Việc nhà nước ghi nhận bằng pháp luật địa vị của các công dân trong xã hội có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố địa vị thực tế của công dân, đồng thời nó buộc các cá nh
Trang 2QUY CHÉ PHÁP LÝ
CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM
ĐÈ TÀI KHOA HỌC CÁP TRƯỜNG
MÃ SỐ: LH-09-07/ĐHL-HN
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS NGUYỄN MINH ĐOAN -ThS PHẠM THỊ TÌNH
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ v i ệ n ; TRỰỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI PHÒNG ĐỌC
NHỮNG NGƯỜI THựC HIỆN
1 TS NGUYỄN MINH ĐOAN, Chuyên đề: 1,2, 3,10
2 ThS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG, Chuyên đề: 5, 7
3 ThS NGUYỄN VẢN THÁI, Chuyên đề: 8,9
4 ThS PHẠM THỊ TÌNH, Chuyên đề: 4
5 TS NGUYỄN MINH TUẤN, Chuyên đề: 6
HÀ NỘI - 2009
Trang 3Việt Nam
86
CHUYÊN ĐỀ 5 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị 101CHUYÊN ĐỀ 6 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực dân sự 113CHUYÊN ĐỀ 7 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế 122CHUYÊN ĐỀ 8 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá 134CHUYÊN ĐỀ 9 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực xã hội 152
CHUYÊN ĐỀ 10 Hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân Việt Nam 172
Trang 4+ Phân tích làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về quy chế pháp lý của công dân như khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý công dân Việt Nam.
+ Phân tích nội dung quy chế pháp lý của công dân trên các phương diện như chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật
về các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam và thực tiễn thực hiện chúng ở ViệtNam trên từng lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội
+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Các chuyên đề nghiên cứu trong đề tài
1 Khái niệm quy chế pháp lý của công dân
2 Nội dung quy chế pháp lý của công dân
3 Những nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý của công dân
4 Quá trình hình thành và phát triển quy chế pháp lý của công dân Việt Nam
5 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị
6 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực dân sự
7 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế
8 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá
9 Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam trong lĩnh vực xã hội
10 Hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân Việt Nam
Trang 5TÓNG QUAN ĐÈ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HỌC
A PHẨN MỞ ĐÀU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển của nhân loại là lịch sử phát triển tự do của con người, đưa con người từ vương quổc của tất yếu vào vương quốc của tự do, khẳng định địa vị làm chủ của con người Những năm qua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam
đã và đang diễn ra quá trình đổi mới sâu sắc từ tư duy đến hành động, trong đó có việc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Sự đổi mới đó dẫn đến một hệ quả tất yếu là địa vị của người dân ngày càng được củng cố và phát triển Điều này được thể hiện không chỉ về mặt thực tế mà còn được phản ánh trong quy chế pháp lý của công dân, các cá nhân
Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn phải được củng cố, hoàn thiện và phát triển trên cơ sở có sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cần tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trí tuệ nhân loại và kinh nghiệm quý báu của các nước khác, các dân tộc khác trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật, đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế tạo điều kiện để đất nước phát triển nhanh và bền vững
Sự đổi mới của đất nước đòi hỏi phải tiến hành sửa đổi, bố sung nhiều quy định pháp luật liên quan đến quy chế pháp lý của công dân cho phù hợp với tình hình mới
Do vậy, việc nghiên cứu quy chế pháp lý của công dân Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, xây dựng nhà nước pháp quyền là rất cần thiết, góp phần hoàn thiện những tư tưởng, quan điểm phù hợp để chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật cũng như quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật trong tình hình và điều kiện mới đạt được nhiều thành tích hơn vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam đã và đang được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Một số công trình như: Giáo trình lý
luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư Pháp 2005; Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Văn
Động "‘Hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Nxb Chính trị quốc gia 1997; sách chuyên khảo
“Một số vấn đề về quyền kinh tế- xã hội” do Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh chủ
Trang 6biên, Nxb Lao động 1996; sách chuyên khảo “Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị” do Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia 1997; sách tham khảo “Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công dân với nhà nước” của Trần Ngọc Đường và Chu Văn Thành, Nxb Chính trị quốc gia 1994; sách chuyên khảo
“Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Văn Động, Nxb Tư pháp 2004, sách chuyên khảo “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Công an nhân dân 2003; PGS TS Nguyễn Văn Động “Quan niệm về quyền con người trong thời đại ngày nay” tạp chí Dân chủ & pháp luật, 12/2009 và nhiều công trình khác nữa đã nghiên cứu, đề cập tới vấn đề này Các công trình nói trên đã tiếp cận và nghiên cứu về các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam, mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân ở những khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về quy chế pháp lý của công dân Việt Nam về mặt
lý luận cũng như thực tiễn thể hiện của quy chế trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc
tế, xây dựng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Vì vậy, quy chế pháp lý của công dân Việt Nam vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện trong hiện tại và tương lai
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ờ Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế Các phương pháp nghiên cứu dược chú ý hơn là phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu một cách khách quan, khoa học và tương đối đầy đủ về quy chế pháp lý của công dân Việt Nam
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện và phát triển hơn lý luận về quy chế pháp lý của công dân, giúp cho việc giảng dạy về bản chất mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và cong dân được chính xác, khoa học và phù hợp hơn Ket quả nghiên cứu cũng đồng thời góp phần để hoạt động thực tiễn xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của công dân ở nước ta đúng đắn và có hiệu quả cao hơn trong điều kiện hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nên các tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản sau:
Trang 7B PHẦN NỘI DUNG
1 Khái niệm quy chế pháp lý công dân
Trong đời sống xã hội hiện đại con người luôn ở trong rất nhiều những mối quan
hệ khác nhau, những quan hệ xã hội đó do chính con người tạo ra, nhưng trong quá trình tồn tại, vận động chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đối với con người, chúng xác định vị trí, địa vị của mỗi con người trong đời sống xã hội Giữ vai trò quan trọng trong những quan hệ xã hội đó là quan hệ qua lại giữa nhà nước, xã hội và cá nhân, bởi chúng có liên quan tới các quyền, tự do dân chủ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân Các quan hệ đó được thể hiện rõ hơn cả trong quy chế pháp lý của cá nhân, nói cách khác, vai trò và địa vị của mỗi cá nhân trong xã hội hiện nay thể hiện tập trung hơn cả trong quy chế pháp lý của họ
Quy chế pháp lý của công dân là sự ghi nhận, củng cố của nhà nước về mặt pháp
lý địa vị của công dân trong nhà nước và xã hội, nói cách khác, địa vị mà công dân có được trong nhà nước và xã hội được quy định bằng pháp luật tạo nên quy chế pháp lý của công dân Quy chế pháp lý của công dân được nhà nước thiết lập bằng pháp luật,
nó thể hiện ý chí của nhà nước Nội dung của quy chế pháp lý có thể thay đổi tùy thuộc ý chí nhà nước, tuy nhiên ý chí nhà nước thì phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển Quy chế pháp lý của công dân
là sự ghi nhận và củng cố địa vị thực tế của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội bằng pháp luật Nó xác dịnh về mặt pháp lý phạm vi hoạt dộng của công dân, hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ, những biện pháp bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó, trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng, nhà nước
và xã hội
Quy chế pháp lý của công dân là một bộ phận của pháp luật, trong đó gồm những quy phạm pháp luật quy định về các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công dân, các bảo đảm cho việc thực hiện chúng Quy chế pháp lý của công dân luôn thế hiện ý chí, thái độ của nhà nước với công dân, do nhà nước xác lập và bảo đảm thực hiện Việc nhà nước ghi nhận bằng pháp luật địa vị của các công dân trong xã hội có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố địa vị thực tế của công dân, đồng thời nó buộc các cá nhân và tổ chức khác phải thừa nhận các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công dân và không được phép can thiệp hoặc xâm hại
Tất cả mọi công dân đều có quy chế pháp lý chung, nhưng phụ thuộc vào độ tuổi,
giới tính, nghề nghiệp và nhữ ng điều kiện khác nữa m ỗi người sẽ có quy chế pháp lý
riêng Việc thay đổi, lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân trong xã hội không có ảnh
Trang 8hưởng gì đến nội dung quy chế pháp lý chung hoặc riêng của họ, không tạo ra quy chế pháp lý đặc biệt cho họ mà chỉ xảy ra sự thay đổi mối tương quan giữa quy chế pháp
lý chung và quy chế pháp lý riêng mà công dân đó có mà thôi, bởi nội dung quy chế pháp lý của công dân là phụ thuộc vào ý chí nhà nước
Còn đối với những cá nhân không phải là công dân (người mang quốc tịch nướcngoài, người không quốc tịch) nhà nước thường quy định quy chế pháp lý đối với họ
có những điểm khác biệt nhất định so với công dân Thông thường họ có thể không
đư ợc hư ởng m ộ t số qu y ền và k hông phải thực hiện m ột số nghĩa vụ pháp lý nhất định
Đối với những cá nhân mang quốc tịch nước ngoài còn có thể có những thỏa thuậngiữa các nhà nước với nhau về quy chế pháp lý của họ
Nội dung của quy chế pháp lý công dân bao gồm:
+ Các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của công dân Giữ vai trò thiết yếu
trong quy chế pháp lý của công dân là các quyền, tự do thuộc các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Nghĩa vụ pháp lý của công dân là những đòi hỏi của nhà nước và xã hội đối với công dân, nhàm thỏa mãn những quyền lợi chung của cộng đồng và những cá nhân khác Trách nhiệm pháp lý của công dân là trách nhiệm của cá nhân phải thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
pháp lý của mình Trong đó bao gồm: a Phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nếu
không thực hiện đúng những đòi hỏi của các quy định pháp luật (trách nhiệm pháp lý
tiêu cực); b Có ý thức thực hiện một cách tự giác những chỉ dẫn, mệnh lệnh của pháp
luật vì lợi ích của xã hội và những chủ thể khác, trong dó có việc tự giác sử dụng dầy
đủ các quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý của mình (trách nhiệm pháp lý tính cực)
+ Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của công dân Năng lực pháp luật và
năng lực hành vi của công dân là những khả năng của công dân được nhà nước thừa nhận cho mỗi công dân phụ thuộc vào sự phát triển thể lực và trí lực của họ Sự khác nhau về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của các công dân dẫn đến sự khác nhau về số lượng các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có thể có được từ quy chế pháp
lý chung của công dân
+ Các bảo đảm quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của công dân Thống qua
các quy định pháp luật nhà nước không chỉ tuyên bố các quyền và nghĩa vụ cho công dân mà còn đưa ra các biện pháp để bảo vệ và đảm bảo cho chúng được thực hiện trên thực tế Chúng thường bao gồm các bảo đảm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và pháp lý Những bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân thể hiện ở những
Trang 9điều kiện khách quan như bản chất của chế độ xã hội, các điều kiện kinh tế và ở những điều kiện chủ quan như mong muốn, sự cố gắng trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân từ phía cá nhân công dân và cả từ phía nhà nước Là một thành phần của quy chế pháp lý công dân các bảo đảm quyền và nghĩa
vụ pháp lý của công dân cho phép công dân không chỉ sử dụng để thực hiện các quyền, tự do của mình mà còn có thể “đấu tranh vì quyền của mình” Đương nhiên, không phải khi nào những khả năng pháp lý của công dân cũng có thế trở thành hiện thực Điều này có thể là do các điều kiện thực tế khách quan đã không cho phép các cá nhân thực hiện được chúng hoặc bản thân cá nhân không có các điều kiện để thực hiện chúng
Quy chế pháp lý của công dân phản ánh trình độ phát triển của xã hội, thông qua nội dung của nó có thể đánh giá được mức độ dân chủ, nhân đạo, tiến bộ và xu hướng phát triển của một xã hội cũng như mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và cá nhân Bản chất của chế độ chính trị - xã hội, mục đích, nhiệm vụ, những lý tưởng và nguyên lý cơ bản của chế độ chính trị - xã hội là những yếu tố quyết định giá trị, vị trí, vai trò thật
sự của các cá nhân trong xã hội Ở Việt Nam từ khi nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu, tiến hành cuộc cách mạng Tháng Tám thành công, xoá bỏ Nhà nước và pháp luật thực dân phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì địa vị của người dân lao động đã thực sự thay đổi Từ địa vị lệ thuộc, bị áp bức, bóc lột nhân dân Việt Nam trở thành người thống trị, người chủ thực sự của dất nước, người tự quyết định vận mệnh của mình
Hình thành và phát triển cùng với hệ thống pháp luật tiến bộ, quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn có sự thay đổi về nội dung và tính chất Giai đoạn đầu khi mới thiết lập quy chế pháp lý của công dân Việt Nam mới chỉ thể hiện tinh thần hạn chế việc bóc lột, đoàn kết dân tộc rộng rãi chống giặc ngoại xâm vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vì lợi ích nhân dân rồi sau đó là chống phong kiến Khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, đi đôi với việc thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ chúng ta từng bước chuyển dần sang thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì tính chất dân chủ nhân dân trong quy chế pháp lý của công dân Việt Nam chuyển dần sang tính chất xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đề ra là chống áp bức, chống bóc lột và mọi sự bất công, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Những tư tưởng đó đã được ghi nhận, củng cố và phát triển bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong quá trình sự phát triển đi lên của đất nước ta quy chế pháp lý của công dân Việt Nam ngày càng phát triển cùng với những thành tựu và tiến bộ
Trang 10xã hội mà chúng ta đã đạt được Điều này được thể hiện rất rõ trong việc ban hành Hiến pháp Việt N am năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và những văn bản luật quan trọng được ban hành sửa đổi trong thời gian qua trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội theo tinh thần con người được xem là giá trị cao nhất, mang lại hạnh phúc cho người là mục tiêu của việc quy định, phát triển quy chế pháp lý của công dân.
