Các giả thiết dưới đây nhằm đơn giản hoá việc xác định tải trọng tới hạn: 1. Vật liệu của khung làm việc trong giới hạn đàn hồi. 2. Các nút của khung xem như tuyệt đối cứng, do đó chuyển v
Trang 1Chương 4
ỔN ĐỊNH CỦA CÁC KHUNG PHẲNG 4.1 Các giả thiết
Các giả thiết dưới đây nhằm đơn giản hoá việc xác định tải trọng tới hạn:
1 Vật liệu của khung làm việc trong giới hạn đàn hồi
2 Các nút của khung xem như tuyệt đối cứng, do đó chuyển vị của các đầu thanh quy tụ vào nút đều như nhau
3 Các thanh của khung xem như không co, dãn Khoảng cách giữa các nút của khung trước và sau biến dạng không thay đổi nghĩa là dây cung nối các đầu thanh bị uốn có chiều dài bằng chiều dài của thanh trước biến dạng
4 Khi xác định chuyển vị trong khung chỉ kể đến ảnh hưởng của biến dạng uốn do mômen uốn và do lực dọc xuất hiện trước biến dạng gây ra Ảnh hưởng của gia
số lực dọc sau khi hệ mất ổn định bỏ qua
5 Tải trọng tác dụng trên khung chỉ đặt ở các nút Những tải trọng này chỉ gây ra hiện tượng kéo hoặc nén mà không gây ra hiện tượng uốn ngang trong các thanh của khung khi hệ chưa mất ổn định
Theo giả thiết này thì trước khi nghiên cứu sự ổn định cần áp dụng các phương pháp đã trình bày trong giáo trình Cơ học kết cấu để xác định lực dọc trong các thanh của khung chịu tải trọng đã cho ban đầu (hình 4-1a) Tiếp đó xác định tải trọng tới hạn hay thông số tới hạn của khung chịu tải trọng đặt ở nút có giá trị bằng lực dọc trong các thanh tương ứng (hình 4-1b) theo các phương pháp sẽ trình bày trong chương này
Trong bài toán ổn định khung, khi mất ổn định hệ ở trạng thái biến dạng rất gần với trạng thái ban đầu, các lực ngang chỉ xuất hiện sau khi mất ổn định với những giá trị rất
nhỏ Ngoài ra, nếu không coi các lực nén hoặc kéo P là tải trọng mà quy ước xem chúng như là một trong những tính chất cho biết của hệ, thì có thể phát biểu là giữa chuyển vị
và tải trọng có sự liên hệ tuyến tính
Trên cơ sở đó ta đi đến kết luận là trong bài toán ổn định của khung có thể áp dụng nguyên lý cộng tác dụng đối với các tải trọng ngang
Có thể áp dụng được các phương pháp tính xây dựng trên cơ sở nguyên lý cộng tác dụng như phương pháp lực, phương pháp chuyển vị để giải quyết bài toán ổn định của khung Ngoài ra, cũng có thể mở rộng phạm vi áp dụng các công thức xác định chuyển vị
và các định lý cơ bản như các định lý về sự tương hỗ cho trường hợp hệ có những thanh chịu uốn cùng với chịu kéo hoặc nén
Q
q3 N12
N23
N34
N35
N56 1
2
3
5
6 4
3
5 2
12 N
P4 1
P =
5
P P2=N34
N
= 4
P 23 P3=N56
N
= 5
P 35
Hình 4-1 Sơ đồ tính ổn định của hệ khung
Trang 24.2 Cách xác định chuyển vị trong những thanh chịu uốn cùng với nén
hoặc kéo
Trước khi đi vào nghiên cứu cách vận dụng phương pháp lực, ta cần xác định
chuyển vị trong những thanh chịu uốn cùng với nén hoặc kéo
Xét thanh chịu uốn cùng với nén như trên (hình 4-2a) Gọi Mm là mô men uốn do tải
trọng ngang và do lực P gây ra Để xác định chuyển vị ∆km tại điểm k ta tạo trạng thái "k"
và đặt lực Pk = 1 theo phương cần tìm chuyển vị (hình 4-2b); ở trạng thái này không có
lực nén P Gọi M klà mô men uốn ở trạng thái "k" do lực Pk =1 gây ra Thiết lập biểu thức
về sự cân bằng giữa công của ngoại lực và nội lực ở trạng thái "k" trên những chuyển vị
và biến dạng ở trạng thái "m", ta có:
ds EJ
M M
k
Đó là công thức chuyển vị của những thanh chịu uốn cùng với kéo hoặc nén trong
đó đã bỏ qua các số hạng biểu thị ảnh hưởng của biến dạng dọc trục và biến dạng trượt
Ta sẽ nghiên cứu cách xác định chuyển vị trong hai trường hợp cụ thể sau: thanh có
hai đầu khớp và thanh có một đầu ngàm một đầu tự do chịu lực dọc P và các tải trọng
ngang chỉ đặt ở các đầu thanh
4.2.1 Thanh đặt tự do trên hai khớp tựa
P
∆km
k
P =1 "m"
"k"
a,
b,
Hình 4-2 Trạng thái “m”, “k”
P a,
b,
Q =A d-c l
z
l
m
M
k
M
m
M
k
M
a
b c,
Hình 4-3 Thanh có hai đầu gối.
