1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn tốt nghiệp Giáo dục giới tính cho học sinh

86 10,3K 62

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 899,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài.1.1. Cơ sở lý luận. Hiện nay, xã hội càng phát triển thì đời sống con người ngày càng được cải thiện hơn với mục tiêu hình thành nên thế hệ sau có sự phát triển về thể chất và tinh thần một cách toàn diện, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, cho sự phát triển bền vững của xã hội. Một trong những mục tiêu phát triển toàn diện con người hướng vào thế hệ trẻ là giáo dục giới tính cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiểu biết cho các em về giới tính, định hướng các em trong mối quan hệ với bạn khác giới, với con người và gia đình. Giáo dục giới tính có ý nghĩa xã hội quan trọng trên cả hai phương diện chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện quy chế tổ chức cho sinh viên Đại học chính quy làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp theo quyết định số 55/QĐ – ĐHHĐ Ngày 28/8/2006 của Hiệu trưởng trường Đại học Hồng Đức Năm 2013 trường đã tổ chức cho sinh viên cuối khóa các chuyên ngành nói chung và sinh viên K12 Tâm lý họ (định hướng Quản trị nhân sự) nói riêng làm khóa luận (khóa học 2009– 2013).

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, và người thân.

Trước hết, em xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn sâu sắt đến các thầy giáo, cô giáo khoa Tâm lý – Giáo dục đã cung cấp cho các em kiến thức trong 4 năm học qua để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sỹ Dương Thị Thoan – cô giáo trực tiếp hướng dẫn đã nhiệt tình dẫn dắt, tận tâm chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đề tài.

Xin chân thành cảm ơn các em học sinh trường THCS Xuân Yên đã giúp

em trong quá trình điều tra thu thập số liệu thực tiễn.

Cảm ơn các bạn trong lớp đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như chia sẻ tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi làm tốt đề tài của mình.

Trong quá trình nghiên cứu do còn nhiều hạn chế về năng lực bản thân thời gian thực hiện, nên luận văn không tránh khỏi sai sót và hạn chế, rất mong

sự đóng góp ý kiến của qúy thầy cô và các bạn để những công trình nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !

Thanh Hóa, tháng 5 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Liên

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

Mục Tên chương, mục và tiểu mục Trang

Lời cảm ơnDanh mục bảng, biểu đồ

3 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu 5

Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề “ Thái độ của học

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục và giáo dục giới tính 8

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về thái độ giáo dục giới tính 151.2 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 171.2.1 Thái độ của học sinh THCS đối với giáo dục giới tính 17

1.2.2 Cơ sở lý luận chung về giới tính, giáo dục giới tính 22

1.2.2.2.1 Định nghĩa về giáo dục giới tính 23

1.2.3 Thái độ của học sinh THCS đối với giáo dục giới tính 26

1.2.3.2 Một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi học sinh

1.2.3.3 Thái độ của học sinh THCS đối với giáo dục giới tính 32

Chương 2 THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS XUÂN YÊN,

36

Trang 4

HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA2.1 Một vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 362.2 Thái độ đối với vấn đề giáo dục giới tính của học sinh

trường THCS Xuân Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 362.2.1

Thực trạng thái độ đối với vấn đề giáo dục giới tính của

học sinh trường THCS Xuân Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh

Thanh Hóa

362.2.1.1 Nhận thức của học sinh THCS về giáo dục giới tính 362.2.1.2 Thái độ đối với vấn đề giáo dục giới tính của học sinh

trường THCS Xuân Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 492.2.1.3 Biểu hiện hành vi của học sinh THCS khi học môn giáo

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của học sinh THCS đối

với vấn đề giáo dục giới tính

61

2.2.2.1 Những khó khăn của học sinh THCS khi tìm hiểu và học

các nội dung của chương trình giáo dục giới tính 61

Trang 5

Bảng 3 Nhận thức của học sinh THCS về ý nghĩa của giáo dục giới

Bảng 4 Nhận thức của học sinh THCS về sự hình thành giới tính. 44

Bảng 5 Nhận thức về các nội dung cần có trong chương trình giáo

Bảng 6 Nhận thức của học sinh THCS về khái niệm giới tính 47

Bảng 7 Hứng thú của học sinh THCS với giáo dục giới tính. 49

Bảng 8 Lí do học sinh THCS tham gia học các nội dung giáo dục

Bảng 9 Mức độ quan tâm của học sinh THCS về giới tính và giáo

dục giới tính

54

Trang 6

Bảng 10 Hành vi của học sinh trong các giờ có nội dung giáo dục giới

Bảng 11 Biểu hiện của học sinh THCS trong các giờ học giáo dục

giới tính

59

Bảng 12 Những khó khăn của học sinh THCS khi tìm hiểu và học

các nội dung của chương trình giáo dục giới tính

61

Bảng 13 Các hình thức giáo dục giới tính phù hợp 63

Bảng 14 Thái độ của cha mẹ khi con tìm hiểu các vấn đề giới tính 65

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Mức độ hứng thú của học sinh THCS đối với giáo dục

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Cơ sở lý luận.

Hiện nay, xã hội càng phát triển thì đời sống con người ngày càng được

cải thiện hơn với mục tiêu hình thành nên thế hệ sau có sự phát triển về thể chất

và tinh thần một cách toàn diện, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, cho sựphát triển bền vững của xã hội

Một trong những mục tiêu phát triển toàn diện con người hướng vào thế

hệ trẻ là giáo dục giới tính cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiểu biết cho các

em về giới tính, định hướng các em trong mối quan hệ với bạn khác giới, vớicon người và gia đình Giáo dục giới tính có ý nghĩa xã hội quan trọng trên cảhai phương diện chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống

Chúng ta đều biết thái độ là một hiện tượng tâm lý được nghiên cứunhiều trong tâm lý học xã hội Thái độ là sự đánh giá tốt hay xấu của cá thểđược hình thành trên tri thức hiện có và bền vững về một khách thể hay một ýtưởng nào đó quy định phương hướng hành động Nói cánh khác, thái độ làtrạng thái tinh thần có tính đặc trưng của con người, đó là sự sẵn sàng phản ứngvới một đối tượng nào đó liên quan đến chủ thể và nó được tổ chức thông quakinh nghiệm, sự hiểu biết của con người Thái độ có tác dụng điều chỉnh, ảnhhưởng hoặc tác động từ hành vi hoặc tình huống hoặc khánh thể mà nó thamgia Sự đánh giá thái độ là đánh giá theo hướng cụ thể, là thái độ tiêu cực hoặctích cực, không có thái độ một cách chung chung không rõ ràng

Mặt khác, thái độ của con người đối với hiệu quả hoạt động cũng đượcbiểu hiện rất đa dạng và phong phú Khi con người càng tham gia hoạt độngphong phú đa dạng, biểu hiện ra bên ngoài càng nhiều thì nó thể hiện tính tíchcực càng rõ nét Ngược lại khi con người ít có biểu hiện thì nó thể hiện tính tiêucực Thái độ đối với vấn đề giáo dục giới tính có ý nghĩa rất lớn đến sự hìnhthành và phát triển nhân cách của học sinh.Việc hình thành thái độ tích cực đốivới vấn đề giáo dục giới tính sẽ góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em,cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống

Trang 9

Giáo dục giới tính cho học sinh là bộ phận quan trọng của nội dunggiáo dục toàn diện và có ý nghĩa rất thiết thực, cần được nhà trường phối hợpchặt chẽ với gia đình và xã hội thực hiện nghiêm túc, phù hợp với tâm sinh lýtừng lứa tuổi để đào tạo cho xã hội một thế hệ công dân mới có đầy đủ kiến thức

về giới, về giới tính, có quan niệm sống đúng đắn, tiến bộ, quan niệm về tìnhyêu, tình bạn trong sáng, sống có trách nhiệm với gia đình, xã hội, biết coi trọngtình người, quý trọng mạng sống và yêu quý người khác giới Giáo dục giới tínhtrong trường học là một hình thức quan trọng và hiệu quả nhằm nâng cao kiếnthức, thái độ và hành vi cho thanh thiếu niên Tính hiệu quả của các chươngtrình giáo dục giới tính ở trường học bao gồm các nội dung tập trung như tránhthai, mang bầu, sinh đẻ, cách thức từ chối quan hệ tình dục hoặc vấn đề nhưviệc ý thức học các môn học như sinh học, các buổi học ngoại khóa Để cónhững công dân phát triển toàn diện Đức- Trí- Thể- Mĩ thì ngoài việc trang bịcho các em những tri thức khoa học cơ bản, tri thức nghề nghiệp thì cần cungcấp cho các em tri thức về tâm sinh lý, các vấn đề về giới tính của chính mình,

từ đó giúp các em hình thành thái độ và kỹ năng giao tiếp ứng xử, thái độ lịch sựvăn minh đúng chuẩn mực giáo dục cho học sinh THCS là nhằm trang bị nhữngkiến thức về tâm lý, cung cấp cho học sinh những hiểu biết về vấn đề giới tính,đặc điểm giới tính của mỗi giới, Qua đó hình thành nên thái độ tích cực ở các

em đối với vấn đề giới tính Đó cũng chính là nội dung của giáo dục giới tính

1.2 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay, trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước giáodục giới tính đang là một vấn đề hết sức cấp bách Tuy nhiên một thực tế hiệnnay cho thấy, ở các nước Á Đông, cụ thể là Việt Nam quan niệm về giới tính,tình dục, tình yêu còn rất hạn chế, có đôi phần khắt khe Nên các bậc cha mẹthường ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nhạy cảm vì sợ làm hư con cái,

là vẽ đường cho hươu chạy, với suy nghĩ đến khi nào lớn các em sẽ tự biết.Hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chung chung không rõ ràng càng gây nhiềuthắc mắc cho con cái những vấn đề về giới tính tình bạn, tình yêu Trong khi đóchương trình giáo dục giới tính ở nhà trường chỉ giải quyết được phần nào thắc

Trang 10

mắc ở lứa tuổi này Những vấn đề về tình bạn, tình yêu, tâm sinh lý tuổi dậy thì,vấn đề giới, thông tin về kế hoạch hoá gia đình và tránh thai, thông tin về các bộphận thân thể, các bệnh lây nhiễm qua dường tình dục là những điều mà hiệnnay học sinh chưa được trang bị kiến thức một cách đầy đủ Nhà trường, xã hội

và gia đình vẫn chưa đáp ứng nhu cầu chính đáng này của các em Mặt khác, ởnước ta vấn đề giới tính ở tuổi vị thành niên còn rất nhiều vùng cấm nên họcsinh không được nói, được thể hiện những hiểu biết và những thắc mắc cần thiếtcủa mình Sự “lệnh pha” quá lớn giữa hai thế hệ, hai hệ tư tưởng, hai quan niệmsống, hai nhu cầu xã hội của người lớn và trẻ vị thành niên đã đẩy các em vàotình trạng “đói khát” kiến thức, thông tin về giới tính Sự trái ngược giữa quanđiểm giáo dục với “đất lề quê thói” cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp

Đó chính là nguyên dẫn đến những hành vi thiếu hiểu biết và phải đón nhậnnhững hậu quả đau lòng Trước đây trong một thời gian dài, có một số ý kiếncực kỳ sai lầm, cho rằng con người có khả năng tự định hướng một cách tựnhiên và hầu như tự động trước vấn đề thuộc quan hệ thầm kín giữa nam và nữ;rằng việc thảo luận rộng rãi và toàn diện đề tài này, việc tuyên truyền nhữngkiến thức dù trên cơ sở khoa học chăng nữa, cũng đều là thiếu đạo đức, dung tục

và có khả năng đưa đến những quan tâm không lành mạnh về vấn đề quan hệnam nữ và đưa đến tình trạng suy đồi đạo đức” [22, tr.17]

Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức về vấn đề giới tính, cũng giốngnhư tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lý

và đạo đức con người.” [11, tr.102]

Độ tuổi THCS, là giai đoạn phát triển rất quan trọng của cuộc đời Chưa

là người lớn song cũng không còn là trẻ con nên các em vẫn bỡ ngỡ trước các

hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, tò mò và ham muốn khám phá Có rất nhiều

những học sinh quan tâm tới các vấn đề sức khoẻ sinh sản, các em còn mongmuốn nhận biết được các thông tin mang tính chất chính xác và có tính giáo dụccao Mỗi đối tượng quan tâm và muốn tìm hiểu một nội dung khác nhau Bên

Trang 11

cạnh đó vẫn còn số lượng lớn thanh thiếu niên còn e dè, ngại ngùng và khôngmấy hưởng ứng khi nói đến vấn đề này, các em không dám tìm hiểu về nó.