2 Các nguyên tắc CO' bản của quy chế pháp lý công dân Việt Nam
Nguyên tắc quy chế pháp lý của công dân là những tư tưởng chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, thể hiện sự thống nhất bên trong và có ý nghĩa bao quát, quyết định sự đúng đắn về nội dung cũng như phương hướng phát triển của quy chế pháp lý công dân trong xã hội
Các nguyên tắc của quy chế pháp lý công dân vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan, chúng có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng xây dựng nội dung, quá trình thực hiện và phát triển quy chế pháp lý của công dân về mặt chủ quan các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân luôn phụ thuộc vào ý chí nhà nước Nhà nước luôn quan tâm tới việc đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc quy chế pháp lý công dân sao cho phù hợp với chế độ xã hội ở mỗi thời kỳ phát triển, về khách quan các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân thể hiện ở chỗ chúng luôn phản ánh những quy luật chung của đời sống xã hội, nội dung và khả năng thực hiện chúng là do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội quyết định Sự phát triển và thay đổi của xã hội sẽ dẫn đến sự thay đổi nội dung các nguyên tắc của quy chế pháp lý công dân Các nguyên tắc của quy chế pháp lý công dân có tính bao quát, ổn định, bền vững, ít thay đổi hơn
so với các quy định pháp luật Bởi chúng gắn liền với bản chất của chế độ xã hội, bản chất của pháp luật và những điều kiện kinh tế, chính trị, xã h ộ i cơ bản của đất nước.Nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt Nam xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng mang tính khoa học, chúng phản ánh những quy luật khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những điều kiện khác của đất nước liên quan đến các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân cần được điều chỉnh bằng pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định Các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt Nam được thể hiện ở nội dung đường lối chính sách của Đảng Cộng sản, nội dung, tinh thần các chính sách pháp luật, trong các học thuyết chính trị - pháp lý, các văn bản pháp luật mà Nhà nước ban hành, trong đó tập trung nhất là hiến pháp và các văn bản luật quan trọng
Sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt
Trang 11Nam có sự kế thừa, phát triển những nguyên tắc quy chế pháp lý công dân tiến bộ mà loài nguời đã đạt được trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật ở các thời đại trước, đặc biệt là những nguyên tắc quy chế pháp lý công dân tiến bộ Các nguyên tắc quy chế pháp lý công dân Việt Nam được xây dựng với những đặc điểm cơ bản là: Ghi nhận người chủ thực sự của đất nước là nhân dân, đề cao chủ quyền nhân dân; thực hiện việc giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công và những lệ thuộc khác; củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; không ngừng phát triển, hoàn thiện vì các mục tiêu dân chủ, nhấn đạo, vì hạnh phúc của con người
+ Nguyên tắc không ngừng mở rộng các quyền, tự do pháp lý và nâng cao điều
kiện sốr.g cho công dân
LỆh sử loài người là lịch sử phát triển tự do của con người, từ lệ thuộc vào thiên nhiên, -vào các giai cấp bóc lột, người lao động đã và đang từng bước làm chủ thiên nhiên, lim chủ xã hội và làm chủ bản thân mình Quy luật phát triển này được đặc biệt chứng ninh bằng thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở các nước xã hội chủ nghĩa khác Nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược của Việt Nam là xây dựng đất nước giìu mạnh để có thể đáp ứng tốt hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng ca) của toàn xã hội, xây dựng một xã hội có đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc và điều kiện phát triển toàn diện cho mỗi người dân Có thể khẳng tình rằng, chỉ khi nào đầy đủ về vật chất và tinh thần thì nhân dân mới thoát khỏi nhĩng sự lệ thuộc, mới chuyển dần được từ "vương quốc của tất yếu sang vương quốc cỉa tự do" Sự đầy đủ về vật chất và tinh thần luôn là mơ ước và mục tiêu phấn đấu của nhân loại, cũng như của mỗi con người Do vậy, trong quy chế pháp lý công dân Viậ Nam phải có những quy định để tạo điều kiện cho công dân trong những hoàn cảih điều kiện hiện tại của bản thân có thể đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chấtvà tinh thần cho bản thân
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hệ thống các quyền, tự
do pháf lý của công dân luôn không ngừng được củng cố và phát triển, đời sống của nhân dâi không ngừng được nâng cao phù hợp với sự phát triển của đất nước Có thể khẳng ạnh rằng, mỗi khi sửa đổi hay ban hành một hiến pháp mới ở Việt Nam là một bước gli nhận, củng cố hệ thống các quyền, tự do pháp lý của công dân, một bước phát tricn mới của nhà nước, một giai đoạn mới mở rộng nền dân chủ xã hội, một lần củng cc hoàn thiện quy chế pháp lý của công dân theo hướng không ngừng nâng cao đời sốnỊ vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân phát triứi về mọi mặt
Trang 12+ Nguyên tăc bình đăng giữa các công dân
Đây là nguyên tắc cơ bản của quy chế pháp lý công dân của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xã hội của những người lao động bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, do vậy, pháp luật Việt Nam luôn quy định là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, tôn giáo, địa vị xã hội, đều bình đẳng trước pháp luật, không ai được hưởng những đặc quyền, đặc lợi Khác với sự công bằng xã hội, bình đẳng là một phạm trù pháp lý, nghĩa là, sự ngang nhau về khả năng pháp lý (ngang bàng nhau cả về quyền và nghĩa vụ pháp lý) được pháp luật ghi nhận Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có một sự hạn chế nào hoặc một sự đặc ân (đặc quyền) nào đối với một loại công dân nào phụ thuộc vào những đặc tính cá nhân hay dấu hiệu xã hội của họ Thực chất nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân thể hiện ở sự bằng nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các công dân (ở đây chỉ đề cập đến sự bằng nhau về quyền và nghĩa vụ trong quy chế pháp lý chung của công dân).Nguyên tắc bình đẳng không chỉ dừng lại ở sự bình đẳng giữa các công dân, mà còn là sự bình đẳng giữa nam và nữ: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; sự bình đẳng giữa các dân tộc: Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình; sự bình đẳng giữa các tôn giáo: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi đảm bảo sự công bằng trong khen thưởng và trừng phạt, tất cả những ai có thành tích, có công thì đều được khen thưởng, bất kỳ ai vi phạm pháp luật cũng đều bị trừng phạt theo pháp luật, không làm oan người ngay, không bỏ sót người vi phạm Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật
có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự
Không chỉ quy định về sự bình đẳng giữa các công dân, pháp luật còn quy định các biện pháp để bảo vệ và bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các công dân về mặt thực tế, tạo ra cho mỗi người cơ hội và khả năng phát triển như nhau, thực hiện một quá trình chuyển hoá dần từ sự bình đẳng về mặt pháp lý sang công bằng xã hội, nghĩa
là, bằng nhau về khả năng thực tế đế đáp ứng những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mỗi người
+ Nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ
Quy chế pháp lý của công dân trong xã hội không chỉ được xác định bằng quyền
Trang 13mà bằng cả nghĩa vụ của họ nữa Từ đó nảy sinh nguyên tắc vô cùng quan trọng của quy chế pháp lý công dân Việt Nam là nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ công dân Công dân không có quyền, thì không phải chịu nghĩa vụ, công dân không làm nghĩa vụ, thì không được hưởng quyền Quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân thể hiện mối liên hệ pháp lý qua lại giữa nhà nước và công dân nói chung: Quyền pháp
lý của công dân được xem như nghĩa vụ của nhà nước phải đáp ứng để các quyền đó
được thực hiện, ngược lại nghĩa vụ pháp lý của công dân được xem là những đòi hỏi của nhà nước đối với công dân Do vậy, các quyền của công dân chỉ có thể đảm bảo trên cơ sở công dân nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình Việc các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của minh chính là điều kiện tiên quyết để tạo ra các tiền
đề vật chất bảo đảm cho việc thực hiện các quyền của họ Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình với nhà nước và xã hội Như vậy, giữa nhà nước và công dân, và các tổ chức khác trong xã hội, mỗi bên đều có quyền đòi hỏi và đều có nghĩa vụ đối với bên kia Quyền của bên này chính là nghĩa vụ của bên kia kia và ngược lại, vì vậy, quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân là hai hiện tượng pháp lý không thể thiếu nhau Chúng luôn thống nhất, phù hợp với nhau, nội dung, số lượng và các biện pháp bảo đảm thực hiện chúng đều do nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân còn được thể hiện ở
chỗ: thứ nhất, việc được hưởng một số quyền nhất định không thể hoặc rất khó khăn nếu không thi hành một số nghĩa vụ tương ứng nhất định; thứ hai, trong một số trường
hợp thì quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ của công dân Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ còn nói lên sự thống nhất về chính trị, xã hội của xã hội ta, sự thống nhất về nhiệm vụ, mục đích của xã hội và công dân, sự đảm bảo cần thiết từ phía nhà nước, sự cùng quan tâm như nhau của nhà nước và công dân trong việc thực hiện chúng
+ Nguyên tắc bảo đảm sự hài hoà giữa lợi ích nhà nước, xã hội và cá nhân
Nguyên tắc bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích nhà nước, xã hội và cá nhân có liên quan chặt chẽ với nguyên tắc thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ công dân Chúng phản ánh vị trí, địa vị lịch sử của công dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi mà giữa nhà nước và cá nhân không còn đối lập với nhau nữa Điều này cũng nói lên sự đổi mới về bản chất quy chế pháp lý của công dân trong xã hội xã hội chủ nghĩa Sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích nhà nước, xã hội và công dân là điều kiện tạo nên sự thống nhất giữa lợi ích nhà nước, xã hội và công dân, sự đoàn kết nhất trí giữa các chủ thể này Đây là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và'là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 14Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn thấm nhuần nguyên tắc kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhà nước với công dân, tập thể, xã hội với cá nhân đế phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật ở nước ta cần có những chính sách cụ thể đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, các doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, đồng bào các tôn giáo khác nhau, đồng bào định cư ở nước ngoài Kết họp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, nghề nghiệp, vị trí xã hội, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai.
+ Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội đó là xã hội thực sự nhân đạo, giá trị cao nhất của nó là con người lao động Phù hợp với tư tưởng “Tất cả cho con người, vì lợi ích của con người”, trong quy chế pháp lý của công dân Việt Nam luôn có những quy định về các quyền, tự do của công dân, các quy định bảo đảm nhân cách, phẩm hạnh của công dân, tạo điều kiện cho sự phát triển hợp lý tất cả những khả năng về thể lực và tâm hồn của
họ, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của họ
Tính chất nhân đạo trong quy chế pháp lý công dân thể hiện ở chế độ nhà nước
và chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, ở sự công bằng xã hội, ở sự quan tâm của nhà nước
và xã hội đến việc phát triển nhân cách mỗi người, trong sự giúp đỡ thiết thực đối với những công dân mà vì một lý do nào đó họ cần đến nó Chẳng hạn, quy định một số chính sách ưu đãi đối với một số đối tượng nhất định phụ thuộc vào lứa tuổi, giống, giới, tình trạng sức khỏe của họ và những điều kiện khác nữa Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, pháp luật của nhà nước ta qui định nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước
và xã hộị trong việc giúp đỡ người tàn tật, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, những người gặp khó khăn, hoạn nạn Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa được biểu hiện tập trung ở khẩu hiệu: “Tự do phát triển của mỗi người là điều kiện phát triển tự do cho tất
cả mọi người” Với tư tưởng chỉ đạo trên nên mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước Việt Nam đều hướng tới việc bảo đảm một số lượng rộng lớn các quyền, tự do dân chủ cho công dân, tạo mọi điều kiện để mỗi công dân có đủ khả năng thực tế sử dụng và phát triển sức mạnh sáng tạo, tài năng trí tuệ của mình
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa có nội dung rộng lớn, triệt để, sâu sắc và cao cả đồng thời lại rất hiện thực, thể hiện ở sự thương yêu, quí trọng con người, tôn
Trang 15trọng và bảo vệ con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho con người Nguyên tắc nhân đạo trong quy chế pháp lý công dân trước hết biểu hiện ở các quy định pháp luật nhàm giải phóng con người khỏi mọi sự bóc lột, áp bức và bất công, đưa con người từ địa vị phụ thuộc lên địa vị chủ nhân của xã hội Pháp luật quy định cho công dân hệ thống rộng lớn các quyền tự do dân chủ trong đó có quyền không bị áp bức, bóc lột, đồng thời có cơ chế phù hợp để người dân thực hiện được các quyền đó, không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát huy tài năng, phát triển toàn diện.
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở sự tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm con người, những giá trị của con người, coi con người là giá trị cao nhất, mọi cố gắng của nhà nước và xã hội đều nhằm phục vụ cho lợi ích con người Tính chất nhân đạo trong quy chế pháp lý của công dân còn biểu hiện ở việc tôn trọng quyền con người từ phía nhà nước và xã hội Tất cả các hoạt động từ hoạch định chính sách đến ban hành văn bản qui phạm pháp luật đều phải thấm nhuần tư tưởng của dân, do dân, vì dân Nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm, trà đạp lên phẩm giá con người, trừng trị nghiêm khắc những hành vi xâm phạm tới lợi ích, tính mạng con người, chống lại loài ngườ i
Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở lòng vị tha cao thượng không cố chấp với người có lỗi lầm biết hối hận sửa chữa; đối xử khoan hồng đối với người vi phạm pháp luật Việc xử lí vi phạm pháp luật được tiến hành trên cơ sở bảo đảm danh dự, nhân phẩm của con người, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, dùng nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người Quá trình xử lí vi phạm pháp luật luôn lưu ý đến hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của người vi phạm Xoá bỏ dần hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự, giảm bớt các hành vi bị coi là tội phạm, bỏ bớt một số hình phạt Tiến hành bảo vệ quyền công dân, giải quyết các tranh chấp bằng con đường tư pháp Giảm bớt các thủ tục, đặc biệt là thủ tục hành chính trong giải quyết các công việc của công dân và các tổ chức kinh tế Tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tự
do sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Hoàn thiện pháp luật cho phù hợp hơn với đạo đức, văn hoá và truyền thống dân tộc, thể hiện tính nhân văn, nhân bản trong các quy định pháp luật
3 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển quy chế pháp lý của công dân Viêt Nam
Xuất phát từ nguyên tắc: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và hoàn thiện qui chế pháp lý công dân
Trang 16Mặc dù được ban hành ở những thời điểm khác nhau, song qui chế pháp lý công dân đều thể hiện ý chí, bản chất giai cấp nhà nước và mục tiêu đảm bảo quyền con người Tuy nhiên, cũng như sự phát triển của hệ thống pháp luật, qui chế pháp lý công dân
không khỏi bị chi phối bởi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, nhiệm vụ chính trị của
nhà nước trong mỗi thời kỳ
a Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1946
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến với chính thể quân chủ chuyên chế nên chưa có hiến pháp, người Việt Nam là dân bảo hộ Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, trong bộn bề công việc của nhà nước non trẻ, nhiệm vụ xây dựng hiến pháp được đặt lên hàng đầu Năm 1946 Quốc hội thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với ba nguyên tắc cơ bản:
- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Các nguyên tắc này được xem như là quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng toàn bộ các chế định của Hiến pháp 1946 nói chung và qui chế pháp lý công dân nói riêng Hiến pháp 1946 là văn bản pháp lý quan trọng lần đầu tiên xác lập quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, tự do cá nhân Đảm bảo sự bình đẳng giữa các công dân, qui chế pháp
lý công dân thể hiện quan điểm loại bỏ hoàn toàn sự phân biệt đối xử, đặc quyền, đặc lợi giữa những cá nhân trong xã hội Mặc dù lần đầu tiên ghi nhận, song qui chế pháp
lý công dân đã thể hiện sâu sắc quan điểm về tự do, dân chủ, về vấn đề quyền con người Có thể nói ở Việt Nam, xuất pháp từ truyền thống nhân đạo từ ngàn xưa và điều kiện cụ thể của đất nước, nên tư tưởng quyền con người và quyền công dân đã “thấm sâu” vào quá trình cách mạng Tư tưởng về nền pháp lý vì con người đã được hình từ rất sớm trong quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Hiến pháp 1946 đặc biệt chú trọng đến các qui định về nghĩa vụ của công dân, nghĩa vu hàng đầu là bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ đi lính Bên cạnh các nghĩa vụ, Hiến pháp 1946 qui định hàng loạt các quyền của công dân Việt nam như: Quyền bầu cử; quyền tir hữu tài sản; quyền bình đẳng về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội; quyền tham gia chính quyền và công việc kiến quốc tùy theo tài đức của mình; quyền tình đẳng nam nữ; bình đẳng các dân tộc; quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự io tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng, tự do cư trú và đi lại trong nước và ra nước ngoài; quyền tư hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, thư tín
Trang 17Giá trị nhân đạo trong qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1946 là hướng
tới sự p h á t triển toàn diện của con người Vì vậy, H iến pháp không chỉ đặt nền m óng
đầu tiên cho việc xây dựng các qui định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà còn đưa ra những bảo đảm cho việc thực hiện các qui định đó Được xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết các dân tộc, Hiến pháp 1946 thể hiện sự quan tâm của nhà nước với mọi cá nhân trong xã hội
Hiến pháp 1946 ra đời trong điều kiện vô cùng khó khăn về tất cả các mặt, trong
đó đặc biệt là nền tài chính suy kiệt song Nhà nước cũng đã cố gắng ghi nhận những bảo đảm về mặt kinh tế cho việc thực hiện qui chế pháp lý công dân Những đảm bảo
về mặt vật chất bao gồm: nhà nước giúp các quốc dân thiểu số về mọi phương diện, giúp đỡ người già, người tàn tật, trẻ em; nền sơ học không phải trả học phí, học trò nghèo được chính phủ giúp đỡ về khía cạnh pháp lý, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, chế độ bầu cử, về lao động, giảm tô, về các quyền tự do dân chủ
Hiến pháp 1946 ra đời cũng ghi nhận trách nhiệm của các cơ quan nhà nước như Nghị viện, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, ủ y ban hành chính và cơ quan Tư pháp trong việc đảm bảo thực hiện qui chế pháp lý công dân Để đảm bảo quyền công dân, Hiến pháp qui định bộ máy tư pháp tuân thủ nguyên tắc: Khi xét xử có phụ thẩm tham gia; quốc dân thiểu số được quyền dùng tiếng nói của mình trước tòa; xét xử công khai trừ trường hợp luật định; đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo và cấm tra tấn, đánh đập ngược đãi bị cáo, tội nhân
Có thể nói, những qui định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp 1946 làm thay đổi về chất trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, làm nền tảng cho việc xây dựng qui chế pháp lý công dân trong các hiến pháp sau Đúng như
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do”
b Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1959
Với chiến thắng Điện Biên phủ và Hiệp nghị Giơ ne vơ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với 2 nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc đi lên xây dựng
và cải tạo XHCN, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ Trong tình hình nhiệm vụ mới, Hiến pháp 1959 đã được ban hành
Hiến pháp 1959 được xây dựng theo mô hình của hiến pháp xã hội chủ nghĩa, tư tưởng này được thể hiện thông qua toàn bộ nội dung của Hiến pháp bao gồm: Chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tổ chức bộ máy nhà nước và mối quan hệ giữa
Trang 18nhà nước và công dân Khẳng định sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp 1946, qui chế pháp lý công dân được củng cố mở rộng hơn.
Xuất phát từ bản chất dân chủ, mục tiêu phát triển của Nhà nước là vì con người, nên Hiến pháp 1959 không chỉ kế thừa các quyền tự do dân chủ mà còn ghi nhận thành tựu của Nhà nước trong việc hoàn thiện qui chế pháp lý công dân Ngoài những quyền như: bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm thân thể, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, tự do cư trú đi lại Hiến pháp 1959 còn qui định thêm những quyền mới, sửa đổi một số quyền cơ bản của công dân và tăng cường những bảo đảm cho việc thực hiện qui chế pháp lý công dân
v ề lĩnh vực kinh tế - xã hội, một trong những quyền quan trọng nhất của qui chế pháp lý công dân thời kỳ này là ghi nhận quyền lao động Xuất phát từ vai trò của lao động trong tiến trình phát triển của xã hội, lao động không chỉ là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước mà còn góp phần trực tiếp nâng cao đời sống mỗi cá nhân, do đó cần xem lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Cùng với quyền làm việc, công dân có quyền được nghỉ ngơi, an dưỡng, Nhà nước qui định thời gian làm việc, chế độ nghỉ ngơi cho công dân và bảo đảm cho họ được thực hiện quyền đó
Trong lĩnh vực chính trị, một bổ sung quan trọng của qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1959 là qui định quyền khiếu nại, tố cáo Công dân có quyền khiếu nại, tố Qáe bất cứ hành vi trái pháp luật của các nhân viên nhà nước, cơ quan nhà nước; những kh:ếu nại tố cáo của công dân phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng, người bị thiệt hại được bồi thường Ngoài ra, Hiến pháp 1959 còn bổ sung thêm quyền nghiên cúu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thụât và tiến hành các hoạt động văn hóa khác Nhả nước không chỉ ghi nhận quyền học tập mà còn có trách nhiệm trong việc đảm bảo quyền học tập của công dân: công dân có quyền học tập, nhà nước thực hiện chế độ giáo dục cưỡng bách, đa dạng hóa các hình thức giáo dục
K hẳig định bản chất nhân đạo của Nhà nước, qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1959 không chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà nước với công dân Việt Nam
- người co quốc tịch Việt nam, mà còn quan tâm đến quyền lợi của người nước ngoài đấu tranh vì chính nghĩa và bảo hộ “quyền lợi chính đáng của Việt kiều”
Sự ra đời của Hiến pháp 1959 đã khẳng định qui chế pháp lý công dân được ghi nhận có sự kế thừa và phát triển quan trọng so với Hiến pháp 1946 Khẳng định bản chất nhà rước dân chủ và tính nhân đạo trong xây dựng mối quan hệ nhà nước và công dân, Hiến pháp 1959 đã kế thừa nhiều quyền cơ bản của công dân trên các lĩnh vực,
Trang 19đông thời sửa đôi, bô sung nhiêu qui định mới, điêu này không chỉ phản ánh sự phát triển một giai đoạn cách mạng mới, mà còn thể hiện sự phát triển trong tư duy nhận thức về đảm bảo quyền con người và việc hoàn thiện qui chế pháp lý công dân trong lịch sừ lập pháp Việt Nam.
c Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1980
Sau thắng lợi v ĩ đại của chiến dịch Hồ Chí minh lịch sử, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, cả nước cùng đi lên xây dựng CNXH Hiến pháp 1980 ra đời, qui chế pháp lý công dân đã có bước phát triển mới trong điều kiện đất nước hòa bình cùng đi lên CNXH Hiến pháp 1980 trước khi qui định nội dung của các quyền và nghĩa vụ, đã đưa ra định nghĩa công dân, theo Điều 53: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt N am ” Nếu như qui định này chưa được ghi nhận trong 2 hiến pháp trước thì đã được Hiến pháp 1980 chính thức hóa bằng một điều khoản Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý đặc biệt, ổn định lâu dài giữa một cá nhân với một chính quyền nhà nước nhất định, làm tiền đề, cơ sở pháp lý duy nhất xác định địa vị pháp lý công dân Sự bổ sung này không chỉ khắng định sự quan tâm của Nhà nước trong việc hoàn thiện qui chế pháp lý công dân mà còn làm tiền đề cho sự ra đời của Luật Quốc tịch Việt Nam vào năm 1988
Với Hiến pháp 1980, việc ghi nhận qui chế pháp lý công dân trước hết là sự kế thừa các quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong 2 hiến pháp trước, đồng thời bổ sung các quyền mới, mở rộng hoặc sửa đổi các quyền đã ghi nhận So với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 đã qui định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới của công dân như quyền tham gia quản lý công việc của nhà nước và xã hội, quyền học tập, khám chữa bệnh không phải trả tiền, công dân có quyền có nhà ở Bên cạnh bổ sung các quyền mới, Hiến pháp 1980 cũng xác định thêm các nghĩa vụ mới: nghĩa vụ trung thành với tổ quốc, ngoài nghĩa vụ quân sự, công dân phải có nghĩa vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, ngoài nghĩa vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, qui tắc sinh hoạt công cộng, công dân còn phải có trách nhiệm bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngoài nghĩa vụ đóng thuế, công dân phải tham gia lao động công ích Sự bổ sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là minh chứng cho sự hoàn thiện quan trọng về qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1980, nhàm đảm bảo xu hướng mở rộng dân chủ Hiến pháp 1980 đã tạo ra căn cứ pháp lý quan trọng để mỗi người dân thể hiện vai trò làm chủ của mình trong đời sống xã hội
Có thể nói, toàn bộ nội dung của Hiến pháp 1980 thể chế hóa sâu sắc cơ chế kinh tể tập trung quan liêu bao cấp Quan điểm này cũng thể hiện trong việc xây dựng
Trang 20chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Do đó, trong quá trình thực hiện qui chế pháp lý công dân, những qui định “duy ý chí” trong chế định này đã bộc lộ những hạn chế nhất định Theo Hiến pháp 1980: Nhà nước thực hiện chế độ học tập không phải trả tiền và chính sách cấp học bổng; công dân có quyền bảo vệ sức khỏe; nhà nước thực hiện chế độ khám và chữa bệnh không phải trả tiền; công dân có quyền có nhà ở Đây thực sự là những quyền quan trọng, nhằm nâng cao đời sống của người lao động nói chung, song trong thực tế nền kinh tế Việt Nam vừa bước qua chiến tranh, còn rất nhiều khó khăn, nên việc đảm bảo thực hiện các quyền trên là điều không thể Có thể nói trong thời kỳ thực hiện Hiến pháp 1980, các qui định thiếu tính khả thi ít nhiều gây hậu quả tiêu cực trong xã hội Những qui định đó thực sự không còn phù hợp với bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Thiếu tính hiện thực trong việc xây dựng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã phần nào làm ảnh hưởng đến hiệu lực thực tế của Hiến pháp 1980 Những qui định mang tính hình thức, thực chất đã làm mất lòng tin của người dân vào Nhà nước, pháp luật,
từ đó ảnh hưởng xấu đến ý thức tuân thủ pháp luật trong cộng đồng Đây được xem là hạn chế lớn của Hiến pháp 1980 khi xây dựng qui chế pháp lý công dân, đồng đặt ra yêu cầu khi xây dựng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp mới
- Hiến pháp 1992
d Qui chế pháp lý công dân theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 ra đời là hệ quả của công cuộc đổi mới toàn diện, mặc dù không
có sự thay đổi về số lượng chương và điều, nhưng các chế định của Hiến pháp đã có
sự thay đổi sâu sắc về “chất”, phù hợp với yêu cầu nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Sự phát triển của quy chế pháp lý của công dân Việt Nam diễn ra theo hai hướng:
Một mặt, nó được củng cố, làm phong phú thêm nội dung và những biện pháp đảm bảo
hiện thực hoá các quyền, tự do dân chủ của công dân đã được pháp luật ghi nhận; mặt
khác, trong các văn bản pháp luật mà đặc biệt là trong Hiến pháp tiếp tục ghi nhận, bổ
sung thêm các quyền, tự do mới cho công dân
Lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam, Hiến pháp 1992 đã công khai ghi nhận nguyên tắc tôn trọng quyền con người - một nguyên tắc quan trọng nhất trong việc xây dựng qui chế pháp lý công dân Xuất phát từ bản chất nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nên từ khi thành lập cho đến nay Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền con người, coi đó là nguyên tắc nền tảng trong cả xây dựng và thực hiện pháp luật Sự bổ sung Điều 50 của Hiến pháp 1992 đã '‘đưa chế định quyền công dân của hiến pháp này lên ngang bằng với hiến pháp của nhiều nước” và điều này “hoàn toàn không đối lập,
Trang 21mâu thuẫn với các quyền cơ bản của công dân Bởi lẽ, qui chế pháp lý công dân luôn
được các hiến pháp Việt Nam ghi nhận, củng cố, mở rộng và nâng cao”
Hiến pháp 1992 đã bổ sung một số quyền cơ bản của công dân như: quyền tự do
kinh doanh theo qui định của pháp luật, quyền được thông tin Hiến pháp 1992
không chỉ bổ sung các quyền mới của công dân mà còn mở rộng các quyền đã được
ghi nhận trong Hiến pháp 1980 cho phù hợp với tình hình mới Bên cạnh bổ sung, mở
rộng các quyền cơ bản của công dân, Hiến pháp 1992 còn sửa đổi một số quyền cơ bản
của công dân nhằm đảm bảo tính thống nhất trong chế định này
về nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 1992 kế thừa các qui định của
các hiến pháp trước đây, đồng thời bổ sung và hoàn thiện một bước Theo Hiến pháp
1992, công dân có nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ quân sự, tham gia xây dựng nền
quốc phòng toàn dân; công dân phải tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi
ích công cộng, tuân theo pháp luật, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ
gìn bí mật quốc gia; công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích Bên cạnh
việc bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam tại nước ngoài, Hiến pháp 1992
bổ sung một điều mới dành cho người nước ngoài Theo đó Nhà nước có trách nhiệm “
bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng” của người nước ngoài cư trú tại
Việt nam, đồng thời Nhà nước qui định họ phải có trách nhiệm “ tuân theo Hiến pháp
và pháp luật Việt N am ”
Nhìn nhận một cách khách quan có thể nói qui chế pháp lý công dân trong Hiến
pháp 1992 thể hiện tính hiện thực sâu sắc Nguyên tắc tính hiện thực đòi hỏi các quyền
và nghĩa vụ ghi trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu
thực tiễn của đời sống xã hội và mang tính khả thi Nếu các quyền và nghĩa vụ được
ghi trong Hiến pháp không thực hiện được trong thực tiễn thì chúng không những
không phát huy tác dụng mà còn ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm lòng tin của người dân
vào nhà nước, pháp luật Khắc phục hạn chế của Hiến pháp 1980, qui chế pháp lý công
dân Hiến pháp 1992 bảo đảm tính hiện thực của quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân bằng nhiều qui định mới phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước như:
quyền xây dựng nhà ở, quyền học tập, quyền khám chữa bệnh Đồng thời ghi nhận
một hệ thống các bảo đảm cho việc thực hiện qui chế pháp lý công dân bao gồm: bảo
đảm về chính trị, tổ chức, kinh tế và pháp lý
4 Qui chế pháp lí của công dân Việt Nam trong lĩnh vực chính trị
a Các quy định pháp luật về quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội của công dán.
