Tài liệu tự học tự bồi dưỡng giáo viên tiểu học: nội dung tự chọn; Nội dung tự học của giáo viên theo mo dun mà chưa có sẵn. giáo viên tự sưu tầm để học gặp nhiều khó khăn.
Trang 1TUYỂN TẬP NỘI DUNG TỰ CHỌN
TƯ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TIỂU HỌC.
***********************
A.NỘI DUNG: XANH – SẠCH – ĐẸP VÀ AN TOÀN.
Giải thích một số khái niệm:
1 Thế nào là trường học xanh, sạch, đẹp và an toàn? Xanh, sạch, đẹp và an toàn cho học sinh là
những yêu cầu quan trọng của một môi trường thân thiện trong trường học, cụ thể là:
- Có nhiều cây xanh, thường xuyên được chăm sóc và bổ sung Khuôn viên nhà trường, các nhà làmviệc, lớp học, phòng bộ môn, sân chơi, nhà vệ sinh… lúc nào cũng được giữ sạch sẽ, đảm bảo yêucầu cảnh quan sự phạm
- Học sinh được giáo dục cách sống khoẻ mạnh và có sự hỗ trợ về y tế, về tâm lý
- Học sinh được đảm bảo sự an toàn về thể xác và tinh thần Không có bạo lực trong nhà trường vàngoài khu vực trường học, cũng như những hiện tượng lăng mạ, sỉ nhục làm tổn thương đến danh dự
và lòng tự trọng của học sinh Trường học XSĐ&AT đã thật sự tạo ra môi trường học tập, sinh hoạt,vui chơi an toàn, thú vị, hấp dẫn đối với học sinh và giúp các em càng thêm yêu quý trường lớp, thầy
cô, bạn bè Nhiều ngôi trường đã để lại những dấu ấn và kỷ niệm đẹp trong lòng học sinh bởi nhữnglối đi dưới hàng cây râm mát, những bồn hoa, thảm cỏ xanh tươi nhìn ra từ cửa sổ lớp học mỗi ngày.Trường học XSĐ&AT còn có ý nghĩa thiết thực trong việc giáo dục học sinh có ý thức, có thói quengiữ gìn bảo vệ môi trường và tạo sự lan tỏa đến môi trường gia đình cộng đồng các em đang sống,đồng thời góp phần hình thành mầm mống nhân cách tốt đẹp và lối sống văn minh, văn hóa cho thế
hệ trẻ ngay từ tuổi học đường Vừa qua, các cấp quản lý giáo dục, đặc biệt là những thầy cô hiệutrưởng đã quan tâm việc làm này, xem đây là nhiệm vụ quan trọng trong từng năm học Tuy nhiêntrong thực tế, một số trường vẫn chưa tạo được cảnh quan môi trường tốt đẹp để cuốn hút học sinh
2 Thế nào là Xanh?
- Trồng cây có bóng mát như: bằng lăng, phượng, xà cừ, me tây, móng bò, keo tai tượng,… Chú ýtrồng loại cây có tán, bóng mát nhiều mùa; không trồng cây có nhiều sâu hoặc có vỏ, lá, hoa chứachất độc hại và có mùi khó chịu
- Trồng một ít cây cảnh, chậu cảnh như: tùng, sứ, cau cảnh, gừa tàu, mai chấn thủy, nguyệt quế, …
- Có thể trồng cây bụi mọc tự nhiên được cắt tỉa chu đáo
- Trồng cỏ: Trồng thành thảm cỏ hình vuông, hình chữ nhật, trồng thành hàng dài hai bên lối đi; trồngdưới gốc cây bóng mát … (chọn loại cỏ dễ trồng và dễ kiếm ở địa phương như: cỏ đậu phộng, cỏlông heo …) để học sinh có thể chơi đùa được
Chú ý độ bao phủ cây xanh trong sân trường tối thiểu khoảng 40%, thảm cỏ khoảng 25 – 30% Hạnchế bê tông hóa sân trường
3 Thế nào là Sạch?
- Xử lý rác thải: Thùng rác có nắp đậy, để ở hành lang và sân trường với vị trí thuận lợi cho học sinh
sử dụng Nếu có điều kiện, có thể phân loại rác theo 3 nhóm (các loại giấy vụn; nhựa ni lông, kimloại; lá cây, trái cây )
Tháng 10 BÁO CÁO NỘI DUNG TỰ HỌC TỰ BỒI DƯỠNG
PHẦN KIẾN THỨC TỰ CHỌN.
NỘI DUNG THỨ NHẤT: II.Nâng cao năng lực hiểu biết về môi trường giáo dục
và xây dựng môi trường học tập (Xây dựng môi trường học tập thân thiện):
Trang 2- Xử lý hệ thống cống rãnh, nước thải: Xử lý ngầm chống mùi hôi; cống rãnh phải có tấm đậy antoàn, không có hố nước đọng gây ô nhiễm và muỗi sinh sản.
- Có nguồn nước sạch: Đủ nước uống cho học sinh hàng ngày (bình nóng lạnh, bình nước khoáng,bình nước đun sôi để nguội…); nước rửa mặt, tay chân cho học sinh trước khi vào lớp học (khoảng
10 vòi cho 300 học sinh)
- Giải quyết tốt khu vệ sinh: Nhà vệ sinh phải thoáng mát, đủ ánh sáng, có mái che và lối đi sạch sẽnối với hành lang lớp học Có thể chọn trồng một ít cây cảnh xung quanh khu vực vệ sinh để tạo cảmgiác nhẹ nhàng và ý thức sử dụng bảo quản cho học sinh Chú ý hố tiêu, hố tiểu đáp ứng đủ cho sốlượng học sinh sử dụng, không có mùi hôi, có thể sử dụng máng tiểu bằng loại tôn inox để dễ giộirửa Cần tách riêng nhà vệ sinh giáo viên và học sinh
- Xử lý tiếng ồn: Sắp xếp bố trí hợp lý về thời gian, vị trí sân chơi bãi tập, phòng học, phòng làmviệc, giờ ra chơi, giờ học nhạc, giờ chuyển tiết để đảm bảo cho hoạt động dạy học và sinh hoạt củatrường diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả
- Đảm bảo bầu không khí trong lành không bị ô nhiễm trong sân trường, lớp học
4 Thế nào là Đẹp? Trước hết phải tạo được môi trường xanh và sạch, có cảnh quan hài hòa và
tính thẩm mỹ trong mô hình kiến trúc tổng thể Trường có quy hoạch hợp lý, đảm bảo sự phát triểnbền vững trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cảnh quan môi trường Một số bồn hoa với nhiềumàu sắc rực rỡ sẽ làm tăng vẻ đẹp của trường, chọn trồng loài hoa nở được nhiều mùa trong năm.Xây dựng những quy định, biểu bảng, áp phích về nếp sống văn minh, lối sống tiết kiệm để nhắc nhởhọc sinh chú ý thực hiện Trang phục học sinh cần giản dị, gọn gàng, sạch sẽ, màu sắc không loè loẹt
Áo trắng quần xanh là trang phục tương đối trung hoà phù hợp với học sinh phổ thông, được nhiềungười đồng tình chấp nhận Đồng phục học sinh có thể thực hiện theo trường, theo lớp, theo ngày,theo mùa Có môi trường bạn hữu thân thiện giữa học sinh với học sinh, học sinh với thầy cô giáo,giữa học sinh với cây xanh thảm cỏ bồn hoa, bàn ghế, lớp học, sân trường
5 Thế nào là an toàn? An toàn được thể hiện qua các yêu cầu và quy định: phòng chống học sinh