Ví dụ, trong giờ môn sinh học khi cô giáo nói về các bộ phận sinh dụctrên cơ thể thì phần lớn phản ứng của các em là đều cúi măt xuống bàn

Một số học sinh do nhận thức về giao tiếp nam nữ yếu kém hoặc sai lầm,

dễ có hành vi cư xử với bạn khác giới một cách suồng xã, thô bạo Họ thườngnói năng thô tục, ăn mặc lố lăng bất lịch sự nơi công cộng, phá rối trật tự xã hội.Ngày nay tình trạng các em yêu sớm, yêu đương mù quáng, nếp sống sinh hoạtnam nữ trụy lạc một số em yêu kiểu tự do, tình yêu không cần hôn nhân, sốnggấp, sống thử những biểu hiện trên đây là kết quả của sự nhận thức sai lầm vềtình yêu, một lĩnh vực tình cảm rất phức tạp, nhưng cũng hết sức quan trọng củađời sống giới tính con người, trong tuổi trẻ Các em bỏ cả học hành, ăn chơi tráctáng hủy hoại đi nhân cách và rơi vào vòng xoáy tội lỗi Một số khá đông các

em hiện nay theo quan niệm tình dục tự do, tình dục không hôn nhân, yêuđương quá sớm dẫn tới tình trạng quan hệ lang chạ, có thai ngoài ý muốn, mắccác bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nạo phá thai bị biến chứng tình trạngnạo phá thai hiện nay càng tăng trong lớp trẻ và gây nhiều hậu quả tai hại

Vì vậy, đối với vấn đề giáo dục giới tính cần trang bị cho các em nhữnghành trang vững chắc để bước vào đời, tránh những hậu quả khôn lường do sựthiếu hiểu biết Hiện nay đã có chương trình lồng ghép nội dung giáo dục giớitính vào một số môn ở trường THCS, song chưa được mở rộng và gần như mớidừng lại ở mức thử nghiệm Điều này dẫn đến nhận thức về các vấn đề này ởcác em tại các trường học không sâu sắc, và đặc biệt sẽ là thiệt thòi cho các em

ở một số trường chưa áp dụng chương trình giáo dục giới tính

Từ thực trạng trên thúc đẩy tôi đi sâu tìm hiểu thái độ đối với giáo dụcgiới tính nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng thái độ đối với vấn đề giáo dục giớitính của học sinh trường THCS Xuân Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, từ

Trang 12

đú đề xuất một số cỏc giải phỏp gúp phần hỡnh thành thỏi độ đỳng đắn đối vớicụng tỏc này.

2 Mục đớch nghiờn cứu.

Tỡm hiểu thực trạng thỏi độ đối với vấn đề giỏo dục giới tớnh của học sinhtrường THCS Xuõn Yờn, huyện Thọ Xuõn, tỉnh Thanh Húa, cỏc yếu tố ảnhhưởng đến thỏi độ của học sinh đối với vấn đề giỏo dục giới tớnh Từ đú đề xuấtmột số giải phỏp nhằm nõng cao hiệu quả của cụng tỏc này

3 Khỏch thể và đối tượng nghiờn cứu.

3.1 Khỏch thể nghiờn cứu.

170 học sinh trường THCS Xuõn Yờn, huyện Thọ Xuõn, tỉnh Thanh Húa

3.2 Đối tượng nghiờn cứu.

Thỏi độ đối với vấn đề giỏo dục giới tớnh của học sinh trường THCS XuõnYờn, huyện Thọ Xuõn, tỉnh Thanh Húa

- Đề xuất một số biện phỏp nhằm nõng cao hiệu quả của cụng tỏc giỏo dụcgiới tớnh

5 Giới hạn phạm vi nghiờn cứu.

5.1 Nội dung nghiờn cứu

Đề tài tập trung nghiờn cứu thực trạng thỏi độ đối với vấn đề giỏo dục giới tớnhcủa học sinh trường THCS Xuõn Yờn, huyện Thọ Xuõn, tỉnh Thanh Húa Chia theo khối:

Khối lớp 6: 82 học sinh

Khối lớp 9: 88 học sinh

Trang 13

Tôi chọn khối đầu cấp (lớp 6) và khối cuối cấp (lớp 9) để so sánh xem sựkhác nhau về độ tuổi và giới tính có dẫn đến sự khác nhau về thái độ đối với vấn

đề này hay không?

5.2 Phạm vi không gian

Nghiên cứu tại trường THCS Xuân Yên,Thọ Xuân, Thanh Hóa

5.3 Phạm vi thời gian

Đề tài được thực hiện từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2013

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và xây dựng các khái niệm công cụcũng như các giả thuyết nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đọc các loại sách, báo, Weside đề cập đến vấn đề giới tính và giáo dụcgiới tính, tham khảo các tài liệu giáo dục dân số, tài liệu hướng dẫn giảng dạygiáo dục dân số cũng như chương trình giảng dạy giáo dục giới tính tại trườngTHCS

Từ phương pháp trên, tôi tìm ra tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề

mà tôi nghiên cứu Qua đó đề ra được cách thức tiến hành điều tra và có ý kiến

đề xuất phù hợp

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra

Xây dựng bộ phiếu điều tra để tiến hành điều tra chính thức

Dành cho học sinh nhằm khảo sát thực trạng về thái độ của học sinhtrường THCS Xuân Yên đối với giáo dục giới tính

Sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau như: Câu hỏi lựa chọn, câu hỏikín, câu hỏi mở nhằm điều tra mức độ về nhận thức, thái độ, hành vi của họcsinh về vấn đề giới tính

