Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, có vai trò hết sức quan trọng, tạo những cơ sở ban đầu hết sức cơ bản về tri thức, hình ảnh và phát triển nhân cách, giúp trẻ học lên các bậc học trên. Trong ch¬ương trình giáo dục ở Tiểu học, một trong những môn học có vị trí hàng đầu trong chư¬ơng trình là môn Tiếng Việt. Khi trẻ đến trư¬ờng công việc đầu tiên của các em là phải học đọc, học viết. biết đọc, biết viết con ngư¬ời có khả năng tiếp nhận thông tin, trao đổi thông tin. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì đọc, viết ngày càng quan trọng vì nó giúp ngư¬ời ta sử dụng ngôn ngữ thông tin, vì vậy việc dạy đọc, dạy viết có ý nghĩa rất quan trọng.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH
TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH TÂN 1
=======================
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3
Họ và Tên: Lê Hồng Huyên Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thanh Tân 1 SKKN thuộc môn : Tiếng việt
NHƯ THANH NĂM 2013
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
I LỜI NÓI ĐẦU:
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng, có vai trò hết sức quan trọng, tạo những
cơ sở ban đầu hết sức cơ bản về tri thức, hình ảnh và phát triển nhân cách, giúp trẻ học lên các bậc học trên Trong chương trình giáo dục ở Tiểu học, một trong những môn học có vị trí hàng đầu trong chương trình là môn Tiếng Việt Khi trẻ đến trường công việc đầu tiên của các em là phải học đọc, học viết biết đọc, biết viết con người có khả năng tiếp nhận thông tin, trao đổi thông tin Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì đọc, viết ngày càng quan trọng vì nó giúp người ta sử dụng ngôn ngữ thông tin, vì vậy việc dạy đọc, dạy viết có ý nghĩa rất quan trọng
Như chúng ta đã biết, môn Tiếng Việt ở Tiểu học là một trong những môn học giữ vị trí vô cùng quan trọng Mục tiêu chính của môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe - nói - đọc - viết) để học sinh học và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức đơn giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội tự nhiên, về con người, về văn hoá, văn học Việt Nam
và nước ngoài
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt là hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học được chia thành nhiều phân môn như: Tập đọc, tập viết, chính tả, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn Mỗi phân môn đều có mục đích và nhiệm vụ riêng của nó song đều có một điểm chung là hình thành và phát triển bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết Riêng phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong dạy học Tiếng Việt xét trên hai phương diện:
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt
do các phân môn khác rèn luyện và cung cấp, đồng thời góp phần hoàn thiện
Trang 3chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, học sinh phải hoàn thiện cả bốn
kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết, phải biết vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt, qua từng phân môn mà trở thành công cụ giao tiếp tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn góp phần thực hiện mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt Tập làm văn là thước đo đánh giá kết quả học tập và giảng dạy môn Tiếng Việt
Để làm được một bài văn hay, có sáng tạo là rất khó Học sinh phải nắm chắc các kiến thức về thể loại, hệ thống các kĩ năng phân tích các vấn đề, tím ý, lập dàn ý Đặc biệt kiến thức về các kiểu bài tập làm văn, không chỉ dừng lại
ở việc nắm vững từng thể loại văn mà học sinh cần phải có vốn văn học điều đó phải được tích luỹ trong quá trình lĩnh hội tri thức của từng phân môn cùng với khả năng quan sát tinh tế, giàu trí tưởng tượng, giàu tư duy hình tượng, vốn từ phong phú và điều quan trọng là các em được nói, được viết, được nhận xét và đánh giá kết quả
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn, đồng thời phấn đấu hoà nhập với sự đổi mới chung của ngành giáo dục Bản thân không ngừng tìm tòi, sáng tạo, phát huy hết khả năng của chính minh nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài:
"Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3"
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tập làm văn là trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức, kĩ năng tổng hợp từ nhiều phân môn khác nhau như: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu để làm một bài văn học sinh phải sử dụng 4 kĩ năng " nghe, nói, đọc ,viết"phải vận dụng những kiến thức về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập văn bản trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụng
Trang 4Tiếng việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy Tập làm văn được coi là phân môn
có tính tổng hợp, toàn diện sáng tạo có liên quan mật thiết đến các môn học khác Trên cơ sở nội dung , chương trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ nét hơn Ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế Chính vì vậy dạy tốt các phân môn khác không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kĩ năng nói, viết, cách hành văn cho học sinh
Điều này đòi hỏi phân môn Tập làm văn này phải có nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giúp cho học sinh quá trình luyện tập lâu dài có ý thức, nắm được cách viết
và cáh nói sáng tạo các văn bản theo nhiều phong cách khác nhau
- Phân môn này góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy, hình thành nhân cách cho học sinh
Tóm lại: Dạy phân môn tập làm văn theo hướng đổi mới khích lệ học sinh, tích
cưc, sáng tạo chủ động học tập, biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành ngôn bản văn bản Nói cách khác các phân môn trong Tiếng việt là phương tiện hỗ trợ cho việc dạy Tập làm văn được tốt hơn
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1 Thực trạng việc học phân môn tập làm văn của HS lớp 3, Trường Tiểu học Thanh Tân 1:
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 3, phân môn tập làm văn trang bị cho học sinh một số hiểu biết và kĩ năng học tập vào đời sống hằng ngày, kĩ năng kể chuyện và miêu tả Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy: học sinh làm bài nhưng các em chưa hiểu yêu cầu của đề nên còn lúng túng dẫn đến tình trạng dùng từ sai, câu văn bị lặp, không đủ ý, dùng từ tối nghĩa, không đảm bảo số lượng câu…
Là một giáo viên nhiều năm giảng dạy ở lớp 3, tôi rất băn khoăn và trăn
trở: Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi
luôn suy nghĩ phải tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập làm văn Với tầm quan trọng và yêu cầu của tiết dạy tôi nhận thấy giáo
Trang 5viên cần đi đến những thống nhất chung Phải đầu tư tận tình cho tiết dạy, xác định rõ những kiến thức cần cung cấp theo một quy trình nhất định, các hình thức luyện tập nhất định thì tiết học mới thành công, kết quả mới đạt như mong muốn, mới thực hiện được mục tiêu giáo dục đã đề ra "Đào tạo con người phát triển toàn diện"
2- Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Từ thực trạng trên đối tượng khảo sát của tôi là học sinh lớp 3A - trường Tiểu học Thanh Tân 1 do tôi phụ trách và trực tiếp giảng dạy năm học 2012 -2013
Toàn lớp tôi có 22 học sinh, trong đó có 14 em nam và 8 em nữ
Dân tộc : 15em Kinh : 7 em
Tôi bắt đầu kiểm tra phân loại học sinh Qua khảo sát điều tra đối tượng cụ thể cho thấy:
Viết không biết ngắt nghỉ cụm từ trong câu 5 22,7
Từ tình hình thực tế này tôi đã tạo ra một thế chủ động Tôi bắt tay ngay vào việc lựa chọn phương pháp giảng dạy, truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm thực hành cho học sinh
III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 3:
Hiện nay việc dạy các kiểu bài tập làm văn lớp 3 được thiết kế thành một
số giải pháp chung như sau:
1- Giải pháp thứ nhất: Hướng dẫn học sinh làm bài tập.
Trong một tiết tập làm văn lớp 3 không có tiết cung cấp lý thuyết mà chỉ qua thực hành: một là nói, hai là viết Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh
tự rút ra những điều cần nhớ - cần biết
Xét theo kĩ năng được rèn luyện có các loại sau: Bài tập về kỹ năng phục
vụ học tập và đời sống hàng ngày như điền vào các từ in sẵn, viết thư, làm đơn,
Trang 6tổ chức họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp và trường, ghi chép sổ tay bài tập kể chuyện (kể về một sự việc đơn giản) và bài tập miêu tả (tả sơ lược về người và vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi)
Xét theo mục đích có các loại bài tập sau: bài tập nhận diện, bài tập phân tích lời nói, bài tập tạo lập lời nói qua các bài tập mà các em nghe - hiểu được ý kiến của bản, có thể nêu ý kiến bổ sung nhận xét
Xét về hình thức của bài tập có các loại bài tập sau: Trả lời câu hỏi, quan sát tranh và trả lời câu hỏi, đọc văn bản - trả lời câu hỏi
Kể lại chuyện đã học hoặc đã được nghe, nói và viết theo mẫu cho sẵn nói
và viết theo tình huống giao tiếp, kể hoặc tả theo yêu cầu
