+ DN phải thực hiện nộp các khoản nộp vào Ngân sách Nhà nước theo luật định như: các khoản thuế, tiền thu về sử dụng vốn Ngân sách,… - Đối với DN ngoài quốc doanh: Công ty cổ phần, công
Trang 1Quản trị Tài chính
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tiền đề ra đời và phát triển của tài chính
Tài chính ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và nền sản xuất hàng hóa
- Khi Nhà nước ra đời, để duy trì sự hoạt động của mình, Nhà nước đã dùng quyền lực chính trị để quy định sự đóng góp của cải của các tổ chức, đơn vị kinh tế và của cá nhân dân cư cho Nhà nước Như vậy với sự ra đời của Nhà nước, đã làm nẩy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế Những quan hệ này lúc đầu được biểu hiện dưới hình thái hiện vật, đó chính là hình thái phôi thai của tài chính
- Sự ra đời của nên sản xuất hàng hóa và sự phát triển của các hình thái giá trị dẫn đến sự xuất hiện của tiền tệ Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, từ phân phối hiện vật (phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài chính)
Như vậy, có thể xem sản xuất hàng hóa – tiền tệ và Nhà nước là những tiền đề phát sinh và phát triển của tài chính
1.2 Bản chất của tài chính trong doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp (TCDN) là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp (DN) với các chủ thể khác trong hệ thống tài chính quốc gia Thực chất TCDN là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho quá trình tái sản xuất trong mỗi DN và góp phần vào tích lũy vốn cho Nhà nước
Những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính DN bao gồm:
1.2.1 Quan hệ tài chính giữa DN với Ngân sách Nhà nước
- Đối với DN Nhà nước:
+ DN được Nhà nước tài trợ vốn kinh doanh ban đầu tương ứng với vốn pháp định
+ DN phải thực hiện nộp các khoản nộp vào Ngân sách Nhà nước theo luật định như: các khoản thuế, tiền thu về sử dụng vốn Ngân sách,…
- Đối với DN ngoài quốc doanh: Công ty cổ phần, công ty TNHH, DN tư nhân,…
+ Nhà nước thông qua các ngân hàng có vốn Nhà nước, DN có vốn Nhà nước có thể đầu tư vốn bằng việc mua cổ phiếu, trái phiếu của công ty, và Nhà nước với tư cách người góp vốn được hưởng cổ tức
Trang 2Quản trị Tài chính
1.2.2 Quan hệ tài chính giữa DN với thị trường tài chính
DN vay vốn, trả nợ, gởi và rút tiền ở các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ chức tín dụng,…Vay vốn dài hạn để tài trợ cho đầu tư hoặc vay vốn ngắn hạn để bổ sung tài sản lưu động
1.2.3 Quan hệ tài chính giữa DN với thị trường hàng hóa, dịch vụ
Trong mối quan hệ này, DN đóng vai trò vừa là người mua, vừa là người bán DN sử dụng vốn tiền tệ của mình để mua các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, hàng hóa, sức lao động, trả chi phí điện nước,…Ở vai trò người bán, DN bán ra thị trường các sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ…để thu hồi vốn và tiếp tục sản xuất kinh doanh
1.2.4 Quan hệ tài chính trong nội bộ DN
Mối quan hệ này thể hiện sự phân phối điều chuyển vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội
bộ DN (giữa các đơn vị thành viên với tập đoàn, tổng công ty) DN trả cho người lao động các khoản tiền lương, tiền thưởng, BHXH,…và thu từ người lao động các khoản về thu hồi tạm ứng, các khoản tiền phạt, tiền bồi thường hoặc các khoản đóng theo nghĩa vụ
Tóm lại, DN là một thực thể kinh tế có các mối quan hệ kinh tế với các khâu khác trong hệ thống tài chính trong việc huy động, phân phối và sử dụng vốn
1.3 Chức năng của tài chính
1.3.1 Chức năng phân phối:
TCDN thực hiện việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính được hình thành trong DN để đáp ứng các yêu cầu sản xuất kinh doanh của DN
Nội dung của phân phối:
- Phân phối thu nhập của DN:
Thu nhập của DN bao gồm tiền bán sản phẩm, lao vụ, hàng hóa, tiền thu từ hoạt động đầu
tư tài chính,…được phân phối như sau:
+ Phần bù đắp:
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí nguyên, nhiên vật liệu
Chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội
Chi phí quản lý DN, chi phí bán hàng, các loại thuế gián thu, lợi tức trái phiếu,…
+ Phần lợi nhuận:
Nộp thuế thu nhập DN
Chia lãi cho các bên tham gia góp vốn, chia lãi cổ đông,…
Trích lập các quỹ chuyên dùng như quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng phúc lợi,…
Trang 3Quản trị Tài chính
- Phân phối các nguồn lực tài chính:
+ Việc phân phối các nguồn lực tài chính cho tài sản dài hạn, cho vốn lưu động trong khâu sản xuất, vốn lưu động cho khâu dự trữ,…
+ Việc khai thác thị trường tài chính: huy động vốn từ thị trường tài chính như vay, liên doanh, phát hành chứng khoán và đầu tư vào thị trường chứng khoán như mua chứng khoán, cho vay, gửi ngân hàng,…
Chức năng phân phối của tài chính DN là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của DN và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu DN
Tóm lại, nhờ chức năng phân phối mà các quỹ tiền tệ của DN được hình thành và sử dụng một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận tối
đa
1.3.2 Chức năng giám đốc
Để đồng vốn được sử dụng một cách có hiệu quả nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất thì cần thiết và tất yếu phải kiểm tra tình hình sử dụng các loại vật tư, các mức tiêu hao lao động, các chi phí quản lý; kiểm tra tình hình sử dụng vốn cho đầu tư ra bên ngoài, cho đầu tư tài sản cố định, tình hình huy động và chi phí huy động vốn,…Hay nói khác đi, đó chính là giám đốc tình hình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN Như vậy, giám đốc tài chính là nhằm nâng cao hiệu quả trong phân phối tài chính
Đặc trưng cơ bản của giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền thông qua các chỉ tiêu tài chính như: vốn, chi phí kinh doanh, tốc độ luân chuyển vốn, doanh lợi,…Mục tiêu của giám đốc tài chính là xem xét tình hình huy động, phân phối và sử dụng vốn giúp DN phát hiện những khâu mất cân đối, những yếu kém, sơ hở trong công tác điều hành quản lý kinh doanh để có biện pháp ngăn chặn kịp thời các khả năng tổn thất có thể xảy ra
Đặc điểm của chức năng giám đốc là toàn diện và xuyên suốt quá trình sản xuất kinh doanh của DN
1.4 Quản trị tài chính công ty
1.4.1 Định nghĩa
Quản trị tài chính công ty là hoạt động liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra
1.4.2 Tổ chức quản trị tài chính công ty
Cũng giống như giám đốc của ba lĩnh vực chức năng cơ bản khác của công ty, phó giám đốc tài chính, hay là trưởng phòng tài chính (CFO) thường phải trực tiếp báo cáo cho giám đốc điều
Trang 4Trong các công ty lớn, các hoạt động tài chính do giám đốc tài chính quản lý và chia thành hai nhóm, một bộ phận do trưởng phòng tài chính và bộ phận kia do kế toán trưởng quản lý Trách nhiệm của các kế toán trưởng chủ yếu thuộc về lĩnh vực kế toán, kế toán chi phí cũng như kiểm soát ngân sách và dự toán, phần lớn liên quan đến hoạt động báo cáo nội bộ
Sơ đồ tổ chức ở hình 1-1 có thể gây suy nghĩ sai lệch rằng có sự tách biệt giữa nhiệm vụ tài chính và kế toán Tuy nhiên, trong các công ty được tổ chức tốt, thông tin sẽ dịch chuyển dễ dàng giữa các bộ phận còn trong các công ty nhỏ, chức năng tài chính và chức năng kế toán có thể được đồng nhất trong một hoạt động Cần lưu ý rằng các chức năng tài chính và kế toán trong hình 1-1 chỉ là ví dụ minh họa Trên thực tế, các chức năng này thường được thực hiện khác nhau giữa các công ty
Hình 1-1 Chức năng quản trị tài chính trong sơ đồ tổ chức
Hội đồng quản trị Giám đốc điều hành
Phó giám đốc
Sản xuất
Phó giám đốc Tài chính
Phó giám đốc Marketing
Bộ phận tài chính
- Hoạch định ngân sách đầu tư
- Quản trị tiền mặt
- Quan hệ với ngân hàng thương
mại và đầu tư
- Báo cáo thuế
- Kiểm soát nội bộ
- Chuẩn bị các báo cáo tài chính
- Chuẩn bị kế hoạch tài chính
- Chuẩn bị các dự báo tài chính
Trang 5Quản trị Tài chính
