn của ĐBQH có thể diễn ra tại kỳ họp Quốc hội hoặc diễn ra giữa hai kỳ họp Quốc hội (ở nước ta, việc chất vấn giữa hai kỳ họp của Quốc hội còn được tiến hành tại phiên họp của UBTVQH) Chất vấn có thể bằng văn bản hoặc chất vấn miệng (chất vấn trực tiếp)
Về sâu xa, quyền chất vấn của ĐBQH bắt nguồn từ bản chất quyền lực của Quốc hội Từ xưa đến nay, quyền lực và tổ chức quyền lực luôn luôn là vấn đề phức tạp Trong thời kỳ phong kiến, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc
Trang 15về vua Các cuộc cách mạng tư sản đã lật đổ chế độ phong kiến, xác lập chính thể dân chủ Tuy nhiên, thời kỳ đầu (thế kỷ XIII), Nghị viện ở Anh, Pháp chỉ
là cơ quan tư vấn cho nhà vua trước khi vua ra các quyết định quan trọng, chủ yếu là vấn đề tài chính, thuế để phục vụ cho các cuộc chiến tranh Do sự phát triển của xã hội, nghị viện ngày càng có địa vị pháp lý cao hơn và càng trở nên độc lập với nhà vua Đến thế kỷ XV-XVI, Nghị viện Anh có toàn quyền lập pháp Đó là giai đoạn mà “Nghị viện có quyền được làm tất cả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà” Trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa nghị viện và nhà vua đã xảy ra biết bao cuộc nội chiến, cách mạng Có khi nghị viện bị giải tán hoặc tạm đình chỉ hoạt động, lãnh tụ nghị viện bị tống giam (trường hợp vua Charles I giải tán Nghị viện Anh năm 1629 và tống giam Sir John Eliot lãnh tụ Hạ nghị viện và nhiều nghị sĩ khác) Dưới thời vua Lui XIV, một ông vua tiêu biểu cho tư tưởng thần quyền ở Pháp với câu nói nổi tiếng “quốc gia là Trẫm” thì suốt 72 năm cai trị của ông ta (1643-1715), Nghị viện không hội họp gì cả Khi nghị viện thắng thế, Nghị viện đã lập tòa án đặc biệt để xét xử nhà vua (vua Charles I bị tử hình ở Anh năm 1649)
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình tổ chức quyền lực thời kỳ phong kiến, các nhà tư tưởng thời kỳ khai sáng (thế kỷ XVIII) đã xây dựng học thuyết phân chia quyền lực với những thiết chế mới thay cho chế độ cũ- đó là chính thể dân chủ
Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật có viết: “Chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hay một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao”[46, tr 46] “Trong chính thể dân chủ, theo một cách nhìn nào đó, có thể coi dân chúng như vua, mà cũng có thể coi là thần dân Dân là “vua” bởi họ được thể hiện ý chí của mình bằng các cuộc đầu phiếu Ý chí của vua chính là ông vua”[46, tr 47] “Dân chúng cần được như ông vua, và còn hơn thế, cần được sự hướng dẫn của một hội đồng, hoặc một nghị viện Hội đồng hay nghị viện này phải được dân tin cậy, cho nên nó phải do dân bầu ra như ở Athen,
Trang 16hoặc do các vị pháp quan được dân chỉ định và giao cho thành lập nghị viện như một đôi trường hợp ở Rome”[46, tr 48]
Jean Rousse trong Bàn về khế ước xã hội cũng khẳng định: “Quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại tạo ra nó, cho nên nó không có và không thể có lợi ích nào trái ngược với các thành viên”[43] Dân trao quyền cho Nghị viện vì “ưu thế lớn của các đại biểu là họ có thể bàn cãi về mọi công việc Dân chúng thì không làm như thế được”[46, tr 110] Vì vậy, “dân chúng chỉ nên tham gia việc nước bằng cách chọn đại biểu của mình là những người đủ năng lực làm việc Chẳng mấy ai hiểu rõ được trình độ cụ thể của tất cả mọi người, cho nên mỗi người lại có thể tin rằng mình chọn làm đại biểu là sáng suốt hơn cả người khác
Cơ quan đại biểu dân chúng không nên giải quyết các công việc cụ thể,
vì họ không thể làm tốt điều này Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật, và xem xét người ta thực hiện luật như thế nào Điều này thì có thể làm tốt, và không ai có thể làm tốt hơn là cơ quan đại biểu của dân”[46, tr 111]
Đó là làm luật và thực hiện quyền giám sát
Như vậy, trong các chế độ dân chủ, quyền lực nhà nước không thể thuộc
về một người, không thuộc về một cơ quan nào đó Quyền lực nhà nước chỉ thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực nhà nước Nhân dân thực hiện quyền chủ thể quyền lực của mình thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trong đó, nhân dân qua bầu
cử bầu ra Quốc hội (Nghị viện) - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Ví dụ: theo Hiến pháp năm 1987 của Cộng hoà Phi-lip-pin, Thượng nghị viện gồm 24 vị Thượng nghị sĩ được các cử tri có đủ điều kiện trên cả nước bầu ra; trong khi các hạ nghị sĩ lại được bầu ra ở các khu vực bầu cử Điều 147 của Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan quy định: “Các thành viên của Hạ nghị viện và Thượng nghị viện là đại diện của người Thái, và thực hiện một cách trung thực các bổn phận vì lợi ích chung của người Thái”[45]
Trang 17Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn quan tâm đến việc làm như thế nào để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân Tổng kết phong trào Công xã Pari, trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, Mác cho rằng: “Công xã không phải là cơ quan đại nghị, mà là một cơ quan hành động, vừa hành chính, vừa lập pháp” Lê nin trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” đã cho rằng: “…phương pháp thoát khỏi chế độ đại nghị không phải là phá hủy những cơ quan đại diện và nguyên tắc tuyển cử, mà là biến những cơ quan đại diện ấy từ chỗ là những cái máy nói thành những “cơ quan hành động”… Chúng ta không thể quan niệm một nền dân chủ, dẫu là một nền dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan đại diện”[40]
Trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, Người khẳng định quyền lực thuộc
về nhân dân Điều này thể hiện khá rõ trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927 Nghiên cứu cách mạng tư sản ở Mỹ, Hồ Chí Minh rút ra kết luận rằng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì giao quyền cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”[29, tr 270] Nghiên cứu cách mạng Pháp, người khẳng định: “dân chúng công nông là gốc cách mệnh”[29, tr 274] Nghiên cứu Cách mạng tháng Mười Nga, Người rút ra kết luận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và trở thành phương châm chỉ đạo trong suốt cuộc đời hoạt động của mình là: “muốn có cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê nin”[29, tr 280]
Thực tế Cách mạng Việt Nam cũng khẳng định tư tưởng này của Người Tháng 10 năm 1944, trước tình hình thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, việc thành lập nhà nước như thế nào cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trở thành vấn đề quan trọng được đặt ra đối với cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhân dân Hồ Chí Minh gửi thư đồng bào và đưa ra phương
án rất rõ ràng rằng: “Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta Mà cơ
Trang 18cấu ấy thì phải do một cuộc Toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”[30] Ngày 16/8/1945, tại Tân Trào, Đại hội đại biểu quốc dân toàn quốc - tiền Quốc hội gồm hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, đoàn thể ái quốc, các dân tộc, tôn giáo đã thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Sau khi Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi, Ủy ban dân tộc giải phóng được cải tổ trở thành Chính phủ lâm thời “Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền là phải thực hiện quyền dân chủ cho quần chúng, phải “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”[19, tr 30]
Như vậy, ở Việt Nam, Quốc hội ra đời không phải là để cạnh tranh hay chia sẻ quyền lực với nhà vua như Nghị viện các nước phương Tây Sự ra đời của Quốc hội Việt Nam trước hết xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng Thời kỳ đó cần phải có Chính phủ hợp pháp có đủ tư cách pháp lý thực hiện các công việc đối nội, đối ngoại của đất nước Chính phủ hợp pháp chỉ có thể được thành lập từ Quốc hội Quốc hội ra đời là để có một cơ quan đại diện cho nhân dân, thay mặt và thực thi quyền lực của nhân dân trong việc quản lý nhà nước và giám sát các cơ quan do Quốc hội bầu ra Ngay từ những ngày đầu tiên của Quốc hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại biểu cho toàn thể dân Việt Nam Đó là sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết lại thành một khối”[31] Điều này cũng được ghi nhận trang trọng trong bốn bản Hiến pháp và các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội
Điều 1 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”
Trang 19Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Nghị viện nhân dân do công dân Việt Nam bầu ra” (Điều 24) nên “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều 22)
“Quốc hội họp đặt nền móng cho chủ quyền dân tộc Vận mệnh nước Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam định đoạt thông qua đại biểu của chính mình Quốc hội họp biểu thị sự đoàn kết của toàn dân: dù trong hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam cũng quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập mới giành được Đại biểu khắp đất nước mang về Thủ đô ý chí bốn phương kết thành một khối,…”[19, tr 67] Khoá họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng khẳng định: “chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam Vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam”[19, tr 76]
Hiến pháp 1959, Điều 4 ghi nhận: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dâm chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều 43)
Hiến pháp 1980, Điều 6 có nêu: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” Đi ều 82 khẳng định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Hiến pháp 1992 cũng quy định tại Điều 83 rằng: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Do có vị trí như vậy nên Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội thực hiện
Trang 20quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước trên cơ sở hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH
Ở nước ta, ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước (Điều 97 của Hiến pháp 1992) Vì mang tính chất như vậy mà ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC
Ở các nước tư sản, nghị viên đại diện cho cử tri bầu ra mình, vì vậy, họ cũng có quyền chất vấn Chính phủ Tuy nhiên, do còn đại diện cho Đảng mà mình là thành viên, nên họ trung thành với Đảng hơn là với nhân dân và hoạt động chất vấn thường chỉ diễn ra do nghị viên thuộc phe đối lập thực hiện
“Ngoài chức năng lập pháp, Quốc hội/Nghị viện phải thực hiện việc giám sát đối với các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính hợp pháp của chính quyền Đây là chức năng phổ biến của Quốc hội các nước trên thế giới Quốc hội các nước có quyền giám sát các hoạt động của cơ quan hành pháp, trong một số trường hợp là người đứng đầu nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan tự quản địa phương, và một số cơ quan nhà nước khác Nhìn chung, Quốc hội giám sát các cơ quan nhà nước bằng các hình thức sau: Nghe báo cáo của Chính phủ
