1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

TỔNG QUAN VỀ CÂY NÁNG HOA TRẮNG

19 655 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 549,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì có nhiều công dụng như vậy nên trong bài báo cáo này tập chủ yếu làm rõ hơn về đặc điểm sinh thái, phân bố, các thành phần và các hoạt tính sinh học của cây Náng hoa trắng.. Tro

Trang 1

Mục lục:

LỜI MỞ ĐẦU

Những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, con người bắt đầu có xu hướng “trở về thiên nhiên” vì vậy nhu cầu sử dụng các sản phẩm như dược phẩm, mỹ phẩm sản xuất từ thiên nhiên ngày càng tăng Những sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên thường thân thiện với con người, ít tác dụng phụ Vì vậy việc nghiên cứu các loại dược phẩm mới có nguồn gốc từ nhiên nhiên đang là một hướng

có tiềm năng và mở ra nhiều cơ hội, đặc biệt khi Việt Nam là một nước nằm ở khu vực nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, có nguồn thực vật phong phú và đa dạng

Trong dân gian, ông bà ta qua hàng ngàn năm đã đúc kết được kinh nghiệm lưu truyền những bài thuốc dân gian quý Đó là những hướng mà ta có thể tìm hiểu và

mở rộng nghiên cứu

Bài báo cáo này sẽ tập trung tìm hiểu về cây Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L) là một loại thực vật thuộc họ loa kèn đỏ hay họ Thủy tiên Dễ trồng và mọc nhiều

ở nước ta Cây Náng hoa trắng được biết đến trong việc chữa được bệnh như rối loạn tiêu hóa, sốt, đau họng, đau răng, bệnh ngoài da, mụn nhọt,… Trong các báo cáo khoa học gần đây, người ta còn thấy cây Náng hoa trắng còn có tác dụng ức chế khối phì đại tiền liệt tuyến, làm thuốc chữa u xơ tiền liệt tuyến Chính vì có nhiều công dụng như vậy nên trong bài báo cáo này tập chủ yếu làm rõ hơn về đặc điểm sinh thái, phân bố, các thành phần và các hoạt tính sinh học của cây Náng hoa trắng Từ

đó, đưa ra các ý kiến, kiến nghị, các hướng để tiếp tục nghiên cứu sau này

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÂY NÁNG HOA TRẮNG

1.1Đặc điểm sinh thái

Cây Náng hoa trắng có tên khoa học là Crinum asiaticum L Ở một số quốc gia khác cây Náng hoa trắng còn có những cái tên khác như: Malaysia (Bakong, Bawang

Trang 2

Hutan), Indonesia (Bakung, Kajang- kajang), Ở Việt Nam cây Náng hoa trắng còn được biết đến với những cái tên như Đại tướng quân, Chuối nước, Tỏi voi,…[9] Crinum asiatinum L là loài thực vật họ Náng (hay còn gọi là họ Hoa loa kèn đỏ),

là cây thân thảo, sống lâu năm, cao tầm 1m, có hành (giò) cỡ trung bình, hình trứng, đường kính 5-10cm, thót lại thành cổ dài 12–15 cm hay hơn Lá cây Náng hoa trắng mọc từ gốc, nhiều, hình dãi ngọn giáo, lõm, có khía ở trên, mép lá nguyên, dài tới 1m rộng 5-10cm

Hình 1.1 Cây náng hoa trắng Cụm hoa hình tán nằm ở đầu một cán hẹp dài 40-60cm, to bằng ngón tay, mang

6-12 hoa, có khi nhiều hơn Hoa có màu trắng, có mùi thơm về chiều, bao bởi những

mo dài 8-10cm Hoa có ống mảnh, màu lục, các phiến hoa giống nhau, hẹp, dài, 6 nhị

và có chỉ nhị đỏ, bao phấn vàng Quả mọng hình gần tròn, đường kính 3–5 cm, thường chỉ chứa một hạt Cây Náng hoa trắng thường ra hoa vào mùa hè[9]

1.2Đặc điểm phân bố

Náng hoa trắng có nguồn gốc từ châu Á, phân bố từ Ấn Độ qua Indonesia tới đảo Molluyc, Tây Bắc Úc, Đặc biệt loài này được tìm thấy nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ

và Việt Nam

Ở nước ta, cây này phân bố từ Bắc đến Nam Cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm mát, dựa rạch, cũng thường trồng làm cảnh, trồng làm thuốc ở các vườn thuốc Nam ở các trạm y tế Người ta thường tách các hành con để trồng Để làm thuốc, người ta thu hái các bộ phận khác nhau của cây quanh năm, có thể dùng tươi hay phơi khô