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Trang 14

Sử dụng phương pháp này tôi nhằm thu thập thông tin đầy đủ, chính xáchơn về thái độ của học sinh trường THCS Xuân Yên đối với giáo dục giới tính

bổ trợ cho quá trình điều tra bằng phương pháp bảng hỏi

6.2.3 Phương pháp quan sát

Thông qua hoạt động và giao tiếp sẽ giúp chúng ta tìm hiểu thêm vềnhững biểu hiện thái độ của học sinh Quan sát học sinh trong các giờ học, giờchơi nhằm tìm hiểu biểu hiện thái độ đối với giáo dục giới tính, và cách ứng xửcủa học sinh nam và nữ thông qua hoạt động

Dùng để tính điểm đạt được của từng mệnh đề và của từng yếu tố

+ Tần suất và chỉ số phần trăm các phương án trả lời của các câu hỏi đóng

và câu hỏi mở

7 Đóng góp mới của đề tài

- Bổ sung và góp phần hoàn thiện khái niệm thái độ của học sinh đốivới giáo dục giới tính

Trang 15

- Đánh giá được thực trạng thái độ của học sinh trường THCS XuânYên đối với vấn đề giáo dục giới tính và đề xuất một số kiến nghị nhằm hìnhthành thái độ đúng đắn của học sinh trường THCS Xuân Yên nói riêng và tronghọc sinh nói chung về giáo dục giáo dục giới tính.

Trang 16

PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG I:

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề “Thái độ của học sinh đối với giáo dục giới tính”.

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về giáo dục và giáo dục giới tính

1.1.1.1 Trên thế giới:

Vấn đề giới tính nói chung và giáo dục giới tính nói riêng đã được

nghiên cứu từ thế kỉ XX và mặt khác mỗi một vùng, lãnh thổ, quốc gia khácnhau với những nền văn hóa đặc trưng thì có những thái độ khác nhau về giáodục giới tính Cụ thể:

Liên Xô và các nước Đông Âu:

V.I Lênin cho rằng cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đềquan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình được coi là vấn đề cấp bách Cácnhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học về y học, giáo dục học, tâm lý học đãđưa ra nhiều quan điểm khoa học về việc giáo dục giới tính cho con người vàcoi đó là nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh Bên cạnh đó họcũng đưa ra nhiều phương hướng quan trọng trong việc giáo dục giới tính ởLiên Xô A.X Macarenco khẳng định vai trò cần thiết và quan trọng của giáodục giới tính đồng thời đưa ra những nguyên tắc, nội dung, phương hướngGDGT cho học sinh GDGT được xem là một mặt của giáo dục nhân cách toàndiện cho học sinh, tuy nhiên GDGT cũng chưa được chấp nhận rộng rãi Vàonhững năm 30 của thế kỉ XX, GDGT được nghiên cứu toàn diện hơn về nộidung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện Đặc biệt đến năm 1981, hội đồng

bộ trưởng Liên Xô (cũ) ra chỉ thị cho tất cả các trường THCS trong cả nướcthực hiện chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất cụ thể cho các cấp.Hơn nữa, nội dung chương trình giáo dục ở hai lớp cuối cấp II (lớp 8 và lớp 9)

có thêm một môn học là đạo đức học và tâm lý học đời sống gia đình với nhữngnội dung cũng khá phong phú và bổ ích Việc thực hiện nội dung đề ra vẫn chưathống nhất Đến năm 1960, GDGT mới được khẳng định và nghiên cứu rộng rãi,

Trang 17

hoàn chỉnh dần GDGT được nghiên cứu sâu về mục đích, nội dung phươngpháp…

Các nước Đông Âu như: Đức, Balan, Hungrari, Tiệp Khắc và các nướcTây Âu, Bắc Âu đều coi giáo dục tình dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự docho con người vì vậy họ quan niệm: cần nói rõ cho mọi người hiểu biết nhữngquy luật hoạt động tình dục Chương trình GDGT của họ rất đa dạng, các trường

có thể tự chọn các vấn đề phù hợp với đối tượng để giảng dạy

Châu Âu:

Năm 1942, Bộ GD Thuỵ Điển thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhàtrường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho các bậc học từ tiểu học đến trunghọc Tại Thụy Điển, giáo dục giới tính là môn học bắt buộc trong trường học từnăm 1956 và bắt đầu cho học sinh lớp 4 hoặc lớp 6 đến các cấp học cao hơn Họcsinh không những có được các kiến thức sinh học liên quan đến giới tính mà cònđược học cả quá trình lịch sử của giới tính, tình dục và tính dục

Tại Pháp, các chương trình giáo dục giới tính trong nhà trường ở đócũng từ năm 1973 Có khoảng 30 - 40 giờ học giới tính dành cho học sinh lớp 8

và lớp 9, cuối khóa học các em được làm quen và học cách sử dụng bao cao su.Tháng 2/2000, Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên đài truyềnhình và sóng phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổthông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả

Tại Đức, năm 1959 nhiều tài liệu về giáo dục giới tính đã được nghiêncứu công phu Vấn đè giáo dục giới tính được tiến hành rộng rãi, đặc biệt từnhững năm 70 chương trình giáo dục giới tính trong trường học bao gồm cácvấn đề như dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý của tuổi mới lớn, hoạt động tình dục,phòng tránh thai và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, thế nào là lạm dụngtình dục, Bên cạnh đó họ còn sử dụng hệ thống truyền thông để giáo dụcchuyên đăng tải các chủ đề thắc mắc của tuổi mới lớn về giới tính, tình yêu, tìnhbạn

Tại Anh, các chương trình về giáo dục giới tính là bắt buộc đối với họcsinh Họ cung cấp các kiến thức chung về giới tính như tại các nước châu Âukhác và tập trung vào khía cạnh làm thế nào để có quan hệ tình dục an toàn Tỷ

Trang 18

lệ trẻ em mang thai ở Anh cao nhất châu Âu và cũng là đề tài gây đau đầu cácnhà quản lí

Năm 1968, đại hội đồng Liên Hiệp quốc bắt đầu có những hoạt động vềgiáo dục dân số và đi liền với hoạt động ấy, GDGT lại được quan tâm hơn nữavới giáo dục dân số trong việc triển khai các nội dung ấy đến với học sinh cáccấp

