Riêng đối với các quy định về đại diện thì Bộ luật Dân sự năm 2005 còn nhiều thiếu sót như chưa có quy định về việc pháp nhân có thể là đại diện theo ủy quyền là không phù hợp với nhu cầ
Trang 1TRẦN THỊ THU THẢO
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO
PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Vũ Thị Lan Anh
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Quy chế pháp lý về người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Thị Lan Anh Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Người cam đoan
Trần Thị Thu Thảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tuy có những khó khăn trong quá trình nghiên cứu bởi vì chúng tôi là những học viên đầu tiên theo học hệ cao học theo định hướng ứng dụng của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhưng tôi đã hoàn thành luận văn với sự hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo thuộc Khoa Pháp luật kinh tế,
Bộ môn Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ dạy và hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn là PGS
TS Vũ Thị Lan Anh đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này
Học viên
Trần Thị Thu Thảo
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 8
1.1 Khái quát về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đại diện 8
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 10
1.1.3 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về người đại diện theo pháp luật 13 1.1.4 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 15
1.2 Khái quát về quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 16
1.2.1 Khái niệm quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 16
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 20
1.2.3 Nguồn pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 22
1.2.4 Nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp……….25
1.2.5 Quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới 25
Chương 2 NỘI DUNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 29
2.1 Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 29
2.1.1 Quy định của pháp luật về xác lập quyền đại diện của ngườvi đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 29
2.1.2 Quy định của pháp luật về số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 33
2.1.3 Quy định của pháp luật về thời hạn và phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 34
Trang 52.1.4 Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 36 2.1.5 Quy định của pháp luật về trường hợp vượt quá phạm vi đại diện và x lý
vi phạm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 37 2.2 Thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 39 2.2.1 Một số kết quả đạt được từ thực tiễn áp dụng quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 39 2.2.2 Một số hạn chế trong thực tiễn thực hiện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và nguyên nhân 53
Chương 3 GIẢI PHÁP N NG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ PHÁP
LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 59
3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 59 3.1.1 Việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải thể chế hóa chủ chương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước 59 3.1.2 Việc nâng cao hiệu quả thực hiện chế người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cần áp dụng hành lang pháp lý rõ ràng quy định địa vị pháp lý của người đại diện theo pháp luật kinh tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp 60 3.1.3 Việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quan hệ với doanh nghiệp 60 3.1.4 Việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải phù hợp với thực tiễn và có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật khác nhau 61 3.2 Một số giải pháp đối với doanh nghiệp nh m nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 62 3.2.1 Nâng cao hiệu quả xây dựng Điều lệ doanh nghiệp 62
Trang 63.2.2 Về phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật 64
3.2.3 Nâng cao trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình 66
3.2.4 Cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 66
3.3 Một số giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước nh m nâng cao hiệu quả thi hành quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 67
3.3.1 Giải pháp đối với Chính phủ 67
3.3.2 Giải pháp đối với ngành Tòa Án 69
3.3.3 Đối với các cơ quan nhà nước cấp Sở, địa phương 69
3.4 Một số giải pháp đối với các tổ chức xã hội nghề nghiệp nh m nâng cao hiệu quả thi hành quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 70
3.4.1 Giải pháp đối với Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam 70
3.4.2 Giải pháp đối với Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ 71
3.4.3 Giải pháp đối với một số Hiệp hội nghề nghiệp 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 81
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển hay không trước hết phụ thuộc vào người đứng đầu doanh nghiệp có đưa ra những quyết sách sáng suốt để doanh nghiệp phát triển hay không Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp, vấn đề chúng ta phải quan tâm đầu tiên đó là chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Vấn đề này có tính cấp thiết bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, theo tinh thần Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát
triển doanh nghiệp đến năm 2020 ngày 16/5/2016 là văn bản đầu tiên đưa ra thông
điệp để phát triển doanh nghiệp, đó là: “Doanh nghiệp là động lực của sự phát triển,
chính phủ vai trò kiến tạo, khởi nghiệp là sự nghiệp của nhân dân” Trong Nghị quyết
35/NQ-CP có nhắc đến mục tiêu: “Đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam
có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất một triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh” Để
đạt được mục tiêu đó thì cần phải tuân thủ nhiều nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp; nguyên tắc bảo đảm điều kiện kinh doanh phải rõ ràng minh bạch, dễ thực hiện, loại bỏ các thủ tục hành chính phức tạp bất hợp
lý Trong bối cảnh đó, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (sau đây gọi chung là Luật doanh nghiệp năm 2014) thay thế Luật doanh nghiệp năm 2005; Bộ luật Dân sự
số 91/2015/QH13 (sau đây gọi chung Bộ luật Dân sự năm 2015) ra đời thay thế Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 (sau đây gọi chung là Bộ luật Dân sự năm 2005) đã trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp đặc biệt đề cao chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tự do lựa chọn số lượng người đại diện của mình nâng cao vai trò của người đại diện theo pháp luật đối với hoạt động của doanh nghiệp
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự thay đổi của nhiều nguyên tắc,
trong đó có nhiều nguyên tắc mà Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa kịp dự liệu như: Nguyên tắc pháp luật bảo đảm nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế bởi luật trong những trường hợp đặc biệt như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận; Pháp luật chưa tạo được cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền, lợi ích của bên thứ ba ngay tình, của bên thiện chí, bên yếu thế trong quan hệ dân sự Pháp luật dân sự còn hạn chế
Trang 92
nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi Riêng đối với các quy định về đại diện thì Bộ luật Dân sự năm 2005 còn nhiều thiếu sót như chưa có quy định về việc pháp nhân có thể là đại diện theo ủy quyền là không phù hợp với nhu cầu chính đáng của các doanh nghiệp về đại diện, chưa bảo đảm tính hiệu quả trong quản lý, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang có nhu cầu và khả năng mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động của mình và có sự cạnh tranh của nhiều công ty xuyên quốc gia Chính vì vậy, cần nghiên cứu về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp để hiểu được sự thay đổi của pháp luật và những ưu điểm nhược điểm trong thực tiễn áp dụng
Thứ ba, hiện nay có nhiều trường hợp người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp thiếu trách nhiệm để xảy ra những hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát cho nguồn vốn của doanh nghiệp hoặc ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch, thể hiện mối quan hệ với các chủ thể trong doanh nghiệp (như với các thành viên, cổ đông góp vốn) hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanh nghiệp (đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước ) Do chế định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa thực sự được quan tâm một cách thích đáng, doanh nghiệp