Trang 22Sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng tháng 8/1945
đã mở ra m ột kỉ nguyên m ới cho dân tộc V iệt N am và con người V iệt nam Ke từ đây
Việt Nam đã là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Nhân dân Việt Nam có quyền được hưởng các quyền con người như nhân dân các quốc gia khác Hiến pháp 1946 đã trịnh trong tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Như vậy, vai trò chủ thể quyền lực nhà nước của nhân dân Việt nam đã được thừa nhận trong đạo luật cơ bản, đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước và pháp luật Việt nam, Nhà nước thừa nhận “Tất cả công dân Việt nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” và “ Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình”
Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật kèm theo đã kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế kể cả về kỹ thuật lập pháp của các văn bản pháp luật trứoc
đó, đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế - xã hội, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa Điều
53 qui định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Quyền tham gia quản lý nhà nước
và xã hội của công dân được thể hiện dưới 2 hình thức:trực tiếp và gián tiếp
- Hình thức trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội gồm các hoạt động:
- Biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ỷ Trưng cầu dân ý về bản chất
là nhân dân có quyền trực tiếp tham gia quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đắt nước liên quan đến lợi ích công dân, xã hội mà không phải thông qua bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào Ý chí của nhân dân phải được nhà nước tôn trọng và quyết định của nhân dân là quyết định cuối cùng, quyết định chung thẩm Nhà nước thay n ặ t nhân dân ban hành quyết định về vấn đề này trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân Trưng cầu dân ý là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phù hợp với bản chất nhân dân của nhà nước Tuy nhiên, ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay thì đây là vấn đề chưa có tiền lệ
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Dân chủ xã hội là vấn đề luôn được Đảng
và nha nước quan tâm, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 2007 đã quy định những nội dung cụ thể chính quyền phải công khai để nhân dân biết: những nội dung ihân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi
cơ quin có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát Trách nhiệm
Trang 23của chính quyền cấp xã về việc tổ chức thực hiện những nội dung trên; những hình thức thực hiện
+ Thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân Theo quy
định pháp luật, công dân không chỉ có quyền bầu ra các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, mà còn có quyền giám sát hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các đại biểu do nhân dân bầu ra và bãi nhiệm đại biểu nếu đại biểu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Vì vậy, bãi nhiệm đại biểu là hình thức trực tiếp giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Hình thức gián tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội Ngoài hình thức trực tiếp, công dân còn gián tiếp thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mình thông qua người trung gian, cấp trung gian, khâu trung gian Đây là hình thức tham gia phong phú, đa dạng và phổ biến nhất của công dân hiện nay Hình thức này được thể hiện thông qua việc thực hiện các quyền công dân như quyền bầu cử, ứng cử người đại diện của mình vào cơ quan nhà nước Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định:
“Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân” Quốc hội và Hội đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề cơ bản quan trọng của nhà nước và ở đia phương như bầu ra các chức danh trong bộ máy nhà nước, giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước
Các chủ trương, chính sách, pháp lu ật của nhà nước trước khi ban hành nói chung đều được đưa ra lấy ý kiến của nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau Đó chính là quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước Phải chăng đó là hình thức phản biện xã hội mà rất nhiều nhà khoa học và nhân dân hiện nay quan tâm Nếu chúng ta làm tốt và có hiệu qủa vấn đề này chắc chắn sẽ hạn chế tối đa những sai lầm, chủ quan, duy ý chí mà chúng ta đã mắc phải thời gian qua
Tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước khi thực thi nhiệm vụ quyền hạn của mình là quyền công dân được
thể hiện dưới nh iều hình thức khác nhau như thực hiện qu y ền khiếu nại, tố cáo về
những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vù trang hoặc bất cứ cá nhân nào; tham gia Ban thanh tra nhân dân theo quy định của luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; kiểm tra giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước với tư cách là người đại biểu của nhân dân (quyền chất vấn, yêu cầu, kiến nghị )
Trang 24b Các quy định pháp luật về quyền bầu cử, ứng cử của công dân.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân (hay xuất phát từ nhân dân) chỉ có thể là hiện thực khi nhân dân có quyền tham gia vào việc thành lập bộ máy nhà nước và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của Nhà nước
Quyền bầu cử, ứng cử của công dân được ghi nhận trong các bản Hiến pháp
1959, 1980, 1992 và cụ thể hóa trong các Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Qui chế pháp ly về quyền bầu cử, ứng cử của công dân mỗi giai đoạn có khác nhau nhưng về cơ bản đều thể hiện:
- Cơ quan đại diện của nhân dân và đồng thời là cơ quan quyền lực Nhà nước đều do cử tri trực tiếp bầu ra theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
- Quyền bầu cử, ứng cử thuộc về các công dân Việt Nam mà không có sự phân biệt về giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, nam n ữ
- Bầu cử, ứng cử không chỉ được nhà nước th ừ a nhận là quyền cơ bản của công
dân (ghi nhận trong đạo luật cơ bản của nhà nước) mà còn được nhà nước đảm bảo thực hiện
- Tính chất đại diện của Quốc hội, Hội đồng nhân dân được thể hiện ở cơ sở hình thành, cơ cấu thành phần đại biểu, hiệu quả hoạt động, chế độ trách nhiệm trước
cử tri của người đại biểu Kì họp là hình thức hoạt động quan trọng nhất của cơ quan đại diện, phải công khai (trừ trường hợp đặc biệt) và có sự tham gia giám sát của nhân dân
- Các văn bản pháp luật liên quan đến bầu cử như Hiến pháp, Luật bầu cử, Nghị quyết về qui trình hiệp thương ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân được đảm bảo tính thống nhất nhằm hạn chế tối đa sự vi phạm quyền công dân về bầu cử do qui định pháp luật không thống nhất Dân chủ trong việc thực hiện quyền bầu cử, ứng
cử của công dân ngày càng được mở rộng Bước đầu thể hiện chủ trương về thực hiện phản biện xã hội trong bầu cử, pháp luật đã đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bầu cử thông qua quyền hiệp thương để lập danh sách chính thức người ứng cử
c Các quy định pháp luật về quyền khiến nại, tố cáo của công dân.
Công dân với tư cách là thành viên của cộng đồng xã hội đều có quyền tham gia vào việc hình thành bộ máy Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật nên được tạo khả năng trực tiếp đảm nhiệm mọi chức vụ, địa vị, công vụ theo năng lực và không có bất kì sự phân biệt nào khác ngoài đạo đức và tài năng của mỗi người Luật pháp phải
là sự biểu thị ý chí chung Luật pháp phải là như nhau đối với mọi người, khi bảo hộ
Trang 25cũng như khi trừng phạt Quyền công dân được nhà nước tôn trọng, thừa nhận và cam kết bảo đảm thực hiện Khi có sai phạm từ phía công chức, viên chức nhà nước liên quan đền việc thực hiện quyền công dân về nguyên tắc công dân được quyền yêu cầu nhà nước phải xử lí nghiêm minh- đó cũng là trách nhiệm của nhà nước, v ề vấn đề này, Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền khiếu nại có kết quả tới các cơ quan pháp lí quốc gia có thẩm quyền, chống lại các hành vi vi phạm các quyền căn bản mà hiến pháp và pháp luật đã thừa nhận” (Điều 8).Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ nhân dân Công dân sử dụng quyền này như một biện pháp để tham gia xây dựng chính quyền, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngược lại, việc giải quyết
kịp thời, k h ách quan các khiếu nại tố cáo là m ột phư ơng thứ c hữu hiệu để cơ quan nhà
nước, công chức viên chức nhà nước thực thi quyền lực nhà nước vì mục tiêu đảm bảo
tự do dân chủ cho nhân dân Các quy định pháp luật vế quyền khiếu nại tố cáo của công dân bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Khiếu nại tố cáo là quyền cơ bản của công dân Việt nam Chủ thể của quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức Chủ thể của quyền tố cáo
là công dân Mọi chủ thể đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền khiếu nại tố cáo
- Đối tượng bị khiếu nại tố cáo ngày càng được mở rộng Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quỳên khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” Luật khiếu nại, tố cáo đã cụ thể hóa đối tượng bị khiếu nại, tố cáo Người bị khiếu nại ở đây bao gồm cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật bị khiếu nại Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo (Điều 2)
- Trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhà nước Trong thể chế nhà nước dân chủ nhân dân thì mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân trong xã hội là bình đẳng
về mặt pháp lí Khi nhà nước thừa nhận khiếu nại, tố cáo là quyền công dân điều đó đồng nghĩa với việc nhà nước phải đảm bảo cho công dân thực hiện quyền đó trên thực tế thông qua cơ chế chính sách, v ấ n đề này đã được đề cập đến trong mỗi bản hiến pháp và được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật
Cùng với sự phát triển của nhà nước, quyền công dân trong lĩnh vực chính trị được sửa đổi theo hướng mở rộng quyền công dân và đề cao trách nhiệm nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền công dân Với xu hướng đó, qui chế pháp lí công dân trong lĩnh vực chính trị không ngừng được hoàn thiện cả về mặt pháp lí và thực tiễn Điều đó càng khẳng định mục tiêu và chân lí mà Đảng, nhà nước và nhân dân
Trang 26Việt nam kiên trì phấn đấu thực hiện theo Tuyên ngôn độc lập 1945 của Nhà nướcViệt Nam ‘‘Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã thành một nước
tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,tính mạng và của cải để giũ vững quyền tự do độc lập ấy”
5 Qui chế pháp lý công dân Việt Nam trong lĩnh vực dân sự
Các quyền dân sự của công dân Việt Nam được ghi nhận trong các Hiến pháp, các văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên, do hoàn cảnh đất nước nên mỗi giai đoạn lịch sử thì pháp luật qui định phạm vi quyền dân sự của
cá nhân không giống nhau và cơ chế thực hiện và bảo vệ các quyền đó cũng khác nhau
Trước ngày miền Nam giải phóng, nhiệm vụ chính của nhân dân miền Bắc là tập trung sức người, sức của để chi viện cho đồng bào miền Nam, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì vậy trong thời gian này, các giao lưu dân sự để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân như mua bán lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cần thiết khác, Nhà nước phân phối theo chỉ tiêu Thời kỳ này các quan hệ dân sự chủ yếu mang tính hành chính, cho nên tranh chấp dân sự hầu như không xảy
ra Tuy nhiên, trong giao lưu dân sự có các giao dịch như mua bán nhà ở, đất đai, cho vay thóc gạo Nếu có tranh chấp về những hợp đồng này thì việc giải quyết bàng biện pháp hoà giải ở hợp tác xã Đối với những tranh chấp dân sự không hoà giải được thì giải quyết tại Toà án
Năm 1980 Nhà nước ban hành Hiến pháp mới, qui định đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân Công dân có quyền sở hữu về nhà
ở, thu nhập hợp pháp của cải để dành và có quyền để lại thừa kế các tài sản đó Thời
kỳ này, Nhà nước giao đất cho hợp tác xã và các tập đoàn sản xuất, cho nên cá nhân,
hộ gia đình không có đất để canh tác, vì vậy các giao lưu dân sự về đất đai bị cấm Mặt khác, do chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam là đưa cá nhân, hộ gia đình làm ăn riêng lẻ vào tập đoàn sản xuất và hợp tác xã, vì vậy tài sản của hộ gia đình chủ yếu là tư liệu tiêu dùng Cho nên các giao dịch dân sự thời kỳ này chủ yếu giải quyết những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của cá nhân, gia đình
Trong suốt thời kỳ bao cấp các quyền dân sự của cá nhân chưa được bảo hộ một cách toàn diện Phạm vi tài sản của cá nhân có quyền sở hữu bị hạn chế, đa các quyền nhân thân của cá nhân chưa được điều chỉnh trực tiếp trong các văn bản pháp luật, vì thế khi có hành vi xâm phạm, cá nhân khởi kiện đến toà án thì cũng không có căn cứ
để giải quyết
Trang 27Thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối phát triển kinh tế đất nước theo hướng xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Nền kinh tế của nước ta phát triển dựa trên các quan hệ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Nhà nước coi hình thức sở hữu tư nhân là cần thiết trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH Để tạo đà cho các giao lưu dân sự phát triển, Nhà nước ban hành hệ thống pháp lệnh về dân sự, trong đó có Pháp lệnh Thừa kế ngày 1990, Pháp lệnh sở hữu công nghiệp 1989, Pháp lệnh nhà ở 1991 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 Đây là các văn bản pháp luật thể hiện đường lối kinh tế thị trường định hướng XHCN đầu tiên của Nhà nước ta Cũng từ đây các quyền dân sự của cá nhân ngày càng đựơc Nhà nước quan tâm và bảo hộ.