Ở Đà Nẵng, cây Náng hoa trắng được trồng làm cảnh ở rất nhiều tuyến đường như Nguyễn Tất Thành, Hoàng Văn Thái,…và phổ biến ở các huyện Hòa Vang, Hòa Cầm,…

1.3Công dụng:

Hiện nay, cây Náng hoa trắng được trồng rất phổ biến nhờ vào đặc điểm phân bố phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng ở nước ta Tuy nhiên, mục đích

Trang 3

chủ yếu là để làm cảnh trong nhà, vườn, ven đường…Các công dụng của cây Náng hoa trắng cũng được biết tới nhưng chưa phổ biến lắm

Theo y học dân gian, hầu hết các bộ phận của cây đều có thể sử dụng để chữa nhiều bệnh liên quan tới tiêu hóa, bệnh ngoài da, bệnh thấp khớp và làm thuốc giải độc Dịch chiết từ lá và quả cây dùng trị chứng khó tiêu, kiết lỵ Dịch chiết lá cây có thể được dùng để hỗ trợ sinh nở, xuất huyết hậu sản Ngoài ra còn rất nhiều công dụng của cây được ứng dụng vào chữa trị cũng như điều chế các loại thuốc có mang thành phần thiên nhên

Nhờ có nhiều hoạt tính như vậy mà gần đây cây Náng hoa trắng đã được quan tâm ngày càng nhiều Các nghiên cứu về khảo sát, tìm ra các thành phần có chức năng sinh học cao đã đưa ra nhiều kết quả mới khả quan hơn về tác động của các chất này đối với cơ thể Các alkaloid trong cây Náng hoa trắng được cho là có khả năng ức chế sự phát triển của các loại ung thư tiền liệt tuyến Bên cạnh đó các hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn,… cũng được tìm thấy Các nghiên cứu đem lại nhiều kết quả khả quan, mở ra tiếp các hướng nghiên cứu mới Trong đó việc điều trị ung thư bằng các phương pháp ‘’thiên nhiên’’ đang được quan tâm và phát triển

2.1 Akaloid:

2.1.1 Khái niệm và phân loại:

Alkaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp nhiều trong thực vật thỉnh thoảng có ở động vật Alkaloid có dược tính mạnh và cho những phản ứng hóa học với một số thuốc thử chung của chúng

Tuy nhiên, cũng có một số alkaloid không có nhân dị vòng mà ở mạch nhánh như

capsaisin (ớt Capsium annuum L); một số khác không có phản ứng kiềm như

colchisine (từ hạt tỏi độc), ricinine (từ hạt thầu đâu Ricinus communis); một số

alkaloid phản ứng với acid yếu như arecaidin và guvacin (trong hạt cau Areca catechu L).

Trong khi một vài alkaloid là các chất độc thì một số khác lại được sử dụng trong

y học với vai trò như là các chất giảm đau hay gây tê, cụ thể như morphin hay codein, cũng như trong một số ứng dụng khác

Để đáp ứng cho số lượng alkaloid rất nhiều và đa dạng, người ta chia các alkaloid thành 3 loại chính [1]:

Trang 4

• Alkaloid thật: là những hợp chất có hoạt tính sinh học, luôn có tính base, thường có chứa nguyên tử nitơ trong vòng dị hoàn, thường được sinh tổng hợp từ amino acid Nhóm này đa số phân bố giới hạn trong thực vật và hiện diện trong cây dưới dạng muối của một acid hữu cơ

• Protoalkaloid: nhóm này chủ yếu là các amin đơn giản được tổng hợp từ amino acid trong đó nguyên tử nitơ không ở trong vòng dị hoàn

• Giả alkaloid: là những hợp chất không bắt nguồn từ amino acid; bao gồm hai nhóm lớn là alkaloid steroid và alkaloid terpenoid purin

2.1.2 Tính chất :

Đa số các alkaloid có cấu tạo phức tạp, khối lượng phân tử lớn gồm C, H, N, O (nitơ thường nằm ở mạch vòng),dạng thể rắn ở nhiệt độ thường Các alkaloid này thường kết tinh được và có điểm chảy rõ ràng; cũng có một số không có điểm chảy vì

bị phân hủy ở nhiệt độ trước khi chảy Những alkaloid thành phần không chứa oxy thì ở thể lỏng, bay hơi được và thường bền vững không bị phân hủy ở nhiệt độ sôi của chúng