Trang 3Xét thanh đặt tự do trên hai gối tựa chịu lực nén P và các tải trọng đặt ở đầu thanh
(hình 4-3a) Yêu cầu xác định chuyển vị tại các đầu thanh Trong trường hợp tổng quát
nhất, các tải trọng ngang tại đầu thanh có dạng như trên (hình 4-3a), trong đó ký hiệu MA
= c, MB = d Phản lực tại A có giá trị bằng (d−c)/l còn biểu đồ mô men Mm có dạng
đường cong như trên (hình 4-3b) Có thể tìm phương trình Mm theo (2-7) trong chương 2:
= +
+
α
Q(o) M(o)cosα
(o)sinα αEJy
(z)
m
z l
z
α
c -d cosα c (o)sinα
trong đó y'(o) là thông số ban đầu chưa biết và được xác định theo điều kiện khi z
= l; y(l) = 0 Từ điều kiện này và theo (2-5) ta tìm được:
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
+
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
−
=
v
1 sinv
1 αEJ
d tgv
1 v
1 αEJ
c (o)
trong đó:
EJ
P α
v = l =l (4-2)
Thay biểu thức của y'(o) vào phương trình Mm(z), ta được:
z
tgv
1 sinv
d cosα
c (z)
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
− +
Để xác định các chuyển vị ở đầu thanh ta cần tạo trạng thái "k" và tìm phương trình
của M k Trong trường hợp tổng quát nhất, biểu đồ M k có dạng như trên (hình 4-3c), còn
phương trình M k có dạng:
z a b a
Mk
l
− +
Thay (4-3) và (4-4) vào (4-1) ta được:
dz sinα z a b a sin
dz cosα z a b a c dz M M EJ∆
0 0
m 0
k
l tgv
c v
d z
l
l l
l
∫
∫
⎠
⎞
⎜
⎝
+
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
− +
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
+
=
= Sau khi lấy tích phân và biến đổi, ta có:
( ) β( )v
6
bc 6
ad v α 3
bd 3
ac
⎠
⎞
⎜
⎝
+
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
trong đó:
( )
( ) ⎪⎪
⎭
⎪
⎪
⎬
⎫
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
=
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
−
=
1 sinv
v v
6 v
β
tgv
v 1 v
3 v
α
2
2
là các hàm số điều chỉnh kể đến ảnh hưởng của lực nén P Có thể tìm giá trị của
những hàm số này theo các đối số v trong bảng 1 của phụ lục
Trang 44.2.2 Thanh có một đầu ngàm một đầu tự do
Trong trường hợp tổng quát nhất, các tải trọng ngang tác dụng ở đầu thanh có dạng
như trên (hình 4-4a), trong đó ta ký hiệu MA = c; QA = e Biểu đồ Mm do tải trọng ngang
và do lực nén P gây ra có dạng đường cong như trên (hình 4-4b) Mô men uốn tại đầu
ngàm B:
A A
trong đó d là mô men uốn tại đầu ngàm do riêng tải trọng ngang gây ra, từ đó ta
có:
l
c d
e= −
Sau khi sử dụng các phương trình (2-7), (2-6) và điều kiện biên khi z = l; y'(l) = 0,
cũng tương tự như trên ta thiết lập được phương trình của mô men uốn Mm:
+
= c.cosαz
(z)
sin vcosv
d 1 vsinv c
⎥⎦
⎤
⎢⎣
Để xác định chuyển vị ở các đầu thanh ta tạo trạng thái k, trong trường hợp tổng
quát nhất, biểu đồ M k có dạng như trên (hình 4-4c), còn phương trình Mk(z)có dạng như
(4-4)
Sau khi thay (4-4), (4-7) vào (4-1), lấy tích phân và biến đổi ta dễ dàng thiết lập
được công thức xác định chuyển vị cho thanh có đầu ngàm đầu tự do như sau:
( )v bc ad (v) ac (v) bd