Hiến pháp 1992 đựơc ban hành, quyền kinh doanh và quyền sở hữu tài sản của
cá nhân được mở rộng Đặc biệt sở hữu tư nhân đã được Hiến pháp bảo hộ Điểm đột phá liên quan đến tài sản của cá nhân, hộ gia đình mà Hiến pháp mới đã điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường đó là các quyền của người sử dụng đất Đối với người nông dân, quyền sử dụng đất là quyền tài sản quan trọng vì đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân Khi Nhà nước cho phép cá nhân, hộ gia đình thực hiện các quyèn khai thác, sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì họ sẽ đầu tư tiền tài sản, công sức lao động để khai thác tài nguyên đất đai Nếu không còn nhu cầu sử dụng cá nhân, hộ gia đình có quyền chuyển nhượng, cho tặng, để lại thừa kế Vì thế
họ an tâm lao động sản xuất trên mảnh đất của mình được Nhà nước giao hoặc được chuyển nhượng
Sau khi ban hành Hiến pháp 1992, nhiều đạo luật được sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới, trong đó có Bộ luật Dân sự ban hành năm 1995 đã thể hiện đường lối phát triển kirth tế-xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới Trong Bộ luật Dân sự, hình thúc sở hữu toàn dân được xây dựng làm nền tảng quan trọng của các quan hệ dân sự Bộ luật Dân sự tạo hành lang pháp lý cho sở hữu tập thể phát triển, qui định cụ thể các quyền của thành viên tập thể, cho phép thành viên chuyển dịch vốn và tài sản một cách hợp lý Cùng tồn tại với các hình thức sở hữu trên là sở hữu tư nhân, pháp luật bảc hộ và điều chỉnh các quan hệ sở hữu tư nhân phù hợp đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, khuyến khích các chủ thể sử dụng tài sản của Nhà nước, tập thể và của tư nhân một cách có hiệu quả
T n n g các quyền tài sản của các nhân, quyền sử dụng đất đóng vai trò quan trọng nhất, là tài sản lớn nhât của đa số các hộ nông dân Nhà nước đã cho phép cá nhân, hộ gia đình thực hiện các quyền khai thác, sử dụng, chuyển nhượng, cho thuê, đổi, để lại
Trang 28thừa kié quyền sử dụng đất Quyền sử đất được Nhà nước thừa nhận là hàng hoá có giá trị kimh tế đặc biệt quan trọng của cá nhân, hộ gia đình và các chủ thể khác Khi đất đai có' giá trị, thì việc tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày càng gia tăng, do vậy khi các quyền này bị xâm phạm, thì cho phép chủ sử dụng đất có quyền khởi kiện đến toà
án yêu cầu bảo vệ
Quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình được qui định trong Luật đất đai
1993, tuy nhiên Luật đất đai chưa điều chỉnh điều kiện, hình thức, thủ tục, nhất là quyền, nghĩa vụ của của các bên khi thực hiện các quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, làm cho cá nhân, hộ gia đình thiếu căn cứ pháp lý để thực hiên các quyền
đó Quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình là quyền dân sự, quyền tham gia các giao dịch như cho thuê, cho tặng Do vậy, Bộ luật dân sự đã cụ thể hoá nội dung quyền sử dụng đất và trình tự thủ tục thực hiện các giao dịch về đất đai đã tạo điều kiện cho người nông dân đầu tư khai thác diên tích đất được Nhà nước giao để phát triển kinh tế, làm giàu cho gia đình và cho xã hội Bộ luật dân sự 1995 đã điều chỉnh các quyền của người sử dụng đất một cách toàn diện, nhàm tạo điều kiện cho người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Mặt khác, các qui định trong Bộ luật dân sự là cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý nhà nước đối với quan hệ đất đai
Ngoài quyền sử dụng đất và các quyền sở hữu về tài sản, quyền tham gia các giao dịch dân sự của cá nhân được Nhà nước bảo hộ Nhà nước cho phép cá nhân tham gia các giao địch dân sự, thương mại và các giao dịch khác, tạo cơ chế bảo vệ quyền và lợi của các chủ thể trong các giao dịch đó theo nguyên tắc người nào có lỗi mà gây thiêt thì phải bồi thường mà không phân biệt người gây thiệt hại là cá nhân, pháp nhân hay cơ quan nhà nứơc
Trong thời kỳ đổi mới, các quyền tài sản của cá nhân được Nhà nước quan tâm bảo hộ, tạo mọi điều kiện cho chủ sở hữu tự do khai thác tài sản của mình để đáp ứng nhu cầu sản, xuất kinh doanh Bên cạnh quyền tài sản, các quyền nhân thân của cá nhân
đã được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ trong Bộ luật dân sự 1995 Tuy nhiên, quyền nhân thân là một lĩnh vực phức tạp bao gồm tất cả các quyền liên quan đến con người nhu quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, quyền nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, quyền học tập, quyền danh dự, nhân phẩm, quyền chăm sóc sức khoẻ Các quyền trên là quyền nhân thân quan trong của cá nhân trong xã hội dân sự Tuy nhiên, đây là lĩnh vự mới, lần đầu tiên đựơc điều chỉnh bàng pháp luât dân sự, vì thế bước đầu Nhà nước đã thận trọng điều chỉnh những quyền nhân thân của cá nhân phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta để đảm bảo tính khả thi của các quyền đó Vì vậy, Bộ luật dân sự qui định một số quyền như: quyền được đảm bảo về thân thể;
Trang 29Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền đối với bí mật đời tư; Quyền đảm bảo an toàn về chỗ ở; Quyền tự do đi lại, cư trú; Quyền tự do kinh doanh; Quyền
tự do sáng tạo; và một số quyền về hôn nhân gia đình Các quyền nhân hân khi bị xâm phạm, cho phép người bị vi phậm có quyền khởi kiện đến toà án Người có hành vi xâm phậm phải khắc phục hậu quả gây ra và phải bồi thiệt hại về tinh thần cho người bị vi phạm Tuỳ thuộc vào tính chất, múc độ vi phạm, toà án sẽ ấn định mức bồi thường phù hợp Trường hợp, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng của cá nhân, thì những người thân thích có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Đây là qui định mới trong Bộ luật dân sự nhằm khắc phục một phần tổn hại về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thuộc hàng thừa kế thứ nhất
Các qui định trên về quyền nhân thân là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện và bảo vệ quyền dân sự của mình, đồng thời là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền nhân thân Ngoài các quyền nhân thân của cá nhân đựơc qui định trong Bộ luật dân sự, các ngành luật khác cúng qui định phù hợp với đối tượng điều chỉnh cuả ngành luật đó
Có thể nói, các quyền dân sự của cá nhân là công dân Viêt Nam được Nhà nước bảo hộ tương đối đầy đủ Thể hiên qua nội dung của Bộ luật dân sự 1995 gồm 838 điều qui định về các quyền tài sản và quyền nhân thân của cá nhân Những nội dung này, Bộ luật dân sự của các nước khác cũng điều chỉnh Điều đó chứng tỏ Bộ luật dân sự của Việt Nam tương thích với luật dân sự của các nước trong khu vực và trên thế giới
Pháp luật của nước ta về các quyền dân sự rất hoàn thiện, tuy nhiên cơ chế thực thi và bảo vệ các quyền này chưa hiệu quả thể hiện qua một số vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhát, Bộ luật dân sự qui định về các quyền dân sự có tính nguyên tắc, vì thế
cần có hệ thống văn bản hướng dẫn đầy đủ Tuy nhiên, hiện nay văn bản hướng dẫn còn thiếu, cho nên khi xảy ra tranh chấp về các quyền dân sự thiếu qui chuẩn pháp lý để áp dụng Vì thế cùng một vụ việc dân sự tương tự nhau, toà án các đia phương, các cấp
giải quyết khác nhau H oặc m ột vụ kiện kéo dài quá thời hạn luật qui định nhưng không
giải quyết triệt để, dẫn đến việc đương sự kiện tụng qua nhiều cấp, thậm chí vượt cấp, gây mất ổn định xã hội
Thứ hai, việc thực thi pháp luật dân sự của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
không nghiêm, nên không đảm bảo được quyền lợi của người bị xâm phạm Thông thường các cơ quan nhà nước coi các tranh chấp dân sự là của cá nhân, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của xã hội, cho nên để cho các bên tranh chấp tư giải quyết
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ tham gia khi có đơn khởi kiện của đương sự Trường hợp các bên tự giải quyết không hiệu quả mà có yêu cầu sự hộ trợ của Uỷ ban
Trang 30nhân dân cơ sở hoặc của Công an, thì các cơ quan này không tự giác tham gia mặc dù pháp luật qui định phải tham gia, nhưng chỉ khi nào sự việc gây mất rật tự xã hội thì các
cơ quan này mới can thiệp
Thứ ba, ý thức chấp hành pháp luật của bộ phận nhân dân chưa cao, nhưng Nhà
nước không đưa ra chế tài nghiêm khắc, đủ mạnh để người vi phạm phải tự giác thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình
Khi có hành vi phạm quyền dân sự của cá nhân, tổ chức, người vi phạm không tự giác khắc phục hậu quả Thậm chí còn cố tình thách thức dư luận xã hội, nhưng hành vi
đó không có chế tài xử lý, cho nên người vi phạm coi thường pháp luật, còn người bị vi phạm phải chịu thiệt hại mà không có thể khắc phục được
Bộ luật dân sự điều chỉnh các quan hệ dân sự, thương mại, quan hệ hôn nhân gia đinh, quan hệ lao động Đây là các quyền cơ bản của công dân trong các lĩnh vực trên
Bộ luật Dân sự đã điều chỉnh các quan hệ dân sự trong kinh tế thị trường, góp phần ổn định và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Tuy nhiên, quá trình áp dụng để bảo vệ quyền lợi của cá nhân và các chủ thể khác còn thể hiện những bất cập và hạn chế cần được khắc phục và tiếp tục hoàn thiện để phát huy tác dụng hơn nữa trong thời gian tới Mặt khác, kinh tế thị trường phát triển, các giao lưu dân sự đa dạng, phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ dân sự mới, cho nên Bộ luật Dân sự cần đảm bảo cho các giao lưu dân sự phát triển ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể, góp phần hạn chế tranh chấp, lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân
Để thực hiện mục tiêu đó, phạm vi và đối tượng điều chỉnh cần phải được mở rộng, các chế tài dân sự cần nghiêm khắc và có tính khả thi, Bộ luật Dân sự phải là nền tảng để xây dựng một số luật khác có liên quan Vì những lý do trên, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 2005 là cần thiết, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay và lâu dài, đảm bảo các quyền dân sự của cá nhân được thực thi và đựơc bảo vệ đúng pháp luật
6 Qui chế pháp lí của công dân Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế
Quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế- xã hội là một nội dung quan trọng trong qui chế pháp lí của công dân Việt Nam, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam Thực hiên tốt các quyền này sẽ tạo nền tảng vật chất cho việc thực hiện các quyền công dân nói chung
Mục đích của các cuộc cách mạng dân chủ, tiến bộ trên thế giới là giải phóng con người và mang lại cho họ cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ nhất Một xã hội dân chủ,văn minh, một nhà nước tiến bộ, phát triển trước hết phải là một xã hội mà ở
đó con người có cuộc sống đầy đủ, ấm no, hạnh phúc, về mặt pháp lí cho dù họ sống
Trang 31một mình hay tập thể đều có quyền sở hữu và không có thể bị tước đoạt quyền sở hữu của mình một cách tùy tiện Vì vậy quyền sở hữu của công dân phải được nhà nước tôn trọng, thừa nhận bằng pháp luật.
Trước hết, việc xác định lại các nguyên tắc làm cơ sở, tư tưởng chỉ đạo cho việc xác lập mối quan hệ pháp lí giữa Nhà nước và cá nhân trong xã hội là cần thiết, bảo đảm thực hiện hai yếu tố tính chủ quan và khách quan của pháp luật Ngoài những nguyên tắc mang tính kế thừa các bản hiến pháp trước đó, Hiến pháp 1992 bổ sung điều 50: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được qui định trong Hiến pháp và luật”
a Các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ lao động của công dân.