Khoảng những năm 1970, 1980 việc GDGT có nên đưa vào trường họcbắt đầu được quan tâm thực sự và từ đó 4 khuynh hướng về GDGT được xuấthiện:

+ Bắt buộc thực hiện trong tất cả các trường phổ thông như: Thuỵ Điển, ĐanMạch, …

+ Hoan nghênh và bước đầu công nhận hợp pháp hoá như: Ba lan, Thuỵ Sĩ,

Châu Á:

Giáo dục giới tính được thừa nhận là cần thiết và cũng đã được thựchiện những nội dung giáo dục giới tính trong trường học ở các quốc gia như:Nhật Bản, Thái Lan, Singgapo, Philippin…Riêng ở Philippin, giáo dục giới tínhđược đưa vào chương trình nội khoá của trường THCS và PTTH Ở nước này cónhiều cải tiến về phương pháp, hình thức giảng dạy nhưng nổi lên hết là nộidung giáo dục giới tính đáp ứng được nhu cầu của học sinh cũng như bắt đầuđược xã hội thừa nhận

Ấn Độ thì có chương trình đặc biệt dành cho học sinh trong nhà trườnglứa tuổi 9 đến 16 Các chủ đề về giới tính sẽ được học sinh và giáo viên trao đổimột cách thẳng thắn với nhau Những cuộc trao đổi đó có thể trở thành những

Trang 19

cuộc tranh luận sôi nổi, giúp giáo viên nắm bắt được nhu cầu thông tin giới tínhcủa học sinh mình để định hướng hiệu quả hơn.

Châu Mỹ:

Tại Mỹ, hầu hết các trường học đều đưa giáo dục giới tính vào chươngtrình học của học sinh lớp 7- 12, nhiều nơi bắt đầu từ lớp 5, lớp 6 Học sinh tiếpcận với kiến thức giới tính thuộc 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung chiếm 58%hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề chiếm 34% Tuy nhiên, Mỹ lại làmột trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới, tỷ lệnhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng là cao nhất

Châu Phi:

Giáo dục giới tính ở châu lục này tập trung vào việc đẩy lùi nạn dịchAIDS Hầu hết các chính phủ ở đây đều cố gắng thiết lập những chương trìnhgiáo dục về AIDS hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức phichính phủ

Ở Ai Cập, các giáo viên giảng dạy cho học sinh (từ 12 - 14 tuổi) nhữngkiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạtđộng, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai Đồng thời, Bộ trưởng Y tế và Giáodục của nước này đã làm việc cùng với những người đứng đầu của tổ chứcUNICEFF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) tìm cách đưa giáo dục giới tính vềnhững miền quê xa xôi nhằm ngăn chặn hủ tục lạc hậu và nguy hiểm là cắt bỏ

âm vật của các bé gái

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Giáo dục giới tính đang là vấn đề đang được tập trung nghiên cứu ở nước

ta và thu hút được sự quan tâm của xã hội Các nội dung giáo dục giới tínhđược đề cập và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau như: báo cáo khoahọc, chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những ngườitham dự có các em học sinh dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng vấn

đề giáo dục giới tính bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiềunhà khoa học Đặc biệt hơn Ngày 24 tháng 12 năm 1984 chủ tịch hội đồng Bộtrưởng Phạm Văn Đồng ký chỉ thị 176a trong đó nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ đại

Trang 20

học và trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức

có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khoá nhằm bồi dưỡngcho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính về hôn nhân và gia đình,

về nuôi dạy con”

Bộ giáo dục đã ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tínhtrong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước vớikhối lượng nội dung và chương trình tương ứng

Đến năm 1985, các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính, nội dunggiáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình lần lượt được thừa nhận.Nhiều nhà khoa học như: Trần Trọng Thuỷ, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, PhạmHoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan…đó nghiên cứu những mặt khác nhau xungquanh giáo dục giới tính như: nhu cầu, nguyện vọng, dư luận xã hội, nội dung…

Ngay sau đó, cũng năm 1985 Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp phốihợp với công đoàn ngành Đại học tổ chức hội thảo và giáo dục giới tính chosinh viên các trường đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn,cán bộ tuyên huấn…ở các trường đại học và trung học chuyên nghiệp phía namtại thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính nhằm hỗ trợ cho việcđưa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh một cách chính xác, khoahọc và hiệu quả

Nổi bật nhất vẫn là việc khẳng định vai trò cần thiết của giáo dục giới tính

đối với thanh niên nói chung và học sinh nói riêng Tuy nhiên nội dung giáo dục

giới tính vẫn chưa thật sự đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhiều người vìđiều kiện kinh phí, thời gian…

Đến năm 1988, được sự tài trợ của UNEPA cùng với sự giúp đỡ kỹ thuậtcủa UNESCO khu vực, Bộ giáo dục - đào tạo đã giao cho Viện Khoa học giáodục Việt Nam thực hiện đề án VIE/ 88/P09 với sự chỉ đạo của nhiều nhà khoahọc như: Trần Trọng Thuỷ, Ngô Đặng Minh Hằng Đề án đó nghiên cứu sâurộng các vấn đề như:

+ Quan niệm về tình yêu, tình dục trong hôn nhân và ngoài hôn nhân+ Quan niệm về đời sống gia đình và kế hoạch hoá gia đình

+ Nguyện vọng đối với việc học tập về đời sống gia đình

Trang 21

Nội dung của đề án thể hiện sự thể nghiệm giáo dục đời sống gia đình vàgiới tính cho học sinh lớp 9, 10, 11, 12 ở nước ta Trong đó, những nội dunggiáo dục đời sống gia đình là trọng tâm ở chương trình lớp 10, 11; những nộidung giáo dục giới tính nằm trọng tâm ở chương trình lớp 9 và lớp 12 Đây làlần đầu tiên học sinh được học một cách có hệ thống về “những điều bí ẩn” củachính mình và của mối quan hệ với người khác giới.

