Ảnh hưởng của dòng khí không ổn định đến sự hình thành giọt nguyên liệu từ vòi phun trong buồng tạo hỗn hợp buông đốt tăng động lực cơ tuabin phản lực
Trang 1<SÄO
NGHIÊN CỨU
TRAO DO!
1 BAT VAN BE
Để tăng lực đẩy trên các động cơ tuabin
phần lực, thường tổ chức quá trình cháy bổ sung
bằng việc lắp đặt buồng đốt tăng lực bố trí sau
tuabin Buồng đốt tăng lực gồm buồng tạo hỗn
hợp hoà trộn nhiên liệu với dòng sản phẩm cháy
sau tuabin và buồng lửa xảy ra quá trình cháy
Trên các động cơ tuabin phản lực hiện nay,
các vòi phun nhiên liệu bố trí trong buồng tạo hỗn
hợp của buồng đốt tăng lực thường là các vòi
phun lỗ đơn có kích thước lỗ trong khoảng 0,1 +
1,0mm, với áp suất phun khoảng 30 + 40at như
động cơ P25 - 300, động cơ J85, tạo thành các tia
phun ngược dòng, xuôi dòng hoặc vuông góc với
dòng khí hay kết hợp cả xuôi ngược và vuông góc
trong điều kiện môi trường dòng khí có nhiệt độ
cao khoảng 650 + 750°c và tốc độ lớn khoảng 180
+ 210m/s [1][2] Cách bố trí các vòi phun và việc
tổ chức phun nhiên liệu nhằm đảm bảo sự phân
bố nhiên liệu đồng nhất tại mỗi thiết diện ngang
của buồng tạo hỗn hợp được xác định theo các
kết quả thực nghiệm và hiện còn thiếu những
nguyên lý nền tẳng về tổ chức quy trình phun
trong buồng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực động
cơ tuabin phản lực [1][2][3}
_ Từ đặc điểm và điều kiện làm việc của vòi
phun trong buồng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng
lực, có thể nhận biết quá trình tạo hỗn hợp cháy
trong buồng đốt tăng lực gồm quá trình phun
nhiên liệu thành tia nhỏ, phân huỷ tia nhiên liệu
thành những giọt nhỗ phân tán đều trong dòng
khí và quá trình bay hơi của những giọt nhỏ
[1]l2] Nhờ quan niệm như vậy có thể sử dụng lý
thuyết vòi phun lỗ đơn kết hợp với quan niệm
tính không ổn định khí động tăng cường trao đổi
nhiệt khối để giải bài toán ảnh hưởng của môi
trường dòng khí không ổn định đến sự hình
thành giọt nhiên liệu phun ra từ vòi phun trong
buồng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực động cơ
tuabin phản lực [31(4][5]
KH&CNN - 78*11/2007*3
NH HưỞNG Của DÒNG KHÍ KHÔNG ỔN ĐỊNH
>- BẾN SỰ HÌNH THÀNH 6I0T NHIÊN LIỆU TỪ VÙI PHUN TRŨN BUỒNG
TAO HON HOP BUỒNG DOT TANG LUC DONG CO TUABIN PHAN LUC
Th.S TRAN TRUNG SON, PGS.TS LE CONG CAT
Học viện Kỹ thuật Quân sự
2 SU HINH THANH GIQT NHIÊN LIEU TRONG BUGNG TAO HON HOP BUONG DOT TANG LUC BONG CO TUABIN PHAN Lut
Buéng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực động cơ
tuabin phan lực có bố trí nhiều vòi phun lỗ đơn đặt
cách nhau một khoảng cách đủ lớn so với kích thước lỗ vòi phun trên một thiết diện ngang cho phép giả thiết rằng các dòng nhiên liệu phun ra từ
các vòi phun hoạt động độc lập với nhau trong môi trường dòng khí Dòng khí trong buồng tạo hỗn
hợp bao gồm dòng cơ bản và dòng nhiễu, nếu