và các thành viên của Chính phủ; chất vấn của các ĐBQH, những câu hỏi miệng hoặc bằng văn bản của các ĐBQH;…”[16] Có thể nói, chức năng giám sát của Quốc hội là đương nhiên, vì “nếu Quốc hội từ bỏ trách nhiệm giám sát thì có thể dẫn đến hai kết quả Các cơ quan, các bộ, có thể cứ làm tới
mà không bị giám sát; hoặc ai đó có thể nắm dây cương Quốc hội đã thả lỏng Điều thứ hai đã xảy ra, nghĩa là nhân viên Tổng thống đã ngồi vào tay lái”[17] Trên lý thuyết là như vậy nhưng “trong hai thập kỷ vừa qua, Nghị viện đã tụt lại phía sau rất xa so với những thay đổi của Hiến pháp, Chính phủ
và xã hội Cho dù đã có những sự cách tân trong thời gian gần đây, đặc biệt là
Trang 21trong hoạt động lập pháp, thì vấn đề trọng tâm là hoạt động giám sát của nghị viện đối với cơ quan hành pháp vẫn chưa được đề cập [18, tr 121]
Trên thế giới, theo nghiên cứu của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tại 82 nước thì Quốc hội các nước giám sát bằng các công cụ rất đa dạng như: điều trần tại Ủy ban; điều trần tại phiên họp toàn thể; thành lập Ủy ban điều tra; đặt câu hỏi; thời gian hỏi đáp; chất vấn; Thanh tra Quốc hội [18, tr 26] Trong đó, mức độ phổ biến của các công cụ giám sát của nghị viện theo mô hình chính thể rất khác nhau, có thể tham khảo bảng dưới đây:
Bảng 4: Mức độ phổ biến của các công cụ giám sát của nghị viện
Thành lập
uỷ ban điều tra
Đặt câu hỏi
Thời gian hỏi đáp
Chất vấn Thanh tra
Quốc hội
% Số % Số % Số % Số % Số % Số % Số Đại
và thường bị dẫn dắt bởi các vụ bê bối lớn chứ không phải bởi các sức ép hướng tới hiệu quả của một chính phủ trong sạch và các chính sách công có chất lượng Rất nhiều nhà lập pháp đã tham gia ủng hộ cơ quan hành pháp
Trang 22một cách mù quáng để đổi lấy các công trình công cộng cho khu vực cử tri của mình, hoặc thậm chí là để đổi lấy tiền hối lộ Hoạt động giám sát chỉ xuất hiện khi những vụ tham nhũng của ngành hành pháp hoặc sự sụp đổ của các chính phủ không thể nào bỏ qua được nữa (như trường hợp Collor ở Brazil), hoặc chỉ sau khi các nhà lãnh đạo hành pháp đã hết nhiệm kỳ (như trường hợp Fujimori ở Peru hoặc Menem ở Argentina)”[18, tr 104]
Ở Anh, các cuộc hỏi đáp ở nghị viện tạo cơ hội cho các nghị sĩ đối lập đặt vấn đề trách nhiệm đối với các bộ trưởng Các câu hỏi này có thể là câu hỏi bằng văn bản hoặc bằng miệng (gồm các loại như câu hỏi cho bộ trưởng, câu hỏi liên bộ, câu hỏi cho thủ tướng, câu hỏi thông cáo cá nhân, câu hỏi tiếp sau diễn văn của bộ trưởng) Thời gian để đặt câu hỏi cho các bộ trưởng thường kéo dài một giờ đồng hồ trong các ngày làm việc từ thứ 2 đến thứ 5 hàng tuần trong thời gian diễn ra kỳ họp của Quốc hội Thời gian này được chuyển thành 2 lần một tuần vào thứ ba, thứ 5 sau khi Tony Blair lên làm Thủ tướng Ở Anh, câu hỏi viết được đánh giá có hiệu quả hơn các câu hỏi miệng
là ở chỗ trong khi các câu hỏi miệng còn được sử dụng để thực hiện một số chức năng lập pháp khác như đánh giá các quan điểm chính trị hoặc thông báo các tình trạng, thì các câu hỏi viết lại là công cụ giám sát tập trung và liên tục hơn Ở Anh, hoạt động giám sát bằng điều trần tại Uỷ ban rất có hiệu quả trong việc tìm kiếm thông tin hoặc các lời giải thích từ Chính phủ Tuy nhiên, mặc dù đang có nhiều thay đổi với một số ưu thế cho nghị viện trong thời gian gần đây, hoạt động xem xét, giám sát cơ quan hành pháp của nghị viện vẫn còn bị hạn chế bởi các quy định của Hiến pháp, của hệ thống chính phủ đơn đảng đa số và yêu cầu kỷ luật đảng cao, mà theo đó, nếu không có những thay đổi cơ bản thì cơ quan hành pháp vẫn tiếp tục chiếm ưu thế nổi trội [18,
tr 129-139]
1.1.2 Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH và vai trò của nó trong việc thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
Trang 23Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường đại học Luật
Hà Nội thì “chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng”[39] Theo đó, chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH
Chế định pháp luật mang tính chất nhóm, mỗi chế định có đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, chúng không tồn tại biệt lập Việc xác định ranh giới giữa chúng nhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn
Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH phải thể hiện đầy đủ các vấn đề như: khái niệm chất vấn; quyền chất vấn của ĐBQH; nghĩa vụ trả lời chất vấn của người bị chất vấn; phạm vi, nội dung các chất vấn; trình tự, thủ tục thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH; cơ chế giám sát hậu chất vấn của ĐBQH và chế tài đối với đối tượng không thực hiện nghiêm việc trả lời chất vấn Chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH nằm trong chế định pháp luật về ĐBQH, chế định pháp luật về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, đặc biệt, nó nằm trong chế định pháp luật lớn hơn là tổ chức và hoạt động của Quốc hội Vì vậy, chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH có mối liên hệ mật thiết với các chế định khác liên quan này Chính vì vậy, việc nghiên cứu chế định về quyền chất vấn của ĐBQH còn liên quan đến các thiết chế có liên quan như hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát Việc nghiên cứu chế định về quyền chất vấn của ĐBQH cho phép biết được giới hạn của quyền này của ĐBQH trong mối quan hệ với hoạt động của Quốc hội nói riêng và các cơ quan nhà nước nói chung Trong các văn bản pháp luật thực định, chế định pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH không được quy định tại một chương riêng mà nó nằm rải rác trong các chương khác nhau về ĐBQH và đoàn ĐBQH; hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội; hoạt động