Từ năm 1986 đến năm 1991 Bùi Ngọc Oanh với đề tài nghiên cứu

“Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên họcsinh” một lần nữa khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính trong nhàtrường trung học cơ sở, phân tích một số yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáodục giới tính của các em, nhưng biểu hiện trong đời sống giới tính của lứa tuổicũng như bước đầu vạch ra một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận giáo dụcgiới tính của học sinh THCS

Ngoài ra, cũng có một số đề tài khác cũng nghiên cứu xung quanh vấn đềnày như:

+ Đề tài nghiên cứu “Nhận thức thái độ của sinh viên trường Cao đẳng sưphạm Mẫu giáo Trung ương I về giáo dục giới tính ” của tác giả Thái Lan Chimột lần nữa đề cập đến nhận thức và thái độ xung quanh vấn đề này song giớihạn nghiên cứu của đề tài là vấn đề giới tính và giáo dục giới tính, đối tượngnghiên cứu lại chỉ là những sinh viên sư phạm - những người sẽ làm công tác giáodục giới tính cho các em học sinh sau này chứ không phải là những chủ thể đíchthực của quá trình giáo dục giới tính

Ngày 5 - 11 năm 2004, tại Hà Nội, khoa Thông tin Ứng dụng trường ĐHRMIT đã ký kết bản ghi nhớ giữa khoa và viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội(ISDS) về việc tiến hành khảo sát đối với các du học sinh VN và làm việc vớinhững nhà thiết kế web trẻ để thực hiện những trang web về sức khoẻ giới tính

và HIV dành cho thanh thiếu niên Cùng năm đó Lê Ngọc Bích với luận vănthạc sĩ "Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THCS Hà Nội với giáodục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, những giải pháp trong thời gian tới"

Năm 2007 Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũngnghiên cứu về những hiểu biết của giới trẻ về giới tính, sức khoẻ sinh sản Kết

Trang 22

quả đã cho thấy đa số thanh niên VN đều biết ít nhất một biện pháp tránh thai,nhưng có tới 80% số thanh niên lại không biết sử dụng bao cao su trong lầnquan hệ tình dục đầu tiên

Trước đây trong một thời gian dài, có một số ý kiến cực kỳ sai lầm, chorằng con người có khả năng tự định hướng một cách tự nhiên và hầu như tựđộng trước vấn đề thuộc quan hệ thầm kín giữa nam và nữ; rằng việc thảo luậnrộng rãi và toàn diện đề tài này, việc tuyên truyền những kiến thức dù trên cơ sởkhoa học chăng nữa, cũng đều là thiếu đạo đức, dung tục và có khả năng đưađến những quan tâm không lành mạnh về vấn đề quan hệ nam nữ và đưa đếntình trạng suy đồi đạo đức.”

Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức về vấn đề giới tính, cũng giốngnhư tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lý

và đạo đức con người.” [31, tr.13]

Gần đây việc nghiên cứu về giáo dục giới tính đã được xã hội quan tâmnhiều và được tiến hành một cách hệ thống khoa học Dần dần vấn đề này ngàycàng đánh giá đúng đắn và đầy đủ hơn

Như vậy, có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo

dục giới tính với các góc độ khác nhau: nhận thức, thái độ, thực trạng Tuynhiên trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường đãđưa VN nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới Song mặt trái của nó đã tácđộng rất lớn đến thế hệ trẻ VN Thông qua mạng thông tin toàn cầu Internet vàcác loại sách báo, văn hoá phẩm độc hại… giới trẻ VN đã tiếp cận những “trithức” ngoài luồng dẫn đến sự tò mò muốn tìm hiểu, khám phá bản thân và bạnkhác giới dẫn đến những hậu quả không lường Vì thế vấn đề giáo dục giới tínhcàng trở nên cấp bách không chỉ cho riêng các em học sinh mà còn là vấn đềcủa ngành giáo dục và toàn xã hội

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu thái độ.

Thái độ được 2 nhà tâm lý học người Mỹ là W.I Thomas và F.Znaniekinghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1918 Hai ông nghiên cứu thái độ của nhữngngười nông dân Balan di cư sang Mỹ thông qua sự thích ứng của họ trước những

Trang 23

thay đổi của môi trường sống cũng như sự thay đổi của các giá trị Họ đưa ra nhậnđịnh: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị nào đó.

Sau đó nhà tâm lý học người Nga P.N Shikhiev đã chia quá trình nghiêncứu vấn đề thái độ thành ba thời kì:

+ Thời kì thứ nhất: Từ khi khái niệm thái độ được sử dụng đầu tiên vàonăm 1918 đến trước chiến tranh thế giới thứ II Đây là thời kì phát triển mạnh

mẽ với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa, cấu trúc,chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ đối với hành vi

+ Thời kì thứ 2: Từ chiến tranh thế giới lần thứ II đến cuối những năm 50.+ Thời kì thứ 3: Cuối những năm 50 trở lại đây Các công trình nghiêncứu thái độ cũng được tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới Nhiều thuyếtđược hình thành làm cơ sở lý luận để lý giải quan hệ như: "Thuyết bất độngnhận thức" của Leon Festinger đã lý giải tại sao hành vi lại ảnh hưởng đến thái

độ của con người

Có thể thấy trong thời kì đầu thế kỉ XX đến nay, trong các nghiên cứu vềthái độ ở phương tây nhằm giải quyết những vấn đề trong thực tiễn như: vậnđộng tranh cử, bầu cử, tiếp thị, tuyên truyền cũng như nghiên cứu các dạng thái

độ đã định hình sẵn để có thể dự báo hành vi của cá nhân khi họ vấp phải cáckhó khăn, trở ngại

Những nghiên cứu về Thái độ ở Liên Xô trước đây:

Người đầu tiên đặt vấn đề thái độ khi nghiên cứu về tính cách là A.PhLazuski Ông đưa ra quan niệm về thái độ trong các nghiên cứu như: năng lực(1909), công trình nghiên cứu về nhân cách trong mối quan hệ với môi trường(1912), phân loại nhân cách (1917 - 1924) theo ông thái độ là khía cạnh quantrọng của nhân cách