dòng nhiễu phát triển gia tăng về độ lớn biên độ thì dòng khí mất ổn định Ngược lại nếu dòng nhiễu bị
tiêu tán trong dòng cơ bản thì dòng khí được coi là
dòng ổn định Trong điều kiện tác động của dòng
khí, dòng nhiên liệu chịu tác dụng của các lực như lực áp suất, lực căng bề mặt, lực quán tính và lực nhớt Các lực này phá vỡ cấu trúc dòng nhiên liệu
và phân huỷ thành những giọt nhỏ Để đánh giá
mức độ tác động của dòng khí đến sự hình thành
giọt nhiên liệu, cần nghiên cứu trường hợp dòng nhiên liệu trong dòng khí mất ổn định và trường hợp dòng nhiên liệu trong dòng khí ổn định
„ 2.1 Dòng nhiên liệu trong dòng khí mất
ốn định
Để đơn giản, xét dòng nhiên liệu là dòng khối
phẳng tạo thành dải nhiên liệu, được giới hạn
bởi bể mặt trên và bề mặt dưới với bề dày h, mỗi
dải nhiên liệu có dòng khí bao quanh Khi dòng khí mất ổn định tạo nhiễu tương tác với dải nhiên liệu, làm cho dải nhiên liệu mất ổn định có dạng hình sin, chuyển động với biên độ bề mặt
trên và biên độ bề mặt dưới là y; và y;, bề mặt giới hạn của dòng khí cách bề mặt không bị nhiễu của dải nhiên liệu một đoạn y (hình 1)
Nhờ mô hình như vậy có thể xác định được các lực tác dụng vào dải nhiên liệu để phân huỷ
thành giọt theo lý thuyết N.Dombrowski và
W.R.Johns [5][6]
Dòng khí không ổn định chuyển động dưới
dạng sóng hình sin gây ra tốc độ cục bộ của
đòng khí theo phương y, có dạng:
Trang 2
Hình 1.Mô hình dải nhiên liệu trong dòng khí buổng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực
động cơ tuabin phản lực
Vol Oo = “oy (2) và chuyển động dọc theo trục x với vận tốc W„
ở đây õ là độ lệch của dòng khí tính theo bề
mặt không bị nhiễu, ® là nguyên hàm hàm thế ọ
Theo Euler, gradien áp suất của dòng khí có
quan hệ với sự biến thiên vận tốc dọc theo trục y:
Dòng khí trong buồng tạo hỗn hợp có tốc độ
ứng với số Mach M < 0,3 nên xem dòng là
khéng bi nén (p = const) [4] Tich phan, phuong
trình (3) nhận được:
3Ø
Quan hệ giữa gradien áp suất với sự biến
thiên tốc độ của dòng khí dọc theo trục x:
1 ap daw,
p ox at
Tích phân phương trình (5) va từ phương
trình (4) nhận được:
#œ
Øtôx
Khi bổ qua tính nén chuyển động của dòng khí
trong buồng tạo hỗn hợp là chuyển động thế với
hàm thế được xác định bởi hàm Laplace [7][8]:
2 2,
ox? ôy?
x
© = genœ-®0 (9)
với @=o(y)là biên độ của hàm dòng,
n = 2z/2 là số sóng, ^ là bước sóng.Từ phương
trình (9) và phương trình (7) nhận được:
2 2=
2o 29 _ 2 (ng =0
ox? ấy? ay?
Nghiệm của phương trình (10) có dạng:
(11)
Kết hợp phương trình (9) và (11) nhận được:
@=% „in efx-W) (12)
Thay ø vào phương trình (8) và lấy tích phân
hàm ở nhận được:
(10)
@ = ọạ.ef)y
(mMW,
Đồng thời từ phương trình (2) xác định được hàm độ lệch §:
@=-~ Po et(x-WU) ai(my ( 3)
B® FIND pre-war csteny E8 hoa
§ = — = — Et eh) a0 ny —— in Wat) @itindy
(14) Kết hợp phương trình (4) với phương trình (13) nhận được giá trị áp suất của dòng khí lên
bề mặt dải nhiên liệu:
Trang 3a)
at?