Trang 24giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH Tuy được quy định đan xen nhưng nó cũng thể hiện rõ quyền của ĐBQH và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn
Chế định pháp luật về quyền chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền chất vấn của ĐBQH Về mặt lý luận, đó là sự phân biệt giúp chúng ta có thể nhận thức và thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của ĐBQH trong từng lĩnh vực nhất định Nó là sự cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng về hoạt động giám sát của Quốc hội, ĐBQH ĐBQH đại diện cho cử tri, nói tiếng nói của cử tri trên diễn đàn Quốc hội Vì vậy, ĐBQH phải có quyền ĐBQH có nhiều quyền và trách nhiệm nhưng trong đó, quyền kiểm soát và phê bình những cá nhân do Quốc hội bầu là rất quan trọng Có thể nói, chế định pháp luật về quyền chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH là cơ sở pháp lý để ĐBQH căn cứ vào đó thực hiện quyền chất vấn và yêu cầu các đối tượng bị chất vấn trả lời Dựa trên cơ sở pháp lý này, ĐBQH có thể yêu cầu các tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin
có liên quan đáp ứng cho hoạt động chất vấn của mình Mặt khác, nó còn là
cơ sở để ĐBQH căn cứ vào đó đánh giá hoạt động của người được chất vấn
và của cơ quan họ Chế định pháp lý về quyền chất vấn của ĐBQH là cơ sở để ĐBQH đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn hoặc thông qua
đó yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người được chất vấn Không chỉ một chiều, chế định pháp lý về quyền chất vấn của ĐBQH còn cho người trả lời chất vấn nhận thức được quyền hạn, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực này
để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình được tốt hơn
Với tầm quan trọng như vậy, thì chế định về quyền chất vấn của ĐBQH phải được quy định rõ ràng, mạch lạc để mọi quy định chỉ được hiểu một nghĩa Hơn nữa, nó phải là những quy định đủ mạnh để ĐBQH có thể thực hiện được quyền chất vấn của mình như một công cụ giám sát đắc lực và có hiệu quả
Trang 251.2 Vai trò của chất vấn và các bảo đảm thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
1.2.1 Vai trò của chất vấn của ĐBQH
“Vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái
gì đó”[33, tr 1470]
Theo đó, nói về vai trò của chất vấn của ĐBQH là nói đến tác dụng của chất vấn đối với hoạt động của ĐBQH nói riêng và hoạt động của Quốc hội nói chung; ngoài ra, nó còn có tác dụng đối với hoạt động của các cá nhân người bị chất vấn và cơ quan của họ Qua đó, nó thúc đẩy việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Chất vấn của ĐBQH là hình thức giám sát mang tính quyền lực nhà nước Nó có tác dụng quan trọng đối với hoạt động của ĐBQH nói riêng và hoạt động của Quốc hội nói chung Không dừng lại đó, với tính chất là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, chất vấn của ĐBQH cũng có vai trò quan trọng đối với tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước
Trước tiên là đối với ĐBQH: để có thể tiến hành chất vấn, ĐBQH phải
hiểu sâu sắc, nắm vững vấn đề Vì vậy, thông qua hoạt động chất vấn, ĐBQH
có thể nâng cao sự hiểu biết của mình Việc tìm hiểu thông tin có nhiều cách, bằng cách nào thì nó cũng giúp ĐBQH có được hệ thống tri thức lý luận và thực tế sâu sắc Bên cạnh đó, nó cũng là “trường học” để ĐBQH rèn luyện bản lĩnh, thể hiện năng lực, khả năng của mình khi đưa ra câu hỏi chất vấn Chất vấn sao cho không đụng chạm đến bí mật quốc gia, mà lại “trúng” và
“đúng” vấn đề khiến người bị chất vấn phải “tâm phục, khẩu phục” Thêm nữa, khi ĐBQH chất vấn, người dân thấy rõ mong muốn của mình được chuyển tải trong đó, thấy ĐBQH là người có dũng khí Chính từ hoạt động này, ĐBQH khẳng định sự lựa chọn đúng đắn của cử tri khi đã tin tưởng và
bỏ phiếu cho mình
Đối với hoạt động của Quốc hội
Trang 26Đối với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội: pháp luật đã ghi nhận Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH Vì vậy, chất vấn của ĐBQH tại kỳ họp Quốc hội hay tại phiên họp UBTVQH cũng là một trong những cơ sở để Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình Thông qua chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH, Quốc hội có cơ sở thực tiễn để kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động và trách nhiệm quản lý điều hành của cá nhân người đứng đầu và các cơ quan trong bộ máy nhà nước Chất vấn của ĐBQH cũng
là một kênh giám sát hữu hiệu giúp Quốc hội có được những Nghị quyết giám sát hiệu quả
Đối với hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của Quốc hội: có thể nói, chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH có liên quan mật thiết với hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của Quốc hội Lập pháp là đề ra chính sách, còn chất vấn gần giống như việc phản biện
và “canh chừng” việc thực hiện chính sách để khi phát hiện những sai sót thì ĐBQH cảnh báo cho các chủ thể thực hiện các chính sách Từ hoạt động chất vấn này, Quốc hội phát hiện được những bất cập trong đường lối, chủ trương, chính sách do mình ban hành; những bất cập trong việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước để quay lại hoàn thiện pháp luật và xem xét việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Đối với cá nhân người được chất vấn và bộ máy nhà nước: từ chất vấn