đánh nhau, bạo lực; phòng chống điện giật, cháy nổ; phòng chống ngộ độc, đuối nước, té ngã; phòngchống tai nạn giao thông; có lối đi của xe lăn từ sân trường vào hành lang lớp học cho học sinhkhuyết tật; độ cao bàn ghế phù hợp và phòng học đủ ánh sáng để giảm thiểu bệnh cong vẹo cột sống
- Song song với những biện pháp chăm sóc cảnh quan và giữ gìn vệ sinh trường học, nhà trường cầntăng cường giáo dục học sinh bằng một số hình thức khác như : pano, áp phít bằng những câu khẩuhiệu hành động
- Hàng ngày giao cho đội sao đỏ có nhiệm vụ kiểm tra và thúc nhắc các lớp làm vệ sinh đúng thờigian quy định, nếu ngày nào sân trường dơ bẩn nhà trường sẽ trừ điểm thi đua của đội sao đỏ Từ đó
đã giúp nhà trường quản lý tốt phong trào xanh, sạch, đẹp được thường xuyên
- Hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tham gia một số trò chơi dân gian gần gũi với địa phương đã tạocho học sinh khả năng tự rèn, nhanh nhẹn, chịu khó như: bịt mắt bắt dê, chơi ô ăn quan, giựt cờ, nhảydây, bắn bi, v.v…và cuối mỗi học kỳ vào các ngày sinh hoạt ngoại khóa chung toàn trường nhàtrường cần tổ chức cho học sinh tham gia thi các trò chơi theo đợn vị khối lớp và trao giải thưởng chonhững học sinh có thành tích cao trong các trò chơi, nhờ đó mà trong nhà trường học sinh thườngxuyên tập luyện và tham gia các trò chơi một cách tự giác
Trang 3- Ngoài ra để tạo cho học sinh có thói quen mạnh dạn trong việc nói năng, ứng xử linh hoạt, vănminh, nhà trường nên xây dựng một số quy định về việc giao tiếp, ứng xử như dùng những từ ngữphù hợp, những cử chỉ, thái độ đúng đắn giữa HS với HS, giữa HS với GV, giữa GV với GV tronghọc tập giảng dạy cũng như trong sinh hoạt hàng ngày ở gia đình, và tổ chức kiểm tra, thi đua khenthưởng dưới hình thức cho học sinh thuyết trình và tạo tình huống trong các buổi chào cờ đầu tuần
II Giải pháp cụ thể:
1 Đối với học sinh: Học sinh phải có ý thức và hành động tự giác giữ gìn môi trường XSĐ&AT
ngay từ ngày đầu tiên bước chân đến trường và thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi Học sinh từng em, từngnhóm được trực tiếp tham gia các việc làm cụ thể hàng ngày, hàng tuần về xây dựng lớp học trườnghọc của mình ngày càng XSĐ&AT hơn (trồng cây, chăm sóc cây, vệ sinh trường lớp,…) Trong nămhọc, các em tích cực tham gia một số hoạt động ngoại khóa của trường để tạo ra các sản phẩm về giáodục môi trường như bài viết, tranh vẽ, ảnh chụp, sưu tầm… Cuối mỗi học kỳ và cuối năm học, các
em được tham gia nhận xét đánh giá về cái tốt, cái chưa tốt, đề xuất việc cần làm tiếp theo về môitrường của trường dù là một ý kiến rất nhỏ hoặc chưa đúng, chưa đầy đủ
2 Đối với giáo viên: Tùy theo đối tượng học sinh từng lớp, từng cấp học, giáo viên giúp học sinh
hiểu rõ một số yêu cầu về xây dựng và giữ gìn trường học XSĐ&AT; thực hiện có hiệu quả việc khaithác nội dung kiến thức giáo dục môi trường thông qua các môn học trong chương trình giảng dạy.Ngoài kế hoạch của trường, giáo viên chủ động thực hiện các hoạt động XSĐ&AT của lớp phụ trách;gương mẫu trước học sinh về việc giữ gìn bảo vệ môi trường XSĐ&AT
3 Đối với cán bộ quản lý nhà trường: Triển khai cụ thể đến từng giáo viên nội dung yêu cầu, tiêu
chí trường học XSĐ&AT; cuối năm học tự đánh giá theo kế hoạch của trường đã đề ra Hoàn chỉnhbản đồ quy hoạch của trường, hình thành ban XSĐ&AT Tổ chức một số hoạt động nội khóa và ngoạikhóa về giáo dục môi trường theo từng chủ đề cho học sinh Giao trách nhiệm cụ thể cho các lớp vềviệc giữ gìn và chăm sóc cây xanh, thảm cỏ, bồn hoa, trường lớp Thực hiện những cách đánh giá đonghiệm như ảnh chụp, băng hình, nhật ký để làm rõ sự thay đổi cảnh quan môi trường của trường quamỗi năm học
4 Đối với Phòng Giáo dục: Phổ biến, cung cấp đầy đủ kịp thời đến các trường những văn bản chỉ
đạo về giáo dục môi trường và trường học XSĐ&AT Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra đánh giá cáctrường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất) và đưa vào tiêu chí thi đua năm học Chỉ đạo điểm một sốđơn vị xây dựng trường học XSĐ&AT với mô hình mới nâng cao hơn Dành một khoảng kinh phínhất định hàng năm để các trường triển khai các hoạt động XSĐ&AT Tổng hợp số liệu trường đạtXSĐ&AT trong từng năm học và biểu dương khen thưởng những đơn vị làm tốt Nếu có điều kiện,
có thể tổ chức tham quan học tập một số trường học trong và ngoài tỉnh cho cán bộ quản lý cáctrường Việc tách các nhóm đối tượng như trên chỉ mang tính tương đối nhằm làm rõ hơn trách nhiệm
và công việc cụ thể trong quá trình thực hiện Giải pháp xây dựng trường học XSĐ&AT cần đượctiến hành thường xuyên, có sự hợp tác và phối hợp đồng bộ của nhiều đối tượng và lực lượng thamgia Ba việc làm cần được thực hiện tốt đó là: xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động và giám sát đánhgiá trường học XSĐ&AT Trong quá trình thực hiện trường học XSĐ&AT và giáo dục môi trườngcho học sinh cần kết hợp chặt chẽ, đồng bộ ba nội dung:
- Thứ nhất là cung cấp cho học sinh và cả giáo viên một số kiến thức cơ bản ban đầu về môi trường,mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, tác động tích cực và tiêu cực của môi trường đến đờisống con người
- Thứ hai là mỗi trường học phải là một trung tâm XSĐ&AT; học sinh được học tập vui chơi trongmôi trường này thì chắc chắn các em sẽ biết giữ gìn bảo vệ môi trường
Trang 4- Thứ ba là quá trình hoạt động XSĐ&AT chủ yếu phải xuất phát từ học sinh, giáo viên dự kiến kếhoạch và hướng dẫn, hỗ trợ giúp học sinh tự nhận thấy, tự thảo luận đề xuất và chủ động tham giacông việc.
I Thế nào là trường học thân thiện?