i ~
Ww? Po git WD gitinyy
mặ-W,nl 2 L0n)y
pe =-p = -—p(-inW ,o,e
= pn
(15)
Từ phương trình (14) và (15) nhận được:
Xét một phân tố dải nhiên liệu chiều dài dx
(hình1), lực do áp suất tác động lên phân tố diện
tích ds = z.dx ở bể mặt trên và bể mặt dưới của
dải angn liệu theo phương trình (16) lần lượt là:
= -pnW2ðzdx
ở iy F„ là lực do áp suất dòng khí tác động
lên một phân tố diện tích bể mặt trên dải nhiên
liệu Độ lệch ö tính từ vị trí trục x là y;, độ lệch
tính từ điểm không bị nhiễu là y=y,-h/2, do đó:
F¿= -pnW2(wị - h/2).Zdx=-pnW2y.zdx
Nếu gọi lực do áp suất dòng khí tác động lên
một phân tố diện tích bể mặt dưới của dải nhiên
liệu là F;¿, tương tự sẽ có:
= pnW? yzdx
Như vậy tổng lực áp suất tác động lên bề mặt
trên và dưới của một phân tố diện tích dải nhiên
liệu là:
F,= F„ - Fạ = 2pnWZ.y.Zzdx (17)
Lực căng bề mặt trên chiều dài dx là:
ô oy oy
F, 3 = —(20z.—).dx =2øz——.d ox ord 2x) 0z 2x (18 18
Lực quán tính gây ra bởi sự thay đổi mô men
động lượng của phân tố nhiên liệu được xác
định bởi:
œ
oy oh oy
ô
Fạ„ =——(p„zhdx
a =~ (Pa ô Y= P(t a? at at yzax
(19)
6 day Fy la lực quán tính của phan tố nhiên
liệu trên chiều dài dx, h là độ dày của dải nhiên
liệu phun, p„ là mật độ của nhiên liệu
Khai triển ta được:
8y
Fey = Pah 2 zdx (20)
Tương tự nhận được lực nhớt:
&
KH&CNN - 78*11/2007*5
Lực tổng hợp tác dụng lên phân tố dải nhiên liệu:
Điều kiện cân bằng cho một phân tố dải
nhiên liệu dưới tác động của dòng khí là F; = 0 Thay các giá trị F;, F„, Fạ, F„ trong các phương trình (17), (18), (20) và (21) vào phương trình
(22) và cho bằng 0 nhận được:
2onVi y+ 20> — Pah ân +" 0 (23)
Dòng khí bị nhiễu mất ổn định dao động dưới
dạng hình sin dọc theo trục x được mô tả bởi phương trình:
với T là biên độ dao động của dòng khí dọc
theo chiều dài buồng tạo hỗn hợp buồng đốt
tăng lực, biên độ T là một hàm phụ thuộc vào
thời gian T = T(Đ, n là số sóng, š là góc pha ban
đầu Tính các giá trị Ê2Y Ê'Y _Ê'Y_ từ phương
ôx? ` at? ' dtax?
trình (24), sau đó thay vào phương trình (23) nhận được:
2.pnW‡.T- 2ø/2T - pạ.h oe phe =0 (25)
Goi f = In(T/T,) la mic gia tang bién d6 ở thời
điểm t thì:
với Tạ biên độ dao động tại thời điểm t = 0 Thay T từ phương trình (26) vào phương trình
(25) và lấy đạo hàm, nhận được:
2pnW? ~2ơn - p,, (#} = pin 0 (27)
Bỏ qua đạo hàm bậc 2 trong phương trình
(27), nhận được:
n?~ — y ~ th —= (28)
2.p.nW¿ - 2øi Pah } pA, 0
Gọi g = 5 là tốc độ gia tăng biên độ dao động
của dòng kh, W phương trình (28) nhận được:
2.p.nW2 - 2øn?- p„ạ.hq? - uhn?2q=0 (29) Phương trình (29) cho phép xác định được số sóng n và tốc độ gia tăng biên độ q của dòng khí mất ổn định khi tương tác với dải nhiên liệu
Bây giờ xem xét dải nhiên liệu bị phân ra dưới tác động của dòng khí không ổn định chuyển động dưới dạng sóng hình sin trong
buồng tạo hỗn hợp Dòng nhiên liệu khi phun ra khỏi vòi phun lỗ đơn dưới một áp suất phun nhất
định, các phần tử nhiên liệu một số chuyển động theo dòng, số khác chuyển động theo
Trang 4phương ngang và đặc trưng của quá trình phun
nhiên liệu từ vòi phun có thể được mô hình hoá
theo hình 2 [5][6]
Hình 2 thể hiện cơ chế phân rã của dải nhiên