Hiến pháp tiếp tục khẳng định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân điều
đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của nhà nước và xã hội về vấn đề lao động, việc làm cũng như vai trò, tác dụng của lao động trong xã hội Tuy nhiên qui định của hiến pháp về quyền lao động được sửa đổi Nếu như hiến pháp 1980 qui định công dân có quyền có việc làm thì hiến pháp 1992 sửa đổi theo hướng đề cao trách nhiệm công dân đối với việc làm của bản thân Lao động vẫn được thừa nhận là quyền của công dân có nghĩa là công dân được tạo khả năng tham gia lao động Mọi công dân đều có cơ hội như nhau, bình đẳng trong lao động Khi tham gia vào quá trình lao động, mọi công dân đều được hưởng chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi, chế độ bảo hiểm xã hội.Lao động là quyền của công dân nhưng không đồng nghĩa với quyền có việc làm Quyền lao động chỉ là khả năng mà nhà nước tạo cơ hội cho công dân Còn khả năng nắm bát cơ hội phụ thuộc vào năng lực, trình độ, trí tiến thủ của mỗi người Còn quyền
có việc làm của công dân không còn là khả năng nữa mà đã xác định rõ trách nhiệm nhà nưóc trong việc bảo đảm việc làm cho người lao động Hiến pháp 1992 qui định:
“ N hànước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (điều 55) Với bản chất là nhà nước của nhân dân, nhà nước có trách nhiệm đối với việc làm của người lao động nhưng thông qua việc ban hành cơ chế, chính sách để tạo việc làm cho người lao động Điều này rất quan trọng thể hiện trách nhiệm của nhà nước vói nhân dân Khi nhân dân đã tin tưởng trao quyền lực của mình cho nhà nước thì nhà iước phải có trách nhiệm với nhân dân Tuy nhiên tôn trọng nhân dân không
có nghũ là sẽ tạo ra sự trông chờ, ỷ lại của nhân dân vào nhà nước vì như vậy vô tình
đã làm ưiất đi tính chủ động sang tạo của nhân dân
Chả trương đổi mới kinh tế được thể hiện trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quồc lần VI, VII và cụ thể hóa trong Hiến pháp 1992 là một trong những chính
Trang 32sách, biện pháp thể hiện trách nhiệm nhà nước trong việc tạo việc làm cho người lao động Cơ chế kinh tế thị trường tạo ra nhiều cơ hội về việc làm cũng như cơ hội được làm giàu của người lao động Mọi công dân có khả năng về vốn, có trình độ quản lí, có tiềm lực dồi dào về sức lao động có thể thành lập doanh nghiệp, hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp để làm giàu cho bản thân, cho xã hội và giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người khác Chính sách mở rộng kinh tế đối ngoại nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ vào Việt Nam đồng thời thông qua đó người Việt nam sẽ tiếp thu nền công nghiệp hiện đại, trình độ quản lí khoa học, tiến tiến Chính sách đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài Những thay đổi, điều chỉnh trong bộ luật lao động và các văn bản pháp luật có liên quan về hợp đồng lao động, trách nhiệm của người sử dụng lao động, quyền đình công, bãi công của người lao động, trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích người lao động, sự hỗ trợ từ phía nhà nước, doanh nghiệp khi người lao động thất nghiệp, qui định về mức lương tối thiểu của người lao động, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động điều đó thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với công dân về vấn đề việc làm.
v ề phía công dân, lao động đồng thời là nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện Người có sức lao động phải lao động để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình, đóng góp nghĩa vụ với nhà nước, cộng đồng Để có việc làm và thu nhập cao, ổn định người lao động phải không ngừng học tập, tu dưỡng để nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng với yêu cầu xã hội Có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm cộng đồng Tham gia vào quá trình lao động, công dân phải tôn trọng pháp luật lao động, nội qui nghề nghiệp Phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế thu nhập và tham gia các loại hình bảo hiểm theo qui định của nhà nước
0 Các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ kinh doanh của công dân.
Cơ sở kinh tế là yếu tố quan trọng xác lập mối quan hệ pháp lí giữa nhà nước
và cá nhân trong xã hội Hiến pháp 1992 cụ thể hóa chủ trương phát triển nền kinh tế thị trưòag định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn phù hợp với đặc thù của nhà nước
quá đ ộ y V iệt N am hiện nay Sự thay đổi tư duy, nhận thức v ề chính sách kinh tế đòi
hỏi phả có một quá trình và nhiều khi phải có sự trả giá đó là qui luật tất yếu của sự phát triền Nhưng lợi ích của nó là điều mong mỏi của các cấp lãnh đạo và mỗi cá nhân trong xã hội Chính sách kinh tế thị trường đã tạo ra sự thay đổi cơ bản trong xã hội ĐỜI sống nhân dân dần dần đi vào ổn định và không ngừng được nâng cao Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 33Với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc thừa nhận tự do kinh doanh là quyền cơ bản của công dân là tất yếu khách quan, tạo cơ sở pháp lí thu hút sự tham gia của công dân vào các hoạt động kinh tế, khuyến khích công dân làm giàu chính đáng trên mảnh đất của mình bằng khả năng của mỗi người và có sự tác động từ phía nhà nước và xã hội Tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc của người Việt Nam tiếp tục được khơi dậy, phát huy trong thời kì khôi phục và phát triển kinh tế vì một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển.
Công dân có quyền tự do kinh doanh điều đó có nghĩa là công dân được nhà nước tạo khả năng để tham gia vào các hoạt động kinh tế như được thành lập doanh nghiệp mà không bị hạn chế về qui mô và mức độ; thành lập các tổ sản xuất, tổ hợp tác, xưởng, cửa hang với qui mô tùy theo điều kiện và khả năng của mỗi người; được thuê mướn lao động theo hợp đồng thỏa thuận giữa chủ và người làm thuê; được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu với tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, vốn và các tài sản khác trong doanh nghiệp; được vay vốn ngân hàng phục vụ cho mục đích kinh doanh; được bảo hộ quyền thừa kế; được liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước; được kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm Quyền tự do kinh doanh của công dân gắn liền với trách nhiệm của nhà nước trong việc đảm bảo cho công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh trên thực tế Trước hết nhà nước đã tạo cơ chế chính sách phù hợp, thông thoáng điều đó được thể hiện trong Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật có liên quan Cơ chế kinh tế thị trường được xác lập trong hiến pháp theo hướng ngày càng hoàn thiện, tuân thủ theo những quy luật của kinh tế thị trường Vì vậy điều 16 Hiến pháp sửa đổi 2001 đã bổ sung một
số nội dung quan trọng thể hiện quan điểm nhất quán về kinh tế thị trường ở Việt Nam Đã là kinh tế thị trường đương nhiên các thành phần kinh tế cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật; tổ chức cá nhân thuộc các thành phần kinh tế dược sản suất kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; có các loại thị trường tồn tại và phát triển theo đúng qui luật của nó; chống độc quyền, đảm bảo cạnh tranh bình đẳng Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại mở của và cam kết, tuyên bố từ phía nhà nước
là doanh nhiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa, nhà nước đảm hộ tính mạng tài sản và các quyền lợi chính đáng của người nước ngoài tại việt Nam Trong quản lí kinh tế, kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước được xác định là nguyên tắc quản lí nền kinh tế Vì vậy, lợi ích của cá nhân, tổ chức khi tham gia vào hoạt động kinh tế được nhà nước tôn trọng, bảo vệ bằng hiến pháp- luật cơ bản của nhà nước
Trang 34Cụ thể hóa tinh thần của hiến pháp, nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật liên quan đến quyền tự do kinh doanh của công dân như luật doanh nghiệp
2005, luật đầu tư 2005, luật thương mại 2005 Thủ tục đăng kí kinh doanh ngày càng được đổi mới theo hướng giảm phiền hà cho công dân
Trách nhiêm công dân khi tham gia kinh doanh cũng được cụ thể hóa Trước hết công dân chỉ được chọn những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh, về hình thức qui định này ở một chừng mực nào đó mâu thuẫn với quyền tự do kinh doanh như
đã nêu ở trên nhưng phù hợp với tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Phải đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ trong khi kinh doanh như kinh doanh đúng ngành, nghề, lĩnh vực đã đăng kí, thực hiện nghĩa vụ về thuế, bảo vệ tài nguyên môi trường, không kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, không bóc lột, ngược đãi người lao động Thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh là cơ sở đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân vì
“Trong việc thực hiên các quyền và hưởng thụ tự do của mình, mọi người chỉ bị giới hạn bằng pháp luật nào nhằm bảo đảm thừa nhận và tôn trọng quyền và tự do của người khác và nhằm thỏa mãn những yêu cầu đúng đắn của đạo đức, trật tự công cộng
và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ” (Điều 29 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới)
c Các quy định pháp luật về quyền sở hữu của công dân.
Kế thừa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 khôi phục lại quyền sở hữu của công dân nhung được thể hiện ở một tinh thần mới, phù hợp với chính sách kinh tế và qui định về quyền tự do kinh doanh của công dân “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tự liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đổi với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo qui định tại điều 17 và 18 Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (điều 58)
Trong mối quan hệ với quyền tự do kinh doanh, có thể coi quyền sở hữu là quyền của công dân trong kinh doanh, là đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh, về
phạm vi của quyền sở hữu hiện nay, công dân có quyền sở hữu đối với thu nhập hợp pháp,củì cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế Như vậy, phạm vi quyền sở hữu của công dân được ĩĩứ rộng nhất là quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất, điều mà Hiến pháp 1980
đã cố th h không thừa nhận Tự do kinh doanh có nghĩa công dân có quyền tham gia vào nhièu loại hình kinh doanh khác nhau, do vậy ngoài tư liệu sản xuất thì việc đóng
Trang 35góp vốn dưới hình thức tiền, vàng, mua cổ phiếu, trái phiếu cũng nằm trong phạm vi quyền sở hữu của công dân Điều đó dẫn đến quan điểm về thu nhập hợp pháp cũng được mở rộng Thu nhập của người lao động hiện nay không chỉ có đồng lương mà còn tiền thưởng, lợi tức thu được từ việc kinh doanh trái phiếu, cổ phiếu, lợi nhuận thông qua các giao dịch, hợp đồng Đối với đất đai, nhà nước thừa nhận tổ chức cá nhân có quyền sử dụng ổn định lâu dài Như vậy công dân có quyền sử dụng đất đai và luật đất đai đã cụ thể hóa thành những quyền cụ thể như quyền được thừa kế, chuyển nhượng, thể chấp quyền sử dụng đất Điều này có tính hợp lí vì mặc dù nhà nước thừa nhận cơ chế kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế vẫn dựa trên chế độ công hữu vể tư liệu sản xuất.
Trách nhiệm Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân được cụ thể hóa trong các vàn bản có hiệu lực sau Hiến pháp Bộ luật dân sự 2005 đã dành phần thứ hai từ chương X đến chương XVI qui định về Tài sản và quyền sở hữu trong đó điều 212 qui định: ‘Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân
Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị” Tài sản đã thuộc sở hữu cá nhân thì pháp luật tôn trọng quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh và các mục đích khác phù hợp với pháp luật Quyền sở hữu được bảo vệ bằng nhiều biện pháp khác nhau như có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu phải trả lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 255 Bộ luật dân sự)
Nghĩa vụ công dân khi thực hiện quyền sở hữu Khoản 2 điều 213 Bộ luật dân sự qui định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Cá nhân không được sở hữu tài sản
mà pháp luật qui định không thuộc sở hữu tư nhân, đó là các khách thể thuộc quyền sở hữu m à nước được qui định tại điều 17 Hiến pháp 1992 Bộ luật hình sự đã cụ thể hóa các tội danh xâm phạm quyền sở hữu với các khung hình phạt nghiêm khắc
d Các quy định pháp luật về quyền của công dân đổi với nhà ở.
Như đã phân tích, quyền có nhà ở, có việc làm, khám chữa bệnh và học tập không phải trả tiền ở Hiến pháp 1980 là không thực tế (mặc dù có thể đã được thực hiện c một vài đối tượng trong xã hội) Hiến pháp 1992 đã sửa đổi các quyền này theo
Trang 36hướng xóa bao cấp Nhà nước, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm.