và trả lời chất vấn, người được chất vấn có dịp rà soát lại công việc của mình, nhìn lại mình để rút kinh nghiệm làm tốt hơn trách nhiệm được giao
1.2.2 Các bảo đảm thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH
Bảo đảm là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”[33, tr 54] Để ĐBQH thực hiện tốt các quyền chất vấn của mình, có nhiều yêu cầu đặt ra, trong đó phải có:
Trang 27Trước tiên là cơ sở pháp lý trao quyền chất vấn cho ĐBQH phải có hiệu lực pháp lý cao, minh bạch, rõ ràng Nghĩa là khi thực hiện quyền chất vấn của mình, ĐBQH phải biết mình dựa vào cơ sở pháp lý nào để thực hiện quyền Cơ sở pháp lý ấy phải có hiệu lực pháp lý cao, được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, luật Hơn nữa, nó phải rõ ràng, minh bạch để ĐBQH thực hiện quyền dễ dàng Vì sự không rõ ràng, minh bạch, đầy đủ của hệ thống pháp luật dễ dẫn tới sự vi phạm từ đối tượng
bị chất vấn và sự bối rối của các ĐBQH Điều này vô hình trung ảnh hưởng đến quyền của ĐBQH Hơn nữa, nói đến bảo đảm pháp lý là nói đến chế tài giám sát hậu chất vấn Pháp luật về vấn đề này phải cụ thể, đầy đủ để ĐBQH thực hiện đến cùng hoạt động chất vấn và giám sát hậu chất vấn
Để phát huy hơn nữa quyền của mình, thì ĐBQH phải được sinh hoạt trong môi trường thực sự dân chủ Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, vì vậy, chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH không bị Đảng can thiệp Người trả lời chất vấn không được đưa nguyên tắc Đảng lãnh đạo ra để từ chối việc trả lời chất vấn Ở nước ta, ĐBQH còn đại diện cho cử tri địa phương Có những ĐBQH về mặt hành chính là cán bộ cấp dưới của người trả lời chất vấn Vì vậy, phải có cơ chế thật sự dân chủ để ĐBQH ở địa phương có chất vấn cũng không sợ bị “thủ trưởng” ngành, thủ trưởng cấp tỉnh nơi mình công tác rầy rà mà ngại chất vấn Quốc hội phải là diễn đàn dân chủ nhất để ĐBQH nói lên tiếng nói thiết thân của cử tri cả nước
ĐBQH phải có thời gian làm đại biểu để tiếp xúc cử tri, phản ánh tiếng nói của cử tri trong cuộc sống
ĐBQH không thể làm tốt nhiệm vụ của mình nếu thiếu thông tin Có thông tin, ĐBQH mới có thể theo đuổi đến cùng vấn đề mình định chất vấn Tuy nhiên, có thông tin chưa đủ, ĐBQH phải có khả năng phân tích và nắm bắt thông tin, chọn những thông tin có giá trị, thật “đắt” để chất vấn đúng, sắc bén
Trang 28ĐBQH đến từ mọi ngành, nghề khác nhau Làm sao để ĐBQH có thể làm tốt chức năng đại diện của mình đó là câu hỏi không dễ trả lời Để ĐBQH
có thể phản ánh đầy đủ tiếng nói của nhân dân và chất vấn của ĐBQH thực sự đúng, sâu sắc, thì ĐBQH cần có bộ máy giúp việc hiệu quả Đó là hệ thống chuyên gia và cơ quan phục vụ
Một điều tế nhị nhưng cần phải bảo đảm, đó là chế độ lương bổng xứng đáng để ĐBQH có điều kiện vật chất để làm việc tốt
Và điều quan trọng nhất, pháp luật đã trao cho ĐBQH quyền chất vấn, ĐBQH là người đại diện cho ý chí của dân, phải có tâm để lắng nghe ý kiến của cử tri, tiếp nhận những tiếng nói của cử tri một cách chân thực và sống động nhất; có tầm để có thể phân tích các chất liệu của cuộc sống, tìm vấn đề bức xúc; có dũng khí để có thể tiến hành chất vấn thành công
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT VẤN CỦA ĐBQH VÀ YÊU CẦU, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHẤT VẤN CỦA ĐBQH VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật về quyền chất vấn của ĐBQH
2.1.1 Quy định của pháp luật về chất vấn của ĐBQH trước khi có Hiến pháp 1992
Quá trình hình thành và hoàn thiện pháp luật về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH nước ta gắn liền với quá trình hình thành và hoàn thiện bộ máy nhà nước Nó được thể hiện trong bốn bản Hiến pháp và các luật tổ chức Theo Điều 36, Hiến pháp 1946 thì, khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ (cơ quan của Nghị viện nhân dân gồm một Nghị trưởng, hai Phó nghị trưởng, 12 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết) có quyền: “kiểm soát và phê bình Chính phủ” Quy định trên gián tiếp cho thấy Nghị viện cũng
có quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ Thông qua hoạt động này, Nghị viện thể hiện thái độ của mình đối với Chính phủ: “Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức…” (Điều 54)
Điều 55, Hiến pháp 1946 quy định: “Các Bộ trưởng phải trả lời chất vấn bằng thư từ hoặc trả lời chất vấn bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc Ban thường vụ Kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn” Có thể nói, đây là những quy định đầu tiên về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, toàn dân tộc tập trung vào việc giữ nước nên những quy định về chất vấn chỉ được ghi nhận rất khái quát Ở đây, chủ thể chất vấn là tập thể - Nghị viện và Ban thường vụ thông qua thư chất vấn- chất vấn được tiến hành bằng văn bản
Hiến pháp 1959 quy định cụ thể hơn về hoạt động giám sát của Quốc hội
và chất vấn của ĐBQH so với Hiến pháp 1946 Theo đó, Quốc hội có quyền
“giám sát việc thi hành Hiến pháp” (Khoản 3, Điều 50) “Các ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính
Trang 30phủ Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn 5 ngày, trường hợp cần