1.5 Mục tiêu của công ty
Công ty có rất nhiều mục tiêu được đề ra nhưng dưới góc độ quản trị tài chính mục tiêu của công ty là nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu Mục tiêu này phải được xem xét
trong mối quan hệ với các vấn đề khác như quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành công ty, giữa lợi ích công ty và lợi ích xã hội nói chung Muốn vậy, mọi quyết định tài chính cần chú ý đến khả năng tạo ra giá trị Một quyết định nếu không tạo ta được giá trị sẽ không làm tăng
mà làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu
1.5.1 Tạo ra giá trị
Đứng trên giác độ tạo ra giá trị, mục tiêu chính của công ty là tối đa hóa lợi nhuận, được cụ thể và lượng hóa bằng các chỉ tiêu sau:
- Tối đa hóa lợi nhuận sau thuế (Earning After Tax - EAT)
Tuy nhiên nếu chỉ có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế chưa hẳn gia tăng được giá trị cho các cổ đông Chẳng hạn giám đốc tài chính có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành
cổ phiếu kêu gọi vốn rồi dùng số tiền huy động được đầu tư vào trái phiếu Kho bạc thu lợi nhuận Trong trường hợp này, lợi nhuận vẫn tăng nhưng lợi nhuận trên cổ phần giảm vì số lượng
cổ phiếu phát hành tăng Do đó chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế cần được bổ sung thêm chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên cổ phần
- Tối đa hóa lợi nhuận trên cổ phần (Earning Per Share – EPS)
Chỉ tiêu này có thể bổ sung cho những hạn chế của chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn còn có những hạn chế của nó
+ Tối đa hóa EPS không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và độ dài của lợi nhuận kỳ vọng + Tối đa hóa EPS cũng chưa xem xét đến rủi ro
+ Tối đa hóa EPS không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến cổ phiếu trên thị trường
- Tối đa hóa thị giá cổ phiếu ( Market Price Per Share)
Chỉ tiêu này được xem là thích hợp nhất của công ty vì nó kết hợp nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến cổ phiếu
1.5.2 Vấn đề mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành
Đặc điểm của công ty cổ phần là có sự tách rời giữa chủ sở hữu và người điều hành hoạt động công ty Sự tách rời quyền sở hữu khỏi việc điều hành tạo ra tình huống khiến giám đốc hành xử vì lợi riêng của mình hơn là lợi ích cổ đông Điều này làm phát sinh những mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và giám đốc điều hành công ty
Để khắc phục những mâu thuẫn này, chủ công ty nên xem giám đốc như là người đại diện cho cổ đông và cần có sự khích lệ sao cho giám đốc nỗ lực điều hành công ty tốt hơn vì lợi ích
cổ đông cũng chính là lợi ích của giám đốc Chế độ khuyến khích thỏa đáng bao gồm tiền lương,
Trang 6Quản trị Tài chính
tiền thưởng thỏa đáng, thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty, và những lợi ích khác mà giám đốc có thể thừa hưởng nếu hành xử vì lợi ích của cổ đông
1.5.3 Trách nhiệm đối với xã hội
Tối đa hóa giá trị tài sản cho cổ đông không có nghĩa là ban điều hành công ty lờ đi vấn đề trách nhiệm đối với xã hội, ví dụ: bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng cho nhân viên, bảo đảm an toàn lao động, đào tạo và nâng cao trình độ của người lao động, bảo vệ môi trường,…Chính trách nhiệm xã hội đòi hỏi ban quản lý không chỉ chú trọng đến lợi ích của cổ đông (shareholders) mà còn chú trọng đến lợi ích của những người có liên quan khác (stakeholders)
1.6 Các quyết định chủ yếu của tài chính công ty
Tài chính công ty liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân chia cổ tức
1.6.1 Quyết định đầu tư
Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và (2) mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp Quyết định đầu tư bao gồm:
- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán chịu hàng hóa, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: quyết định mua sắm tài sản cố định mới, quyết định thay thế tài sản cố định cũ, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và đầu tư tài sản cố định: quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn
Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết định tài chính công ty
vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp (Hawawini & Vialiet, 2002) Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó, gia tăng tài sản cho chủ sở hữu Ngược lại, một quyết định đầu tư sai sẽ làm tổn thất giá trị công ty, do đó, làm thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu công ty
1.6.2 Quyết định nguồn vốn
Quyết định nguồn vốn gắn liền với việc quyết định nên lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn ngắn hạn hay dài hạn Ngoài ra, quyết định nguồn vốn còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để lại tái đầu tư và lợi nhuận được phân chia cho cổ đông dưới hình thức cổ tức
- Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn: quyết định vay ngắn hạn hay là sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn hạn ngân hàng hay là phát hành tín phiếu công ty
Trang 7Quản trị Tài chính
- Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn: quyết định sử dụng nợ dài hạn hay là vốn cổ phần, quyết định vay dài hạn ngân hàng hay là phát hành trái phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần phổ thông hay là sử dụng nợ dài hạn, quyết định sử dụng vốn cổ phần phổ thông hay là cổ phần ưu đãi
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính)
- Quyết định vay để mua hay thuê tài sản
1.6.3 Quyết định phân chia cổ tức
Trong loại quyết định này, giám đốc tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng lợi nhuận sau thuế để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư Ngoài ra, giám đốc tài chính còn phải quyết định xem công ty nên theo đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động gì đến giá trị công ty hay giá cổ phiếu trên thị trường hay không
1.7 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.7.1 Môi trường luật pháp
Theo luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 68/2014/QH13 khóa XIII thông qua ngày 26/11/2014:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.”
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch
vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp hợp lý các mục tiêu xã hội
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Kinh doanh có các đặc điểm cơ bản sau:
- Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, các hộ gia đỡnh, các doanh nghiệp
- Kinh doanh phải gắn liền với thị trường
Trang 8Quản trị Tài chính
- Kinh doanh phải gắn liền với sự vận động của đồng vốn Công thức kinh doanh của C.Mác:T-H-SX -H’ -T’
- Mục đích chủ yếu của kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận (T’-T >0)
Một doanh nghiệp có thể đảm nhận tất cả các khâu của quá trình kinh doanh, nhưng cũng có thể chỉ thực hiện một khâu nào đó,chẳng hạn như: sản xuất hay tiêu thụ (DN thương mại)
Phân loại doanh nghiệp
Phân loại theo hình thức sở hữu
a Doanh nghiệp Nhà nước
- Khái niệm : Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế Nhà nước đầu tư vốn
100%, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao
- Doanh nghiệp Nhà nước có những đặc điểm
DNNN là một pháp nhân do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập&tổ chức quản
DNNN có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ Việt Nam
- DNNN cũng có nhiều hình thức khác nhau tùy theo quy mô kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ, mức độ liên kết kinh doan, mức độ độc lập hoạt động mà có tên gọi khác nhau như: Tổng công ty Nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước vừa hoặc nhỏ, không hoặc
có tổ chức hội đồng quản trị, DN đoàn thể
b Doanh nghiệp tư nhân
- Khái niệm : Theo Điều 183 Chương VII Luật doanh nghiệp năm 2014, doanh
nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm sau :
DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn thành lập và làm chủ Chủ
sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trong trường hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
DNTN không có tư cách pháp nhân bởi vì tài sản của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ DN Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt
Trang 9c Công ty trách nhiệm hữu hạn
c1 Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là DN có những đặc điểm chung sau đây:
- Hình thức sở hữu của công ty là sở hữu chung của các thành viên công ty
- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
c2 Công ty TNHH một thành viên
Công ty TNHH một thành viên là DN có những đặc điểm chung sau đây:
- Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại DN, các tổ chức khác theo quy đ ịnh của pháp luật
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho
tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp
- Công ty không được phát hành cổ phần
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
d Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn,
cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
e Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây;
Trang 10Quản trị Tài chính
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài ra còn có thành viên góp vốn
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty ( trách nhiệm vô hạn )
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi
số vốn đã góp vào công ty
- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân
- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Như vậy, công ty hợp danh có 2 loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều
là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh&thành viên góp vốn
f Nhóm công ty
Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác
Nhóm công ty bao gồm các hình thức sau đây:
- Công ty mẹ - công ty con;
- Tập đoàn kinh tế;
- Các hình thức khác
Thực chất, quy định về nhóm công ty nhằm mục đích tăng cường sự công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh cũng như hạn chế chế độ trách nhiệm hữu hạn và bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số Đó là các quy định trách nhiệm đền bù của công ty mẹ đối với công ty con, hay nghĩa vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất của nhóm công ty Đây là một bước phát triển mới của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong việc tạo ra cơ sở pháp lý để hình thành các tập đoàn kinh tế lớn có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Phân loại theo quy mô
Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại:
- Doanh nghiệp quy mô lớn
- Doanh nghiệp quy mô vừa
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ
Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựa vào những tiêu chuẩn như:
- Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp
- Số lượng lao động trong doanh nghiệp
- Doanh thu của doanh nghiệp
- Lợi nhuận hàng năm
Trang 11Quản trị Tài chính
Bảng 1.1 Quy định phân loại doanh nghiệp theo quy mô ở một số quốc gia
(TSản)
Doanh thu
Lợi nhuận
Australia <500 trong CN & DV
Canada <500 trong CN & DV <20tr$Ca
Hồng Kông <100 trong CN, <50
trong DV Indonesia <100 < 0.6 tỉ Rupi < 2 tỉ
Rupi Nhật <50 bán lẻ, <100 bán
buôn, <300 trong lĩnh vực khác
<10tr Yên,
<30tr Yên,
<100tr Yên Mexico < 250 <7 triệu $
Philippine < 200 <100triệu
Peso Singapore < 100 <499tr $ Sin
Myanmar < 100
Thailand < 100 <20 tr Bath
Việt Nam <300 <10 tỉ đồng
Phân loại theo lĩnh vực kinh doanh
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp
- Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
- Doanh nghiệp thương mại
- Doanh nghiệp vận tải
- Doanh nghiệp xây dựng
- Các doanh nghiệp dịch vụ
- Doanh nghiệp hỗn hợp: sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ
1.7.2 Môi trường thuế
Hầu hết các quyết định trong quản trị tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập của công ty Hằng năm, công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thuể thu nhập DN nhiều hay ít tùy thuộc vào thu nhập chịu thuế và thuế suất Thu nhập chịu thuế bằng
Trang 12Quản trị Tài chính
doanh thu trừ đi tất cả các chi phí hợp lý bao gồm khấu hao và lãi vay Về phía công ty, nếu thu nhập chịu thuế thấp sẽ tiết kiệm được thuế, do vậy, công ty có khuynh hướng đưa khấu hao và lãi vay lớn vào chi phí để tiết kiệm thuế Về phía chính phủ và cơ quan thuế, người ta chỉ chấp nhận những khoản chi phí nào hợp lý nhằm hạn chế công ty tránh thuế
Khấu hao là hình thức phân bổ có hệ thống chi phí mua sắm TSCĐ vào giá thành sản phẩm theo từng thời kỳ nhằm mục đích báo cáo tài chính, mục đích tính thuế hoặc là cả hai Khấu hao được xem như là khoản chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập công ty để xác định thu nhập chịu thuế, do đó khấu hao được xem là một trong những yếu tố giúp công ty tiết kiệm thuế Có nhiều cách tính khấu hao khác nhau dẫn đến kết quả thu nhập chịu thuế cũng khác nhau
Các phương pháp khấu hao được chọn có thể khác nhau tùy theo mục đích báo cáo thuế hay báo cáo tài chính Hầu hết các công ty có thu nhập chịu thuế đều thích sử dụng phương pháp khấu hao nhanh cho mục đích báo cáo thuế vì phương pháp này cho phép giảm trừ khấu hao nhanh hơn nên thu nhập tính thuế thấp hơn vào những năm đầu Tuy nhiên, trên thực tế các công
ty chỉ có thể trích khấu hao theo quy định của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ (Thông tư 203/2009/TT-BTC ban hành ngày 20/10/2009)
Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 quy định mức trích khấu hao căn cứ vào giá trị TSCĐ và thời gian trích khấu hao Cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ có hiệu quả kinh
tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá hai lần mức khấu hao theo chế độ để nhanh chóng đổi mới công nghệ
Khấu hao theo đường thẳng (Mô hình SL- Straight Line Depreciation)
Khấu hao theo đường thẳng tức là giá trị tính khấu hao trong các năm bằng nhau Điều đó hàm ý thừa nhận sự dịch chuyển giá trị của TSCĐ một cách đều đặn theo thời gian vào giá thành sản phẩm sản xuất theo chu kỳ của tài sản Mức trích khấu hao trung bình hằng năm cho TSCĐ của công ty được tính như sau:
D= P/n
D: mức khấu hao đều hàng năm
P: nguyên giá tài sản cố định (gồm giá mua theo hóa đơn, chi phí vận chuyển, chi phí lắp đặt, chi phí vận hành thử)
n: thời hạn tính khấu hao (năm)
Ví dụ:
Một TSCĐ nguyên giá 1 tỷ đồng, khung thời gian của bộ tài chính từ 8 – 12 năm Khi mới đưa vào sử dụng công ty chọn thời gian khấu hao là 8 năm Đến đầu năm thứ 3 do kinh doanh khó khăn công ty chọn lại thời gian khấu hao là 12 năm Đến đầu năm thứ 6 công ty có hướng thuận lợi nên chọn lại thời gian là 10 năm Tính mức khấu hao hàng năm của tài sản này
Trang 13Khấu hao theo số dư giảm dần (Mô hình DB – Declining Balance Depreciation)
Phương pháp này xác định chi phí hằng năm là một con số phần trăm cố định trên giá trị sổ sách ròng của tài sản (giá mua trừ khấu hao tích lũy) vào đầu năm để áp dụng tính khấu hao Công thức chung của mô hình này là:
Dx= m x
n
1
x BV Trong đó,
m: Hệ số điều chỉnh n: số năm khấu hao tài sản BV: giá trị ròng của tài sản vào đầu năm (số dư còn lại)
Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy định tại bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh
(lần) Đến 4 năm ( t 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng
Trang 14phương pháp khấu hao theo đường thẳng Mức khấu hao qua các năm được xác định như sau:
Năm Cách tính khấu hao
m(1/n)BV (Trđ)
Chi phí khấu hao
(Trđ)
Tài sản cố định ròng (Trđ)
Một TSCĐ nguyên giá 3 tỷ đồng, thời hạn khấu hao trong 7 năm Khi mới đưa vào sử dụng
công ty khấu hao theo mô hình DB với suất khấu hao dr= 20% Đến đầu năm thứ ba chuyển sang khấu hao theo mô hình SYD đến hết năm thứ 7 Tính mức khấu hao hàng năm của tài sản này