- Trường học thân thiện, trước hết là nơi tiếp nhận tất cả trẻ em trong độ tuổi quy định, đếntrường Nhà trường phải tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho thanh, thiếu niên
- Trường học thân thiện là trường học có chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong dạy học, thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh, đánh giá công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo Các thầy, cô giáo trong quá trình dạy học phải thân thiện với mọi năng lực thực tế của mọi đối tượng học sinh, để các em tự tin bước vào đời
- Trường học thân thiện là trường học có môi trường sống lành mạnh, an toàn, tránh được những bất trắc, nguy hiểm đe dọa học sinh
- Trường học thân thiện là trường học có cơ sở vật chất đảm bảo các quyền tự nhiên thiết yếu conngười: đủ nước sạch, ánh sáng, phòng y tế, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập v.v…
- Trường học thân thiện là trường tạo lập sự bình đẳng giới, xây dựng thái độ và giáo dục hành vi ứng
xử tôn trọng bình đẳng nam nữ Trường học thân thiện phải chú trọng giáo dục kỹ năng sống, giáodục cho học sinh biết rèn luyện thân thể, biết tự bảo vệ sức khỏe, biết sống khỏe mạnh, an toàn
- Trường học thân thiện là nơi huy động có hiệu quả sự tham gia của học sinh, thầy cô giáo, cha mẹhọc sinh, của chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các đơn vị kinh tế và nhân dân địa phương nơitrường đóng cùng đồng lòng, đồng sức xây dựng nhà trường
II Mục đích, ý nghĩa của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
- Quan trọng nhất là tạo nên một môi trường giáo dục (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn,bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, góp phần đảm bảo quyền được đi học và học hếtcấp của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vìngười học, với các mối quan tâm thể hiện thái độ thân thiện và tinh thần dân chủ
- Trong môi trường trường học thân thiện, trẻ em sẽ cảm nhận được sự thoải mái khi việc họccủa mình vừa gắn với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự thâm nhập, trải nghiệm của chínhbản thân trong các hoạt động ngoại khóa, trong các trò chơi dân gian, các hoạt động tập thể vui mà
học Như thế, mỗi ngày trẻ em đến trường là một ngày vui Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ
với việc phát huy tính tích cực của học sinh Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh họctập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học vàhành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hếtsức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo
- Trong cuộc vận động “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, vai trò các thầy cô
giáo có ý nghĩa hết sức quan trọng Thực hiện kế hoạch này, chúng ta từng bước xây dựng đội ngũgiáo viên có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kỳ pháttriển mới Theo đó, các thế hệ học sinh năng động, tích cực dưới sự dạy dỗ của các thầy cô giáo đượchọc tập trong môi trường trường học thân thiện, sẽ là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững củađất nước
III Nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
Phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” xác định 5 nội dung gồm:
1- Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn;
2- Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các
em tự tin trong học tập;
3- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh;
4- Tổ chức các hoạt động tập thể, vui tươi, lành mạnh;
5- Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ởđịa phương
IV Thực hiện: Để phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong
trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 đạt kết quả tốt đẹp, chúng tôi thấy cần thực hiện các việcsau:
Trang 51 - Cần huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường, xây dựngmôi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện của địa phương, đáp ứng nhucầu xã hội
2 - Khắc phục tính thụ động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập vàcác hoạt động xã hội một cách phù hợp, hiệu quả
3 - Xây dựng, chỉnh trang trường, lớp xanh hơn, sạch hơn, đẹp hơn Bảo đảm trường sạch sẽ,
có cây xanh, thoáng mát, lớp học đủ ánh sáng, thoáng đãng, bàn ghế hợp lứa tuổi học sinh
4 - Trường tổ chức cho học sinh trồng cây (dịp đầu xuân) và chăm sóc cây thường xuyên Có
đủ nhà vệ sinh và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, không ảnh hưởng xấu đến lớp học và cảnh quan môitrường Học sinh tích cực tham gia giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cánhân
5 - Giáo viên dạy học có hiệu quả, giúp các em tự tin trong học tập, có phương pháp dạy, giáodục và hướng dẫn học sinh học tập nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo
và ý thức vươn lên, góp phần hình thành khả năng tự học của học sinh
6 - Bên cạnh đó, trường tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyếnkhích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh; tổ chức các trò chơi dân gian, rèn luyện kỹ năngsống cho học sinh, kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, sinh hoạt, ứng xử vănhóa, loại bỏ bạo lực và tệ nạn xã hội trong học đường Hình thành thói quen làm việc theo nhóm
7 – Có kế hoạch phối hợp với ngành khác trong địa bàn trường, nhằm mục đích huy động nhânlực và hệ thống cơ sở vật chất của các ngành và tổ chức liên quan để phối hợp thực hiện và huy động
sự tham gia, đóng góp của toàn xã hội triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong nhà trường.
V Một số suy nghĩ: xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt tinh thần.
“Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau Bản thân khái niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo
lý “Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thân thiện” giữa tập thể sư phạm với học sinh, thân thiện với địa phương (địa bàn hoạt động của nhà trường); phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau;
1 Trước hết, trường học phải thân thiện với địa bàn hoạt động, mà nội dung chủ yếu của sự thân
thiện là:
- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương Phải gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên
- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương: mỗi trường học nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử ở địa phương, và tích cực chăm lo xây dựng các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ
2 Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau Điều này rất quan trọng, vì nó là “cái lõi” để thân thiện
với mọi đối tượng khác Ở đây, vai trò của hiệu trưởng, của lãnh đạo tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng Muốn vậy, trong quan hệ quản lý, phải thực thi dân chủ, phải thực hiện bằng được quy chế dân chủ ở cơ sở Trong quan hệ tài chính, phải trong sáng, công khai, minh bạch đối với mọi thành viên trong nhà trường Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn trọng lẫn nhau Không thể có thân thiện, nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu thiếu tôn trọng lẫn nhau, hiệu trưởng hống hách, quát nạt nhân viên dưới quyền Cũng không thể có thân thiện, nếu mọi khoản thu chi
trong nhà trường cứ “mờ mờ ảo ảo”
3 Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh Thầy cô cùng các bộ
phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo phương châm: “Tất cả vì học sinh thân yêu” Từ đó,
trò sẽ quý mến, kính trọng thầy cô giáo Sự thân thiện của các thầy, cô với các em là “khâu then chốt”, và được thể hiện ở các mặt sau:
- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em Muốn vậy, hãy mạnh dạn chuyển lối dạy cũ thụ động
“thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy “thầy tổ chức, trò hoạt động”, “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Có vậy mới phát huy được tính tự giác, tích cực học tập của các em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng em học sinh, nhất là đối với các em có hoàn cảnh khó khăn,
Trang 6“ngơ ngác” trước cuộc sống xã hội đang từng ngày thay đổi.