Alkaloid có vị đắng; không có màu hoặc màu trắng trừ một số ít có màu vàng như berberine; palmatine; chiledonine

Các alkaloid thường tồn tại ở 2 dạng chính là base tự do và muối:

• Alkaloid base: không tan trong nước, dễ tan trong các dung môi hữu cơ như methanol, ethanol.ether, chloroform, benzene

• Muối alkaloid: dễ tan trong nước và hầu như không tan trong các dung môi hữu cơ ít phân cực

Tính hòa tan của alkaloid đóng vai trò quan trọng trong việc chiết tách chúng ra khỏi cây cũng như trong dược phẩm điều chế thuốc để uống

Trong cây, các alkaloid ít khi tồn tại ở dạng tự do mà kết hợp với tamin( hợp chất polyphenol trong thực vật có khả năng tạo liên kết bền vững với các hợp chất hữu cơ cao phân tử khác) để tạo thành muối Do chúng là base yếu nên dễ dàng bị các base mạnh như NH4OH, NaOH…đẩy ra khỏi muối Nhờ vào tính chất này mà ta có thể ứng dụng để tách chiết alkaloid từ dược liệu bằng các dung môi thích hợp

Một số alkaloid mới hoàn toàn được tìm thấy trong dịch chiết cây Náng hoa trắng như: crinumaquine, lycorine, hippacine, hippadine, ungeremine, methylcrinamine, 3-O-acetylhamayne, crinamine, criwelline [10] Công thức hóa học của vài alkaloid tiêu biểu:

Trang 5

Hình 2.1 Một số công thức cấu tạo của alkaloid

2.1.3Hoạt tính sinh học:

Các hoạt tính sinh học của cây Náng hóa trắng đã không còn quá xa lạ với chúng

ta ngày nay thông qua rất nhiều nghiên cứu lớn nhỏ của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới Phần lớn hoạt tính đều đã được thử nghiệm và mang lại kết quả rất tích cực như:

- Gây độc tế bào, chống lại các tế bào ung thư (crinamine) [2,8,9]

- Chống oxy hóa, bảo vệ hồng cầu (lycorine) [6]

- Chống oxy hóa, bảo vệ hồng cầu (lycorine) [6]

- Kháng khuẩn, kháng nấm (quinine, berberine, arecoline) [1,5]

- Tác dụng lên hệ thần kinh: ức chế, kích thích thần kinh trung ương (caffeine, morphine), gây tê (cocaine)….[4,9]

- Tác dụng giảm đau, kháng viêm [7,9]

- Kích thích mọc tóc [11]

2.2.4 Các thuốc thử để định tính alkaloid:

Alkaloid cho phản ứng tạo màu hoặc tạo kết tủa với nhiều thuốc thử thông dụng như Mayer, Dragendoff, Wagner, Iodoplatinat và một số thuốc thử khác để nhận biết các alkaloid đặc thù

Thuốc thử Mayer:

Hòa tan 1.36g HgCl2 trong 60ml nước cất và hòa tan 5g KI trong 10ml nước cất Hỗn hợp hai dung dịch lại với nhau và thêm nước cất cho đến 100ml Nhỏ vài giọt thuốc thử vào dung dịch acid loãng có chứa alkaloid, nếu có alkaloid

Trang 6

sẽ xuất hiện kết tủa màu trắng hoặc vàng nhạt Tuy nhiên tủa tạo ra có thể bị hòa tan trở lại trong lượng dư của thuốc thử hoặc etanol có sẵn trong dung dịch thử

Thuốc thử Dragendoff:

Hòa tan 8g Nitrat bismuth Bi(NO3)3.H2O trong 25ml HNO3 30% (d=1.18) Hòa tan 28g KI và 1ml HCN 6N trong 5ml nước cất Hỗn hợp hai dung dịch,

để yên trong tủ lạnh 5°C cho tủa màu sậm và tan trở lại, lọc và thêm nước cho

đủ 100ml Dung dịch có màu cam đỏ cần đừng trong lọ tối màu, bảo quản trong tủ lạnh có thể giữ lâu được vài tuần Thuốc thử cho kết tủa màu cam-nâu với alkaloid (tủa có thể thu hồi bằng xử lý với Na2CO3 sau đó chiết với dietyl eter)