phải điều tra thì thời hạn trả lời là 1 tháng” (Điều 59) Như vậy, theo Hiến
pháp 1959, chất vấn là quyền của cá nhân ĐBQH chứ không phải là quyền của tập thể Quốc hội nhưng đối tượng trả lời chất vấn lại là tập thể
Điều 42, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 1959 về chất vấn như sau: “ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ Lời chất vấn do Chủ tịch đoàn hoặc trong thời gian Quốc hội không họp thì do UBTVQH chuyển cho cơ quan bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước UBTVQH” Quy định này cho thấy chất vấn có thể được thực hiện trong kỳ họp của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung, của ĐBQH nói riêng được thực hiện liên tục, không bị gián đoạn trong thời gian Quốc hội không họp
Trong Hiến pháp 1980, các quy định về chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH hoàn thiện hơn so với Hiến pháp 1959 “ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội trong kỳ họp của Quốc hội Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội” (Điều 95) Như vậy, theo Hiến pháp năm 1980, ĐBQH có quyền chất vấn không chỉ đối với Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng mà còn đối với cả Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC- những chức danh do Quốc hội bầu
Điều 59, Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 quy định “ĐBQH có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC Khi Quốc hội họp, ĐBQH gửi những chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch Quốc hội chuyển cho các cơ quan hoặc người bị chất vấn
Trang 31Khi đại biểu chất vấn Hội đồng Bộ trưởng thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc một thành viên được ủy nhiệm của Hội đồng Bộ trưởng trả lời Khi đại biểu chất vấn một thành viên được ủy nhiệm của Hội đồng Bộ trưởng thì thành viên đó trả lời
Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó của Quốc hội Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội
Giữa hai kỳ họp Quốc hội, ĐBQH gửi chất vấn đến Chủ tịch Hội đồng Nhà nước để Chủ tịch Hội đồng nhà nước chuyển cho các cơ quan và người
bị chất vấn Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhà nước hoặc theo quyết định của Hội đồng nhà nước trả lời trước Quốc hội tại
kỳ họp gần nhất”
Theo quy định của luật này, thì chất vấn của ĐBQH sẽ là tiền đề cho việc xác định trách nhiệm của cơ quan hoặc người bị chất vấn: “Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của những người hoặc cơ quan bị chất vấn” (Điều 60)
2.1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về chất vấn của ĐBQH
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đặt nền móng cho sự đổi mới đất nước trên rất nhiều lĩnh vực, trong đó có việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Các văn bản pháp luật về hệ thống cơ quan nhà nước ngày càng hoàn thiện đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống
Kế thừa quy định của Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (Điều 83) tiếp tục khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Để thực hiện tốt chức năng này, hoạt động của các ĐBQH đóng vai trò rất quan trọng Điều 98, Hiến pháp 1992 quy định “ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC
Trang 32Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần thiết phải điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản” Như vậy, theo Hiến pháp 1992, ĐBQH không chất vấn cơ quan nhà nước nói chung mà chất vấn những người đứng đầu các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu Đây là điều khác biệt so với quyền chất vấn của ĐBQH được quy định tại Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội 1992 đã quy định về chất vấn và trả lời chất vấn tại Điều 42: “ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà ĐBQH chất vấn
Trong thời gian Quốc hội họp, ĐBQH gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản
Trong trường hợp giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến UBTVQH để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời gian trả lời chất vấn Nếu đại biểu không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc UBTVQH Khi cần thiết, Quốc hội hoặc UBTVQH ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn”
Ngoài các văn bản nói trên, Quốc hội còn ban hành các Nghị quyết quy định hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH, Nghị quyết quy định về nội quy
kỳ họp của Quốc hội
Như vậy có thể thấy, sau khi Hiến pháp 1992 ra đời, cơ chế giám sát của Quốc hội được nâng cao một cách rõ rệt Các quy định nói trên đã thể hiện vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc thực hiện giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đưa hoạt động giám sát lên một tầm cao mới Sau một thời
Trang 33gian áp dụng các văn bản pháp luật này, chất vấn và trả lời chất vấn của ĐBQH đã có những điểm tiến bộ đáng kể Các văn bản quy định về hoạt động chất vấn cũng được sửa đổi, bổ sung đầy đủ hơn cho phù hợp với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung, chất vấn và trả lời chất vấn nói riêng
Luật Tổ chức Quốc hội 2001 thay thế Luật Tổ chức Quốc hội 1992 tại Điều 49 quy định: “ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà ĐBQH chất vấn
Trong thời gian Quốc hội họp, ĐBQH gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến UBTVQH để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn Nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luật trước Quốc hội hoặc UBTVQH Khi cần thiết, Quốc hội hoặc UBTVQH ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn”