4 Nhà trường thân thiện phải đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng không chỉ yêu cầu của sự nghiệp giáo
dục, mà còn cho cuộc sống an toàn, văn minh, phù hợp với tâm lý của đối tượng thụ hưởng Trường học thân thiện thì không thể thiếu sân chơi, bãi tập đối với lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học”; ánh sáng như đom đóm, bàn ghế không đúng quy cách, nhà vệ sinh buộc trẻ phải bịt mũi, bặm môi mà vào Ngược lại, trường học phải được xây dựng khang trang, xanh, sạch, đẹp, đúng yêu cầu sư phạm
*Tất cả những nội dung trên, trước mắt được gói gọn vào 3 điểm trọng tâm :
a Học tốt
b Đẩy mạnh việc “chơi mà học”
c Mỗi trường học là một địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử
*Tóm lại, trường học thân thiện phải là nơi mà mọi thành viên đều là bạn, là đồng chí, là anh em; giáo viên nêu cao tinh thần “càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu”; mọi hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng, vui tươi, hấp dẫn mọi người, nhất là người học; trường học gắn bó
mật thiết với địa phương, và có chất lượng giáo dục toàn diện với hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao
*Cụ thể: Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” không phải là điều quá mới mẻ Nói
như vậy là bởi vì, khoảng vài năm trở lại đây, cùng với việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học,
Bộ GD-ĐT đã nhấn mạnh đến việc yêu cầu học sinh phát huy tính chủ động, tham gia trong các hoạt
động giảng dạy của giáo viên Vì thế, phong trào “trường học thân thiện, học sinh tích cực” thực ra
là sự phát triển một hoạt động đã triển khai từ trước đó ở mỗi trường học
Trên quan điểm như vậy:
- Phải tăng cường kiểm tra, phát vấn, giao việc cho các em, qua đó góp phần giúp các em có khả năngdiễn đạt bằng ngôn ngữ nói một cách có hệ thống, tự tin khi trình bày trước tập thể
- Phát động trong học sinh tham gia dự thi làm ĐDDH sau các tiết học Đây là cách để kiểm tra mức
độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng là cơ hội để các em tham gia cải tiến giờ dạy có chất lượngcao hơn
- Thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng dạy tích cực để cho HS tích cực Bởi vì trong một lớphọc, số “HS tích cực” rất là ít, thường là những em có học lực và hạnh kiểm khá - giỏi, còn đa số làthụ động
- Đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho có thể lôi cuốn tất cả học sinh tham gia
- Tổ chức một số hoạt động sáng tạo, phát huy trí tuệ và năng lực hoạt động của học sinh như thuyếttrình, lập báo cáo, làm mô hình kỹ thuật, viết phần mềm tin học, sáng tác thơ văn…
- Các tổ bộ môn cũng sẽ giao một số đề tài nghiên cứu nhỏ cho học sinh thực hiện như: sưu tầm tranhảnh, tài liệu theo chủ đề…
- Để tạo thêm sân chơi cho học sinh, tuỳ vào sở trường của mình, các em có thể tham gia các CLBnhư CLB Tin học, CLB Thơ văn,
- Trong những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần… nhà trường tổ chức lồng ghép kể chuyện về tấmgương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương; giới thiệu các hình thức diễn xướngđặc trưng của quê hương…
- Hoàn thiện nhân cách cho học sinh bằng cách phát động các phong trào “Không nói tục chửi thề”,
“Gọi bạn xưng tên”, “Kính trên nhường dưới, lễ phép với thầy cô giáo, người lớn tuổi”…
- Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cách chủ động, được bộc
lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốt trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè
Tổ chức những hoạt động như hội chợ (vào dịp lễ, tết), hội thảo về phương pháp học tập, các buổivăn nghệ, trò chơi… để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộcsống như thuyết trình, xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp làm việc nhóm…
Trang 7Từ phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, xây dựng một môi trường
sư phạm thực sự lành mạnh, trong đó, học sinh biết bảo vệ danh dự của nhà trường, của tập thể lớp vàcủa chính bản thân mình; biết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai… Và để làm được điều này, cần phải
có sự chung tay của cả gia đình và cộng đồng
Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần
mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh
hoạt hàng ngày Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử
với người khuyết tật do Quốc hội Anhban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn [1][2] CònĐạo luật về người
khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa
người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến
một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống[3] Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) [4] Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này.
1.Học tập
Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi.
Trang 8như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người
ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao.
- Một người đàn bà mù hỏi: Con nghe nói người nào thân thể không lành lặn không thành Phật được Thầy cũng thấy con bị mù, cả đến hình tượng Phật con cũng chưa được lễ bái Con nghĩ mình sinh làm người không ích lợi gì cả, có lẽ khi chết con sẽ rơi vào cõi xấu Có cách gì cho người mù cũng tu thành Phật được, xin ngài chỉ giáo cho con.
-Sư đáp: Người ta có nói như thế thực, nhưng trong cái Bất sinh mà tôi nói, thì không có
phân biệt giữa lành lặn và khuyết tật Dù bà có bị mù, thì tâm Phật vẫn không có gì khác, đừng hoài nghi Chỉ cần loại trừ tham sân si, nhận chân những gì tôi đã nói, luôn an trú
trong Tâm Phật Bất sinh, thì bà sẽ thành Phật ngay đời này[
I.Trẻ khuyết tật và sự tồn tại của trẻ khuyết tật trong cộng đồng
Phân loại khuyết tật căn cứ vào 3 yếu tố cơ bản:
1) Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể và sự suy giảm các chức năng
2) Những hạn chế trong hoạt động của cá thể
3) Môi trường sống: những khó khăn, trở ngại do môi trường sống mang lại làm cho họ không thể tham gia đầy đủ và có hiệu quả mọi hoạt động trong cộng đồng Sự thiếu hụt về cấu trúc
và hạn chế chức năng ở trẻ khuyết tật biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhiều dạng khác
- Khuyết tật trí tuệ: Bị suy giảm nhiều hay ít năng lực hoạt động nhận thức dẫn đến:
+ Không thích nghi được với xã hội;
+ Có trí thông minh thấp hơn mức bình thường;
+ Chỉ đạt được mức độ nhẩt định và không có khả năng phát triển cao hơn nữa;
+ Mức độ phát triển tùy thuộc phát triển thể chất;
+ Không có khả năng chữa trị;
- Những trẻ thuộc loại này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và nhận thức thế giới xung quanh Cho nên dạng này thường gọi là trẻ có khó khăn về học.
- Khuyết tật vận động: những cơ quan vận động bị tổn thương do những khuyết tật khác nhau (chấn thương, hậu quả của một số bệnh) gây nên những khó khăn khi di chuyển hoạt động cầm nắm, đứng, ngồi…Phần lớn trẻ khuyết tật vận động có năng lực trí tuệ phát triển bình thường.
- Khuyết tật ngôn ngữ: biểu hiện rât đa dạng, từ nói giọng ,nói lắp đến không nói được, mất tiếng nói,…dẫn đến hậu quả trẻ khó khăn giao tiếp.
Ngoài ra còn có các dạng khuyết tật khác có thể có ở trẻ em như hành vi xa lạ, trẻ mắc những bệnh mãn tính như động kinh, bệnh về tim,…gây cho trẻ những khó khăn học tập.
II Sự tồn tại của trẻ khuyết tật như một thực tế khách quan
+ Những nguyên nhân gây khuyết tật có thể kể đến là: Những nguyên nhân do môi trường sống 1 Đói nghèo, bệnh tật chưa chấm dứt 2 Môi trường bị ô nhiễm 3 Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi 4 Các bệnh xã hội 5 Chấn thương do (tai nạn, rủi ro…) 6 Chấn thương tinh thần 7 Chiến tranh, bạo loạn
- Những nguyên nhân do xã hội 8 Những nguyên nhân do xã hội không quan tâm, thái độ chưa đúng mực 9 Quan niệm, thái độ đối với trẻ 10 Môi trường chưa tạo điều kiện cho trẻ phát triển
- Nguyên nhân bẩm sinh 11 Do di truyền 12 Do sinh đẻ không bình thường 13 Do lây truyền từ cha mẹ từ trong bào thai.