dễ rơi vào trường hợp thất thoát về tài sản, hoặc doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp có thể còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thậm chí chịu trách nhiệm hình sự
Thứ tư, về mặt lý luận, từ khi có Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật doanh
nghiệp năm 2014 với rất nhiều mối liên quan đến người đại diện theo pháp luật, chưa
có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về chế định này, đồng thời, chưa có những nghiên cứu cụ thể về thực tiễn thực hiện chế định này Chính vì vậy, tác giả mong muốn nghiên cứu để đưa ra một cái nhìn toàn diện về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng” để làm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
Trang 103
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, những học thuyết nghiên cứu về chế định “đại diện” xuất hiện từ rất sớm Điển hình là các tác phẩm: Tài sản của Quốc gia (The Wealth of Nations) của Adam Smith1: Nhà kinh tế học nổi tiếng Adam Smith đã cho r ng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng r ng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith
đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền
sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control) Hay tác phẩm Công ty hiện đại và sở hữu tư nhân (The Modern Corporation and Private Property) của Adolf A Berle và Gardiner C Means2: Hai tác giả cũng cho r ng, mô hình công ty hiện đại ngày nay là đại diện của một hình thức mới về tài sản, mà tài sản
đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm thuê) hơn là các cổ đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản) Nhìn chung, các tác giả nói trên đã chỉ ra xu hướng phát triển của các công ty hiện đại cần có sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty Tuy nhiên, các học thuyết nói trên chỉ dừng lại ở các quan hệ tài chính giữa các cổ đông (người được đại diện) và giám đốc điều hành công ty (người đại diện)
Ở Việt Nam chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được nghiên cứu ở nhiều phạm vi và góc độ khác nhau Cụ thể như sau:
Nghiên cứu trong một số luận văn, luận án như: Nguyễn Văn Thắng (2007),
Người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp 2005, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa luật Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Vũ Thị Bích Thùy (2014), Đại diện
theo pháp luật của công ty cổ phần ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật
Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Hồ Ngọc Hiển (2012), Đại diện cho thương nhân
Trang 11http://text.xemtailieu.com/tai-lieu/quan-tri-cong-ty-tai-tong-cong-ty-tai-chinh-co-phan-4
theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện
khoa học xã hội; Lê Việt Phương (2014), Người đại diện theo pháp luật của công ty
theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học; Phạm Lâm Hải
Nguyên (2014), Chế định người đại diện của doanh nghiệp theo pháp lauajt Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị
Anh Đào (2016), Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo luật doanh
nghiệp năm 2014, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nghiên cứu trong các bài viết, tạp chí như: Bùi Xuân Hải (1999) “Người quản
lý công ty theo Luật doanh nghiệp 1999 - Nhìn từ góc độ luật so sánh”, Tạp chí Khoa
học Pháp lý, (4); Bùi Xuân Hải (2007) “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của
pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (4) Trong hai bài viết này,
tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản của học thuyết về đại diện và s dụng những luận điểm của học thuyết này để bình luận một số vấn đề trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp và pháp luật công ty Việt Nam; Lê Thị Bích Thọ (2001) “Một số ý kiến
về vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng kinh tế”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (2);
Nguyễn Văn Tuyến (2003) “Vấn đề đại diện hợp pháp của ngân hàng thương mại”,
Tạp chí Luật học, (5); Ngô Huy Cương (2009) “Chế định đại diện theo quy định của
pháp luật Việt Nam – Nhìn từ góc độ Luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
(4); Nguyễn Ngọc Thanh (2010) “Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện, một số gợi ý
về chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Kinh tế và Kinh doanh, (26); Hồ
Ngọc Hiển (2011) “Khái niệm đại diện và phân loại đại diện trong lĩnh vực thương
mại”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (18); Lê Văn Thiệp (2012), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đại diện theo pháp luật”, Tạp chí Kiểm sát, số Tân Xuân; Nguyễn
Vũ Hoàng (2013) “Chế định đại diện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra trong
thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Luật học, (2); Thân Văn Tài (2015) “Một số nội hàm khái niệm đại diện trong dự thảo Bộ luật dân sự (s a đổi)”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
Viện Nhà nước và Pháp luật, (10)
Các công trình trên chủ yếu tiếp cận vấn đề đại diện dưới một góc độ nhất định pháp luật dân sự hoặc luật thương mại như khái niệm, đại diện trong giao kết hợp đồng
Trang 125
hoặc những bài viết ngắn trong Bộ luật Dân sự năm 2005 mà chưa có bài viết nào nghiên cứu tổng thể các góc độ về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014
Chính vì vậy, tác giả trong luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này để làm rõ những góc cạnh của chế định và bổ sung vào những nghiên cứu đã có
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về chế định người đại diện của doanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: luận văn nghiên cứu quy chế pháp lý người đại diện theo pháp luật hiện hành của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật doanh nghiệp năm
2014 Các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực như Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ được giới thiệu để làm rõ những điểm mới, tiến bộ của các văn bản pháp luật mới ban hành Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tập trung vào các vấn đề: xác lập quyền đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; thời hạn
và phạm vi đại diện; quyền và nghĩa vụ của người đại diện và vấn đề x lý vi phạm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn các quy định về người đại diện của doanh nghiệp theo Bộ luật Dân sự năm 2015
và Luật doanh nghiệp 2014, từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nh m nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về chế định người đại diện của doanh nghiệp
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: (i) Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ đại diện và người đại diện của doanh nghiệp; (ii) Phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm
2015 và Luật doanh nghiệp năm 2014 về chế định người đại diện của doanh nghiệp; (iii) Đánh giá thực tiễn những điểm còn hạn chế khi áp dụng quy định pháp luật về chế
Trang 136
định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiêp; (vi) Đề xuất một số giải pháp
nh m nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về chế định người đại diện của doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu b ng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Trong từng chương cụ thể có s dụng các phương pháp: phương pháp lịch s , logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh Phương pháp nghiên cứu của từng chương như sau:
Chương 1: Tác giả s dụng chủ yếu phương pháp lịch s cụ thể, liệt kê, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống để đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện theo pháp luật;
Chương 2: Tác giả s dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp luật học so sánh và phương pháp thống kê để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành
và thực tiễn thực hiện về người đại diện theo pháp luật;
Chương 3: Tác giả s dụng phương pháp liên hệ, tổng hợp, hệ thống và đối chiếu để đưa ra một số giải pháp cụ thể nh m nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật người đại diện theo pháp luật
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Luận văn làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, từ đó, có có cơ sở khoa học để nghiên cứu sâu hơn về lý luận về người đại diện theo pháp luật Đề tài có thể s dụng trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn Luận văn đánh giá thực tiễn thi hành quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật dân sự và quy định pháp luật doanh nghiệp về chế định