Trang 15Khấu hao theo đơn vị sản lượng
Chi phí khấu hao cho một đơn
vị sản lượng =
P Tổng sản lượng có trong thời kỳ tính khấu hao
Ví dụ: Một công ty mua một xe ôtô du lịch có giá trị ban đầu 600 triệu đồng, giá trị còn lại ước
tính 100 triệu đồng sau khi đã chạy được 400.000 km Tính chi phí khấu hao cho một km chạy xe và giá trị sổ sách của tài sản sau khi đã chạy được 200.000 km
Chi phí lãi vay
Hệ thống thuế Việt Nam ưu đãi tài trợ bằng vốn vay nhiều hơn so với tài trợ bằng vốn chủ sở hữu Việc trả lãi cho những người chủ nợ được giảm trừ thuế trong khi việc chi trả cổ tức cho cổ đông thì không được giảm trừ Do vậy, đối với một công ty hoạt động có lãi, sử dụng nợ trong tổ hợp tài sản sẽ đem lại khoản nợ về thuế đáng kể so với sử dụng cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường
Chi phí của tiền lãi sau thuế:
Cst= C – C.t = C(1-t) Cst: Chi phí của tiền lãi sau thuế
C: Chi phí tiền lãi trước thuế
t: Thuế suất thuế thu nhập
Trang 16Quản trị Tài chính
1.7.3 Môi trường tài chính
a Mục tiêu của các thị trường tài chính
Mục tiêu của thị trường tài chính trong nền kinh tế là phân bổ vốn tiết kiệm một cách có hiệu quả cho người sử dụng cuối cùng Nếu những đơn vị tiết kiệm cũng chính là những đơn vị sử dụng vốn thì nền kinh tế không cần thị trường tài chính Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, hầu hết các công ty phi tài chính đều sử dụng nhiều hơn mức tiết kiệm của họ để đầu tư vào tài sản thực Mặt khác hầu hết các hộ gia đình đều có tổng số tiết kiệm lớn hơn tổng đầu tư Tính hiệu quả là yếu tố đưa người đầu tư cuối cùng và người tiết kiệm cuối cùng gặp nhau với chi phí thấp nhất và thuận lợi nhất có thể
b Thị trường tài chính
Thị trường tài chính không phải là không gian vật lý mà đó là cơ chế để đưa tiền tiết kiệm đến với người đầu tư cuối cùng Trên phương diện thời hạn của tài sản tài chính, người ta chia thành hai loại thị trường tài chính là thị trường tiền tệ và thị trường vốn Trên phương diện cơ chế giao dịch, người ta chia làm hai loại thị trường là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ là thị trường mua và bán các chứng khoán Nhà nước và chứng khoán công
ty có thời gian đáo hạn dưới một năm Trong khi đó, thị trường vốn hoạt động với các công cụ thuộc về vốn chủ và vốn vay dài hạn có thời gian đáo hạn trên một năm
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp (primary market) là thị trường phát hành và giao dịch các chứng khoán mới phát hành Thị trường thứ cấp (secondary market) là nơi giao dịch các loại chứng khoán đã phát hành Giao dịch trên thị trường sơ cấp cung cấp nguồn vốn cho các nhà phát hành chứng
khoán, trong khi giao dịch trên thị trường thứ cấp cung cấp thanh khoản cho các nhà đầu tư
c Các tổ chức tài chính trung gian
Bởi vì thị trường tài chính không hoàn hảo nên những người mua và người bán chứng khoán không có đầy đủ thông tin cần thiết cũng như không thể phân chia nhỏ chứng khoán theo quy mô phù hợp với nhu cầu của họ Khi ấy họ cần các tổ chức tài chính trung gian giúp họ giải quyết những vấn đề do sự không hoàn hảo của thị trường gây ra Các tổ chức tài chính này thu thập thông tin từ người mua và người bán để làm cho nhu cầu mua và bán gặp nhau Nếu không có các tổ chức tài chính thì chi phí thông tin và giao dịch sẽ rất lớn khiến cho các giao dịch rất khó
có thể xảy ra Nói chung tổ chức tài chính trung gian có thể chia thành hai loại: tổ chức nhận ký thác và tổ chức không nhận ký thác
* Tổ chức nhận ký thác (Deposistory institutions):
- Khái niệm:
Trang 17Quản trị Tài chính
Tổ chức nhận ký thác là loại hình chủ yếu của các tổ chức tài chính, nó nhận ký thác từ những đơn vị thặng dư vốn và cung cấp tín dụng cho những đơn vị thiếu hụt vốn hoặc đầu tư bằng cách mua chứng khoán
- Phân loại: Tổ chức nhận ký thác bao gồm các loại hình sau đây:
+ Ngân hàng thương mại: là tổ chức mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác và sử dụng ký thác đó để cho vay và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
+ Tổ chức tiết kiệm: là một loại hình tổ chức nhận ký thác thường xuyên được tổ chức dưới hình thức hiệp hội tiết kiệm và cho vay hoặc ngân hàng tiết kiệm, nó hoạt động tương tự như là ngân hàng thương mại nhưng tập trung chủ yếu vào khách hàng cá nhân hơn là khách hàng công ty
+ Hiệp hội tín dụng: hiệp hội tín dụng khác với ngân hàng thương mại và tổ chức tiết kiệm ở chỗ: Hiệp hội tín dụng là tổ chứ phi lợi nhuận và hạn chế hoạt động trong phạm vi thành viên của hội, sử dụng hầu hết nguồn vốn huy động từ hội viên và cung cấp tín dụng lại cho các hội viên khác
* Tổ chức không nhận ký thác (Nondeposistory institutions)
- Khái niệm:
Tổ chức không nhận ký thác cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính Chúng không huy động nguồn vốn bằng hình thức ký thác mà huy động nguồn vốn bằng các hình thức khác như phát hành tín phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu
+ Quỹ đầu tư: huy động vốn bằng cách bán chứng chỉ đầu tư cho các nhà đầu tư vá ử dụng vốn huy động được để đầu tư chứng khoán trên thị trường tài chính
+ Công ty chứng khoán: cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính như môi giới, kinh doanh, tư vấn và bao tiêu chứng khoán
+ Công ty bảo hiểm: huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho công chúng
và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính
+ Quỹ lương hưu: quỹ này hình thành từ tiền đóng góp của các công ty và đại diện chính phủ, được sử dụng để đầu tư trên thị trường tài chính Vốn gốc và lãi của quỹ này dùng để trả cho người lao động dưới hình thức lương hưu
Trang 18Quản trị Tài chính
d Các công cụ tài chính
Có nhiều loại chứng khoán hay công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường tài chính, bao gồm các công cụ trên thị trường vốn và các công cụ trên thị trường tiền tệ
Các chứng khoán giao dịch trên thị trường vốn:
Các loại chứng khoán giao dịch phổ biến trên thị trường vốn bao gồm: trái phiếu (bonds), chứng khoán cầm cố bất động sản (mortgage-back securities) và cổ phiếu (stocks)
- Trái phiếu là chứng nhận nợ dài hạn do công ty hoặc chính phủ phát hành để huy động vốn tài trợ cho hoạt động của mình
- Chứng khoán cầm cố bất động sản là loại chứng nhận nợ dài hạn được tạo ra nhằm tài trợ cho việc mua bất động sản
- Cổ phiếu (còn gọi là chứng khoán vốn) là chứng nhận đầu tư và sở hữu một phần trong công ty cổ phần
Các chứng khoán giao dịch trên thị trường tiền tệ:
Các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường tiền tệ là những tài sản tài chính có thời hạn không quá một năm Ở Việt Nam, do thị trường tiền tệ chưa phát triển nên hàng hoá giao dịch trên thị trường này chưa nhiều Hiện tại, chỉ mới có tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng và các loại thương phiếu
- Tín phiếu kho bạc (treasury bill) là chứng khoán có thời hạn không quá một năm do Kho bạc phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt cho ngân sách
- Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng (certificate of deposite) là chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức nhận ký thác phát hành có nêu rõ số tiền gửi, thời hạn và lãi suất
- Thương phiếu (commercial paper) là chứng khoán ngắn hạn do các công ty có uy tín phát hành để huy dộng vốn ngắn hạn
Ngoài các công cụ tài chính của thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường tài chính còn giao dịch các chứng khoán phái sinh (derivative securities) Chứng khoán phái sinh là loại chứng khoán mà giá trị của nó được phái sinh từ giá trị của tài sản cơ sở (underlying assets) Chứng khoán phái sinh phổ biến bao gồm các loại hợp đồng kỳ hạn (foward contracts), hợp đồng giao sau (futures contracts), hợp đồng hoán đổi (swaps contracts), và hợp đồng quyền chọn (options contracts)
Trang 19
Quản trị tài chính