Thuốc thử Wagner:

Hòa tan 1.27g I2 và 2g KI trong 20ml nước cất, thêm nước cho đến 100ml Thuốc thử này cho kết tủa màu nâu với dung dịch acid loãng có chứa alkaloid

Thuốc thử Iodoplatinat:

Hòa dung dịch clorur platin 10% (3ml) và 97ml nước, 6g KI và 94ml nước cất Hỗn hợp hai dung dịch này và trữ trong chai lọ tối màu, sau đó dùng phun xịt lên bản mỏng để phát hiện các alkaloid có nitơ vòng dị hoàn

Tuy nhiên những thuốc thử này cũng có thể cho kết quả dương tính với các hợp chất như purin, amino acid, protein, coumarin, polyphenol, acid triterpen, hợp chất có chứa nitơ…Do đó để kiểm tra sự hiện diện của alkaloid có trong bột cây người ta thường sử dụng nguyên tắc thử của Webb gồm có hai phần:

• Phần 1: Thử với dịch chiết bột cây bằng hỗn hợp nước- acid Nếu có kết tủa chứng tỏ dịch chiết thu được có chứa alkaloid Nếu không tạo kết tủa thì vẫn chưa thể kết luận vội mà phải thực hiện tiếp phần thứ hai

• Phần 2: Thử với dịch chiết bột cây trong dung dịch Prollius là hỗn hợp gồm chloroform: etanol 95°: NH4OH đậm đặc theo tỉ lệ thể tích là 8:8:1 Tiến hành thử nghiệm với các loại thuốc thử đã nêu

Dịch chiết ở phần 1 có thể chiết được tất cả các alkaloid base ở dạng tự do, alkaloid có tính phân cực mạnh Tuy nhiên dung dịch này cũng chiết luôn những hợp chất như coumarin, polyphenol, purin, amino acid, protein… là những hợp chất tuy không phải alkaloid nhưng vẫn tạo được kết tủa Ngoài ra phương pháp này không thể chiết được các alkaloid có tính base yếu, các alkaloid có cấu trúc đặc thù( -C=C-N)…Mặc khác dung môi chiết hữu cơ – kiềm lại có thể chiết được các alkaloid dạng

tự do có tính base kém hay alkaloid cs cấu trúc đặc thù Vì vậy việc kết hợp cả hai phương pháp giúp ta có thể xác định chính xác hơn sự hiện diện của alkaloid trong bột cây cần nghiên cứu

Trang 7

2.2 Flavonoid:

Khái niệm: Flavonoid hoặc bioflavonoid (bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là màu vàng) là một loại chất chuyển hóa trung gian của thực vật Thường có màu vàng, tuy nhiên cũng có một số flavonoid khác lại có màu xanh, tím đỏ hoặc không màu Flavonoid cũng có ở một số động vật tuy nhiên rất ít không đáng kể

Theo danh pháp IUPAC, flavonoid có thể được chia thành các nhóm: flavonoids (hoặc bioflavonoids), isoflavonoids, neoflavonoids tùy theo cấu trúc khung cơ bản trong cấu tạo của chúng

Flanovoid phổ biến ở nhiều loại thực vật, có mặt trong tất cả các bộ phận của cây

và có nhiều chức năng khác nhau:

• Là một sắc tố sinh học, sắc tố thực vật quan trọng tạo ra màu sắc của hoa,

cụ thể giúp sản xuất sắc tố vàng, đỏ, xanh cho cánh hoa để thu hút nhiều động vật đến thụ phấn

• Trong thực vật bậc cao, flavonoid tham gia vào lọc tia cực tím( UV), cộng sinh cố định đạm và sắc tố hoa

• Flavonoid có thể hoạt động như một chất chuyển giao hóa học hoặc điều chỉnh sinh lý Chúng cũng có thể hoạt động như các chất ức chế chu kì tế bào

Do có chứa nhiều nhóm –OH phenol nên các flavonoid có thể liên kết với nhau hoặc liên kết với các hợp chất khác trong cây để tạo thành nhiều chất phức tạp hơn Đặc biệt là flavonoid rất dễ kết tinh

Các flavonoid có độ hòa tan khác nhau tùy theo số nhóm hydroxyl và các nhóm thế khác có trong cấu trúc Vì vậy rất khó có một phương pháp chung cụ thể để trích

ly những hợp chất này ra khỏi cây Một vài phương pháp tách chiết thường được sử dụng như: tủa bằng dung dịch acetate chì, hấp thu bằng than hoạt tính, tách phân đoạn bằng các dung dịch kiềm có độ kiềm khác nhau…[1]