Trang 147
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 03 chương như sau:
- Chương 1: Khái quát chung về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
và quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Chương 2: Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế pháp lý về người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Trang 158
Chương 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO
PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đại diện
Để tìm hiểu về người đại diện theo pháp luật, trước hết phải hiểu thế nào là
“Đại diện” Theo Từ điển tiếng Việt, đại diện là: “Thay mặt cho cá nhân hoặc tổ chức
Theo Từ điển Luật học, đại diện là: “Việc một người, một cơ quan, tổ
chức nhân danh người, cơ quan tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lí trong
Trên thế giới, chế định đại diện là chế định quan trọng trong pháp luật tư, được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia và hệ thống pháp luật Theo truyền thống Common law, “đại diện” có vai trò trong mọi mặt đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng Đại diện thúc đẩy sự phân công lao động
xã hội với một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn và được những học thuyết riêng ghi nhận
Sự phát triển của chế định đại diện dựa trên nền tảng tư tưởng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát triển mạnh.5
Có quan niệm cho r ng pháp luật về đại diện trong Commonlaw bắt nguồn từ một châm ngôn La
tinh: “Đại diện là hành động của một người thông qua một chủ thể khác được pháp
Có quan niệm cho r ng vấn đề đại diện
lúc này như “giao một con tàu cho thuyền trưởng điều khiển và quản lý hay hoạt động
Nguyễn Vũ Hoàng (2013), Chế định đại điện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đặt ra
trong thực tiễn áp dụng, Tạp chí Luật học (2), tr 2
6
Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead (1985), Business Law, Made Simple Books,
London, p.166
7
Ngô Huy Cương (2009), Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn từ
góc độ Luật so sánh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (4), tr.26-28
Trang 169
quan hệ phức hợp được tạo bởi quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện (agent) và người thứ ba (third party)8 Đối với pháp luật công ty, các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện Theo lý thuyết
về đại diện của mình, Jensen và Mecklin cho r ng: “Lý thuyết đại diện liên quan đến
một hợp đồng theo đó một hoặc vài người (cổ đông) giao cho người khác (thành viên HĐQT) thay mặt họ thực hiện một số dịch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết định cho đại diện Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa lợi ích, chúng ta có lý do để tin rằng đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích
kiểm soát công ty làm tiền đề cho sự xuất hiện lý thuyết về người chủ và người đại diện Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổ đông (những người chủ sở hữu – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy – agents) để thực hiện việc quản lý công ty cho họ, mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty10 Theo
Từ điển Black Law Dictionary bản thứ 9 thì thuật ngữ “Đại diện” được dùng để biểu đạt quan hệ một chủ thể nhân danh và vì lợi ích của một chủ thể khác để giao kết, thực hiện một giao dịch11
Điều 134 BLDS năm 2015 có định nghĩa về đại diện như sau: “Đại diện là việc
cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của
cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập,
pháp luật dân sự Việt Nam đã có tiếp thu tương đối đầy đủ những học thuyết về đại diện Pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm đại diện theo quan điểm tương đối hài hòa
8
Hồ Ngọc Hiển (2007), Nghĩa vụ người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh
doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr.57
9
Michael C Jensen and William Meckling (1976), Theory of the Firm: Managerial Behavior,
Agency Costs and Ownership Structure, Journall of Financial Economics, October, 3, p 26
10
Bùi Xuân Hải (2007), “Nghĩa vụ người đại diện và người ủy quyền theo pháp luật kinh
doanh của Hoa Kỳ trong sự so sánh với các quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam”, tạp
Trang 1710
với các hệ thống pháp luật trên thế giới, có lẽ xuất phát từ việc vấn đề đại diện của pháp luật Việt Nam có nguồn gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với BLDS Pháp13
Từ những học thuyết nói trên, tác giả đồng tình với khái niệm đại diện trong
BLDS năm 2015 của Việt Nam như sau: “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây
gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác
(sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng
kí thành lập theo quy định của pháp luật nh m mục đích kinh doanh Doanh nghiệp có thể có tư cách pháp nhân (công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh) hoặc không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân) Nếu là pháp nhân, doanh nghiệp là pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 75 BLDS năm 2015
Do là một tổ chức, là một thực thể pháp lý, không phải là con người cụ thể nên tổ chức đó cần có cá nhân đại diện cho mình, thay mặt mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của tổ chức Khi thực hiện chức năng đại diện, người đại diện phải nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp (Điều 134 BLDS năm 2015)
Ở Việt Nam, khái niệm người đại diện theo pháp luật được quy định tại khoản
1 Điều 13 LDN năm 2014: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá
nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, toà án và các quyền và nghĩa
vụ khác theo quy định của pháp luật”
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có đặc điểm như sau:
Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trước hết phải là con
người cụ thể nên mang đầy đủ năng lực cá nhân, con người Cụ thể, đó là năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân b ng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trước hết có đầy đủ năng lực này và
13
Ngô Huy Cương (2009), “Chế định đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam – Nhìn
từ góc độ Luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tr 29
Trang 1811
không bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Đây là điều kiện bắt buộc và tiên quyết để trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mà nếu không đáp ứng thì pháp luật có quy định thay thế người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Đặc điểm này phù hợp với quy định của BLDS năm 2015 và quy định về các chức danh quản lý trong LDN năm 2014
Thứ hai, người đại diện của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp, vì lợi ích
của doanh nghiệp và thực hiện quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp Người đại diện của doanh nghiệp là người có thẩm quyền nhân danh doanh nghiệp tham gia, xác lập
và thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp là phù hợp với quy định của
BLDS năm 2015 về phạm vi đại diện tại Khoản 3 Điều 141 quy định: “Người đại
diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Trong mối quan hệ
với người chủ sở hữu (cổ đông, thành viên) thì người đại diện được coi như là người
nhận ủy quyền và phải có nghĩa vụ của người thụ ủy Đây cũng được xem là mối
quan hệ ủy thác tài sản, khi tài sản được đặt dưới sự kiểm soát của người được ủy thác vì lợi ích của một người thụ hưởng hoặc cho một mục đích đã định Người được
ủy thác có quyền và bổn phận và chịu trách nhiệm quản lý, s dụng theo các điều khoản ủy thác và nhiệm vụ đặc biệt mà luật pháp áp đặt Trong BLDS năm 2015 quy định việc xác lập quyền đại diện của người đại diện theo ba phương thức, trong đó có quy định về xác lập theo điều lệ doanh nghiệp, xác lập theo quy định pháp luật hoặc theo quyết định của Tòa án Nếu doanh nghiệp là nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện tại toà án, trọng tài thì người đại diện đương nhiên của doanh nghiệp tham gia các thủ tục tố tụng phải là người đại diện theo pháp luật Nếu người này không tham gia được thì có thể uỷ quyền cho người khác những người không có quyền đương nhiên như người đại diện theo pháp luật Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp ngoài những quyền và nghĩa vụ đã phân tích ở trên Người đại diện của doanh nghiệp là người có trách nhiệm thực hiện các công việc vì quyền và lợi ích của doanh nghiệp