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ THEO THỜI GIAN CỦA TIỀN TỆ 2.1 Tính toán lãi tức
2.1.1 Lãi suất:
Tiền lãi là số tiền thu được (đối với người cho vay) hoặc chi ra (đối với người đi vay) do việc sử dụng vốn vay sau một khoản thời gian Ví dụ, nếu ta vay 10 triệu đồng vào năm nay và cam kết trả 1 triệu đồng mỗi năm thì sau hai năm tới, ta sẽ phải trả khoản tiền lãi là 2 triệu đồng cùng với vốn gốc là 10 triệu đồng
Tuy nhiên, nếu ta sử dụng tiền lãi như là công cụ để định giá thuê sử dụng tiền trong trường hợp thời gian tính lãi quá dài với những giá trị cho vay khác nhau thì như thế sẽ rất bất tiện trong việc điều chỉnh giá trị tiền tệ theo thời gian Vì thế, người ta sử dụng một công cụ khác là lãi suất
để tính chi phí của việc sử dụng tiền
Lãi suất là tỉ lệ % tiền lãi so với vốn gốc trong một đơn vị thời gian Đơn vị thời gian sử dụng để quy định lãi suất thường là năm, tháng,
Công thức tính lãi suất là:
%100.n x P
I
Trong đó,
i: lãi suất I: tiền lãi P: vốn gốc n: số kỳ hạn Như vậy, với lãi suất đã thỏa thuận, ta dễ dàng tính ra tiền lãi I trả cho vốn gốc
Ví dụ: Nếu ta ký gửi 100 triệu đồng vào tài khoản định kỳ tính lãi đơn với lãi suất 8%/năm
Sau 10 năm số tiền gốc và lãi thu được là:
Pn= P0 + SI = P0 + P0.i n = 100 + 100.0,08.10 = 180 triệu đồng
Trang 20đo lường giá trị thời gian của tiền tệ, bởi vì thực tế mọi đồng tiền đều có khả năng sinh lãi
2.1.3 Lãi kép
Lãi kép là số tiền lãi không chỉ tính trên số tiền gốc mà còn tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra Nó là lãi tính trên lãi, hay còn gọi là ghép lãi
Ý nghĩa: Khái niệm lãi kép rất quan trọng vì nó có thể ứng dụng để giải quyết rất nhiều vấn
đề trong tài chính Phần lớn các vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong tài chính liên quan đến thời giá tiền tệ đều được xây dựng trên nền tảng lãi kép thay vì lãi đơn Lý do vì lãi kép phản ánh chính xác hơn chi phí cơ hội của đồng tiền
Cũng lấy ví dụ như của trường hợp lãi đơn nhưng ta tính lãi kép thì ta sẽ có kết quả như sau: Khoản tiền tích lũy cuối năm 1:
P1=P0 + P0.i = P0.(1+i) = 100.(1+0,08) = 108 triệu
Khoản tiền tích lũy cuối năm 2:
P2=P1 + P1.i = P1.(1+i) = P0.(1+i).(1+i) = P0.(1+i)2 = 100.(1+0,08)2 = 108,64 triệu
Tương tự, khoản tiền tích lũy cuối năm 10:
P10=P9 + P9.i = P9.(1+i) = P0.(1+i)9.(1+i) = P0.(1+i)10 = 100.(1+0,08)10 = 215 triệu
Như vậy, với lãi kép, khoản tiền tích lũy cuối thời kỳ n là:
tệ hỗn tạp là dòng tiền tệ bao gồm các khoản tiền không bằng nhau phát sinh qua một số thời kỳ nhất định Để đơn giản, các nội dung tiếp theo sẽ tập trung vào dòng tiền tệ đều Các khoản thu, chi của dòng tiền tệ có thể được biểu diễn trên một biểu đồ gọi là biểu đồ dòng tiền tệ
2.2.2 Quy ước
Biểu đồ dòng tiền tệ là một thang thời gian trên đó đánh số các thời đoạn 0,1,2,…,n
- Khoản thu là dòng tiền tệ dương, khoản chi là dòng tiền tệ âm
- Ở mỗi thời đoạn: Dòng tiền tệ ròng = Khoản thu – Khoản chi
- Các dòng tiền tệ đều xảy ra ở cuối thời đoạn
Trang 21Quản trị tài chính
2.2.3 Ký hiệu
- P: Giá trị hoặc tổng số tiền ở một mốc thời gian quy ước là hiện tại (Giá trị hiện tại hay còn gọi là hiện giá)
- F: Giá trị hoặc tổng số tiền ở một mốc thời gian quy ước là tương lai (Giá trị tương lai)
- A: Giá trị của một chuỗi dòng tiền tệ đều có trị số bằng nhau
A1= A2= A3= = AN = A
và kéo dài trong một khoảng thời gian nào đó
- n: Số thời đoạn
- i: lãi suất (nếu không có chú thích thì luôn luôn hiểu là lãi suất ghép)
Biểu đồ dòng tiền tệ giả định:
2.3 Các giá trị tương đương của dòng tiền tệ đều
2.3.1 Sự tương đương của tiền tệ
Những khoản tiền khác nhau xảy ra ở các thời gian khác nhau có thể tương đương với nhau
về giá trị kinh tế Sự tương đương có thể thiết lập cho một số thời đoạn về trước hoặc về sau so với một thời điểm chọn làm gốc thời gian
2.3.2 Các công thức tính giá trị tương đương
=(F/A,i%,n) F = A (F/A,i%,n)
d Cho F tìm A:
Trang 22Quản trị tài chính
A = F
1)1( n
i
)1(
1)1(
i
)1(
1)1(
)1(
n n
i
i i
(2.9)
Ký hiệu
1)1(
)1(
n n
i
i i
=(A/P,i%,n) A = P(A/P,i%,n)
2.4 Các ứng dụng
2.4.1 Xác định yếu tố lãi suất
Nếu như ta biết được giá trị tương lai, giá trị hiện tại của một khoản tiền và số kỳ hạn, ta có thể xác định được lãi suất như sau:
Từ công thức (2.4) hoặc (2.5), ta suy ra được công thức xác định i
Sau khi đã biết được giá trị tương lai, giá trị hiện tại của dòng tiền đều và số kỳ hạn lãi, ta
có thể dùng bảng tra và tìm ra được lãi suất i%
Ví dụ: Ông A muốn có một số tiền là 32 triệu đống cho con ông ta học đại học trong 5 năm
tới Ông dùng thu nhập từ tiền cho thuê nhà hằng năm là 5 triệu đồng để gửi vào tài khoản tiền gửi được trả lãi kép hằng năm Hỏi ông A mong muốn ngân hàng trả lãi suất bao nhiêu để sau 5 năm ông có được số tiền như kế hoạch?
i A
5 5
= 32
ta tìm được i 12%
Trang 23i
P F n
i A
5 5
2.4.3 Kế hoạch cho vay trả góp
Một trong những ứng dụng quan trọng của giá trị theo thời gian của tiền tệ là xác định các khoản trả trong hoạt động cho vay trả góp, tức là xác định số tiền, kể cả vốn gốc và lãi mà người
đi vay phải trả từng thời kỳ Đặc điểm của loại hình cho vay này là những khoản tiền định kỳ bằng nhau phải được thanh toán bao gồm cả lãi và gốc Các khoản này có thể được trả hằng tháng, quý, sáu tháng hay hằng năm
Ví dụ: Giả sử ta vay 220 triệu đồng với lãi suất 12%/năm, ghép lãi theo năm và phải trả
vốn và gốc và lãi trong vòng 6 năm đến Các khoản trả đều nhau phải được trả vào cuối mỗi năm Lưu ý là các khoản trả đều này phải bằng đúng với 220 triệu đồng cho vay với lãi suất 12%/năm Áp dụng công thức (2.9), ta có:
A = P
1)1
(
)1(
n n
i
i i
A = 220
1
%)121(
%)121
Trang 24Quản trị tài chính
khoản vốn gốc 220 triệu được hoàn trả Việc tách biệt lãi và vốn gốc rất quan trọng vì chỉ có lãi
là phần chi phí được giảm thuế
Bảng 2-1 Kế hoạch trả góp vốn vay 220 triệu đồng
Năm Tiền gốc đầu kỳ Tiền góp Tiền lãi Tiền gốc Tiền gốc còn lại
2.5 Các cách phát biểu về lãi suất
2.5.1 Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất có thời kỳ phát biểu lãi suất không trùng với thời gian ghép lãi Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được công bố và niêm yết Ví dụ: lãi suất 12% một năm nhưng ghép lãi nửa năm
Lãi suất thực (lãi suất hiệu dụng) là lãi suất mà thời kỳ ghép lãi và thời kỳ phát biểu lãi suất trùng nhau Ví dụ: lãi suất 12% một năm ghép lãi theo năm Lãi suất thực có được sau khi
đã điều chỉnh lãi suất danh nghĩa theo số lần ghép lãi trong thời gian phát biểu lãi suất danh nghĩa
2.5.2 Tính toán lãi suất thực
a Tính chuyển lãi suất thực ở các thời đoạn khác nhau
i2 = (1+i1)m - 1
i1: lãi suất thực có thời đoạn ngắn
i2: lãi suất thực có thời đoạn dài
m: số thời đoạn ngắn có trong thời đoạn dài
b Tính đổi lãi suất danh nghĩa sang lãi suất thực
i = (1+ r/m)m -1 i: lãi suất thực trong thời đoạn tính toán
r: lãi suất danh nghĩa trong thời đoạn phát biểu
m: số thời đoạn ghép lãi trong thời đoạn tính toán
Trang 25Quản trị tài chính
Ví dụ: Nếu một chương trình tiết kiệm đề xuất mức lãi suất danh nghĩa là 8%/năm, ghép lãi
theo quý cho một khoản đầu tư trong một năm, lãi suất thực hằng năm sẽ là:
%243,81)4
08,01(1
Chỉ khi lãi được ghép theo năm thì lãi suất thực hằng năm mới bằng lãi suất danh nghĩa là bằng 8%
Trên thực tế, lãi suất danh nghĩa thường được sử dụng trong các hợp đồng hoặc niêm yết tại ngân hàng Cần phải thận trọng khi sử dụng lãi suất này vào trong các tính toán cân nhắc khi
ra quyết định tài chính Lãi suất thực mới thực sự là cơ sở cho các so sánh và quyết định tài chính đối với mọi cá nhân hay tổ chức
Trang 26
Quản trị tài chính
CHƯƠNG 3
MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VỐN CAPM
3.1 Giới thiệu chung
3.1.1 Định nghĩa lợi nhuận và rủi ro
a Định nghĩa lợi nhuận
Lợi nhuận (return) là thu nhập có được từ một khoản đầu tư, thường được biểu thị bằng tỷ lệ
% giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra
Ví dụ:
Bạn bỏ ra 100 nghìn đồng để mua một cổ phiếu, được hưởng cổ tức 7 nghìn đồng một năm
và sau một năm giá trị thị trường của cổ phiếu đó là 106 nghìn đồng Như vậy lợi nhuận bạn có được khi đầu tư cho cổ phiếu này là (7+6)/100=13%
Công thức tính lợi nhuận từ đầu tư chứng khoán
Trong đó:
R: Lợi nhuận thực (hoặc kỳ vọng)
Dt: Cổ tức
Pt, Pt-1: Giá cổ phiếu ở thời điểm t và t-1
Nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo giá trị thực tế thì chúng ta có lợi nhuận thực tế, nếu lấy cổ tức và giá cổ phiếu theo giá trị kỳ vọng thì chúng ta có lợi nhuận kỳ vọng
b Định nghĩa rủi ro
Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng Giả
sử bạn mua trái phiếu Kho bạc để có được lợi nhuận là 8% Nếu bạn giữ trái phiếu này đến cuối năm thì bạn sẽ chắc chắn có được lợi nhuận 8% trên số tiền đầu tư ban đầu của mình Nếu bạn không mua trái phiếu mà dùng số tiền đó để mua cổ phiếu và giữ đến hết năm, bạn có thể có hoặc có thể không có được cổ tức như kỳ vọng Hơn nữa, cuối năm giá cổ phiếu cỏ thể lên và bạn sẽ được lời nhưng giá cổ phiếu cũng có thể xuống khiến bạn bị lỗ Kết quả là lợi nhuận thực
tế bạn nhận được có thể sai khác xa so với lợi nhuận bạn kỳ vọng
3.1.2 Đo lường rủi ro
Rủi ro là một sự không chắc chắn, một biến cố có khả năng xảy ra và cũng có khả năng không xảy ra Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với hai tham số đo lường phổ biến là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn
t-1
Trang 27Quản trị tài chính
E(R) = (Ri)(Pi)
Trong đó:
E(R): lợi nhuận kỳ vọng
Ri: lợi nhuận ứng với biến cố i
Pi: xác suất xảy ra biến cố i
Ví dụ: Bảng tính lợi nhuận kỳ vọng và phương sai
Lợi nhuận R i Xác suất P i (R i )(P i ) [R i – E(R)] 2 (P i )
c Hệ số biến đổi CV (Coefficient of Variation)
Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi so sánh rủi ro của hai dự án nếu như chúng rất khác nhau về quy mô
Ví dụ: xem xét hai dự án đầu tư A và B có phân phối xác suất như sau:
Trang 28Quản trị tài chính
đến sai lầm khi quy mô lợi nhuận kỳ vọng của 2 dự án này khác nhau Dự án B có độ lệch chuẩn 8% trong khi dự án A chỉ có 6% nhưng lệch 8% của quy mô lợi nhuận 1000$ sẽ rất nhỏ so với lệch 6% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng là 1 triệu dollar Để khắc phục tình trang này, chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi CV
CV = σ/E(R)
Quay trở lại ví dụ trên, dự án A có CV=0,75 trong khi dự án B có CV=0,33 Có thể nói dự án
A rủi ro hơn dự án B
3.1.3 Thái độ đối với rủi ro
Giả sử nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong hai cơ hội:
(1) Nhận được một số tiền chắc chắn (nhỏ hơn giá trị kỳ vọng) nhưng không kèm theo rủi ro (2) Nhận được một số tiền (lớn hơn giá trị kỳ vọng) nhưng kèm theo rủi ro
Nếu giá trị của khoản tiền chắc chắn là nhỏ, nhà đầu tư sẽ chấp nhận mạo hiểm để hy vọng
có khoản tiền lớn hơn Khi giá trị của khoản tiền chắc chắn tăng lên tới một mức nào dó nhà đầu
tư sẽ không cảm thấy khác biệt giữa việc chấp nhận mạo hiểm và việc nhận khoản tiền chắc
chắn Số tiền này được gọi là số tiền chắc chắn tương đương (certainty equivalance- CE)
CE (certainty equivalent): số tiền chắc chắn tương đương – là số tiền làm cho bạn nghĩ không
có sự khác biệt giữa việc lấy 1 khoản tiền nhỏ hơn nhưng không kèm rủi ro với việc nhận 1 số tiền lớn hơn nhưng kèm rủi ro
- Nếu CE< giá trị kỳ vọng: ngại rủi ro (risk aversion)
- Nếu CE = giá trị kỳ vọng: bàng quan với rủi ro (risk indifference)
- Nếu CE > giá trị kỳ vọng: thích rủi ro (risk preference
3.1.4 Lợi nhuận và rủi ro của một danh mục đầu tư
a Lợi nhuận của danh mục đầu tư:
Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng chứng khoán trong danh mục đầu tư Trọng số ở đây là tỷ trọng của từng chứng khoán trong danh mục đầu tư
Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau:
E
1
)(.)
(Trong đó:
Wj: trọng số của chứng khoán j;
Ej(R): lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán j
m: tổng số loại chứng khoán có trong danh mục
b Rủi ro của danh mục đầu tư:
Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư
Trang 29Quản trị tài chính
Không giống như lợi nhuận, việc xác định độ lệch chuẩn của danh mục rất phức tạp
do ảnh hưởng của yếu tố đồng phương sai (covariance), tức là mức độ quan hệ giữa rủi ro của các chứng khoán với nhau trong danh mục đầu tư
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức sau:
j m
k
k j k j
p: độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư
Wj: tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục
Wk: tỷ trọng của chứng khoán k trong danh mục m: số chứng khoán có trong danh mục
j,k: đồng phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán j và k
j,k=rj,kjkTrong đó,
rj,k: hệ số tương quan kỳ vọng giữa lợi nhuận của chứng khoán j và chứng khoán k
j: độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán j k: độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán k
3.2 Những giải định của mô hình định giá tài sản vốn- CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model) do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và được ứng dụng từ đó đến nay Đây là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận phi rủi ro cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó Còn rủi ro phi hệ thống không được xem xét trong mô hình này vì nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư để loại bỏ rủi ro này
Mặc dù còn có một số mô hình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn giản về khái niệm và có khả năng ứng dụng sát với thực tiễn Cũng như bất kỳ mô hình nào khác, mô hình này dựa trên những giả định nhằm đơn giản hóa hiện thực, nhưng nó vẫn cho phép chúng ta rút ra những ứng dụng hữu tích Đấy là sự đánh đổi giữa tính chất đơn giản và tính hiện thực khi phát triển mô hình Một mô hình xây dựng quá phức tạp sẽ khó ứng dụng nhưng quá đơn giản sẽ không phản ánh đúng hiện thực Do vậy cần có sự đánh đổi giữa sự đơn giản và hiện thực
Trong mô hình CAPM, chúng ta lưu ý những giả định sau:
- Thị trường vốn là hiệu quả và hoàn hảo: Một thị trường được xem là hiệu quả và
hoàn hảo khi nó hội đủ bốn yếu tố sau:
+ Nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ,
Trang 30Quản trị tài chính
+ Chí phí giao dịch không đáng kể, + Không hạn chế đầu tư
+ Không có nhà đầu tư đủ lớn để khống chế giá cả của 1loại chứng khoán nào đó
- Nhà đầu tư kỳ vọng nắm giữ chứng khoán trong thời kỳ 1 năm và có hai cơ hội đầu
tư là đầu tư vào chứng khoán phi rủi ro và đầu tư vào danh mục cổ phiếu thường trên thị trường
3.3 Nội dung của mô hình CAPM
3.3.1 Quan hệ giữa lợi nhuận cá biệt và lợi nhuận thị trường- Đường đặc thù chứng khoán
(The Security Characteristic Line)
Đường đặc thù chứng khoán là đường thẳng mô tả mối quan hệ giữa lợi nhuận của một chứng khoán cá biệt với lợi nhuận của danh mục đầu tư thị trường
Ví dụ minh họa: Xét đường đặc thù chứng khoán của cổ phiếu Remico so với danh mục
thị trường TSE 300 (Toronto Stock Exchange 300 Index)
Tình huống
Nền kinh tế Lợi nhuận thị
Tăng trưởng 15 (25x0,5)+(15x0,5) = 20 Suy thoái -5 (-5x0,5)+(-15x0,5) = -10
Đồ thị sau đây (Hình 3.1) mô tả quan hệ giữa lợi nhuận cổ phiếu và lợi nhuận thị trường
và hệ số
Hệ số :
Hệ số là hệ số đo lường mức độ biến động của lợi nhuận cổ phiếu cá biệt so với mức độ
biến động của lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường đo lường rủi ro của chứng khoán
Trang 31- Hệ số = 1 được định nghĩa như là hệ số của danh mục thị trường
3.3.2 Ước lượng trên thực tế
Trên thực tế các nhà đầu tư chứng khoán sử dụng mô hình hồi quy dựa trên số liệu lịch sử để ước lượng hệ số Ở các nước có thị trường tài chính phát triển, có một số công ty chuyên xác định và cung cấp thông tin về hệ số
Ví dụ: ở Mỹ có Standard&Poor’s Stock Reports, Market Guide,… Ở Canada: Burns Fry