Sau đó, dựa trên nghiên cứu của A.Ph Lazuski Mác xít, V.N Miasiev đãxây dựng "Học thuyết thái độ nhân cách" Ông đã chỉ ra khái niệm, phân loạithái độ, thông số đo thái độ với các chỉ số khác nhau, đồng thời khẳng định cơ

sở sinh lý học của thái độ có ý thức ở con người là phản xạ có điều kiện.Miasiev chia thái độ ra làm hai loại: thái độ tích cực và thái độ tiêu cực Cùngvới các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý, thái độ là một trong những hình

Trang 24

thức thể hiện tâm lý người Tuy nhiên ông lại cho rằng các quá trình tâm lý nhưnhu cầu, hứng thú, tình cảm đều là thái độ Việc xếp ngang hàng quan hệ xãhội với thái độ là chưa thoả đáng, cũng như coi thuộc tính tâm lý của nhân cách

là thái độ chưa có cơ sở

Những năm cuối thế kỉ XX, khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trùcủa tâm lý học, B.V Lomov đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân cách Thái

độ chủ quan có tính chất nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động Cơ sở khoa họccủa thái độ chủ quan là sự chế định của quan hệ xã hội, là sự hình thành thái độchủ quan thông qua hoạt động và giao tiếp

Như vậy, khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ các nhà tâm lý học Liên

Xô đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu,với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như là một hệ thống, từ đóđưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí, chức năngcủa thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về thái độ giáo dục giới tính

+ Đề tài nghiên cứu “Nhận thức thái độ của sinh viên trường Cao đẳng sưphạm Mẫu giáo Trung ương I về giáo dục giới tính ” của tác giả Thái Lan Chimột lần nữa đề cập đến nhận thức và thái độ xung quanh vấn đề này song giớihạn nghiên cứu của đề tài là vấn đề giới tính và giáo dục giới tính, đối tượngnghiên cứu lại chỉ là những sinh viên sư phạm - những người sẽ làm công tácgiáo dục giới tính cho các em học sinh sau này chứ không phải là những chủ thểđích thực của quá trình giáo dục giới tính

+ Từ năm 1986 đến năm 1991 Bùi Ngọc Oanh với đề tài nghiên cứu

“Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên họcsinh” một lần nữa khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính trong nhàtrường trung học cơ sở, phân tích một số yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáodục giới tính của các em, nhưng biểu hiện trong đời sống giới tính của lứa tuổicũng như bước đầu vạch ra một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận giáo dụcgiới tính của học sinh THCS

+ Ngày 5 - 11 năm 2004, tại Hà Nội, khoa Thông tin Ứng dụng trường

ĐH RMIT đã ký kết bản ghi nhớ giữa khoa và viện Nghiên cứu Phát triển Xã

Trang 25

hội (ISDS) về việc tiến hành khảo sát đối với các du học sinh VN và làm việcvới những nhà thiết kế web trẻ để thực hiện những trang web về sức khoẻ giớitính và HIV dành cho thanh thiếu niên Cùng năm đó Lê Ngọc Bích với luậnvăn thạc sĩ "Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh THCS Hà Nội vớigiáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, những giải pháp trong thời gian tới".

+ Năm 2007 Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũngnghiên cứu về những hiểu biết của giới trẻ về giới tính, sức khoẻ sinh sản Kếtquả đã cho thấy đa số thanh niên VN đều biết ít nhất một biện pháp tránh thai,nhưng có tới 80% số thanh niên lại không biết sử dụng bao cao su trong lầnquan hệ tình dục đầu tiên

Trước đây trong một thời gian dài, có một số ý kiến cực kỳ sai lầm, chorằng con người có khả năng tự định hướng một cách tự nhiên và hầu như tựđộng trước vấn đề thuộc quan hệ thầm kín giữa nam và nữ; rằng việc thảo luậnrộng rãi và toàn diện đề tài này, việc tuyên truyền những kiến thức dù trên cơ sởkhoa học chăng nữa, cũng đều là thiếu đạo đức, dung tục và có khả năng đưađến những quan tâm không lành mạnh về vấn đề quan hệ nam nữ và đưa đếntình trạng suy đồi đạo đức.”

Trong khi đó “chính việc thiếu kiến thức về vấn đề giới tính, cũng giốngnhư tình trạng dốt nát khác, lại là điều nguy hiểm và có phương hại đến tâm lý

và đạo đức con người.” [12, tr.29]

Gần đây việc nghiên cứu về thái độ giáo dục giới tính đã được xã hộiquan tâm nhiều và được tiến hành một cách hệ thống khoa học Dần dần vấn đềnày ngày càng đánh giá đúng đắn và đầy đủ hơn

* Tóm lại: Có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ giáo

dục giới tính với các góc độ khác nhau: nhận thức, thái độ, thực trạng Tuynhiên trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường đãđưa VN nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới Song mặt trái của nó đã tácđộng rất lớn đến thế hệ trẻ VN Thông qua mạng thông tin toàn cầu Internet vàcác loại sách báo, văn hoá phẩm độc hại… giới trẻ VN đã tiếp cận những “trithức” ngoài luồng dẫn đến sự tò mò muốn tìm hiểu, khám phá bản thân và bạn

Trang 26

khác giới dẫn đến những hậu quả không lường Vì thế vấn đề giáo dục giới tínhcàng trở nên cấp bách không chỉ cho riêng các em học sinh mà còn là vấn đềcủa ngành giáo dục và toàn xã hội.

1.2 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

1.2.1 Thái độ của học sinh THCS đối với giáo dục giới tính.

1.2.1.1 Cơ sở lý luận chung về thái độ

Theo từ điển thuật ngữ tâm lý và phân tâm học:

Thái độ là 1 trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài,hướng vào sự ứng xử 1 cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định,không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Mộtthái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhómđối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hoạt động

có liên quan đến đối tượng

Cho đến năm 1935, nhà tâm lý học Mỹ G.W.Allport định nghĩa: Thái độ

là sự sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinhnghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của

cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó cú thiết lập mối quan hệ Thái

độ nảy sinh bên trong con người trước, sau đó mới biểu lộ ra bên ngoài và thái

độ là sản phẩ của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhucầu của chủ thể [22, tr.241]

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm thái độ

Theo từ điển tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện thì trước một đối tượngnhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó

Trang 27

khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý tạo rađịnh hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ có sẵn, tri giác về đối tượngcũng như tri thức bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắn liền với tâm thế

Trong từ điển tâm lý học (Vũ Dũng – chủ biên ) thì lại cho rằng: Thái độ

là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chốngđối như có sẵn những cơ cấu tâm lý ra định hướng cho việc ứng phó [13, tr.42]

Trong Tâm lý học xã hội thì quan niệm "Thái độ" là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái

độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân [28, tr.170].