Trang 9Khả năng phát triển của trẻ khuyết tật
Đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản: nhu cầu cơ thể (ăn, uống, ngủ…), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, nhu cầu về đồ vật… được thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cười, ánh mắt, cử động của cơ thể…
Với những hình thức, tốc độ và mức độ khác nhau, tất cả trẻ khuyết tật đều có khả năng nhận thức Hầu hết trẻ khuyết tật đều có những phản ứng với âm thanh, tiếng động, lời nói, khả năng định hướng đối với nguồn âm thanh phát ra Trẻ điếc có thể hiểu được những gì đang diễn ra xung quanh thông qua sự chuyển động của sự vật; sự biểu đạt của bản thân và người khác qua nét mặt, cử chỉ điệu bộ, đọc hình miệng… Trẻ mù có thể nhận biết và hiểu được thế giới bên ngoài và lời nói thông qua khả năng nghe, cảm giác xúc giác Trẻ khó khăn về học sẽ trở nên biết cách cư xử hơn khi chúng có được sự yêu thương, cảm giác về sự an toàn, che chở của những người xung quanh… Mặc dù khuyết tật gây ra những trở ngại nhất định cho trẻ trong hoạt động nhận thức học tập cũng như giao tiếp, song cũng chính điều này lại là yếu tố kích thích con người vươn lên phía trước, làm xuất hiện xu hướng mong muốn và sức mạnh vượt qua trở ngại khuyết tật: “ Đứa trẻ sẽ muốn nhìn tất cả nếu như nó bị cận thị; muốn nghe tất cả nếu như tai nó bị khiếm khuyết; muốn nói nếu như nó gặp khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ hay bị nói lắp”
IV.Từ phân tích trên đây về đặc điểm của trẻ khuyết tật liên quan đến qúa trình dạy học, người giáo viên cần chú ý đến những vấn đề sau:
1 Mọi trẻ đều có thể học đọc được, tất cả mọi trẻ khuyết tật cũng đều có thể đọc được Trẻ khuyết tật, do những hạn chế khuyết tật gây nên có thể sẽ mất nhiều thời gian trong việc lĩnh hội một đơn vị kiến thức, số lượng đơn vị kiến thức ít hơn và mức độ khó của kiến thức sẽ thấp hơn so với trẻ bình thường, nhưng vẫn có thể học được.
2 Bên cạnh việc học các kiến thức thì trẻ khuyết tật cũng cần phải học tất cả các kỹ năng xã hội khác mà trẻ bình thường học và sử dụng đặc biệt là những kỹ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng nghề nghiệp,…Điều này nhăm giúp trẻ đạt được mức độ cao nhất của sự độc lập trong hoạt động cá thể, cộng đồng và là thành viên tích cực của xã hội sau này.
3 Quá trình nhận thức của trẻ khuyết tật cũng tuân theo qui luật nhận thức chung của con người Vì vậy, ngay sau khi trẻ được phát hiện có khuyết tật, cần tiến hành ngay công tác lập
kế hoạch hỗ trợ dạy học và hỗ trợ giáo dục đặc biệt nhằm hạn chế đến mức tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do khuyết tật gây nên và phát huy điểm tích cực trong các lĩnh vực phát triển của trẻ
4 Việc dạy học cho trẻ khuyết tật không chỉ đơn thuần là công việc của người giáo viên với các giờ học ở nhà trường, trong lớp học Dạy học cho trẻ khuyết tật còn do những “thày giáo” quan trọng khác thực hiện ở những môi trường khác nhau như cha mẹ hay những người trực tiếp chăm sóc trẻ tại gia đình, bạn bè trẻ tại khu vực cộng đồng nơi trẻ khuyết tật sống…
5 Mỗi trẻ khuyết tật là khác nhau về tất cả các lĩnh vực phát triển nhận thức, tâm
lí - tình cảm, ngôn ngữ - giao tiếp, hành vi…Dạy học và giáo dục trẻ khuyết tật phải luôn luôn gắn liền và thống nhất với nhau Việc dạy học cần phải dựa vào chương trình giáo dục
cá nhân
V.Đặc điểm hoạt động nhận thức của các dạng trẻ khuyết tật khác nhau Xem xét những
đặc điểm riêng về hoạt động nhận thức của từng dạng trẻ khuyết tật sẽ giúp giáo viên và các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn đối tượng và có những biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp.
1 Đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ khiếm thị
a) Nhận thức cảm tính của trẻ mù Khi bị mù, con người mất khả năng nhìn - mất đi cơ quan
chủ yếu giúp họ nhận thức thế giới bên ngoài.Bởi lẽ, mắt là cơ quan chủ yếu giữ vai trò chính trong việc phản ánh thế giới hữu hình với lượng thông tin khổng lồ, phản ánh với tốc độ cực nhanh từ gần đến xa Đối với họ, cảm giác nghe âm thanh và cảm giác sờ có giá trị sống còn:Cảm giác âm thanh giúp họ giao tiếp, định hướng bản thân trong mọi hoạt động; cảm giác
Trang 10sờ là kết quả tổng hợp của nhiều loại cảm giác, nó bao gồm cảm giác áp lực, xúc giác trực tiếp,cảm giác nhiệt, cảm giác đau,…Tuy nhiên, cần nhận thức rằng quá trình tri giác đòi hỏi
sự tham gia của cả một hệ thống cơ quan phân tích tri giác Tùy theo đối tượng và nhiệm vụ của tri giác mà cơ quan nào sẽ đóng vai trò chính, khi “đọc” thì cảm giác xúc giác của tay sẽ giữ vai trò chính, khi nghe giảng bài thì thính giác giữ vai trò chính,… Ngưỡng cảm giác phân biệt của ngón tay của người bình thường là 2,2mm,người mù là 1,2 mm (khoảng cách tối thiểu giữa hai chấm nổi trong hệ thống ký hiệu Braille chỉ bằng 2,5mm) Do đó, đầu ngón tay người mù dễ nhận biết từng kí hiệu nổi khi sờ đọc chữ nổi Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy hạn chế hơn so với tri giác nhìn, nhưng cũng có thể giúp người mù nhận biết hình ảnh của sự vật, hiện tượng một cách trung thực Các nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả của tri giác sờ chỉ phát huy một cách rõ rệt nhất khi tri giác nhìn bị mất hoàn toàn Điều
đó giúp cho việc lý giải vì sao người sáng mắt, khi bị bịt mắt lại đế sờ đọc và viết chữ nổi không thành đạt như người mù.
b)Nhận thức lý tính của trẻ mù Quá trình nhận thức lý tính của trẻ mù cũng như của người
mù tuân theo qui luật chung của con người Nó bao gồm những quá trình hình thành biểu tượng, tư duy và ngôn ngữ Biểu tượng của sự vật hiện tượng đối với trẻ mù, đặc biệt là trẻ mù hoàn toàn do bẩm sinh thì phạm vi biểu tượng của chúng bị thu hẹp, mang tính khuyết lệch, hình ảnh thường là đứt đoạn, sơ sài; mức độ khái quát thấp; hình ảnh nặng về ngôn ngữ hình thức, rập khuôn,…Do đó, để hình thành và xây dựng những biểu tượng đúng đắn cho trẻ mù, trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý: Hướng dẫn trẻ quan sát (sờ ) đúng ngay từ đầu bảo đảm phản ánh được nguyên bản khi tri giác Đồng thời, tận dụng triệt để khả năng tri giác của những giác quan khác như: Xúc giác, thính giác, cơ khớp vận động, và cả khứu giác, vị giác,…
Những thao tác tư duy của trẻ mù diễn ra khó khăn hơn rất nhiều so với bình thường Tuy nhiên., chức năng ngôn ngữ của trẻ mù không bị rối loạn và có thể bù đắp những khiếm
khuyết trong hoạt động nhận thức Chẳng hạn, những gì mà trẻ mù không sờ thấy được thì ta
có thể giải thích, mô tả bằng lời Ngay cả những sự vật tuy đã sờ thấy, nhưng chưa hẳn đã hiểu thấu, nếu được giải thích thêm bằng ngôn ngữ sẽ giúp trẻ mù hiểu rõ hơn và có được những khái niệm về sự vật hiện tượng.