Thứ ba, người đại diện chỉ được nhân danh doanh nghiệp xác lập, thực hiện
Trang 1912
giao dịch trong phạm vi đại diện Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện chỉ
có hiệu lực pháp lý đối với người được đại diện khi và chỉ khi giao dịch đó phù hợp với phạm vi đại diện Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đại diện Quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp, của người đại diện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào việc người đại diện có thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình hay không Do đó, đòi hỏi người đại diện phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin về phạm vi đại diện trước khi xác lập các giao dịch, nhất là trong điều kiện BLDS năm 2015 và LDN năm 2014 cho phép một doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật
Thứ tư, công ty TNHH, CTCP có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo
pháp luật Số lượng người đại diện theo pháp luật do doanh nghiệp tự quyết định, trừ doanh nghiệp tư nhân Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại điều lệ công ty Đây là quy định hoàn toàn mới, lần đầu tiên được LDN ghi nhận nh m tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh với bên ngoài thông qua các đại diện theo pháp luật Nếu như trước đây, theo LDN năm 2005, mỗi doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, tất cả những người khác muốn thực hiện các giao dịch nhân danh công ti đều phải có uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật thì nay, với quy định mới này của LDN năm 2015, tất cả những người được điều lệ quy định là đại diện theo pháp luật đều có quyền nhân danh công ti thực hiện các giao dịch đó mà không cần bất cứ uỷ quyền nào Bên cạnh đó, quy định này còn giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc quản lí nội bộ, tăng trách nhiệm của những người được chỉ định là đại diện theo pháp luật, giảm bớt các thủ tục hành chính khi không cần phải tiến hành thủ tục uỷ quyền Đồng thời, quy định này còn gỡ rối cho doanh nghiệp trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ, người đại diện duy nhất của doanh nghiệp không hợp tác, không thực hiện các yêu cầu của thành viên, cổ đông trong quá trình quản lí điều hành nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài
Trang 20- Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là văn bản pháp luật đầu tiên góp phần tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Tại Điều 12 Luật này khi quy định về xí nghiệp liên doanh, khái niệm về người đại diện của doanh nghiệp lần đầu tiên xuất hiện14 Theo đó, mỗi bên trong xí nghiệp liên doanh c người của mình vào HĐQT, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc có nhiệm vụ điều hành các hoạt động của xí nghiệp và chịu trách nhiệm trước HĐQT Tuy nhiên, các quy định này không thể hiện rõ tư tưởng đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền như các văn bản pháp luật sau này
- Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 đã có một số quy định về người đại diện của pháp nhân khi ký kết hợp đồng kinh tế, đã ghi nhận quan hệ đại diện giữa chủ thể pháp nhân và người đại diện trong việc ký kết hợp đồng kinh tế với chủ thể thứ ba Nhưng những quy định này mang nặng tính hình thức đã gây những trở ngại, thậm chí là thiệt hại về kinh tế cho các chủ thể Đó cũng là điểm hạn chế lớn của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 198915
- Pháp luật công ty Việt Nam đã có bước phát triển mới khi ban hành Luật Công ty 1990 và LDN tư nhân 1990 Trong hai đạo luật này đã có những quy định mang đặc trưng cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Mặc dù có những điểm tiến bộ nhưng do ban hành vào những năm đầu của công cuộc đổi mới
14Điều 12 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 quy định: Cơ quan lãnh đạo của xí nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị Mỗi bên chỉ định người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp vốn nhưng ít nhất có hai thành viên trong Hội đồng Chủ tịch Hội đồng do hai bên thoả thuận c ra Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị c ra để điều hành các hoạt động hàng ngày của xí nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng về hoạt động của xí nghiệp Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất là công dân Việt Nam
15
Bùi Ngọc Cường (2001), “Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế nước ta hiện nay”,
Tạp chí Khoa học Pháp lý, (4), tr 20
Trang 21có sự thống nhất với nhiều hạn chế về nội dung và phạm vi điều chỉnh
- BLDS năm 2005 và LDN năm 2005 được ban hành đánh dấu một bước cải cách quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thể chế kinh tế thị trường, cùng với đó là một hệ thống pháp luật dân sự - thương mại thống nhất, liên thông được xác lập dựa trên nguyên tắc mối quan hệ luật chung và luật riêng BLDS được xác định là luật chung18 LDN và các đạo luật khác liên quan đến các hành vi kinh doanh thương mại được xác định là luật chuyên ngành Các quy định về đại diện cũng dựa trên nguyên tắc này Do tầm quan trọng của chế định đại diện nên BLDS năm 2005 đã dành một chương riêng để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam đã tiếp nhận và có sự hài hoà nhất định với pháp luật của các nước về đại diện khi quy định tại Điều 139 BLDS năm 2005 đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền Song BLDS năm 2005 và LDN năm 2005 vẫn còn nhiều điểm hạn chế, gây ra khó khăn cho sự phát triển của doanh nghiệp
Hiện nay, BLDS năm 2015 và LDN năm 2014 đã có những quy định đầy đủ
và thống nhất hơn về chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp BLDS
16
Nguyễn Thị Thu Vân (1998), Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty ở
Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 124-125
17
Nguyễn Như Phát, Ngô Huy Cương, Những khác biệt giữa Luật thương mại Việt Nam và các chế định pháp luật thương mại các nước Tại địa chỉ: http://tranductuan.files.wordpress.com/2013/04/5-luat-thuong-mai-so- sanh.doc
18
Hồ Ngọc Hiển (2012), Đại diện cho thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện
nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr 97
Trang 2215
năm 2015 quy định về nguyên tắc đại diện, số lượng đại diện và phạm vi thời hạn đại diện để thống nhất với LDN LDN năm 2014 đã quy định đầy đủ việc xác lập đại diện, vấn đề quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Vấn
đề nào chưa được ghi nhận trong LDN thì có thể áp dụng nguyên tắc chung của BLDS năm 2015
Ngoài ra chế định về đại diện còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác như Luật thương mại, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng… hình thành nên một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ đại diện, có sự tương thích nhất định với các quy định của pháp luật Việt Nam và nước ngoài
Tóm lại, sự hình thành và phát triển chế định người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp ở nước ta đã phát triển theo từng giai đoạn lịch s của đất nước Ở giai đoạn đầu các chế định này xuất hiện và phát triển sơ khai nhưng tính đến nay đã đi vào hoàn thiện và phát triển, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển
1.1.4 Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thể hiện qua các yếu tố sau đây:
Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là vị trí bắt buộc,
thiếu nó các doanh nghiệp không thể hoạt động
Thứ hai, với vai trò là người đại diện theo pháp luật, cá nhân đó nhân danh
doanh nghiệp tiếp xúc, giao dịch với những người bên ngoài và ý chí của công ty được thể hiện thông qua hành động của người đại diện B ng hoạt động của người đại diện theo pháp luật, doanh nghiệp không thể thoái thác trách nhiệm của mình với các chủ thể khác Người thứ ba khi giao dịch với công ty thì chỉ cần quan tâm đến việc ràng buộc trách nhiệm công ty thông qua hành động của người đại diện
Thứ ba, trong mối quan hệ với chủ sở hữu, người đại diện doanh nghiệp nhân
danh chủ sở hữu thực hiện việc quản lý công ty cho họ, mà trong đó bao gồm cả thẩm quyền ra những quyết định nhất định để hành động cho và vì lợi ích của công ty cũng như định đoạt tài sản công ty19 Đồng thời cùng với chủ sở hữu hoạch định các chiến
19
Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt
Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, tr 14-20
Trang 2316
lược, kinh doanh của công ty, góp phần nâng cao giá trị tài sản góp vốn của chủ sở hữu
Thứ tư, người đại diện đóng vai trò hỗ trợ chủ sở hữu kiểm soát hành vi của