6 6
θ 3
θ 3
⎠
⎞
⎜
⎝
+ +
trong đó:
( )
( )
⎪
⎪
⎪
⎭
⎪
⎪
⎪
⎬
⎫
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
=
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
=
⎟
⎠
⎞
⎜
⎝
=
v
tgv cosv
1 v
6 (v)
v
tgv cosv
2 -vtgv 1 v
3 v
1 v
tgv v
3 v
2 3
2 2
2 1
θ
θ
θ
(4-9)
P a,
b,
M =cA Q =A e
m M
k M
m M
k M
a
b c,
A
B
yA
PyA
Hình 4-4 Thanh đầu ngàm, đầu tự do
Trang 5là các hàm số điều chỉnh kể đến ảnh hưởng của lực nén P Có thể tìm các giá trị của những hàm số này theo các đối số v trong bảng 1 của phần phụ lục
Chú thích:
1 Giữa các hàm số α(v), β(v), θ1(v), θ2(v) và θ3(v) có những liên hệ sau:
θ
β θ
α θ
θ β θ
β
α θ
β α
θ
α
; β θ
β α
θ
; α θ
(v)
v (v)
v 1;
(v)
(v) v 3
v (v)
v
1;
v 3
v (v)
v 1;
v 3
v (v)
v
v v
tgv (v) (v);
12
vtgv v
(v) v v
tgv (v)
3 1
3 1 2
3
2 3
2 1
3 2 2
1
=
= +
= +
= +
= +
=
=
Những liên hệ này giúp ta biến đổi được dễ dàng các hàm số trong phương trình ổn định sẽ nghiên cứu dưới đây
2 Đối với những thanh chịu uốn cùng với kéo, trong tất cả các biểu thức thiết lập ở trên ta cần thực hiện những phép thay thế sau:
iβ
α = và
EJ
P
β = keo ; 2
α =− ; sinαz ishβ= z; cosαz chβ= z
4.3 Cách tính ổn định của các khung phẳng theo phương pháp lực
Khi vận dụng phương pháp lực để tính ổn định của các khung phẳng ta cũng tiến hành theo thứ tự tương tự như đã thực hiện trong giáo trình cơ học kết cấu
4.3.1 Cách chọn hệ cơ bản
1
5 6
3
2
X
1
X
2
X
1
X
1
X 3
1
5
6
4
X
6 2
5
1
4
2
X
P X 1 X1
2
P 2
X
X 3 2
P +X 4
Hình 4-5 Hệ cơ bản
a)
b)
c)
Trang 6Về nguyên tắc, cách xác định bậc siêu tĩnh và cách chọn hệ cơ bản bất kỳ đã nêu
trong giáo trình cơ học kết cấu đều dẫn đến cùng một kết quả như nhau Song khi tính ổn
định, để cho đơn giản, ta chỉ nên chọn hệ cơ bản bằng cách loại trừ các liên kết thừa để
sao cho những thanh chịu nén trở thành những thanh có hai đầu khớp tựa (không chuyển
vị theo phương ngang trục thanh) hoặc thanh có một đầu ngàm một đầu tự do Với cách
chọn hạn chế như vậy ta có thể dễ dàng xác định chuyển vị trong hệ cơ bản theo các công
thức đã thiết lập sẵn trong mục 2 Nếu chọn hệ cơ bản khác với quy cách trên thì bài toán
sẽ trở nên rất phức tạp
Đối với hệ siêu tĩnh vẽ trên (hình 4-5a), về nguyên tắc ta có thể chọn hệ cơ bản theo
(hình 4-5b hoặc 4-5c) Hệ cơ bản (4-5b) hợp quy cách đã giới hạn ở trên Hệ (4-5c)
không hợp quy cách vì ta chưa nghiên cứu cách xác định chuyển vị trong những thanh
chịu nén có dạng như thanh 4-5
4.3.2 Phương trình chính tắc
Trong trường hợp này, theo giả thiết 3 và 5 tải trọng chỉ gây ra hiện tượng kéo hoặc
nén trong các thanh của hệ cơ bản mà không gây ra uốn Như vậy, biểu đồ 0
P
M do tải trọng gây ra trong hệ cơ bản sẽ không tồn tại và do đó các số hạng tự do ∆kP của hệ
phương trình chính tắc đều bằng không Lúc này, hệ phương trình chính tắc trở thành hệ
phương trình thuần nhất
⎪
⎪
⎭
⎪
⎪
⎬
⎫
= +
+ +
= +
+ +
= +
+ +
0
0 0
n nn 2
n2 1 n1
n 2n 2
22 1 21
n 1n 2
12 1 11
X
X X
.