Một số flavonoid được tìm thấy trong cây Náng hoa trắng như: 7-dihydroxy-4’-methoxyflavan; 7-hydroxyflavanone; 4’,7-dihydroxy-flavone [10]

2.3 Các amide :

Khái niệm: Amit (thuật ngữ amide) là tên gọi để chỉ các hợp chất hữu cơ trong phân tử có chứa 1 nhóm chức acyl R-CO- liên kết với 1 nguyên tử N tạo thành nhóm chức amide

Amide cũng là tên gọi để chỉ gốc amine R2N{-}

Amide là nguồn dự trữ NH3 cho các quá trình tổng hợp acid amin trong cơ thể thực vật khi cần thiết

Hợp chất này giúp khử độc cho tế bào khi ammoniac tích lũy nhiều trong cơ thể,

dự trữ nhóm amin cần cho sự tổng hợp acid amin và protein khi có nhu cầu

Các hợp chất amide có tính base rất yếu

Trang 8

Một vài amide đã được tìm thấy trong cây Náng hoa trắng như: N-trans-coumaroyltyramine; N-trans-caffeoyltyramine; hydroxystyryolamine; 4-aminobenzaldehyde [10]

2.4Các hợp chất phenolic:

Hợp chất phenolic là các nhóm hợp chất hóa học mà trong phân tử có chứ nhóm chức hydroxyl (-OH) gắn với vòng hydro carbon thơm Hợp chất phenolic bao gồm nhiều chất khác nhau rất phổ biến trong thực vật đồng thời cũng là sản phẩm trao đổi chất trong cơ thể Trong thiên nhiên, các hợp chất phenol phổ biến là flavonoid, xanthon, quinon, các polyphenol…

Các hợp chất phenol dễ tan trong nước vì chúng thường hiện diện trong cây ở dạng glycoside và mang màu sắc tự nhiên Chất này có mặt ở hầu hết các bộ phận trong cây, có tác dụng chống lại tia bức xạ, tia cực tím, ngăn chặn các tác nhân gây bệnh và góp phần làm tăng màu sắc cho cây

Các hợp chất phenolic rất đa dạng về cấu trúc và được chia thành nhiều nhóm chất khác nhau dựa theo số carbon của chúng như sau:

C6-C1 Acid phenolic và các hợp chất kliên quan

và chromone

Bảng 2.1

CHƯƠNG III QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT ALKALOID

Các alkaloid trong tự nhiên chứa rất nhiều thành phần khác nhau với các hoạt tính sinh học quý hiếm được ứng dụng rất nhiều trong nghiên cứu cũng như sản xuất Do

đó mà các hợp chất này luôn thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhằm khai thác nhiều hơn nữa giá trị sinh học to lớn từ chúng

Để nhận biết alkaloid ta có thể sử dụng một số loại thuốc thử đặc trưng của chúng như Mayer, Dragendorff, Wagner, Iodoplatinat

Tuy nhiên, việc chiết tách và phân lập alkaloid còn gặp rất nhiều khó khăn bởi cấu trúc đa dạng của alkaloid và đòi hỏi nhiều quy trình kỹ thuật phức tạp Dưới đây là

Trang 9

một vài phương pháp thu nhận các alkaloid từ cây Náng hoa trắng đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện và đạt được các kết quả tích cực:

1 Tách chiết và sắc ký phân lập được 3 alkaloid từ lá cây Náng hoa trắng trong đó

có 2 alkaloid có khả năng ức chế sự phiên mã gây độc tế bào ở tế bào ung thư tuyến tụy và tế bào ung thư tiền liệt của nhóm tác giả người Nhật Bản [8]:

• Mẫu lá cây Náng hoa trắng sau khi thu hái tại vùng Natore( Bangladesh) được đem sấy khô, nghiền mịn và dùng làm nguyên liệu cho quá trình chiết tách.Tiến hành chiết bột lá khô với dung môi chiết MeOH để thu được dịch chiết thô

• Dịch chiết này được sử dụng cho chạy sắc ký cột Dia-nonHP-20 với MeOH-aceton để tao ra các phân đoạn không chứa diệp lục 1A