Trang 323.3.3 Quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận
Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với rủi ro của chứng khoán đó, nghĩa là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán rủi ro cao sẽ có lợi nhuận cao và ngược lại Hay nói khác đi, nhà đầu tư giữ chứng khoán có rủi ro cao chỉ khi nào lợi nhuận kỳ vọng đó đủ lớn để bù đắp rủi ro Do đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ đồng biến với
hệ số của nó
Theo mô hình CAPM, mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro được diễn tả bởi công thức sau:
Rj = Rf + (Rm- Rf)
Rj: Lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu
Rf: Lợi nhuận phi rủi ro
Rm: Lợi nhuận kỳ vọng của thị trường
Hình 3.2 dưới đây mô tả quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán với hệ số của nó
Trang 33• =1: lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có = 1 chính là lợi nhuận thị trường Rm bởi
vì trong trường hợp này:
Rj = Rf + (Rm – Rf) j = Rf + Rm – Rf = Rm
• Quan hệ tuyến tính: quan hệ giữa lợi nhuận cổ phiếu và hệ số rủi ro là quan hệ tuyến tính được biểu diễn bởi đường thẳng SML có hệ số góc (Rm - Rf)
Ứng dụng CAPM cho danh mục đầu tư:
Hệ số của danh mục đầu tư được xác định qua công thức sau:
Wj là tỷ trọng của cổ phiếu j trong danh mục đầu tư
j là hệ số beta của cổ phiếu j trong danh mục đầu tư
Ví dụ:
Giả sử 1 danh mục đầu tư có 2 cổ phiếu A và Z với hệ số lần lượt là 1,5 và 0,7 Lợi nhuận phi rủi ro là 7% và lợi nhuận thị trường là 13,4% Tỷ trọng của 2 cổ phiếu này là bằng nhau Xác định hệ số và lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư
Hệ số của danh mục đầu tư là:
(0,5x1,5)+(0,5x0,7)=1,1
Trang 34Quản trị tài chính
Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là:
Rj = Rf + (Rm – Rf) j = 7 + (13,4-7).1,1= 14,04%
3.4 Ưu nhược điểm của mô hình CAPM:
Mô hình CAPM có ưu điểm là đơn giản và có thể ứng dụng trong thực tế Tuy nhiên nó không tránh khỏi những hạn chế
Những phát hiện bất thường khi áp dụng CAPM:
- Ảnh hưởng của quy mô công ty:
Người ta phát hiện rằng cổ phiếu của công ty có giá trị thị trường nhỏ đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu công ty có giá trị thị trường lớn nếu những yếu tố khác như nhau
- Ảnh hưởng của tỷ số PE (Price stock/Earning per share) và MB(Market value/Book value)
Cổ phiếu của những công ty có tỷ số PE và MB thấp đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của những công ty có tỷ số PE à MB cao
Những nghiên cứu và phát hiện của Fama & French:
- Hệ số không phải là biến duy nhất để giải thích lợi nhuận
- Quy mô và tỷ số MB là những biến ảnh hưởng mạnh nhất đến lợi nhuận cổ phiếu
Phản biện của các nhà nghiên cứu khác về phát hiện của Fama & French:
- Người ta cho rằng Fama và French giải thích lợi nhuận thị trường với hai biến dựa và giá trị thị trường cho nên không có gì nhạc nhiên khi thấy có sự tương quan rất cao giữa các biến này Fama và French đã quá tập trung vào biến lợi nhuận thay vì tập trung vào biến rủi ro, cho nên cũng không có nền tảng lý thuyết cho phản bác của họ
- Mặc dù hệ số tuy không phải là biến tốt để dự báo lợi nhuận nhưng là biến phù hợp
để đo lường rủi ro Đối với các nhà đầu tư ngại rủi ro, cung cấp cho họ thông tin làm cơ sở cho việc kỳ vọng vào một mức lợi nhuận tối thiểu Với tài chính công ty
hệ số vẫn hữu ích để hướng dẫn công ty phân bổ vốn vào các dự án đầu tư
3.5 Lý thuyết thị trường vốn và mô hình CAPM
3.5.1 Những giả định
Khi xây dựng lý thuyết thị trường vốn các nhà nghiên cứu đưa ra hai loại giả định: giả định liên quan đến hành vi của nhà đầu tư và giả định liên quan đến thị trường vốn
Những giả định về hành vi của nhà đầu tư
- Nhà đầu tư ra quyết định đầu tư dựa theo 2 tham số: Lợi nhuận kỳ vọng và Phương sai của lợi nhuận
Trang 35- Không có chi phí giao dịch và không có sự can thiệp nào ảnh hưởng đên cung cầu trên thị trường
- Nhà đầu tư có thể vay và cho vay ở mức lãi suất phi rủi ro
3.5.2 Đường thị trường vốn
Lý thuyết thị trường vốn xem xét danh mục đầu tư bao gồm tài sản phi rủi ro và danh mục đầu tư hiệu quả M, theo định nghĩa của Markowitz Tập hợp những sự kết hợp của danh mục này nằm trên đường thẳng kẽ từ trục tung ở điểm có lợi nhuận phi rủi ro đến điểm tiếp xúc
với đường giới hạn danh mục đầu tư hiệu quả, như được mô tả trên hình 3.3 dưới đây
Hình 3.3 Đường thị trường vốn
3.5.3 Công thức biểu diễn đường thị trường vốn
M
P F M F
Rp: Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư
σ p: Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư
σM: Độ lệch chuẩn của danh mục thị trường
Trang 36Quản trị tài chính
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 4.1 Mục tiêu phân tích tài chính
Phân tích tài chính có những tác dụng khác nhau đối với những đối tượng khác nhau
Đối với chủ nợ thương mại và ngắn hạn:
Các chủ nợ thương mại là những nhà cung cấp vốn thông qua hàng hóa và dịch vụ, họ liên quan trực tiếp đến công ty bởi các khoản nợ ngắn hạn, do việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ theo hình thức tín dụng thương mại Chính vì vậy, họ quan tâm đến khả năng phát sinh ngân quỹ để có thể đáp ứng các khoản nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tương tự như vậy, các ngân hàng thương mại, những người cấp vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp cũng sẽ có mối quan tâm tương tự
Đối với chủ nợ dài hạn:
Việc doanh nghiệp liên tục sản sinh ngân quỹ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong suốt thời hạn của khoản nợ là điều mà các chủ nợ dài hạn quan tâm nhất Họ sẽ cố đánh giá khả năng này bằng cách phân tích mức độ nợ, cấu trúc nguồn vốn, cấu trúc tài sản, đối chiếu nguồn và sử dụng vốn, khả năng sinh lợi theo thời gian và các dự đoán về khả năng sinh lợi trong tương lai
Đối với cổ đông:
Với các cổ đông, điều băn khoăn lớn nhất là khả năng thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra, khả năng sinh lợi và những rủi ro gắn với khoản đầu tư của họ thu nhập hiện tại và thu nhập
kỳ vọng cũng như khả năng ổn định của dòng thu nhập là điều mà họ quan tâm Vì vậy, các nhà đầu tư thường tập trung vào khả năng sinh lợi và quan tâm đến điều kiện tài chính của công ty vì nó ảnh hưởng đến khả năng trả cổ tức và khả năng vượt qua nguy cơ phá sản
Đối với nhà quản trị tài chính trong nội bộ công ty:
Bên trong công ty, các nhà quản trị cũng cần phải phân tích tài chính nhằm mục tiêu kiểm soát nội bộ và cung cấp nhiều thông tin hơn cho nhà cung cấp về điều kiện và hiệu quả tài chính của công ty Trong kiểm soát nội bộ, nhà quản trị tài chính đặc biệt quan tâm đến thu nhập trên đầu tư và hiệu quả trong công tác quản trị tài sản Ngoài ra, để thương lượng hiệu quả với các nguồn bên ngoài, nhà quản trị tài chính cần phải điều chỉnh tất cả các phương diện phân tích tài chính để các nhà cung cấp vốn bên ngoài sử dụng và đánh giá về công ty
4.2 Khuôn khổ phân tích tài chính
Trang 37Quản trị tài chính
Bước 2: Quyết định nhu cầu vốn của công ty
• Nhu cầu vốn quyết định hình thức tài trợ Nếu nhu cầu vốn có tính mùa vụ thì phải cần đến nguồn tài trợ ngắn hạn, đặc biệt là vốn vay ngắn hạn
• Rủi ro kinh doanh cũng ảnh hưởng đến hình thức tài trợ Rủi ro kinh doanh càng cao thì tài trợ bằng vốn vay càng ít hơn vốn chủ sở hữu
• Điều kiện tài chính và hiệu quả của công ty cũng ảnh hưởng đến hình thức tài trợ Khả năng thanh toán càng cao thì họ càng có cơ hội sử dụng hình thức tài trợ rủi ro hơn, nghĩa
là có thể sử dụng nhiều vốn vay hơn cũng như có thể sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn hơn
Bước 3: Thương lượng với nhà cung cấp vốn
4.3 Phương pháp phân tích tài chính
So sánh theo thời gian: Cho phép xác định khuynh hướng tài chính (đã, đang và sẽ
diễn ra) của công ty
So sánh theo không gian và các thông số ngành: Cho phép xác định độ lệch của
công ty so với bình quân ngành