.
X
X X
X
X X
δ δ
δ
δ δ
δ
δ δ
δ
(4-10)
4.3.3 Cách xác định các hệ số của hệ phương trình chính tắc
Để xác định các hệ số δkm ta cần tạo trạng thái "k" do lực Xk = 1 gây ra trong hệ cơ
bản (HCB) và tạo trạng thái "m" do lực Xm = 1 và do các lực nén hoặc kéo P gây ra trong
HCB; vẽ các biểu đồ mô men tương ứng với các trạng thái đó; tiếp đó áp dụng công thức
chuyển vị (4-1) hoặc áp dụng cách nhân biểu đồ Đối với những thanh không có lực kéo
hoặc nén, nên dùng cách nhân biểu đồ giống như đã làm trong cơ học kết cấu Đối với
những thanh có lực kéo hoặc nén P ta cần áp dụng các công thức (4-5) và (4-8) đã thiết
lập ở §2 Ngoài ra cần chú ý rằng định lý về sự tương hỗ giữa các chuyển vị đơn vị δkm =
δmk vẫn áp dụng được cho trường hợp này
Khi xác định chuyển vị trong thanh chịu kéo hoặc nén ta cần quan niệm lực kéo
hoặc nén chỉ là tải trọng đặt ở nút Thực ra, khi mất ổn định những lực này có thể khác đi,
chẳng hạn như đối với hệ cơ bản trên (hình 4-5b), thanh 1-2 sẽ chịu lực nén với giá trị
bằng P1 + X2 song các lực X này chỉ xuất hiện sau khi hệ mất ổn định và có giá trị rất nhỏ
nên theo giả thiết 4 có thể bỏ qua
4.3.4 Phương trình ổn định
Hệ phương trình thuần nhất (4-10) được thoả mãn với hai khả năng:
1-Tất cả các ẩn số X đều bằng không Lúc này, trong hệ vẫn chỉ có biến dạng nén
hoặc kéo mà chưa có biến dạng uốn; do đó hệ vẫn ở trạng thái cân bằng ban đầu
Vậy, hệ ổn định, tải trọng chưa đạt đến giá trị tới hạn
Trang 72 Tất cả hoặc một số các ẩn số X khác không Lúc này, trong các thanh có xuất
hiện biến dạng uốn và hệ bị mất ổn định Điều kiện để cho các ẩn số X khác
không là định thức của hệ phương trình (4-10) phải bằng không:
0 δ
δ δ
.