• Sau đó, phân đoạn 1A này được huyền phù trong dung dịch MeOH 10%, hỗn hợp này tiếp tục được đem đi chiết lần lượt với các dung môi hexane, EtOAc, n-BuOH để thu các dịch chiết tương ứng

• Dịch chiết với n-BuOH được dung nạp bằng sắc ký cột silica gel và thu được các phân đoạn 2A-2G

- Phân đoạn 2C được đưa vào sắc lý gel Sephadex LH-20 ( với 100% MeOH) và sắc ký cột SIL 100A ( với hexane : EtOH theo tỉ lệ 1:1) thu được hợp chất 6-hydroxycrinamine (1)

- Phân đoạn 2D được dung nạp bằng sắc ký cột silicagel và sắc ký cột SIL 100A (với hexane : EtOH theo tỉ lệ 1:1) thu được hợp chất crinamine (3)

- Phân đoạn 2E sau khi tiến hành sắc ký cột chớp nhoáng ODS, sắc ký cột siliscagel và sắc ký cột Sephadex LH-20 thì thu được lycorine (2)

Kết quả: dịch chiết từ lá cây náng hoa trắng với dung môi MeOH qua nhiều phương pháp sắc ký khác nhau đã thu được 3 alkaloid quan trọng: 6-hydroxycrinamine (1), lycorine (2), crinamine (3)

2 Phương pháp cô lập alkaloid bằng sắc ký khí-phổ khối kết hợp với các hạt nano kẽm được thực hiện bởi Dong Zhu cùng các cộng sự đến từ Khoa Dược của Đại học

Y Khoa Nanjing, Trung Quốc [3]

Chuẩn bị dịch chiết:

- Các tác giả đã sử dụng cách chiết xuất pha rắn (SPE) để chiết bởi phương pháp này mang lại nhiều ưu điểm: hiệu suất chiết cao, có khả năng phục hồi tốt, thời gian thực hiện ngắn, dễ dàng tách riêng dung môi khỏi dịch chiết và dễ tự động hóa

- Cây Náng hoa trắng được thu hái, sấy khô và nghiền nhỏ ra thành bột để thực hiện tách chiết

- Tiến hành chiết với 1l hỗn hợp dung môi theo tỉ lệ etanol: nước là 95:5, duy trì nhiệt độ ở 80°C, chiết liên tục trong suốt 3 giờ

Trang 10

- Phần bã sau khi chiết xong được chiết lại một lần nữa với dung môi như trên ở cùng điều kiện nhiệt độ và thời gian như lần chiết đầu để tách được triệt để các alkaloid có trong nguyên liệu

Chuẩn bị các chất hấp thụ base ZnS cho quá trình sắc ký:

-Các hạt nano kẽm có cấu trúc dạng xốp, mang nhiều lỗ nhỏ với diện tích bề mặt lớn, có độ bền cơ học cao không bị trương nở hay co rút lại khi tiếp xúc lâu với dung môi

- Chất này được tao ra nhờ phản ứng hòa trộn của hợp chất poly-acrylicacid (PAA) với nhóm amin của cysteamine vào các hạt nano kẽm

- Sử dụng chất hấp thụ base này giúp cải thiện đáng kể hiệu quả tách và tính chọn lọc đối với alkaloid thông qua việc tạo ra tương tác tĩnh điện giữa chất hấp thụ với nhóm carboxy trong mẫu

Tiến hành:

Hình 3 Sơ đồ cơ chế tách chiết và phân lập alkaloids bằng sắc ký cột

-Các hạt nano kẽm được hòa trộn với cysteamine và chuyển vào tủ ấm trong vòng 12h để nhóm mercapto(SH) của cysteamine liên kết chặt chẽ với bề mặt của cầu ZnS

- Chất hấp thụ được cho vào cột sắc ký, dịch chiết được chảy từ trên xuống đi qua các lớp ZnS Tại đây, các alkaloid sẽ hình thành tương tác với chất hấp thụ base và bị giữ lại trên các hạt cầu ZnS, các chất khác không phải alkaloid sẽ đi len qua giữa hạt kẽm và đi ra ngoài

- Sau đó tiến hành rửa giải alkaloid bằng hỗn hợp CH3COONH4-ACN rồi sấy khô bằng một luồng khí nitơ nhẹ Cuối cùng mẫu được tiến hành phân tích HPLC-MS và GC-MS để xác định cụ thể từng loại alkaloid nhận được

Ngày đăng: 22/01/2018, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w