liệu dưới sự tác động của dòng khí chuyển động
dưới dạng sóng trong buồng tạo hỗn hợp Dải
nhiên liệu phun có dạng hình sin, có các điểm lồi
lõm trong dải Chừng nào biên độ sóng đạt được
giá trị tới hạn thì dải nhiên liệu bị bẻ gãy tại những
điểm lồi lõm; khi đó các phần tử nhiên liệu không
còn đủ sức liên kết với nhau thành một khối mà bị
gãy thành các phân dải; chiều dài phân dải tương
ứng với một nửa độ dài bước sóng 2/2 Sau khi
phân rã thành phân dải; chúng bị co lại bởi ứng
lực bề mặt và tạo thành sợi phân dải, các sợi phân
dải này lại bị tác động bởi các sóng lan truyền
theo phương ngang rồi bị gãy vụn, vỡ thành các
giọt nhiên liệu
Để tính toán kích thước giọt nhiên liệu có thể
xem sợi phân dải nhiên liệu tương đương sợi
dạng hình trụ đường kính D, Gọi bề rộng phân
dải là I„ bể dày là h (hình 2) Khi đó khối lượng
nhiên liệu chứa trong thể tích sợi hình trụ là:
Pri Ve = Pra le
ở đây V là thể tích phân dải nhiên liệu; D,
đường kính sợi phân dải nhiên liệu Lượng nhiên
liệu này cũng là lượng nhiên liệu chứa trong
phần thể tích thực của phân dải xác định theo
các kích thước nửa chiều dài bước sóng và bể
dày h tại thời điểm bề gãy:
À
Pas = Dạ 2% (31)
Theo phương trình cân bằng khối lượng, từ
(30) và (31) nhận được:
LG = Par 2h '
hay: D? -4®Àn- 4n _4h
2n ania on
nhận được:
p, = |" n (32)
Giá trị h và n được xác định từ phương trình
(29) Trong trường hợp đơn giản bỏ qua tính
nhớt của nhiên liệu u=0, từ phương trình (29)
nhận được:
2.p.nV2 - 2øn?— pạ‹hq? =0
do đó:
q=h1*2, -2.(pW2.n -g.n?}
nt
(33)
Nếu kể đến tính nhớt của nhiên liệu u * 0,
giải phương trình (29) với đẩy đủ các thành phần lực, mối quan hệ giữa mức gia tăng biên
độ f và số sóng n trong trường hợp không tính
đến nhớt (u = 0) và khi tính đến nhớt (u # 0)
được trình bày trên hình 3 [5]
Từ hình 3 nhận thấy ở miền số sóng nhỏ (0 < n < n,) mối quan hệ của mức gia tăng biên
độ f với số sóng n của dòng khí tác động vào
dải nhiên liệu nhớt và không nhớt là như nhau; hiệu quả nhớt chỉ phát huy khi số sóng n có giá trị lớn (n > n,) Miễn có số sóng nhỏ là miền
sóng nhiễu khí động lan truyền theo dòng khí
(8],[9],[10] Trong miền này theo hình 3 vai trò tác động của nhiễu với dòng nhiên liệu không phụ thuộc vào tính nhớt Điều đó cho phép đơn giản hóa việc tính toán kích thước giọt nhiên liệu theo điều kiện không nhớt khi nghiên cứu dòng
nhiên liệu trong dòng khí của buồng tạo hỗn
hợp buồng đốt tăng lực động cơ tuabin phan luc
Tác động sóng gia tăng của đàng khí vào dải nhiên liệu Phân rã thành — Phân rã thành Hình thành giọt phân dải sợi và đứt gấy nhiên liệu
Hình 2 Mô hình phân rã của dải nhiên liệu thành giọt dưới tác động của nhiễu trong dòng khí
không ổn định theo Dombrowski
Trang 5
Chất lỏng không
nhớt
Chất lng hot
9 ny,
Hình 3 Mối quan hệ giữa tốc độ gia tăng biên độ
với số sóng của chất lỏng nhớt và không nhớt
Lấy tích phân phương trình (33) nhận được:
t
te [2 (ow2n-onty [reat (34)
0
nt
Lấy đạo hàm phương trình (34) theo biến số
n và cho bằng 0 sẽ được mức tăng cực đại của
biên độ theo n, nhận được:
Thay n từ phương trình (35) vào phương trình
(33), nhận được giá trị tốc độ gia tăng biên độ
lớn nhất:
pW?