δ
δ δ
δ
δ δ D
nn n2
n1
2n 22
21
1n 12
11
=
Các chuyển vị δkm phụ thuộc giá trị của các lực P nên ta phải chọn giá trị của các
lực P để sao cho điều kiện (4-11) được thoả mãn Như vậy, ta có thể xác định tải trọng tới
hạn hay thông số tới hạn từ điều kiện (4-11) và gọi điều kiện này là phương trình ổn định
theo phương pháp lực
Với cách giải quyết bài toán như trên, ta chưa tìm được các giá trị của ẩn số Xi vì
những ẩn số này là vô định Để tìm được sự phân bố nội lực và hình dạng đường biến
dạng của hệ ta có thể quy ước cho một ẩn số nào đó bằng đơn vị, chẳng hạn cho X1 = 1
rồi xác định các ẩn số còn lại theo hệ phương trình chính tắc (4-10)
Cuối cùng cần lưu ý là trong nhiều trường hợp áp dụng phương pháp lực để tính
ổn định của khung thường không tiện lợi bằng áp dụng phương pháp chuyển vị sẽ nghiên
cứu dưới đây
4.4 Cách xác định phản lực và nội lực trong những thanh chịu nén hoặc
kéo khi các liên kết chuyển vị cưỡng bức
Cũng tương tự như trong giáo trình cơ học kết cấu, để chuẩn bị cho việc nghiên cứu
phương pháp chuyển vị ta cần thiết lập sẵn những kết quả về phản lực và nội lực trong
những phần tử đơn giản là những thanh đơn giản có liên kết ở hai đầu khác nhau chịu
chuyển vị cưỡng bức của các liên kết tựa Song khác với trước, trong trường hợp này các
phần tử mẫu còn chịu thêm lực nén hoặc kéo P và phải kể tới ảnh hưởng của nó
Ta xét trường hợp tổng quát:
Thanh ab có liên kết bất kỳ ở hai đầu chịu lực nén bởi một lực P (hình 4-6) Giả
thiết cho ϕa và ϕb lần lượt là góc xoay tại đầu a và đầu b với quy ước chiều dương là
chiều quay thuận theo kim đồng hồ; ∆ là chuyển vị thẳng tương đối giữa các đầu ab theo
phương vuông góc với trục ban đầu của thanh Yêu cầu xác định các phản lực liên kết
Ma, Qa, Mb, Qb, tại các đầu thanh và trên cơ sở đó xác định nội lực trong thanh
Dưới tác dụng của lực nén P và các chuyển vị ϕa, ϕb và ∆, thanh bị biến dạng như
trên (hình 4-8) Chiều của các chuyển vị
dương
∑Mb = 0 ta được:
M a
Q a
y
z a
b
ϕb
y z
Q b P
l
Hình 4-6 Phần tử mẫu
Trang 8∆ P M M Q
b a
+ +
−
=
Trong trường hợp này, vận dụng các phương trình (2-5), (2-6) và (2-7) với các
thông số ban đầu: y(o) = 0; y'(o) = ϕa; M(o) = Ma; Q(o) = Qa xác định theo (4-12); ta có:
α
∆ α α
α
α
+ +
−
−
=
EJ
EJ M
M cos
1 EJ
M sin
y(z)
3
2 b a 2
a a
ϕ
(4-13)
l l
z
α
α α
⎠
⎞
⎜
⎝
+
−
=
′
EJ
M M sin
EJ
M cos (z)
y
2 b a a
a
z EJ
M M cos
M sin EJ
α α
α
⎠
⎞
⎜
⎝
− +
=
l l
z
với
EJ
P
=
Trong các phương trình này, Ma và Mb là các đại lượng chưa biết và có thể xác định
theo hai điều kiện biên ở đầu b; khi z = l ta có: y(l) = ∆ và y'(l) = ϕb
⎠
⎞
⎜
⎝
+
+ +
−
l l
l
α
α
α α
α
M M cos
1 EJ
M sin
3 b a 2
a a
ϕ
2 b a a
a
EJ
M M sin
EJ
M
⎠
⎞
⎜
⎝
+
l l
l
α
α α α
Sau khi giải được hệ phương trình trên ta xác định được Ma, Mb theo các chuyển vị