Những bài tập đã có, nhưng làm sao để có cách hướng dẫn học sinh làm bài tập? Vì vậy người giáo viên phải:
Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải thích), chẳng hạn bài yêu cầu ta làm gì? Giáo viên giải thích cụ thể
Người giáo viên còn giúp các em học sinh chữa một phần của bài tập hay làm mẫu hoặc hướng dẫn chi tiết cụ thể (một học sinh làm mẫu trên bảng lớp hoặc cả lớp làm bài vào vở,nêu kết quả) Qua đó, giáo viên quan sát, uốn nắm cho học sinh
Ngoài ra giáo viên phải là người tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét
về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức
2 Giải pháp thứ hai: Là phải đánh giá kết quả thực hành, luyện tập ở lớp và hướng dẫn hoạt động nối tiếp (ở ngoài lớp sau tiết học)
Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết quả của bản thân trong quá trình luyện tập Giáo viên tóm tắt, nhận xét chung (cần khen nhiều, biểu dương những em tốt) Yêu cầu, hướng dẫn học sinh thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp (viết bài ở nhà, thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kỹ năng đã học và thực tế cuộc sống)
Qua hai biện pháp trên, tôi thấy, giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động học của học sinh Tuy nhiên trong khi hướng dẫn nếu có em gặp lúng
Trang 7túng thì giáo viên có thể nhắc nhẹ nhàng giúp các em có thể nhớ lại Nếu học sinh nói thiếu chính xác thì giáo viên cũng không nên ngắt lời mà chỉ nhận xét khi các em kể xong Giáo viên phải động viên, khuyến khích các em kể tự nhiên, hồn nhiên như là kể trong gia đình, với bạn bè Loại văn này đối với học sinh lớp 3 yêu cầu sáng tạo là kể một cách tự nhiên, lời kể đơn giản, sống động Biết dựa vào chuyện trong chừng mực vừa thêm cụ thể Các em chỉ cần kể với những tình tiết, nhân vật nguyên bản Không khuyến khích học sinh thay những từ ngữ được chọn rất chính xác bằng từ ngữ khác, không coi việc học sinh kể học thuộc lòng là thiếu sáng tạo, kể một cách sinh động như hoà mình vào câu chuyện
Ví dụ: Quan sát một ảnh lễ hội, tả lại quang cảnh và hoạt động của những
người tham gia lễ hội (Tuần 25- SGK trang 64)
Giáo viên phải gợi ý: Quan sát kĩ tranh và trả lời: Quang cảnh trong từng bức ảnh như thế nào? Những người tham gia lễ hội đang làm gì?
Giáo viên cho từng cặp học sinh quan sát hai tấm ảnh, trao đổi, bổ sung, nói cho nhau nghe về quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội trong từng ảnh
Nếu học sinh lúng túng chưa tìm ra được thì giáo viên đưa ra một số câu hỏi nhỏ phù hợp với nội dung bức tranh
VD: bức tranh một vẽ cảnh ở đâu? Mọi người trên sân với những bộ quần
áo như thế nào?
Với những biện pháp trên thì học sinh sẽ làm tốt và đầy đủ ý hơn, giáo viên phải quan sát đồng thời nhiều cặp học sinh để kịp thời giúp đỡ động viên
Giáo viên và học sinh cùng bình chọn nhận xét (về lời kể, diễn đạt), bình chọn người quan sát tinh tế, giới thiệu tự nhiên, hấp dẫn nhất
Để đánh giá được bài văn kể chuyện lớp 3 thì cách đánh giá kết quả thực hành luyện tập không chỉ phải có giáo viên mà chính bản thân học sinh cùng tham gia
IV CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DẠY CÁC KIỂU BÀI TẬP LÀM VĂN LỚP 3:
1- Biện pháp dạy văn kể chuyện:
a/ Nghe và kể lại câu chuyện:
Trang 8- Cho học sinh nghe giáo viên kể câu chuyện để nhớ kỹ những nhân vật chính và chi tiết nổi bật
- Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện
- Dựa vào câu hỏi để kể theo trình tự câu chuyện, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện diễn biến và kết thúc câu chuyện
- Liên kết các đoạn văn thành bài văn trọn vẹn diễn ý bằng lời văn của chính mình
Giáo viên là người tổ chức điều khiển hoạt động học của học sinh theo các biện pháp dạy học sau:
- Giúp học sinh nắm được yêu cầu của bài và gợi ý theo câu hỏi sách giáo khoa (giáo viên viết lên bảng lớp những câu hỏi gợi ý làm điểm tựa cho học sinh nhớ chuyện)
+ Truyện tên là gì?
+ Truyện có những ai?
+ Diễn biến ra sao?
+ Kết quả thế nào?
- Học sinh dựa vào đó để kể lại bằng lời của mình
- Học sinh viết bằng những lời mình kể ở trên thành một đoạn văn đúng
về nội dung và ngữ pháp, có mối quan hệ và ý để tạo một đoạn văn thống nhất
VD: Nghe và kể lại câu chuyện Người bán quạt may mắn (Tuần 24 – SGK trang 56)
- HS quan sát tranh minh hoạ và đọc câu hỏi gợi ý
- Giáo viên kể lần 1 xong, nêu một số câu hỏi để làm điểm tựa cho học sinh nhớ nội dung câu chuyện
+ Tên truyện
+ Truyện có những nhân vật nào?
+ Bà lão bán quạt gặp ai và phàn nàn điều gì?
+ Ông Vương Chi Hi viết những chữ vào chiếc quạt để làm gì?