c Một số đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ nhìn kém Khả năng tri giác bằng mắt của
trẻ nhìn kém phụ thuộc phần lớn vào việc sử dụng phần thị lực còn lại Mặc dù thị lực chỉ chênh lệch nhau không đáng kể song lại có ảnh hưởng lớn đến tốc độ đọc của trẻ Ví dụ: Trẻ
có thị lực là 0,1 vis khi đọc một nhóm chữ mất tới 3 giây; Trẻ khác có thị lực 0,2 vis khi đọc một nhóm chữ mất 0,6 giây Tốc độ tri giác của trẻ nhìn kém, chậm hơn nhiều so với tốc độ trung bình của trẻ sáng Tri giác của trẻ thường không trọn vẹn, cảm giác sự vật, hiện tượng (đồ vật, tranh ảnh,…) rời rạc, đứt đoạn nhất là đối với những đồ vật, hình ảnh động do đó thiếu sự cảm nhận được mối tương quan tỉ lệ giữa các sự vật hay giữa các bộ phận trong cùng một sự vật
Đối với trẻ nhìn kém thì hiện tượng mất màu sắc hoàn toàn ít xảy ra mà thông thường có biểu hiện loạn sắc thị, dưới hai thể lọai là loạn sắc thị màu đỏ trong trường hợp tri giác màu đỏ dưới góc nhìn nhỏ tưởng là màu xanh và loạn sắc thị màu xanh, với góc nhìn nhỏ tưởng là màu đỏ Có tới 30% số trẻ nhìn kém vừa và 80% số trẻ nhìn quá kém (giáp ranh với trẻ mù) bị chứng loạn thị, 75% số trẻ nhìn kém rất khó khăn với việc thích ứng trong bóng tối (khả năng phân biệt ánh sáng yếu).
d)Nhận thức cảm tính của trẻ chậm phát triển trí tuệ Nhiều công trình nghiên cứu đã tập
trung nghiên cứu quá trình tri giác của trẻ chậm phát triển trí tuệ và đã chỉ ra 3 đặc điểm sau đây:
- Tốc độ của sự tri giác chậm chạp, khối lượng tri giác hạn chế
Người ta đã thực hiện một bài trắc nghiệm sau: Đưa cho hai nhóm trẻ (bình thường và chậm
Trang 11phát triển trí tuệ) 2 bộ tranh trong đó vẽ đối tượng khác nhau như: chó, mèo, lợn, gà…Yêu cầu các em nhận biết các bức tranh đó trong thời gian nhất định Kết quả như sau:
Nhóm chậm phát triển trí tuệ(6-7 tuổi)/thời gian:20 giây/ SLđối tượng nhận biết lần thứ 1(%):12%/SLđối tượng nhận biết lần 2(%):55%
Nhóm trẻ bình thường/thời gian:20 giây/ SLđối tượng nhận biết lần thứ 1(%):57%/SLđối tượng nhận biết lần 2(%):95%
Trắc nghiệm thứ hai: Yêu cầu các em đứng trên tầng nhà quan sát phong cảnh thiên nhiên, con người và các phương tiện giao thông đang chuyển động và chỉ ra những gì các em trông thấy Kết quả cho thấy số lượng con người, sự vật và hiện tượng trẻ chậm phát triển trí tuệ quan sát được chỉ bằng 30% so với trẻ bình thường Điều này cho thấy một cánh rõ ràng khả năng nhìn vật động của trẻ chậm phát phát triển trí tuệ kém xa so với trẻ được sự thay đổi xung quanh, ít đưa ra được lời nhận xét như trr bình thường Do sự tri giác hẹp, nghèo nàn nên đã cản trở sự định lượng của các em trong hoàn cảnh mới lạ, khó khăn khi xem xét các mối liên hệ, quan sát giữa các đối tượng.
- Khó khăn trong phân biệt các sự vật hiện tượng
Sự khó khăn này của trẻ chậm phát triển trí tuệ được thể hiện rất rõ trong phân biệt màu sắc, những nét tạo nên sự khác nhau hay giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng, kích cỡ, dình dáng, cấu trúc của sự vật và cao hơn là những đặc điểm đặc thù của đối tượng.
- Thiếu tính tích cực trong quá trình nhận thức
e.) Nhận thức lý tính của trẻ chậm phát triển trí tuệ
Nhiều nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu cho rằng, tư duy của trẻ chậm phát triển trí tuệ chỉ dừng ở mức độ tư duy hành động cụ thể và không thể đạt đến trình độ của tư duy trừu tượng Tuy nhiên, theo nhà tâm lí học người Nga L.X Vư-gốt-xki thì tư duy của trẻ chậm phát triển trí tuệ vẫn còn có những mầm mống của tư duy trừu tượng, nếu như giáo viên
có những biện pháp dạy học phù hợp trong đó cần chú lược bỏ dần việc lặp đi lặp lại việc sử dụng những đồ dùng trực quan và dần thay thế chúng bằng những khái niệm đơn giản thì tư duy trẻ chậm phát triển trí tuệ hoàn toàn có thể đạt đến trình độ của tư duy trừu tượng ở mức
độ thấp.
+ Tư duy cụ thể: Tư duy của trẻ chậm phát triển trí tuệ mang tính cụ thể, trực quan Trẻ
thường quan sát đối tượng bằng vật thật, bằng hành động cụ thể như sờ, nắm, ngửi, nếm… đồng thời trẻ chỉ có thể nhận biết từng phần, từng bộ phận riêng biệt, không nắm được cấu trúc cũng như đặc điểm chung của sự vật, hiện tượng, không nắm được các nét cơ bản cho mọi đối tượng Cao hơn, trẻ khó hiểu được các chỉ dẫn bằng lời trong các hoạt động nhận thức, trong các trò chơi…Chẳng hạn khi trẻ có hai con gấu và xếp số hai bên cạnh thì trẻ có thể nói là hai con gấu và số hai Nhưng khi bỏ hai con gấu ra chỉ còn số hai thì trẻ không nhận biết và không đọc được số hai Với đặc điểm này thì rất khó khăn cho việc phát triển tư duy trừu tượng đối với trẻ này.
+ Tư duy khái quát: Điều này được thể hiện ở chỗ trẻ chậm phát triển trí tuệ rất khó khăn
trong việc nắm các qui tắc và khái niệm Trẻ có thể học thuộc lòng được các qui tắc nhưng không hiểu hết ý nghĩa, không biết sử dụng các qui tắc đó vào thời điểm nào, lúc nào, vì vậy, trẻ học toán và ngữ pháp là hết sức khó khăn.