ϕa, ϕb và ∆; tiếp đó thay các kết quả tìm được vào (4-12) ta xác định được lực cắt Qa =
Qb
Kết quả:
( ) ⎥⎦⎤
⎢⎣
+
− +
=
l
2 1 b 2 a 1
a 2i
M µ ϕ µ ϕ µ µ (4-16)
( ) ⎥⎦⎤
⎢⎣
+
− +
=
l
2 1 b 1 a 2
b 2i
M µ ϕ µ ϕ µ µ (4-17)
⎢⎣
− + +
−
=
=
l
b a
2i Q
trong đó:
l
EJ
i = ;
EJ
P
v = αl=l
⎪
⎪
⎪
⎪
⎭
⎪⎪
⎪
⎪
⎬
⎫
−
=
−
= +
−
−
=
−
−
=
v 2
v 2tg
v 2
1
; v 2
v 2tg 2
v vtg 2 1
v 2
v 2tg
sinv v 2sinv
v
; v 2tgv
v tgv 2tgv
v
3 3
2
1
2 1
µ µ
µ
; µ
µ
(4-19)
Trang 9Để giúp cho việc tính toán được dễ dàng ta cần thiết lập lại những kết quả trên cho từng trường hợp cụ thể đồng thời ghi những kết quả đó vào (bảng 4-1)
Bảng 4-1 Bảng các giá trị phản lực gối tựa khi gối chuyển vị cưỡng bức
TT Dạng chuyển vị và biểu đồ mô men M a M b Q a = Q b
1
(v) 3iϕ1
(v)
1
ϕ tìm theo (4-20)
l
3i
1
ϕ
−
l
3i
1
ϕ
−
0
(v) η l
3i
1 2
(v)
η1 tìm theo (4-21)
3
(v) 4iϕ2
(v)
2
ϕ tìm theo (4-22)
(v) 2iϕ3 (v)
3
ϕ tìm theo (4-23)
(v) η l
6i
3
− (v)
η3 tìm theo (4-24)
4
(v) l
6i
4
ϕ
−
(v)
4
ϕ tìm theo (4-25)
(v) l
6i
4
ϕ
−
(v) η l
12i
2 2
(v)
η2 tìm theo (4-26)
5
tgv
v i
sinv
v i
v i
sinv
v i
b
M a
b 1
a
M
Qb
a
Q
l
P
P
1
a
M
Q b a
P P
M a
1 l
a
Q
Qb
b a
P P
b
M
1
a
M
Q b a
M a
1
b
M
b
Q
Q a l
P b
a P
M a
b
M
a
P
a
b
Qb P
1
Trang 10TT Dạng chuyển vị và biểu đồ mô men M a M b Q a = Q b
l i
l
EJ
EJ
P l.
v = , các hàm số ϕ và η tra bảng 2, còn các hàm
sinv
v
;
tgv
v
; vtgv tra trong bảng 3 của phụ lục
Chú thích:
1 Trường hợp thanh không chịu lực nén (P = 0) thì v = 0, do đó các hàm số điều
chỉnh ϕ và η đều có giá trị bằng 1
2 Đối với những thanh chịu lực kéo Pkéo, trong các kết quả vừa tìm được ở trên ta
chỉ cần thực hiện những phép thay thế sau:
iβ
α = với
EJ
Pkeo
=
β ; α2 =−β2; sinαz ishβ= z; cosαz chβ= z; i – là số ảo
4.5 Cách tính ổn định của các khung phẳng theo phương pháp chuyển vị
Khi vận dụng phương pháp chuyển vị để tính ổn định của khung, ta cũng tiến hành
tương tự như đã thực hiện trong giáo trình cơ học kết cấu
4.5.1 Chọn hệ cơ bản
Chúng ta cũng chọn hệ cơ bản giống như hệ cơ bản dùng để tính độ bền đã trình bày
trong giáo trình cơ học kết cấu Thí dụ, hệ trên hình 4-17b là hệ cơ bản của hệ vẽ trên (hình 4-17a); trong đó ta đặt thêm các liên kết mô men và liên kết lực để ngăn cản tất cả
các chuyển vị của các nút của khung
4.5.2 Phương trình chính tắc
Cũng lý luận tương tự như trong giáo trình cơ học kết cấu, các ẩn số Zi phải thoả
mãn hệ phương trình chính tắc của phương pháp chuyển vị Song khác với trước, trong
trường hợp này tải trọng chỉ đặt ở nút nên khi hệ chưa mất ổn định thì trong các thanh
của hệ chỉ xuất hiện những lực nén hoặc kéo tự cân bằng mà không xuất hiện mô men
uốn Do đó, các số hạng tự do RkP tức là các phản lực trong các liên kết đặt thêm vào do
tải trọng gây ra sẽ bằng không: R1P = R2P = = RkP = = RnP = 0
M a
1 l
a
Q
Qb b a
P P
M a
l
a
a
P
P
1
1 l
a
Q
Qb
b a
P P