các chức danh quản lý khác, nhất là trong giao dịch với bên ngoài thông qua cơ chế người đại diện theo pháp luật là (những) người duy nhất có thẩm quyền xác lập, thực hiện các giao dịch theo các hình thức xác lập quyền đại diện, mặc dù theo quy định của pháp luật, giao dịch đó có thể thuộc thẩm quyền của các chức danh quản lý khác theo cơ chế ủy quyền của người đại diện theo pháp luật Nhờ đó, cơ chế giám sát nội
bộ của doanh nghiệp chặt chẽ hơn, hạn chế tình trạng lạm quyền của các chức danh quản lý và người đại diện
Thứ năm, trong mối quan hệ với khách hàng và các bên liên quan khác, người
đại diện chính là người nhân danh doanh nghiệp trong các mối quan hệ đối ngoại Tầm quan trọng của chữ ký người đại diện theo pháp luật trên một văn bản của công
ty n m ở chỗ ràng buộc công ty vào nội dung văn bản Hành vi của người đại diện chính là chứng cứ pháp lý để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thông qua hành vi của người đại diện, các cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát, đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để có những biện pháp x lý, can thiệp kịp thời nh m đảm bảo doanh nghiệp phát triển lành mạnh theo khuôn khổ pháp luật
1.2 Khái quát về quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Khái niệm qu ch pháp l về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ “quy chế pháp lý” thông thường được dùng để chỉ tổng thể các quy phạm pháp luật liên quan tới một đối tượng điều chỉnh nhất định Theo Đại từ điển
tiếng Việt quy chế là:“Quy chế là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi
Trang 2417
pháp luật hoặc quy phạm xã hội do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự nhất định, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các thành
Qua nghiên cứu cho thấy, quy chế pháp lý là một thuật ngữ được s dụng nhiều trong khoa học pháp
lý Quy chế pháp lý có nghĩa khác với nội quy Quy chế chính là thuật ngữ chỉ tổng thể các quy định được đặt ra để điều chỉnh một đối tượng nhất định, có hiệu lực bao trùm toàn bộ một hệ thống pháp luật nhất định Còn nội quy được dùng để chỉ quy tắc ứng x mang tính nội bộ cho một tập thể nhất định liên quan tới một hoạt động nhât định Như vậy, có thể hiểu đơn giản quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo thủ tục luật địnhvề người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mang tính bắt buộc cho người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp
1.2.1.2 Mối quan hệ giữa các thành viên của doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp đương đại, quyền sở hữu được mở rộng ra hàng ngàn
cá nhân và các tổ chức tài chính khác nhau Mà trong đó, người quản lý với vai trò là người đại diện cho người chủ sở hữu nhận các quyền điều phối và kiểm soát doanh nghiệp Chính vì vậy, trong mối quan hệ đại diện, luôn tiềm ẩn sự xung đột lợi ích giữa những thành viên góp vốn và người quản lý, điều hành doanh nghiệp Đây được xem là mâu thuẫn cơ bản của công ty.22 Xem xét mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người đại diện qua lăng kính của một số lý thuyết về kiểm soát quản trị sẽ cho chúng ta góc nhìn bao quát về vấn đề này
Theo học thuyết về đại diện, mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác.23
Mà trong đó, chủ
sở hữu bổ nhiệm, chỉ định người đại diện thực hiện việc quản lý công ty, trao cho họ một số thẩm quyền, bao gồm cả quyền định đoạt tài sản để phục vụ lợi ích của chủ sở
21
Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển bách khoa,
tr 624
22
Lê Thị Hiền (2010), Tranh chấp nội bộ công ty theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.11
23
Bùi Xuân Hải (2007), tldd 6, tr.11-18
Trang 2518
hữu Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi tích của mình, thì có cơ sở để tin r ng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công
ty Làm thế nào để đảm bảo r ng người đại diện chỉ hành động duy nhất vì lợi ích
người chủ (principal) là một thách thức lớn lao
Nguyên nhân của hiện tượng trên là, trong mỗi công ty đều có những mối quan
hệ ẩn chứa sự xung đột lợi ích ở những mức độ khác nhau, giữa một bên là cổ đông với tư cách là người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công
ty với tư cách là người trực tiếp quản lý, s dụng vốn, tài sản của công ty Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, tất cả các cổ đông,thành viên công ty nói chung – bất kể là cổ đông/thành viên góp nhiều vốn hay ít vốn – đều có thể phải đối mặt với việc bị “bóc lột” bởi những người quản lý điều hành công ty.24 Các đặc tính của tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết r ng, các cổ đông thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nh m đảm bảo lợi ích của mình, b ng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty25
Mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện còn được nhìn ở khía cạnh
khác Dưới lăng kính của lý thuyết về người quản gia (stewardship theory) cho chúng
ta một góc nhìn trái ngược hẳn Lý thuyết người quản gia phản ánh các ý tưởng cổ điển về kiểm soát quản trị Thành viên HĐQT có trách nhiệm pháp lý với cổ đông chứ không phải với chính mình, cũng không phải với các nhóm có quyền lợi khác Ngược với lý thuyết đại diện, lý thuyết người quản gia tin r ng thành viên HĐQT không luôn luôn hành động theo hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân của họ, họ có thể và thực sự đã hành động một cách có trách nhiệm với sự độc lập và chính trực Như Cairns đã nói, “Không một người nào, với tư cách là đại diện, lại được phép đặt mình vào vị trí mà lợi ích và trách nhiệm của bản thân mâu thuẫn nhau”.26
Chuyên ngành
cơ bản n m sau lý thuyết người quản gia là các nghiên cứu pháp lý và tổ chức B ng
24
Bùi Xuân Hải (2011), Luật Doanh nghiệp – Bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.147
Trang 2619
việc phản ánh các mô hình pháp luật, lý thuyết người quản gia cung cấp các giới hạn chính xác cho công ty, xác định rõ ràng tài sản và trách nhiệm, cổ đông và các thành viên HĐQT27 Tuy nhiên, với sự sụp đổ của các công ty lớn cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI như Enron, Athur Andersen hay Worldcom, lòng tin mà các thành viên HĐQT
có được theo mô hình người quản gia đã bị xói mòn và người ta đã bắt đầu đặt ra câu hỏi về sự tận tụy của HĐQT đối với lợi ích của các thành viên
Ở một phía khác, các nhà kinh tế học đánh giá mối quan hệ giữa người chủ và người đại diện dưới góc độ lợi ích Theo đó, quan hệ đại diện phát sinh khi phúc lợi
của một bên (gọi là người chủ, người đại diện – principal) lệ thuộc vào hành vi, sự
tích cực chủ động và thiện chí của một bên khác (gọi là người đại diện, người thừa
hành tác nghiệp – agent) Khi lợi ích giữa người chủ và người đại diện không giống
nhau, mà điều này hầu như là luôn tồn tại, thì công ty sẽ phải gánh chịu các chi phí khác ngoài chi phí sản xuất kinh doanh thông thường như: chi phí giám sát hành vi thông thường của người đại diện; chi phí cho việc đưa ra các ràng buột cho hành động của người đại diện; chi phí ký kết hợp đồng với người đại diện; chi phí cho những quyết định không tối ưu của họ…Tất cả các chi phí này gọi chung là chi phí đại diện.28 Ý tưởng này xuất phát từ định lý Coase với nội dung cốt lõi là: Trong đời sống
xã hội, nếu các chủ thể pháp luật không bỏ ra chi phí giao dịch nào, thì tính hiệu quả
sẽ đạt được, bất kể việc chọn lựa quy phạm pháp luật như thế nào29
Vì thế, các nghiên cứu của kinh tế học xoay quanh vấn đề giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa
người chủ (principal) và người đại diện (agent), thông qua đó đưa ra các chiến lược pháp lý (agency problem and legal strategies) nh m hạn chế các chi phí đại diện
(agency costs), từ đó làm giảm các chi phí giao dịch (transaction costs), thúc đẩy các
Hà Thị Thu H ng (2007), Kiểm soát và quản lý hiệu quả chi phí đại diện trong công ty cổ
phần, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP HCM, tr.5
29
Nguyễn Văn Tuyến (2006), “Tính hiệu quả của Luật chứng khoán – Sự tiếp cận từ kinh tế
học pháp luật”, Tạp chí Luật học số 8, tr.53
Trang 2720
sở lý thuyết nào được chấp nhận rộng rãi như một khuôn mẫu, cũng như chưa có một
mô hình quản trị nào được đánh giá là hoàn thiện
Thật sự, những vấn đề nêu trên còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên mặc dù có tiếp thu và ghi nhận, nhưng rõ ràng vẫn chưa được hiểu đúng và phát huy tác dụng trong luật thực định Việt Nam
ác u tố ảnh hưởng đ n qu ch pháp l về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.2.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật
Hệ thống văn bản pháp luật về đại diện có tác động lên quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Điển hình trong đó là BLDS năm
2015 và LDN năm 2014 Trước hết các quy định pháp luật ghi nhận các nguyên tắc cơ
bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Pháp luật quy định về các yếu tố mà mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bắt buộc phải có, bao gồm: khái niệm, số lượng, quyền và nghĩa vụ, căn
cứ xác lập, cách thức x lý khi không tự mình thực hiện được quyền đại diện Mặt khác, pháp luật cho phép doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình người đại diện, cụ thể là: doanh nghiệp được tự lựa chọn số lượng người đại diện, tự xác lập quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong Điều lệ doanh nghiệp, trong trường hợp không
tự mình thực hiện quyền đại diện thì tiến hành ủy quyền cho người khác thực hiện quyền đại diện Như vậy quy định của BLDS năm 2015 và LDN năm 2014 cho phép doanh nghiệp hoàn toàn chủ động quy định về chế định đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mình Ngoài ra, LDN năm 2014 còn quy định về người đại diện theo pháp luật của công ty như trường hợp CTCP có 01 người đại diện theo pháp luật thì chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc/Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty, trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật công ty
Như vậy, các quy định pháp luật đã tạo khung pháp lý cần thiết người đại diện theo pháp luật thực hiện quyền của mình đối với hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp Với những quy định mang tính bắt buộc thì chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhất thiết phải tuân thủ Với những quy định mang tính nguyên
Trang 2821
tắc thì doanh nghiệp có quyền tự quyết định trong khuôn khổ những quy định đó Các quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp rõ ràng, đồng bộ, minh bạch sẽ là nhân tố thuận lợi cho quá trình phát triển của doanh nghiệp
1.2.2.2 Điều lệ doanh nghiệp
Điều lệ doanh nghiệp như bản cam kết của tất cả các thành viên công ty về mục đích thành lập, tổ chức quản lý và tổ chức hoạt động của doanh nghiệp, được các thành viên công ty thông qua và được thông báo tới cơ quan đăng ký kinh doanh Bởi vậy, các quy định của điều lệ doanh nghiệp có tính chất bắt buộc thi hành với doanh nghiệp
và các thành viên trong doanh nghiệp, được coi là bản “Hiến pháp” của doanh nghiệp Điều lệ doanh nghiệp quy định cụ thể, chi tiết về bộ máy quản lý nội bộ công ty Điều
lệ quy định cơ cấu bộ máy quản lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong bộ máy quản lý đó Đồng thời Điều lệ còn quy định về cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong doanh nghiệp tùy thuộc vào yêu cầu của từng doanh nghiệp Về vấn đề người đại diện theo pháp luật, theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 LDN năm
2014 quy định: CTCP và công ty TNHH có thể có “Một hoặc nhiều người đại diện
theo pháp luật”
Như vậy, so với LDN năm 2005, LDN năm 2014 quy định công ty hoàn toàn có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định tại Điều lệ công ty, ý chí của doanh nghiệp được ghi nhận trong Điều lệ công ty Vì vậy, Điều lệ công ty có ảnh hưởng lớn tới quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.2.2.3 Các văn bản nội bộ của doanh nghiệp
Trong quá trình thành lập cho đến khi bước vào hoạt động, doanh nghiệp có thể ban hành nhiều văn bản nội bộ như: Quy chế tổ chức hoạt động của Giám đốc công ty; Nội quy lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tổ chức hoạt động của phòng ban Quy chế về tổ chức và hoạt động của một bộ phận trong doanh nghiệp là một trong những loại văn bản nội bộ vô cùng quan trọng trong bất kỳ công ty nào, dù lớn
Trang 2922
hay nhỏ dù đa ngành nghề hay đơn ngành nghề Nếu thiếu quy định này hoạt động tổ chức doanh nghiệp sẽ khó đạt được kết quả với mức tối đa Quy chế làm việc sẽ quy định các điều kiện như nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm của từng cá nhân có liên quan, trong đó có người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Các văn bản nội bộ này có giá trị áp dụng đối với công ty Bên cạnh Điều lệ công ty, các văn bản nội bộ có ảnh hưởng lớn đến quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của
doanh nghiệp Các văn bản này là “cánh tay nối dài” của Điều lệ công ty, cụ thể hóa
những quy định của Điều lệ Chính vì vậy, trong quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải tuân thủ các văn bản nội bộ này
1.2.2.4 Quyết định của cơ quan tòa án có thẩm quyền
Trong một số trường hợp đặc biệt, toà án có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại toà án Theo Điều 75 và Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định, toà án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại toà án trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn không có người đại diện hoặc có người đại diện theo pháp luật nhưng người này rơi vào một trong hai trường hợp sau: (1) Là đương sự trong cùng một vụ án với doanh nghiệp nhưng quyền và lợi ích hợp pháp của
họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; (2) Đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mà họ đại diện trong cùng một vụ án Quy định này của pháp luật tố tụng nh m tránh xung đột lợi ích của cá nhân người đại diện và doanh nghiệp mà họ đại diện Trong những trường hợp này, không phụ thuộc vào điều lệ doanh nghiệp hay ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp, toà án có quyền chỉ định người đại diện cho doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tại toà án Chính vì vậy, quyết định của Tòa án cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quy chế pháp lý của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
1.2.4 gu n pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp
lý mà các chủ thể thực hiện hành vi thực tế, nói cách khác, nguồi của pháp luật là tất
Trang 3023
cả các yếu tố chứa dựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lý cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội30 Hệ thống pháp luật nước ta là hệ thống pháp luật thành văn nên nguồn của pháp luật nước
ta hiện nay gồm có: Các văn bản quy phạm pháp luật; Điều ước quốc tế; Tập quán thương mại; Án lệ và lẽ công b ng
Trong số các nguồn luật kể trên, văn bản quy phạm pháp luật là nguồn luật quan trọng nhất, đây là những văn bản quy phạm có chứa quy tắc x sự chung liên quan đến quy chế về người đại diện theo pháp luật
Các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
(i) Hiến pháp: Là đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp là văn bản xác định
chế độ chính trị, kinh tế xã hội là tư tưởng cơ bản để cho các đạo luật tuân theo Hiến pháp là nguồn chung và quan trọng của chế định đại diện
(ii) Bộ luật dân sự: BLDS từ khi ra đời năm 1995, 2005 và 2015 đều xác định
rõ tầm quan trọng là đạo luật gốc để điều chỉnh các quy phạm pháp luật trong mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có quy định pháp luật về đại diện Đối với chế định
“người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” thì BLDS là một nguồn vô cùng
quan trọng đưa ra cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng nên chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
(iii) Luật doanh nghiệp: LDN hiện nay đã quan tâm đến vị trí của chế định đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp và quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp LDN là một nguồn quan trọng và trực tiếp trong nguồn điều chỉnh chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
(iv) Luật đầu tư, Luật ngân hàng và một số luật chuyên ngành khác: Từng
ngành và từng lĩnh vực cụ thể cũng ban hành những văn bản luật có quy định về vấn
đề đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chính vì vậy, trong hệ thống các nguồn của chế định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể liệt kê một số luật chuyên ngành
30
Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, tr 238
Trang 3124
Bên cạnh đó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành luật như: Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của LDN; Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp; Nghị định 93/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2015 về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh; Nghị định 81/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 09 năm 2015 về công bố thông tin doanh nghiệp Nhà nước; Nghị định 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 về quản lý và s dụng con dấu.v.v