Tuy nhiên, những trẻ chậm phát triển trí tuệ học ở lớp trên, những trẻ đã được đến trường học tập bao giờ cũng thực hiện các thao tác tư duy tốt những trẻ học lớp dưới hoặc chưa được đi học bao giờ Điều đó chứng tỏ nhà trường đã dạy cho trẻ cách suy nghĩ, cách tư duy L.X Vưgốtxki cho rằng tư duy cụ thể trực quan mang tính chất chung cho mọi trẻ chậm phát triển trí tuệ Sự kém phát triển tư duy bậc cao là trở ngại đầu tiên xuất hiện như hội chứng thứ hai của loại trẻ này Nhưng trở ngại đó không nhất thiết bao giờ cũng xuất hiện Theo Vưgốtxki thì trẻ chậm phát triển trí tuệ có thể học được cách khái quát nhưng đây là quá trình diễn ra chậm hơn rất nhiều so với trẻ bình thường Phát triển tư duy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là
Trang 12việc làm khó khăn, lâu dài nhưng có thể thực hiện được nếu giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Phương pháp trực quan rất cần thiết trong quá trình giáo dục nhưng không được dừng lại tại đây Nhiệm vụ của giáo viên là phải tìm phương pháp tốt nhất, giúp
đỡ trẻ dứt bỏ dần các biểu tượng cụ thể, riêng lẻ, tiến mức độ nhận thức cao hơn đó là sự khái quát tư duy bằng lời
+ Tính liên tục trong tư duy: Thể hiện tính không liên tục trong tư duy của trẻ và biểu hiện
đầu tiên ở những trẻ này là khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ thì thường có kết quả đúng nhưng càng về sau thì sai sót càng nhiều, tư duy rối loạn, thiếu sự tập trung chú ý Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do trương lực thần kinh yếu, tâm vận động không đều dẫn đến sự mệt mỏi nhanh của hệ thần kinh đồng thời do tác động từ môi trường lớp học của những học sinh bình thường khác dễ gây căng thẳng cho trẻ Cần có chế độ nghỉ ngơi học tập vừa sức, tránh những kích thích mạnh làm cho trr chóng mệt mỏi.
+ Tư duy logic kém: Trẻ thường không vận dụng được các thao tác tư duy đối với các hành
động trí tuệ Không định hướng được trình tự trước khi thực hiện nhiệm vụ, khi thực hiện thì lẫn lộn giữa các bước Trẻ khó vận dụng những kiến thức học được vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn.
Tư duy trẻ chậm phát triển trí tuệ cũng thường biểu hiện thiếu tính phê phán, nhận xét: Trong các hoạt động hay thực hiện nhiệm vụ trẻ thường khó xác định cái gì là đúng hay sai nên không điều khiển được hành vi của mình.
*Giáo dục trẻ khuyết tật như thế nào? (Giáo Dục - Giáo Dục Đặc Biệt)
+ Nếu chúng ta quá quan tâm, giúp đỡ và luôn làm thay cho trẻ trong mọi hành vi và hoạt động, thìtrẻ sẽ không có được sự nỗ lực để vượt qua được những trở ngại để đạt được những kỹ năng nhấtđịnh Hơn thế nữa, trẻ còn trở nên ỷ lại và ích kỷ Trẻ chỉ muốn bố mẹ phải luôn luôn bên cạnhmình, rồi đòi hỏi và sai bảo dựa vào chính “ưu thế” khuyết tật của mình, để rồi khi lớn lên trẻ sẽcàng ỷ lại, không chịu phấn đấu “vượt lên chính mình” mà chỉ muốn thụ hưởng mọi sự ưu ái vàquyền lợi của một người khuyết tật, nếu không được thì lại trở nên một kẻ bất mãn, chán đời …
+ Các khuyết tật như khiếm thị (Khó khăn về khả năng nhìn), khiếm thính (khó khăn về khả năng nghe – nói) Bại liệt ( Khó khăn về vận động) thường tạo ra những ức chế, trẻ trở nên trầm
cảm hay dễ nổi nóng, bộc lộ hung tính và không muốn giao tiếp Nếu được chăm sóc và yêuthương thì trẻ sẽ vượt qua được những lo lắng, căng thẳng và thích nghi được với môi trường.Hiện nay, với khả năng phát hiện sớm có khi ngay từ lúc mới sinh, việc giáo dục phục hồi chứcnăng cho trẻ, đặc biệt là đối với trẻ khiếm thính trong việc cho đeo máy nghe sớm sẽ giúp nâng caokhả năng giao tiếp của trẻ và làm giảm nhẹ các nguy cơ rối nhiễu tâm lý của trẻ xuống mức thấpnhất
Các khuyết tật như chậm khôn, hội chứng Down và bại não là những khuyết tật về trí tuệ rất cần
những phương pháp giáo dục đặc biệt, do các em thiếu đi hai khả năng quan trọng là khả năng tiếpnhận thông tin và khả năng thiết lập các quan hệ tương tác Ngoài ra, các em thường rất dễ rơi vào
sự lo lắng, trầm uất hoặc bực tức, cáu gắt, hung hãn vì không hiểu được những thông tin bên ngoài
và cũng không biết cách diễn tả để cho người khác hiểu mình và đó là một trở ngại lớn mà ngườichăm sóc trẻ cần quan tâm để có những biện kháp khắc phục thích hợp
+ Phụ huynh cũng không nên nghĩ rằng các biện pháp giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khuyết tật là công việc của giáo viên, và chỉ được thực hiện tại nhà trường Chính những hoạt
động trong gia đình, thái độ quan tâm hợp lý và những kế hoạch làm việc cụ thể tại gia đình dànhcho trẻ khuyết tật, mà phụ huynh là người hướng dẫn và giám sát mới là những điều kiện cần thiết,
hỗ trợ cho các phương pháp giáo dục ở trường giúp trẻ có những tiến bộ cần thiết
Trang 13+ Khi đứng trước một trẻ khuyết tật, ta thường chỉ thấy những khuyết điểm, những mặt yếu kém
và hạn chế mà không tìm ra được, hoặc không nhìn nhận những ưu điểm, những khả năng dù rất ít
ỏi, nhỏ bé của trẻ Chúng ta không nên vì lòng thương yêu mà ở đây được xem là thương hại (lòngthương có hại!) để làm thay mọi hoạt động cho trẻ cũng như phục vụ một cách đầy đủ những nhucầu của trẻ Chúng ta cần xem xét những khả năng dù rất ít, rất yếu ớt của trẻ rồi tìm cách hỗ trợ
và nâng cao các khả năng đó lên, tìm cách giúp cho trẻ biết cách tự phục vụ và nhất là xây dựngcho trẻ một tinh thần lạc quan, vui vẻ và tự tin Chính những yếu tính này mới là điều cần thiết vàđem lại hiệu quả tốt đẹp trong việc hướng dẫn những kỹ năng cho trẻ Những kỹ năng này sẽ đemlại sự tự tin và từ đó khả năng hội nhập sẽ được hình thành, các em sẽ vượt qua được những mặccảm và hạn chế do tình trạng khuyết tật đem lại
1.Khái niệm: Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các tình
huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Sự phân biệt giữa KTDH vàPPDH nhiều khi không rõ rang Có thể hiểu rằng: Khi sử dụng PPDH ta cần phải có các kĩ thuật dạyhọc Ví dụ: Khi sử dụng PP đàm thoại GV phải có kĩ thuật đặt câu hỏi
2 Kĩ thuật đặt câu hỏi: Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và
HS – HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích
cực hơn Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt
HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới Để đánh giá kết quả học tập của HS, HS
cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội dung bài học chưasáng tỏ
*Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau: 1.Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêubài học; 2.Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu; 3.Đúng lúc, đúng chỗ; 4.Phù hợp với trình độ HS; 5.Kích thíchsuy nghĩ của HS; 6.Phù hợp với thời gian thực tế; 7.Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giảnđến phức tạp; 8.Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích; 9.Không hỏi nhiều vấn đềcùng một lúc
* Khi nêu câu hỏi cho HS cần chú ý: 1.Đưa ra câu hỏi với một thái độ khuyến khích, với giọng nói ôntồn, nhẹ nhàng 2.Thu hút sự chú ý của HS trước khi nêu câu hỏi 3.Chú ý phân bố hợp lí số HS đượcchỉ định trả lời 4.Chú ý khuyến khích những HS rụt rè, chậm chạp 5.Sử dụng câu hỏi mở và câu hỏiđóng phù hợp với từng trường hợp 6.Khi kiểm tra sử dụng câu hỏi đóng; 7 Khi cần mở rộng ý ta
Trang 14dùng câu hỏi mở Ví dụ: Em có nhận xét gì về bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ? 8.Không nên nêunhững câu hỏi quá đơn giản Ví dụ : Đối với HS lớp 4, 5 mà GV nêu: Các em xem có mấy hình vẽ?Hoặc hỏi HS: Hiểu chưa?