4.4 Các nguồn thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính
Có 2 nguồn thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính là nguồn thông tin từ các báo cáo tài chính và nguồn thông tin khác
Phân tích tài chính không chỉ nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải tập hợp các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của DN, gồm:
Các thông tin chung
Các thông tin theo ngành kinh tế
Các thông tin của bản thân doanh nghiệp
4.5 Báo cáo tài chính
Khái niệm báo cáo tài chính:
BCTC là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các
sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc những thời kỳ nhất định
Các loại báo cáo tài chính
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (còn gọi là báo cáo thu nhập, báo cáo lỗ lãi)
- Báo cáo luân chuyển tiền tệ
- Báo cáo nguồn và sử dụng ngân quỹ
Tác dụng của báo cáo tài chính:
Cung cấp những thông tin cần thiết cho các đối tượng có quan tâm đến tình hình tài chính công ty:
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: tình hình sản xuất kinh doanh và triển vọng phát
triển của doanh nghiệp, tình hình huy động và sử dụng vốn, tình hình trả nợ, thu chi tài chính,…
Trang 38Quản trị tài chính
Đối với tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp (nhà đầu tư, ngân hàng, các đối tác kinh doanh,…): thực trạng kinh doanh, khả năng tài chính, tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn,
khả năng sinh lợi của doanh nghiệp,…
Đối với các cơ quan chức năng, quản lý Nhà nước: kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh
doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng Pháp luật hay không
4.5.1 Bảng cân đối kế toán
Khái niệm
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát giá trị tài sản hiện
có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định ( cuối ngày, cuối quý, cuối năm, thường là cuối năm) Do đó, các số liệu phản ánh trên Bảng cân đối kế toán được
sử dụng làm tài liệu chủ yếu khi phân tích tổng tài sản, nguồn vốn và kết cấu tài sản, nguồn vốn
Nội dung cơ bản của các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán:
Theo chế độ kế toán hiện hành, các chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán hầu hết thống nhất với tên gọi, nội dung các tài khoản cấp 1, cấp 2 Do đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trình bày
và cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý Cơ sở số liệu để trình bày các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán là số liệu do kế toán tài chính cung cấp, các số dư đầu năm và cuối năm của tài khoản kế toán sẽ được thể hiện ở số đầu năm và số cuối năm của Bảng cân đối kế toán
Kết cấu của Bảng cân đối kế toán gồm 2 phần chính: phần tài sản và phần nguồn vốn
a Phần tài sản:
Phần tài sản gồm các chỉ tiêu phản ánh toàn bộ trị giá tài sản hiện có tại một thời điểm Trị giá tài sản hiện có của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và các loại tài sản đi thuê được sử dụng lâu dài, trị giá các khoản nhận ký quỹ, ký cược,…Dựa vào tính chu chuyển của tài sản, Phần tài sản được chia thành 2 loại A và B
- Loại A: tài sản ngắn hạn, gồm các mục sau đây:
+ Tiền và các khoản tương đương tiền: bao gồm
Tiền mặt tại quỹ,
Tiền ngân hàng (loại không kỳ hạn),
Tiền đang chuyển,
Các khoản tương đương tiền: các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành lượng tiền xác định và không có rủi ro trong chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo
+ Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: gồm các chỉ tiêu phản ánh các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn khác và các khoản dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn Tỷ lệ khoản đầu tư tài chính ngắn hạn phụ thuộc vào từng thời kỳ và quan điểm chỉ đạo sản xuất kinh doanh của lãnh đạo doanh nghiệp
Trang 39Quản trị tài chính
+ Các khoản phải thu ngắn hạn: các chỉ tiêu thuộc khoản phải thu thể hiện số tiền doanh nghiệp phải thu của các đối tượng có liên quan như khách hàng, người bán, các khoản thuế được khấu trừ, các khoản phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác
+ Hàng tồn kho: các chỉ tiêu thuộc hàng tồn kho phản ánh tình hình dự trữ nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, thành phẩm hàng hoá phục vụ yêu cầu sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường
+ Tài sản ngắn hạn khác: các chỉ tiêu thuộc tài sản ngắn hạn khác bao gồm: chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu lại từ Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác
- Loại B: Tài sản dài hạn, gồm các mục sau:
+ Các khoản phải thu dài hạn: phản ánh toàn bộ các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn, các khoản thu dài hạn khác và số vốn kinh doanh đã giao cho các đơn vị trực thuộc tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ kinh doanh (sau khi đã trừ đi khoản dự phòng phải thu dài hạn khó đòi)
+ Tài sản cố định: Tài sản cố định trình bày trong Bảng cân đối kế toán bao gồm tài sản
cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính Ngoài việc phản ánh theo nguyên giá, các chỉ tiêu hao mòn tài sản cố định được phản ánh theo số âm (xxx) nhằm xác định giá trị thực tế còn lại đến thời điểm báo cáo Chỉ tiêu này còn phản ánh “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” Chi phí xây dựng cơ bản dở dang phản ánh giá trị xây dựng cơ bản còn dở dang chưa hoàn thành tại thời điểm trình bày báo cáo
+ Bất động sản đầu tư: phản ánh toàn bộ giá trị còn lại của các loại bất động sản đầu tư tại thời điểm báo cáo
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn: các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm đầu tư chứng khoán dài hạn, góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác và dự phòng giảm giá đầu
tư dài hạn Trong kinh doanh, tỷ trọng của các khoản này phụ thuộc vào mức độ mạo hiểm, mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác trên thương trường
+ Tài sản dài hạn khác: chỉ tiêu này phản ánh số chi phí trả trước dài hạn chưa phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh, tài sản thuế thu nhập hoãn lại và tài sản dài hạn khác như các khoản ký gửi, ký cược dài hạn để thực hiện một hợp đồng nào đó trong kinh doanh như vay vốn, xuất khẩu,…
Trang 40Quản trị tài chính
+ Nợ ngắn hạn: chỉ tiêu này gồm các khoản: vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải trả người lao động, chi phí phải trả, phải trả nội bộ, phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, các khoản phải trả phải nộp khác và các khoản dự phòng phải trả ngắn hạn
+ Nợ dài hạn: chỉ tiêu này gồm các khoản sau: phải trả dài hạn người bán, phải trả dài hạn nội bộ, phải trả dài hạn khác, vay và nợ dài hạn, thuế thu nhập hoãn lại phải trả, dự phòng trợ cấp mất việc làm, dự phòng phải trả dài hạn
- Loại B: vốn chủ sở hữu, gồm các mục sau:
+ Vốn chủ sở hữu: chỉ tiêu này gồm các khoản sau: vốn đầu tư của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác của chủ sở hữu, cổ phiếu quỹ, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản + Nguồn kinh phí và quỹ khác:
Ngoài ra, Bảng cân đối kế toán còn bao gồm các chỉ tiêu ngoài bảng Các chỉ tiêu này phản ánh tài sản không thuộc sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp được sử dụng và phải quản lý theo chế độ quản lý tài sản chung như vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công hoặc một số chỉ tiêu cần quản lý cụ thể, chi tiết nhằm diễn giải thêm về các tài sản trong bảng như chỉ tiêu ngoại tệ các loại…
Mẫu Bảng cân đối kế toán được trình bày tại Phụ lục III.1 của bài giảng Sau đây, để thuận lợi trong việc giải các bài tập, các bảng cân đối kế toán sẽ được trình bày dưới dạng tóm tắt
Ví dụ: Bảng cân đối kế toán công ty MicroDrive
(Tại ngày 31 tháng 12 năm 200x)
Đơn vị: Triệu đồng