Trong lĩnh vực về nhà ở, Hiến pháp thừa nhận công dân có quyền xây dựng nhà
ở Như vậy, trong điều kiện kinh tế hiện nay, nhà nước không thể đảm bảo chỗ ở cho công dân cho nên thừa nhận quyền xây dựng nhà ở và coi nó là một hình thức kinh doanh chính thức hiện nay là cần thiết và hợp lí nhằm từng bước giải quyết vấn đề nhà
ở cho công dân theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”, “xã hội hóa” vấn đề về nhà ở Công dân có quyền xây dựng nhà ở và cho thuê nhà, bán nhà theo giá
cả thỏa thuận giữa các bên Quyền lợi của người thuê nhà, người có nhà cho thuê, bên mua và bên bán được bảo hộ theo pháp luật Hợp đồng mua bán nhà ở là một loại hợp đồng dân sự được qui định trong chương XVIII Bộ luật dân sự 2005 điều 450 qui định
“Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hộ pháp luật có qui định khác”
Tham gia vào lĩnh vực kinh doanh nhà ở, công dân có nghĩa vụ tôn trọng các qui tắc xây dựng, đảm bảo an toàn,đúng thiết kế được phê duyệt, đúng độ cao, không được xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bất động sản liền kề, xung quanh Bộ luật dân sự,luật xây dựng qui định cụ thể nghĩa vụ đảm bảo an toàn đối với công trình xây dựng liền kề như “Chủ sở hữu nhà chỉ được chổ cửa ra vào,cửa quay sang nhà bên cạnh,nhà đối diện và đường đi chung theo qui định của pháp luật về xây dựng Mái che trên cửa ra vào, cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên” (Đ iều 271 bộ luật dân sự)
v ề phía nhà nước, bên cạnh việc ban hành các văn bản pháp luật vừa khuyến khích công dân tham gia vào lĩnh vực xây dựng nhà ở để giải quyết vấn đề mà xã hội rất quan tâm hiện nay thì tăng cường trách nhiệm nhà nước trong việc quản lí xây dựng nhằm đảm bảo việc xây dựng theo đúng quy hoạch, yếu tố thẩm mĩ, vấn đề môi trường, giao thông là rất cần thiết Đây là vấn đề còn nhiều tồn tại, gây bức xúc trong
dư luận, tại diễn đàn của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Rồi vấn đề giá nhà ở không đúng với giá trị thực của nó, chất lượng nhà chung cư, quản lí nhà chung cư, nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp Để giải quyết tất
cả những vấn đề đó không thể một sớm một chiều nhưng với trách nhiệm của mình, nhà nước cấn quan tâm giải quyết một cách khoa học, có hiệu quả trong thời gian tới Xóa tao cấp về nhà ở là một chủ trương đúng nhưng thiết nghĩ với một số đối tượng, chính sách xã hội Nhà nước có thể vẫn duy trì chế độ bao cấp về nhà ở hoặc có chính sách hỗ trợ nhưng việc thực hiện phải công khai, minh bạch, có sự tham gia giám sát của nhà nước, M ặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, của nhân dân Mọi qui hoạch về xây
Trang 37dựng, nhà ở, giá cả nhà, vấn đề bồi thường khi giải phóng mặt bằng, thỏa thuận với nhân dân khi phá dỡ những ngôi nhà cũ nát không đảm bảo an to àn phải công khai, minh bạch có như vậy mới hạn chế tối đa sự tham nhũng, tham ô trong xây dựng, thất thoát tài sản của nhà nước Quyền lợi của người thuê nhà, mua nhà được tôn trọng.Không ai có thể phủ nhận những ưu điểm, mặt tích cực mà chính sách phát triển nền kinh tế thị trường mang lại Tuy nhiên, mặt hạn chế, tiêu cực của nó cũng đã bộc
lộ rất rõ thời gian qua K inh tế tăn g trư ở ng như ng tính ổn định chư a cao C ơ hội về
việc làm nhiều nhưng thất nghiệp gia tăng nhất là lại rơi vào lực lượng lao động chính, chủ yếu ở vùng nông thôn Lao động là quyền, nghĩa vụ, vinh dự và trách nhiệm mỗi công dân Người có sức lao động phải lạo động để nuôi sống bản thân và đóng góp vào
xã hội về phía nhà nước có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động thông qua việc ban hành các chính sách, biện pháp về kinh tế, chế độ bảo hộ lao động, thời gian lao động, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội Việc thừa nhận sự tồn tại lâu dài của chế độ sở hữu tư nhân, thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, quyền tự do kinh doanh của công dân, sự ra đời của các loại hình bảo hiểm, các loại thị trường là các biện pháp đã góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, v ấ n đề việc làm cho người lao động đã từng bước được giải quyết, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các thành viên trong xã hội được thu hẹp nhưng vẫn đảm bảo khuyến khích công dân làm giàu chính đáng
Tôn trọng quyền con người là nguyên tắc hiến định của chế định quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân Quy chế pháp lí của công dân Việt Nam về lĩnh vực kinh tế- theo pháp luật hiện hành đã thể hiện sự tôn trọng nhân quyền Đó là biểu hiện của mục tiêu xày dựng nhà nước pháp quyền được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001 (Điều 2) Xây dựng nhà nước pháp quyền, cơ chế bảo hiến là nhu cầu khách quan, văn minh nhân loại không phụ thuộc váo bản chất giai cấp nhà nước Để có được sự tự do, bình đẳng, nhân quyền nhân loại đã phải đổ bao công sức, xương máu Đấu tranh để
có được nhân quyền, tự do, bình đẳng đã khó nhưng “Điều cốt yểu là các quyền con người, quyền công dân phải được bảo vệ bởi một chế độ pháp quyền, để cho con người không buộc phái nổi dậy chống lại sự tàn bạo và áp bức như là một phương sách cuối cùng” (Lời nói đầu của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới) Như vậy, điều muốn nói đển ở đây là cơ chế bảo đảm quy chế pháp lí công dân Việt Nam hiện nay Cơ chế
đó đã được xác lập và từng bước hoàn thiện nhưng cần được thực thi có hiệu quả trên thực tế Đã đến lúc phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi những gì lạc hậu, kìm hãm
và tiếp nhận những thành quả văn minh nhân loại
Trang 387 Qui chế pháp lý công dân Việt Nam trong lĩnh vực văn hoá
a Các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân.
Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dường nhân tài cho đất nước Giáo dục góp phần: "Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc" Hiến pháp 1992 đã khẳng định học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân Với vai trò quan trọng của giáo dục, của học tập thì việc thiết lập và từng bước hoàn thiện quy chế pháp lý về quyền học tập là yêu cầu cần thiết làm cơ sở pháp lý để một mặt công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của họ, mặt khác để Nhà nước có cơ chế chính sách phù hợp, đồng thời quản lý được sự nghiệp giáo dục- đào tạo Các quy định của Hiến pháp về học tập là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện quy chế pháp lý công dân trong lĩnh vực văn hoá Căn cứ vào hiến pháp, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế chính sách bảo đảm thực hiện quyền
và nghĩa vụ học tập của công dân Trong những văn bản quy phạm pháp luật thì Luật giáo dục là văn bản quy định trực tiếp và toàn diện nhất những vấn đề về giáo dục và quyền, nghĩa vụ học tập của công dân về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân, Luật giáo dục quy định: "Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập" hoặc "Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để
ai cũng được học hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập" Luật giáo dục đã dành hẳn chương V quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền của người học và chương VI quy định trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm trước hết của gia đình, vì gia đình là nơi trực tiếp nuôi dạy con em, nơi có sự ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em mình Để quản lý sự nghiệp giáo dục, Luật giáo dục quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc thống nhất hệ thống quản lý giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ Cụ thể hoá Luật giáo dục, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành hàng loạt Quyết định, Thông tư, Quy chế cụ thể để làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý hoạt động giáo dục, quản lý và thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của công dân
"hực tiễn của quá trình thực hiện quy chế pháp lý công dân về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân đã đạt được những thành tựu to lớn: Năm 2000, cả nước đã hoàn
Trang 39thành kế hoạch xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đang phấn đấu để thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 Hệ thống giáo dục từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học với các hình thức đào tạo chính quy, tại chức, đào tạo từ xa được phát triển rộng khắp
ở các địa phương trong cả nước, đặc biệt ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn
b Các quy định pháp luật về quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác.
Với vai trò to lớn của khoa học và công nghệ, Hiến pháp 1992 quy định: "Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu" Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta Đe tạo điều kiện cho công dân tham gia vào sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ, Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kĩ thuật, hợp lí hoá sản xuất" Nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho công dân tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, nhà nước thực hiện chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lí đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân lành nghề, nghệ nhân, tạo điều kiện cho các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến Nhà nước cũng tạo điều kiện cho các nhà trường, các cơ sở nghiên cứu khoa học tổ chức, nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến khoa học, công nghệ, cung ứng khoa học, công nghệ và chuyển giao công nghệ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia
Ngoài đời sống vật chất thì đời sống tinh thần cũng có vai trò là nền tảng của xã
h ộ i."Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt nam, tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã h ộ i"\ Văn hoá là toàn
bộ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Cụ thể hơn, văn hoá
là tổng thể các giá trị, các tiềm năng sáng tạo của một dân tộc, của một quốc gia Nói văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội chúng ta phải đặt văn hoá trong mối quan hệ mật thiết với kinh tế là nền tảng vật chất Nền tảng vật chất và nền tảng tinh thần tạo nên nền tảng của xã hội, là điều kiện cần và đủ để xã hội tồn tại và phát triển Nếu thiếu điều kiện vật chất thì con người không tồn tại được, nhưng thiếu điều kiện tinh thần thì xã hội không có tiến bộ, văn minh Một khi nền tảng tinh thần của xã hội bị suy yếu thì xã hội sẽ dễ rơi vào khủng khoảng, các tệ nạn xã hội sẽ xuất hiện, kỷ
Trang 40cương, phép nước sẽ không nghiêm và sự phát triển kinh tế- xã hội sẽ gặp khó khăn và ngược lại.
Với vai trò to lớn của văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội mà Nhà nước đã đầu tư phát triển văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện cho nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, bảo trợ và phát triển các tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật Nhân dân không chỉ là chủ thể hưởng thụ những giá trị văn hoá mà còn là chủ thể sáng tạo ra văn hoá, vì vậy để nhân dân vừa hưởng thụ giá trị văn hoá vừa tham gia sáng tạo văn hoá, Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân có quyền sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác" Để công dân thực hiện quyền sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác, Nhà nước phát triển và đa dạng hoá công tác thông tin, báo trí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác Đó là hệ thống các đài phát thanh và truyền hình ở trung ương và ở địa phương; các báo của trung ương và của địa phương và hệ thống các thư viện từ trung ương đến địa phương, trong đó có "Thư viện văn hoá xã"
Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiến, đậm đà bản sắc dâi tộc; kế thừa và phát huy những giá trị nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá Nhà nước nghiêm cấm truyền bá văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ; bài trừ
mê tín hủ tục Nhà nước nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt nam.Hiến pháp 1992, ngoài việc kế thừa các Hiến pháp trước đó, còn quy định một nội ding hoàn toàn mới: "Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp" Xuất phát từ quan điểm coi quyền của tác giả là một trong những quyền dân sự có liên quan cến lợi ích vật chất và các quyền nhân thân của tác giả, vì vậy Bộ luật dân sự đã quy đnh một chương riêng về quyền tác giả và quyền liên quan, quyền tác giả và quyền liên quan được Nhà nước bảo hộ Từ quy định của Hiến pháp, Bộ luật dân sự và Luật >uất bản đã cụ thể hoá vấn đề này trên cơ sở xem xét các quy định trong Công ước qiốc tế về bảo hộ quyền tác giả
Dối tượng của quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn hoc, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất cứ hình thức và bằng bất cứ phươrg tiện nào, không phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất cứ thủ tục nà)