2p„oh
Đồng thời thay n từ phương trình (35) vào
phương trình (34) nhận được:
f= i pa
2pxØ ô
Để đặc trưng cho độ dày của dải nhiên liệu
thường sử dụng giá trị k=ht [6] với t là thời gian
tính từ thời điểm nhiên liệu được phun ra từ vòi
phun Ngoài ra còn sử dụng thông số độ dày
K = hx [6] với x là toạ độ ở một điểm bất kỳ của
dải nhiên liệu Thay h = k/t vào phương trình
(37) nhận được:
n
(37)
3 vj2p„ø.h
Thay t = k/h vào phương trình (38) nhận được:
t~.2_pW2t_ _2 _ kpWỆ_ _2 _kpW2
3 /2p,0.h 3 “haf2p ch 3 `jJ2p„o.h*
(39) Rút h từ phương trình (39) nhận được:
hs VỀ Wik? (40)
9p„ơf?
Thay n và h từ các phương trình (35),(40) vào
phương trình (32), nhận được:
KH&CNN - 78*11/2007*7
16ơ2k? ) (41)
= 2 9pp„/°W?
Tại thời điểm phân rã đối với nhiên liệu, mức gia tăng biên độ f có giá trị không đổi là f = 12 [B]j6] 'Thay k và f vào phương trình (41) nhận được:
1/6
81.pp,W, Giai đoạn cuối của sự phân rã dải nhiên liệu,
giọt nhiên liệu được hình thành, đường kính giọt
Dạ được xác định:
D, = JˆD;
n
Thay D,.từ phương trình (42) vào phương trình
(43), đường kính giọt lớn nhất được xác định:
l6 ”k? ⁄
m.~-
Thay f = 12 va k = K/V, vao phương trình (44)
nhận được:
p.-(19x)”_ 1 ( 08k? )""
Phương trình (45) xác định đường kính giọt nhiên liệu bị phân rã dưới tác động của dòng khí không ổn định trong buồng tạo hỗn hợp buồng
đốt tăng lực động cơ tuabin phản lực
Với điều kiện nhiên liệu được phun ra từ vòi phun lỗ đơn trong buồng tạo hỗn hợp buồng đốt
tăng lực động cơ tuabin phản lực P25 - 300, đường kính giọt nhiên liệu lớn nhất được hình thành dưới tác động của dòng khí mất ổn định trong buồng tạo hỗn hợp xác định theo công
thức (45) la Dy = 126m
2.2 Dòng nhiên liệu trong đòng khí ổn định Khi dòng khí ổn định nhiễu tác động lên dòng khí bị triệt tiêu, các sóng hình sin không hình thành Trong trường hợp này dòng nhiên liệu là một dòng khối phẳng đối xứng qua trục x với bề
dày mỏng dần dưới tác động của dòng khí Lực tương tác của dòng khí lên dòng nhiên liệu theo phương trình (23) lúc này chỉ bao gồm hai thành phần là lực nhớt và lực căng bề mặt, điều kiện
cân bằng của một phân tố dải nhiên liệu dx là:
Lực nhớt gây ra lực ma sát có xu hướng làm det dai nhién liệu và bị vỡ thành giọt, lực này được xác định [1 1]:
ở đây W, là tốc độ tương đối của dòng khí so với dải nhiên liệu, là hệ số trở lực của môi trường khí, giá trị của tụ phụ thudc vao sé Reynolds
(43)
(45)
Trang 6
Lực căng bề mặt F„ làm cho giọt nhiên liệu
có dạng hình cầu có đường kính D, „„ [11]:
g.od
Kết hợp các phương trình (46),(47) và (48)
nhận được:
D.= 4ơ :
yew,
ở đây D,„„ là đường kính giọt nhiên liệu khi
dòng khí ổn định
Với điều kiện nhiên liệu phun qua các vòi
phun lỗ đơn bố trí trong buồng tạo hỗn hợp
động cơ tuabin phản lực P25 - 300, đường kính
giọt nhiên liệu lớn nhất khi đòng khí ổn định xác
định (49) là D, „„=1700um
So sánh kết quả tính toán đường kính giọt
nhiên liệu nhận được, đường kính giọt nhiên liệu
trong dòng khí ổn định lớn hơn 13 lần đường kính
giọt nhiên liệu trong dòng khí không ổn định
3 KẾT LUẬN
- Với quan niệm sự không ổn định của dòng khí