2 Kĩ thuật dạy học theo góc: Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó
người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiềuphong cách học khác nhau Học theo góc người học được lựa chọn họat động và phong cách học: Cơhội “Khám phá”, ‘Thực hành”; Cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; Cơ hội đọc hiểu các nhiệm vụ vàhướng dẫn bằng văn bản của người dạy; Cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm
+ Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động; Mở rộng sự tham gia,nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính
cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi Ví dụ: Với chủ đề môi trường hoặc giao thông có thể tổ chức các góc: Viết; Đọc; Vẽ tranh: Xem băng hình; Thảo luận về nội dung chủ đề.
*Áp dụng: Tổ chức học theo góc trong tiết ôn tập về toán Góc HS giỏi; Góc HS còn yếu; Góc HStrung bình đến khá
3 Kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực *Mục đích: Cập nhật và hệ thống hoá một số kĩ thuật
trong lắng nghe và phản hồi tích cực, áp dụng vào dạy học các môn học
• A Lắng nghe tích cực *Đặc tính: Lắng nghe tích cực là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc
của mình để hoàn toàn tập trung vào những gì mà ai đó đang nói Lắng nghe là một mặt của giao tiếptrong cuộc sống
• *Kỹ năng lắng nghe tích cực không phải là một kỹ năng bẩm sinh của mỗi người Bất cứ aimuốn thành công trong học tập, giảng dạy, công việc khác, phải trau dồi nó và học cách làm chủ nó.Lắng nghe tích cực bắt đầu với sự sẵn sàng nhận ra giá trị trong mọi cuộc đối thoại bạn tham gia
• *Có thể dùng để: Thu thập, phân tích thông tin, hiểu biết, giải trí và học hỏi Cảm thông trongnhững mối quan hệ giữa người với người
• 1.Thế nào là lắng nghe tích cực? Lắng nghe tích cực là khả năng ngừng suy nghĩ và làm việc
của mình để hoàn toàn tập trung vào những gì mà ai đó đang nói Lắng nghe là một mặt của giao tiếptrong cuộc sống
• 2.Cách thực hiện: Lắng nghe bao gồm 5 hoạt động liên quan với nhau và hầu như đều xảy ra
theo một chuỗi liên tiếp:
• - Tham dự: Nghe thông tin một cách tự nhiên và ghi chép
• - Diễn giải (phân tích thông tin): gắn ý nghĩa của lời nói dựa theo giá trị, ý kiến, kỳ vọng, vaitrò, yêu cầu, trình độ của bạn
• - Ghi nhớ: Lưu giữ thông tin để tham khảo sau này
• - Đánh giá: ứng dụng kỹ năng phân tích phê bình để đo lường những nhận xét của diễn giả
• - Đáp lại: Phản hồi lại khi bạn đánh giá thông tin của người nói Tóm lại việc lắng nghe đòi
hỏi sự phối hợp các hoạt động thể chất và tinh thần, nên nó bị chi phối bởi các rào cản về cả hai hoạt
động đó Bởi vậy, muốn lắng nghe tích cực cần phải rèn luyện để nhận biết và sửa chữa những ràocản đó
Trang 15*Đối với HS tiểu học, do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, muốn các em lắng nghe tích cực, GV phải có kĩthuật
• + Nghĩa là phải tạo cho các em có đầy đủ thể chất và tinh thần.
• + Tạo khí thế học tập cho HS ngay từ đầu tiết học: Lời nói, cử chỉ, ánh mắt thân thiện; Khôngnên quở trách, răn dạy, bắt phạt, v.v…
• + Giới thiệu bài hấp dẫn
• + Khi giảng bài không nên đi lại nhiều
• + Giọng nói của GV phải phù hợp
• + Khi HS có biểu hiện mệt mỏi, GV phải tổ chức cho các em thư giãn
4.Kĩ thuật tổ chức trò chơi học tập: Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹnăng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học Trong thực tế dạy học, GV thường tổ chức tròchơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi
để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khibắt đầu bài học mới
1.Quy trình thực hiện
• Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
• Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:
• - Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài
• - Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…)
• - Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm…
• - Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi (nếu có)
• Bước 3: Thực hiện trò chơi
• Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:
• - Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việclàm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm
2 Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải
• 3 Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện
2.Ưu điểm
• - Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS do đó duy trì tốt hơn
sự chú ý của các em với bài học
• - Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó giảm tính chất căngthẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới
• - Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho HS
3.Nhược điểm:
• - Khó củng cố kiến thức, kỹ năng một cách có hệ thống
Trang 16• - Học sinh dễ sa đà vào việc chơi mà ít chú ý đến tính chất học tập của các trò chơi.
• Một số điều cần lưu ý
• Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp có thể vận dụng để dạy học Ngữ văn ở tất cả các lớp của bậc học phổ thông, trong đó có dạy học Tiếng việt ở Tiểu học
4.Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý một số điểm sau:
• - Lựa chọn hoặc tự thiết kế trò chơi đảm bảo những yêu cầu:
• + Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình
• + Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động
• + Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện Cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác
• + Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ
• - Chọn quản trò chơi có năng lực phù hợp với yêu cầu của trò chơi
• - Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học sinh hứng thú học tập vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách có hiệu quả
4 Các kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác: Các lí do áp dụng kĩ thuật dạy học mang tính
hợp tác: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; Tăng cường hiệu quả học tập; Tăng cườngtrách nhiệm cá nhân; Yêu cầu áp dụng nhiều năng lực khác nhau; Tăng cường sự hợp tác, giaotiếp, chia sẻ kinh nghiệm
*Một số kĩ thuật DH mang tính hợp tác.
1 Kĩ thuật “Khăn trải bàn”
a Thế nào là kĩ thuật “khăn trải bàn”? Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp
giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: 1- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; 2- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS; 3- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
2.Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm)(có thể nhiều người hơn)
- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa (xem sơ đồ ở file đính kèm)
- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)
- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời
- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)
Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi
- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề
- Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên bảng để
cả lớp cùng nhận xét Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn
- Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu
Cách tổ chức: Kĩ thuật khăn trải bàn:
- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh Chia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm
- Cá nhân trả lời câu hỏi và viết trên phần xung quanh
- Thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa
- Treo SP, trình bày
*Đối với chương trình tiểu học, GV chọn những nội dung phù hợp để tổ chức kĩ thuật khăn trải bàn
Ví dụ 1 : Bài Năng lượng (Khoa học 5)