Nguồn điều ước quốc tế là các điều ước quốc tế song phương và đa phương Tuy nhiên, trong các điều ước quốc tế chỉ quy định về vấn đề pháp nhân, ví dụ như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN quy định Pháp nhân có nghĩa là bất kỳ thực thể pháp lý nào được thành lập hoặc tổ chức một cách hợp pháp theo luật hiện hành, vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, thuộc sở hữu tư nhân hay sở hữu nhà nước, bao gồm mọi công ty, tập đoàn, liên danh, liên doanh, hoặc một chủ Hiệp hội.31
Mà không có Điều ước quốc tế nào mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập có quy định trực tiếp về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Nguồn tập quán chính là các tập quán được áp dụng trong hoạt động thương mại nói chung, là những thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền, lãnh thổ nhất định có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại
Trong lĩnh vực thương mại, thói quen thương mại hình thành giữa các bên cũng
là nguồn luật
Án lệ đã chính thức trở thành nguồn của pháp luật nước ta và được thừa nhận
kể từ khi Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 có hiệu lực, cụ thể: “Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, bản án quyết định pháp luật đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử” Trên thực tế tính đến
nay mới có 10 án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao công bố
31
Asean (1992), Hiệp định khung về đầu tư Asean, Philipin
Trang 321.2.5 i dung c ản của qu ch pháp l về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Nội dung cơ bản của quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được ghi nhận trong cả BLDS năm 2015 và LDN năm 2014 Theo đó, quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gồm có những nội dung sau:
- Căn cứ xác lập người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
- Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật doanh nghiệp;
- Thời hạn và phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
- Số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Cách thức x lý nếu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện không đúng phạm vi và thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi và thẩm quyền đại diện
1.2.6 Qu ch pháp l về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo pháp luật m t số quốc gia tr n th gi i
Pháp luật của nhiều nước như Anh, Pháp hay Thụy Sỹ đều công nhận việc
32
Nguồn: Trang web Tòa án tối cao: http://anle.toaan.gov.vn:
- Án lệ số 09/2016/AL Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/KDTM-GĐT ngày 15-3-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa” tại tỉnh Bắc Ninh giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần thép Việt Ý với bị đơn là Công ty cổ phần kim khí Hưng Yên; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Ngọc Lan và ông Lê Văn Dũng
- Án lệ số 08/2016/AL Quyết định giám đốc thẩm số 12/2013/KDTM-GĐT ngày 16-5-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại
cổ phần ngoại thương Việt Nam với bị đơn là Công ty cổ phần dược phẩm Kaoli; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà Nguyễn Thị Phượng, Nguyễn Đăng Duyên,
Đỗ Thị Loan
Trang 33về việc có thể có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật, nhưng vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu để xây dựng quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Pháp luật Pháp quy định người đại diện là người được công ty ủy nhiệm, có nhiệm vụ thay mặt công ty trong các giao dịch hay quan hệ với các chủ thể bên ngoài công ty Pháp luật Pháp quy định ra các điều kiện để trở thành người đại diện theo pháp luật của công ty khá chặt chẽ như là: Không được tham gia điều hành quá nhiều công ty bởi vì nếu điều hành quá nhiều công ty thì sẽ không làm việc chu đáo Tuy nhiên không nhiều ở đây là không quá 8 công ty Trong các giao dịch với các chủ thể bên ngoài, nếu người đại diện ký hợp đồng vượt quá phạm vi thẩm quyền thì hợp đồng đó vẫn hợp pháp và vẫn được tiến hành Theo Bộ luật thương mại Pháp, nếu Điều lệ không có ấn định quyền hạn cụ thể thì người quản lý có thể làm mọi việc liên quan đến việc quản lý vì lợi ích của công ty Trong trường hợp có nhiều người quản
lý, thì mỗi người đảm nhiệm một quyền hạn riêng biệt Tuy nhiên, trong mối quan hệ với người thứ ba, người quản lý được giao những quyền hạn rộng rãi nhất để có thể thay mặt công ty hành động trong mọi trường hợp, ngoại trừ các quyền hạn mà pháp luật chỉ dành riêng cho các thành viên công ty Theo Luật công ty Úc khi thực hiện các giao dịch với người đại diện, người thứ ba ngay tình có quyền suy đoán về thẩm quyền đương nhiên hoặc thẩm quyền mặc định của một đại diện công ty Nghĩa là về nguyên tắc, hợp đồng do người đại diện ký vượt quá phạm vi thẩm quyền đại điện (defective contracts) vẫn có hiệu lực, trừ khi công ty (người được đại diện) có thể chứng minh r ng người thứ ba không ngay tình Vượt quá thẩm quyền đại diện chỉ là việc của hai bên - bên đại diện và bên được đại diện - chứ không liên quan đến bên
33
Ủy ban kinh tế quốc hội (2016), Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới,
Nxb Tài chính, Hà Nội, tr 123
Trang 3427
thứ ba - người có giao dịch với công ty thông qua người đại diện Ở đây áp dụng nguyên tắc “quản lý nội bộ” và quyền suy đoán dựa trên luật pháp34 Pháp luật công
ty của Úc cho phép người thứ ba ngay tình được giả định r ng người đại diện công ty
ký kết hợp đồng là người được bổ nhiệm hợp pháp, giao dịch đó đã được Ban giám đốc công ty thông qua (nếu đó là loại giao dịch yêu cầu phải có sự thông qua của ban giám đốc) và các thủ tục nội bộ của công ty liên quan đến giao dịch đã được thực hiện đầy đủ Các công ty có người đại diện giao kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền sẽ rất khó có khả năng thoái thác trách nhiệm nếu cơ chế quản trị nội bộ của họ lỏng lẻo dẫn tới các giao dịch được ký vi phạm hoặc vượt quá thẩm quyền Chính vì vậy, Việt Nam cần học tập pháp luật quốc tế theo hướng quy định này bởi vì các đối tác thường
là các đối tác yếu thế hơn công ty, đặc biệt là việc tiếp cận các thông tin nội bộ của công ty Việc vượt quá thẩm quyền trong trường hợp này vẫn có hiệu lực để bảo vệ các đối tác yếu thế
Kết luận chương 1
Như vậy, thông qua chương 1 có thể hiểu khái niệm “người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, toà
án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” Người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp có đặc điểm, vai trò và lịch s hình thành riêng gắn liền với pháp luật doanh nghiệp và pháp luật dân sự
Quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được hiểu
là “Tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo thủ tục luật địnhvề
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mang tính bắt buộc cho người đại diện theo pháp luật của các doanh nghiệp” Quy chế pháp lý về người đại diện theo
34
TS Quách Thúy Quỳnh - TS Nguyễn Thị Vân Anh, Lại chuyện hợp đồng vô hiệu do vi
phạm thẩm quyền, xem thêm tại:
http://www.thesaigontimes.vn/148793/Lai-chuyen-hop-dong-vo-hieu-do-vi-pham, truy cập ngày 26/6/2017
Trang 3528
pháp luật của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quy định của pháp luật, Điều lệ của doanh nghiệp, các văn bản nội bộ của doanh nghiệp và quyết định của cơ quan Tòa án có thẩm quyền Ở Việt Nam, quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp xuất phát chủ yếu từ nguồn văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế, tập quán thương mại Bộ luật Dân sự năm 2015 và LDN năm 2014
đã xây dựng nhiều nội dung tiến bộ trong quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bao gồm: căn cứ xác lập; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện; thời hạn và phạm vi đại diện; số lượng người đại diện và cách thức x lý khi có vi phạm về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, ở chương 1 đã phân tích quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để từ đó có những chia sẻ kinh nghiệm đối với việc xây dựng và thực hiện quy chế pháp lý về người đại diện diện theo pháp luật của doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 3629
Chương 2 NỘI DUNG QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT
CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2 1 Nội dung quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Qu đ nh của pháp luật về ác lập qu ền đại diện của ngườvi đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo như nội dung đã trình bày tại chương 1, quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chủ yếu được quy định trong BLDS năm 2015, LDN năm 2014 và các luật chuyên ngành khác Chính vì vậy, quy định về xác lập người đại diện theo pháp luật trước hết được ghi nhận tại BLDS năm 2015 Theo quy định tại Điều 88 BLDS năm 2015, đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này chỉ xem xét đến vấn đề đại diện theo pháp luật, không chú trọng vào vấn đề đại diện theo ủy quyền
Theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2015: “Quyền đại diện được xác lập theo
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)” Như vậy
so với BLDS năm 2005 thì quy định này của BLDS năm 2015 đã làm rõ được cách thức xác lập quyền đại diện đối với doanh nghiệp, tránh được những rủi ro vướng mắc không đáng có trong thực tiễn và trong các vụ việc được xem xét tại Tòa án
2.1.1.1 Xác lập người đại diện theo Điều lệ doanh nghiệp
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 137 BLDS năm 2015, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định theo Điều lệ doanh nghiệp Quy định này đã thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp Theo khoản 2 Điều 13 LDN năm 2014, Điều lệ phải quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Theo
Khoản 2 Điều 77 BLDS năm 2015 “đại diện của pháp nhân” là một trong những nội
dung chủ yếu của Điều lệ phải có Theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 25 LDN năm 2014 cũng quy định rõ điều lệ CTCP, công ty TNHH phải có nội dung về người
Trang 372.1.1.2 Xác lập quyền đại diện theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 137 BLDS năm 2015 người đại diện
theo pháp luật của doanh nghiệp được xác định theo các “quy định của pháp luật”
Không phải bất cứ loại hình doanh nghiệp nào cũng được Luật trao quyền tự chủ cho Điều lệ khi lựa chọn người đại diện theo pháp luật, điều này gắn liền với quy
mô và đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp, như là đối với công ty hợp danh, pháp luật quy định rõ tất cả các thành viên hợp danh đều là đại diện theo pháp luật và
có quyền nhân danh công ty trong các giao dịch và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh h ng ngày của công ty (khoản 1 Điều 179 LDN năm 2014) Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (khoản 4 Điều 185 LDN năm 2014) Như vậy, đối với hai loại hình doanh nghiệp là công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, vấn đề người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã được quy định rõ trong LDN; chủ sở hữu doanh nghiệp không có quyền quyết định người đại diện theo pháp luật khác với quy định của pháp luật, chủ
sở hữu doanh nghiệp bị hạn chế quyền lựa chọn và quyết định người (những người) đại diện theo pháp luật của mình Về nguyên tắc, người hoặc những người được pháp luật quy định đương nhiên trở thành người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu công ty Nếu chủ sở hữu công ty muốn can thiệp hay quyết định khác so với quy định pháp luật thì sự can thiệp này chỉ thực hiện được nếu pháp luật có quy định Ví dụ, trong trường hợp công ty hợp danh muốn hạn chế quyền đại diện theo pháp luật của các thành viên hợp danh, tức là chỉ một hoặc một vài người nhất định, chứ không phải tất cả các thành viên hợp danh được hưởng quyền đó hoặc người đại diện theo pháp luật bị hạn chế một số quyền nhất
Trang 3831
định thì sự hạn chế này chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về sự hạn chế đó Trong trường hợp bên thứ ba không biết được về sự hạn chế đó thì thành viên hợp danh này vẫn được coi là người đại diện theo pháp luật của công ty và có đầy
đủ quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
Ngoài ra cũng những trường hợp tuy LDN đã trao quyền tự chủ nhưng doanh nghiệp không muốn thực hiện hoặc không thực hiện thì pháp luật vẫn có quy định để xác lập người đại diện theo pháp luật như sau: Đối với CTCP, trong trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty, quy định này giống với quy định của LDN năm 2005 về người đại diện theo pháp luật của CTCP (Điều 95) Trong trường hợp doanh nghiệp quyết định chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì LDN năm
2014 chỉ cho phép một trong hai chức danh này là người đại diện theo pháp luật Đây
là những người đứng đầu trong quản lý, điều hành hoạt động h ng ngày của doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu, do vậy giao cho họ trách nhiệm đại diện cho doanh nghiệp trong giao kết và thực hiện các giao dịch với chủ thể khác là quy định hợp lý Tương tự đối với công ty TNHH một thành viên, pháp luật quy định trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật Theo quan điểm của tác giả, những quy định này là không cần thiết vìì (i) nội dung về người đại diện theo pháp luật của một doanh nghiệp là nội dung bắt buộc trong Điều lệ công ty TNHH và CTCP, do đó sẽ khó xảy ra trường hợp Điều lệ công ty không quy định (Điều 78 LDN năm 2014) Quy định về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên phụ thuộc vào cá nhân và tổ chức thành lập, từ đó xác định mô hình quản lý doanh nghiệp, xác định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tương ứng với các chức danh trong mô hình doanh nghiệp đó Đối với công ty TNHH hai thành viên thì nếu cá nhân
là đại diện bị tạm giam, bị kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác thì thành viên còn
Trang 39Trường hợp thứ tư mà pháp luật quy định người đại diện là trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người địa diện mà không ủy quyền, hoặc người đại diện chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị c người thay thế
2.1.1.3 Theo quyết định của toà án
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLDS năm 2015, một căn cứ khác để xác lập
quyền đại diện là:“Do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án”, quy định này của BLDS phù hợp với khoản 1 Điều 13 LDN năm 2014 đã quy định: “Người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện… đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, tòa án.” Tại Khoản 7 Điều 13 LDN năm 2014 nhấn
mạnh: “Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định
người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án”
Các trường hợp đặc biệt này được quy định tại Điều 76 và Điều 77 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại toà
án trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn không có người đại diện hoặc có người đại diện theo pháp luật nhưng người này rơi vào một trong hai trường hợp sau:
Trang 4033
Thứ nhất, là đương sự trong cùng một vụ án với doanh nghiệp nhưng quyền và
lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
Thứ hai, đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một
đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp mà họ đại diện trong cùng một vụ án
Quy định này của pháp luật nh m tránh xung đột lợi ích của cá nhân người đại diện và doanh nghiệp mà họ đại diện Trong những trường hợp này, không phụ thuộc vào điều lệ doanh nghiệp hay ý chí của chủ sở hữu doanh nghiệp, toà án có quyền chỉ định người đại diện cho doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
2.1.2 Qu đ nh của pháp luật về số lư ng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2015: “Một pháp nhân có thể
có nhiều người đại diện theo pháp luật” Điều này là điểm mới quan trọng được xây
dựng để thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 13 LDN năm 2014 là số lượng
người đại diện theo pháp luật của: “Công ty TNHH và CTCP có thể có một hoặc nhiều
người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” Đây
có thể được coi là điểm s a đổi đáng kể của BLDS năm 2015 để phù hợp với LDN năm 2014 về vấn đề người đại diện theo pháp luật Khắc phục được những hạn chế vướng mắc khi chỉ có một người đại diện theo pháp luật gây ra nhưng khi LDN năm
2014 và BLDS năm 2015 cho phép pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật còn nhiều vấn đề pháp lý cần được làm rõ hơn như: cơ chế giám sát lẫn nhau giữa những người đại diện theo pháp luật; sự phân định về trách nhiệm liên đới hay riêng lẽ của các đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện của các đại diện theo pháp luật trong việc xác lập giao dịch nhân danh doanh nghiệp Có những trường hợp được đặt
ra trong thực tiễn cũng cần được làm rõ như xác định những giao dịch đòi hỏi phải được
sự chấp thuận của tất cả các đại diện theo pháp luật hay hiệu lực của hợp đồng mà doanh nghiệp ký với đối tác trong trường hợp một đại diện theo pháp luật phản đối văn bản mà người đại diện theo pháp luật khác đã ký kết Cần phải có những yêu cầu đặt ra đối với