Năm 2003, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội ra đời là cơ sở pháp lý đảm bảo cho chất vấn được thực hiện một cách đầy đủ Lần đầu tiên Luật đưa
ra định nghĩa về chất vấn Điều 40 của Luật quy định: “ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC Nội dung chất vấn phải ngắn gọn, rõ ràng, có căn cứ và liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cá nhân của người bị chất vấn Chất vấn được thể hiện bằng văn bản hoặc lời nói trực tiếp”
Trang 34Trình tự, thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện theo quy định tại Điều 11 và 19, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội như sau:
Tại kỳ họp Quốc hội (Điều 11):
“1 ĐBQH ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn Đoàn thư ký kỳ họp giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các chất vấn của ĐBQH để báo cáo UBTVQH;
2 UBTVQH dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội quyết định;
3 Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Quốc hội được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ các vấn đề mà ĐBQH đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
b) ĐBQH có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời
4 Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa
ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;
Người trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, tại phiên họp UBTVQH hoặc
đã trả lời chất vấn của ĐBQH bằng văn bản có trách nhiệm báo cáo với các ĐBQH bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa khi trả lời chất vấn tại kỳ họp tiếp theo”
Tại phiên họp UBTVQH (Điều 19): “Chủ tịch Quốc hội nêu chất vấn của ĐBQH đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp của UBTVQH
và những chất vấn khác được gửi tới UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề
mà ĐBQH đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
Trang 35ĐBQH đã chất vấn có thể được mời tham dự phiên họp của UBTVQH và phát biểu ý kiến Trong trường hợp ĐBQH có chất vấn không tham dự phiên họp thì nội dung trả lời chất vấn, kết quả phiên họp trả lời chất vấn phải được gửi tới đại biểu đó chậm nhất là bảy ngày kể từ ngày kết thúc phiên họp UBTVQH; nếu ĐBQH có chất vấn không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị UBTVQH đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội”
Điều 43 Quy chế nội quy kỳ họp của Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 07/2002/QH11 năm 2002 quy định: “1 Trong thời gian Quốc hội họp, ĐBQH gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để chuyển đến người bị chất vấn Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó
2 Đoàn thư ký kỳ họp có trách nhiệm giúp Chủ tịch Quốc hội tổng hợp các ý kiến chất vấn để tổ chức thực hiện việc trả lời chất vấn tại kỳ họp
3 Việc trả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể được tiến hành theo trình
4 Trong trường hợp vấn đề chất vấn cần được điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản
5 Khi cần thiết, Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
6 Các phiên họp chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp”
Điều 25 Quy chế hoạt động của UBTVQH năm 2004 quy định: “Trong việc tổ chức thực hiện quyền chất vấn của ĐBQH, UBTVQH có những nhiệm
vụ quyền hạn sau đây:
Trang 361 Nghe báo cáo về việc tiếp nhận, tổng hợp, phân loại chất vấn của ĐBQH tại kỳ họp;
2 Chỉ đạo Ban công tác đại biểu giúp UBTVQH tiếp nhận chất vấn của ĐBQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời gian, hình thức trả lời chất vấn;
3 Xem xét việc trả lời chất vấn của ĐBQH được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH và chất vấn khác được gửi đến UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội;
4 Trong thời gian Quốc hội họp, dự kiến các nội dung và danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn của ĐBQH tại kỳ họp và báo cáo Quốc hội quyết định; yêu cầu người bị chất vấn chuẩn bị nội dung trả lời chất vấn của ĐBQH;
5 Khi xét thấy cần thiết, ra nghị quyết hoặc đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn”
Căn cứ vào các quy định tại Điều 11, Luật Hoạt động giám sát và Điều
42 Nội quy kỳ họp, UBTVQH có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm góp phần thúc đẩy họat động chất vấn và trả lời chất vấn đạt hiệu quả tốt
The o Điều 51 Quy chế hoạt động của UBTVQH nă m 2004,
t hì “UBTVQH xem xét việc trả lời chất vấn của ĐBQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội theo trình tự sau đây:
1 Chủ tịch Quốc hội nêu chất vấn của ĐBQH đã được Quốc hội quyết định cho trả lời tại phiên họp UBTVQH và những chất vấn khác được gửi tới UBTVQH trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội;
2 Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục;
3 ĐBQH đã chất vấn có thể được mời tham dự phiên họp UBTVQH và phát biểu ý kiến Trong trường hợp ĐBQH có chất vấn không tham dự phiên họp thì nội dung trả lời chất vấn, kết quả phiên họp trả lời chất vấn phải được
Trang 37gửi tới đại biểu đó chậm nhất là bảy ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp UBTVQH; nếu ĐBQH có chất vấn không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị UBTVQH đưa ra thảo luận tại kỳ họp Quốc hội
UBTVQH ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết”