+ Vì sao mọi người đua nhau đến mua quạt?
- Giáo viên kể lần 2; 3
Trang 9- Học sinh kể lại câu chuyện theo nhóm, giáo viên theo dõi giúp đỡ các nhóm
- Đại diện các nhóm có trình độ tương đương thi kể
- Giáo viên và cả lớp nhận xét cách kể của mỗi học sinh (khuyến khích và động viên học sinh)
- Giáo viên nêu một số câu hỏi về nộidung câu chuyện:
+ Qua câu chuyện này, em biết gì về Vương Chi Hi?
+ Em biết thêm nghệ thuật gì qua câu chuyện này?
- Giáo viên và học sinh bình chọn những bạn kể hay nhất, hiểu câu chuyện nhất; những bạn chăm chú nghe bạn kể, nhận xét chính xác về lời kể của bạn
b/ Kể về người thân, lễ hội, hoạt động thể thao – văn nghệ…
- Giáo viên hướng dẫn học sinh kể sơ lược theo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập bằng lời giải thích, bằng cách làm mẫu của 1 đến 2 học sinh
- Giáo viên gợi ý học sinh quan sát tranh vẽ hoặc trả lời từng câu hỏi (có thể dựa vào gợi ý trong sách giáo khoa để bổ sung câu hỏi dẫn dắt)
- Học sinh nhớ lại các sự hay chi tiết đã quan sát để tập diến thành từng câu, từng đoạn
- Trong các bài tập kể chuyện, yêu cầu nói – viết đoạn văn, bài văn thường xác định rõ trong sách giáo khoa (từ 5 đến 7 hoặc 10 câu) Khi thực hành luyện tập tuỳ theo trình độ, học sinh có thể nói (viết) nhiều hơn 7 (10) câu, nhưng giáo viên không yêu cầu học sinh viết thành bài văn có bố cục đầy đủ, hoàn chỉnh như lớp 4;5
- Đối với các bài tập đồng dạng, giáo viên có thể chọn cho học sinh làm tại lớp một phần trong số các bài tập ấy
- Đối với bài tập yêu cầu viết từ 5 đến 7 câu, học sinh chỉ cần đảm bảo yêu cầu tối thiểu là viết 5 câu
VD: Kể về người hàng xóm mà em quý mến (Tuần 8 – trang 68)
Trang 10- HS dựa theo câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa (có điều chỉnh) tập kể về người hàng xóm mà em quý mến bằng những câu văn ngắn gọn (bài tập 1), sau
đó ghép lại thành bài văn ngắn (từ 5 – 7 câu, bài tập 2)
Bài tập 1:
a/ Người hàng xóm mà em quý mến tên là gì? bao nhiêu tuổi? (Bác Lan ở
kề bên nhà em là người hàng xóm mà em quý mến Năm nay bác đã ngoài sáu mươi tuổi.)
b/ Người đó làm nghề gì? (Tuy tuổi đã cao nhưng bác vẫn tham gia làm công việc đồng áng.)
c/ Tình cảm của gia đình em đối người hàng xóm như thế nào? (Cả nhà
em đều thương bác Lan vì các con của bác đều đi công tác xa Những lúc sang chơi nhà bác, có việc gì khó là gia đình em sẵn sàng giúp đỡ bác.)
d/ Tình cảm của người hàng xóm đối với gia đình em như thế nào? (Bác đối xử với gia đình em bằng tình cảm mộc mạc và chân thành Có lần mẹ em bị cảm nắng, bác vội sang để đánh gió cho mẹ giúp em, giúp em nấu cháo cho mẹ ăn
Bài tập 2: Bác Lan ở kề bên nhà em là người hàng xóm mà em quý mến.
Năm nay bác đã ngoài sáu mươi tuổi Tuy tuổi đã cao nhưng bác vẫn tham gia làm công việc đồng áng Cả nhà em đều thương bác Lan vì các con của bác đều
đi công tác xa Những lúc sang chơi nhà bác, có việc gì khó là gia đình em sẵn sàng giúp đỡ bác Bác đối xử với gia đình em bằng tình cảm mộc mạc và chân thành Có lần mẹ em bị cảm nắng, bác vội sang để đánh gió cho mẹ giúp em, giúp em nấu cháo cho mẹ ăn
2- Biện pháp dạy văn miêu tả:
Dạy văn miêu tả lớp 3, giáo viên cần hướng dẫn các em:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tả sơ lược theo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập bằng lời giải thích, bằng cách làm mẫu
- Giáo viên gợi ý học sinh quan sát tranh vẽ hoặc trả lời từng câu hỏi (có thể dựa vào gợi ý trong sách giáo khoa để bổ sung câu hỏi dẫn dắt)