tăng cường trao đổi nhiệt khối trong dòng đã giải
được việc hình thành giọt nhiên liệu từ vòi phun lỗ
đơn trong buồng tạo hỗn hợp buồng đết tăng lực
- Dòng khí không ổn định tác động vào dòng
nhiên liệu làm cho dòng nhiên liệu bị bể gãy
thành phân dải, sợi phân dải để hình thành giọt
có kích thước giọt nhỏ tăng cường bay hơi và
hòa trộn hỗn hợp nhiên liệu cháy
- Phun nhiên liệu vào dòng khí không ổn định
trong buồng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực
động cơ tuabin phản lực sẽ tạo giọt nhiên liệu
có kích thước nhỏ hơn 13 lần so với phun vào
dòng khí ổn định trong cùng điều kiện phun Kết
quả nghiên cứu này là cơ sở để xây dựng cấu
trúc buồng tạo hỗn hợp buồng đốt tăng lực động
cơ tuabin phản lực
4, TAN LIEU THAM KHAO
[] F C CkyÕadepckui 1977 “B⁄@LJMOHHbIĐ Tazospie
TypÕWHbie n8urarenw” KOHCTpYKLJ W pACHET Hã IDOHHOCTb
neranel Mocxpa WnaTenbcTrao MauIWHOCTpO©HWe
[2] Jack D Matting 1996 “Elements of Gas Tuabine
Propuision” Mc Graw - Hill, Inc
(3] Lê Công Cát, Nguyễn Trung Định, Nguyễn bá Thảo,
Trần Trung Sơn 03/2006 “Tính không ổn định thuỷ động
tăng cường trao đổi nhiệt khối trong dòng môi chất Tạp
chí khoa học công nghệ số 68
[4] Lê Công Cát, Trần Trung Sơn 07/2007 “Về đặc tính
dao động của dòng khí trong buồng tạo hỗn hợp cháy của
buồng đốt tăng lực động cơ tua bin phản lực” Tạp chí khoa
học và công nghệ Nhiệt Số 78
Phản biện: PGS TS Trương Duy Nghĩa
g.od
1 Đặt vấn đề Công nghệ sắy ở nhiệt độ tháp hơn hoặc bằng
nhiệt độ môi trường sử dụng bơm nhiệt (sấy lạnh bằng bơm nhiệt) được ứng dụng khá nhiều tron
thực tế như: hút ẩm, sấy các sản phẩm không the
chịu được nhiệt độ cao Hiệu quả làm việc của
các hệ thống này phụ thuộc vào rất nhiều thông
số như: nhiệt độ sảy, tốc độ gió trong buồng sáy, nhiệt độ bốc hơi, nhiệt độ ngưng tụ, Do đó, cần xác định sự ảnh hưởng các thông số này đến hiệu quả làm việc, từ đó xác định được chế độ làm việc tối ưu của hệ thống
Tuy nhiên, đặc thù của hệ thống bơm nhiệt sấy lạnh là sử dụng đồng thời cả năng lượng của nguồn nóng và nguồn lạnh Đây là những
nguồn năng lượng có số lượng và chất lượng
rất khác nhau, cho nên việc chỉ sử dụng phương pháp cân bằng năng lượng để đánh giá hiệu quả về mặt năng lượng của hệ thống này là chưa hợp lý Chính vì vậy, để xác định hiệu quả của hệ thống bơm nhiệt sấy lạnh về mặt năng lượng, nên sử dụng phương pháp năng lượng - exergy, sẽ đưa ra được lời giải
chính xác và khoa học [1]
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm xác định ảnh hưởng của khối lượng vật liệu sấy Guus, lưu lượng gió qua buồng sấy Gụ,
tỉ lệ không khí bypass qua dàn lạnh BP đến hệ
số hiệu quả năng lượng COP, hiệu suất exergy
na lượng tách Âm riéng (specific moisture extraction rate - SMER, kg ẳm/kWh) của hệ thống bơm nhiệt sấy lạnh Vật liệu sấy sử dụng
là nghệ đen, một loại được liệu quí được dùng rất phổ biến trong dân gian Dược liệu này sẽ bị
biến màu, mắt chất dinh dưỡng tết cho sức khỏe nếu tiến hành sấy nóng Vì thế, sấy vật liệu này ở nhiệt độ thấp là rất cần thiết và có hiệu quả Trong nghiên cứu này, nghệ đen
Hình 1 Hình ảnh máy hút ẫm và sáy lạnh
BK-BSH 1.4