Có thể nói, pháp luật quy định về trình tự, thủ tục chất vấn về cơ bản là hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chất vấn và trả lời chất vấn Tuy nhiên, những quy định trên còn có những bất cập sau:
Về chất vấn tại kỳ họp Quốc hội
Thứ nhất, thủ tục chuẩn bị chất vấn và trả lời chất vấn còn quá chung
chung, chưa thể hiện hết yêu cầu đặt ra cho nội dung hoạt động chất vấn Pháp luật chưa quy định thủ tục kiểm chứng để xác nhận phiếu chất vấn
đủ điều kiện đó là một chất vấn bảo đảm nội dung chất vấn phải rõ ràng, có căn cứ và liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm người bị chất vấn (Điều 40, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội) Vì vậy, nhiều khi chất vấn của ĐBQH nhầm lẫn với yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà ĐBQH quan tâm theo Điều 98, Hiến pháp 1992 Không ít chất vấn dựa vào dư luận chung, từ báo chí, từ cảm nhận chủ quan của người chất vấn hoặc thiếu thông tin thực tế do các cơ quan, người có trách nhiệm cung cấp chính thức Do đó, nhiều chất vấn không rõ ý, không có hoặc thiếu căn cứ, không đúng địa chỉ…
Pháp luật chưa quy định thủ tục lựa chọn người phải trả lời chất vấn và những vấn đề tập trung chất vấn và trả lời chất vấn ở từng kỳ họp Tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội điều khiển các phiên họp theo hướng tập trung vào những vấn đề mà UBTVQH đã lựa chọn Do vậy, có những vấn đề bức xúc
mà ĐBQH muốn chất vấn cũng không được đề cập Điều này dẫn đến hệ quả
là có thể việc lựa chọn vấn đề đưa ra trả lời trực tiếp trước Quốc hội sẽ không khách quan, không phản ảnh hết ý chí của ĐBQH, không đáp ứng yêu cầu của
Trang 38ĐBQH và cử tri Người mà rất nhiều ĐBQH muốn chất vấn thì lại không có
trong danh sách người được chất vấn
Pháp luật còn thiếu các thủ tục ghi nhận ý kiến của ĐBQH đánh giá văn bản trả lời chất vấn khi người trả lời không “trả lời đầy đủ các vấn đề mà ĐBQH đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục”(Điều
17, 19, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội) Vì vậy, nhiều văn bản trả lời chất vấn rất chung chung, không rõ trách nhiệm, né tránh các vấn đề mà ĐBQH đưa ra, thiên về báo cáo thành tích hay “múa các con số” Trên thực tế
có ĐBQH chưa thỏa mãn với câu trả lời đăng ký chất vấn trực tiếp, nhưng không phải tất cả đại biểu đều được chất vấn trực tiếp do không có đủ thời gian Điều này không tạo cơ hội cho ĐBQH theo đuổi chất vấn đến cùng
Thứ hai, một số quy định về thời gian trong chất vấn và trả lời chất vấn
tại kỳ họp chưa hợp lý
Pháp luật chưa đề cập đến thời gian ĐBQH gửi câu hỏi chất vấn bằng văn bản tại kỳ họp Quốc hội (từ lúc bắt đầu kỳ họp đến trước khi diễn ra phiên chất vấn) và từ khi đại biểu gửi câu hỏi đến khi nhận được trả lời Do vậy, nếu ĐBQH gửi câu hỏi càng chậm, người bị chất vấn càng ít thời gian chuẩn bị trả lời Điều này ảnh hưởng đến chất lượng trả lời, đồng thời đại biểu chậm nhận được trả lời sẽ gặp khó khăn khi thực hiện chất vấn tại phiên chất vấn Trên thực tế, UBTVQH dự kiến để Quốc hội quyết định chương trình làm việc chính thức của kỳ họp Việc này được tiến hành ngay đầu kỳ họp nên chưa thể dự báo được diễn biến của chất vấn và trả lời chất vấn để có thời gian cho phù hợp Việc bố trí thời gian cho chất vấn, trả lời chất vấn thường
từ hai đến ba ngày và có thể hơn một chút nếu như có việc nghe báo cáo giám sát chuyên đề tiến hành chung với chất vấn trước đó Số lượng bộ, ngành khá nhiều, do đó thời gian chất vấn được quy định “người bị chất vấn trả lời trực tiếp từng vấn đề thuộc nội dung chất vấn; thời gian trả lời chất vấn về từng vấn đề không quá 15 phút; ĐBQH có thể nêu thêm câu hỏi liên quan đến nội dung trả lời chất vấn; thời gian nêu câu hỏi không quá 3 phút” là chưa thật sự
Trang 39phù hợp Có những vấn đề không nhất thiết phải trả lời đến 15 phút nhưng người bị chất vấn trả lời kéo dài làm hạn chế thời gian của việc hỏi và trả lời những câu hỏi sau
Các phiên họp chất vấn thường được bố trí tập trung vào khoảng nửa cuối của kỳ họp Quốc hội nhằm tạo điều kiện để đại biểu có thời gian gửi câu hỏi và các cơ quan hữu quan có thời gian chuẩn bị Tuy vậy, 2, 3 ngày chất vấn và trả lời chất vấn thường diễn ra tương đối căng thẳng, cả đối với ĐBQH
và những người trả lời chất vấn và những câu hỏi chất vấn của ĐBQH gửi vào cuối kỳ họp không có điều kiện để tập hợp, bố trí trả lời tại Hội trường
Thứ ba, thủ tục đánh giá kết quả chất vấn và trả lời chất vấn còn thiếu
- Luật quy định “sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết” Tuy nhiên, Luật không xác định rõ “khi xét thấy cần thiết”
là khi nào để Quốc hội ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và người bị chất vấn Cách thức, thủ tục tiến hành ra sao “Khi xét thấy cần thiết” có phải là chỉ khi có “vấn đề về trách nhiệm của người bị chất vấn” hay không, trách nhiệm của người trả lời chất vấn là loại trách nhiệm gì, chất vấn và trả lời chất vấn có mối quan hệ gì với việc bỏ phiếu tín nhiệm… Luật không quy định rõ nên những vấn đề này rất ít được phát huy trên thực tế, làm hạn chế lớn đến kết quả giám sát bằng hình thức chất vấn
Ngoài ra, pháp luật về bỏ phiếu bất tín nhiệm đến nay cũng còn rất chung chung dẫn đến việc áp dụng rất khó khăn
Về chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội
Hiện nay, tiêu chí lựa chọn nội dung, đối tượng để trả lời chất vấn tại phiên họp UBTVQH còn chưa được quy định rõ ràng, nhất là việc lựa chọn