Qua những khái niệm trên ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định đến khía

cạnh tâm lý cá nhân trong thái độ Các tác giả đều cho rằng thái độ là cái gì đórất riêng của cá nhân như là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là sự sẵn sàngcủa cơ thể Tuy nhiên, thái độ không chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân

mà phải được xem xét trong mối quan hệ với những yếu tố khác như mối quan

hệ với người khác và cả trong mối quan hệ phức tạp và đa dạng của xã hội

Thái độ không chỉ mang tính chất cá nhân mà còn mang tính xã hội.Thông thường thái độ mang tính chất rất riêng tư của cá nhân vì mỗi cá nhân làmột chủ thể nhất định, song chính cá nhân lại tồn tại và sống trong một xã hộinhất định cho nên xã hội đã chi phối rất rõ thái độ của con người Như vậy thái

độ phải được xem xét dưới khía cạnh xã hội

* Nhà xã hội học Mỹ G V Onparte tóm tắt thành năm đặc trưng củakhái niệm thái độ đó là:

+ Trạng thái ý thức và hệ thần kinh

+ Biểu hiện sự sẵn sàng hành động

+ Tính tổ chức (sắp xếp theo thứ bậc)

+ Hình thành trên cơ sở kinh nghiệm

+ Có ảnh hưởng đến định hướng và hoạt động [17, tr.34]

* Lênin định nghĩa về thái độ như sau:

Trang 28

"Thái độ là một bộ phận lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của cá nhânđối với hiện thực Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nêncũng phản ánh tồn tại xã hội chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xãhội, của dư luận và tập đoàn xã hội Nó thường không phải là những đáp ứngđược biểu lộ một cách minh thị hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển

hoá thành hành động [12, tr 48] Như vậy khái niệm thái độ là một khái niệm mang tính chất phức tạp và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi sử dụng định nghĩa: "Thái độ là trạng thái tâm

lý chủ quan của cá nhân sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng tâm nhất định đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức - xúc cảm, tình cảm và hành vi của chủ thể trong những tình huống, những biểu hiện nhất định"

Mặt bên trong của thái độ hay còn có thể gọi là thái độ bên trong khôngphải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn và "nguyên xi" mà thái

độ bên trong này có thể giấu kín nếu như cảm thấy cần che giấu, khi đó chủ thể

sẽ kìm chế, đè nén và không biểu hiện thái độ của mình

Khi con người tỏ thái độ hay biểu hiện thái độ được gọi là mặt bên ngoàicủa thái độ Mặt bên ngoài của thái độ là khi con người muốn biểu lộ một thái

độ đó như là một sự cần thiết hoặc khi chủ thể không ý thức là cần phải che giấu

mà biểu lộ ra bên ngoài một cách tự nhiên Thái độ của con người có thể biểuhiện một cách rõ ràng song cũng có thể được che giấu Nhưng ngay khi thái độđược biểu hiện thì thái độ có thể biểu hiện một cách chân thực, rõ ràng nhưngcũng có thể biểu hiện một cách giả dối và không chân thực

Thái độ của con người mang tính cá nhân nhưng bao giờ cũng chịu sựchi phối bởi những yếu tố xã hội nhất định như: Những yếu tố tâm lý xã hội, dưluận xã hội, phong tục tập quán Thực sự phải thừa nhận rằng thái độ tồn tại ởmỗi người khác nhau song việc biểu thị thái độ hay công khai thái độ đó chomọi người cùng biết lại là chuyện khác Trước khi tỏ thái độ con người thườngxem xét những yếu tố xã hội xung quanh mình xem có cho phép hay không, cóphù hợp hay không?

Trang 29

Mặt khác thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ làgiai đoạn nảy sinh trước động cơ song chính thái độ góp phần trong việc hìnhthành động cơ và nó lại là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động.

Thái độ thường được phân chia theo hai hướng khác nhau như: thái độtích cực, thái độ tiêu cực Thái độ đúng đắn hay thái độ không đúng đắn (thái độsai lệch) Khi đề cập đến thái độ ta đề cập đến những thuật ngữ như: thích haykhông thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin Tất cả đều đượchiểu là thái độ của một chủ thể đối với một đối tượng nhất định, đó là những sựvật hiện tượng, hoặc một vấn đề hay là một con người cụ thể nào đó

1.2.1.1.2 Cấu trúc của thái độ.

+ Nhận thức: là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ cho dù

kiến thức đó tương ứng hay không tương ứng, tức là đúng hay không đúng

Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhậnthức, xúc cảm - tình cảm, hành vi) Nhận thức là một quá trình Ở con người,quá trình này thường gắn với một mục đích nhất định nên nhận thức của conngười là một hoạt động đặc trưng nổi bật của nhận thức là hoạt động, nhận thứcphản chiếu hiện thực khách quan

Quá trình nhận thức là quá trình tái tạo hiện thực khách quan trong ýthức, xuất phát từ thực tiễn xã hội, hướng vào và được chỉnh sửa bởi thực tiễn

đú Nó bắt đầu bằng sự phản ánh cái cụ thể cảm tính và bằng sự phân tích vàtổng hợp, quy nạp, diễn dịch, trừu tượng và khái quát hoá, tiến đến cái trừutượng bao gồm cái chủ yếu và tất yếu của các hiện tượng để tái tạo cái cụ thểnhư là hình ảnh phản ánh lí luận

Nhận thức trở thành tiêu chuẩn đánh giá và tự đánh giá sự phát triển của conngười Trong nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thứckhác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ nhận thức thấp nhất

là cảm giác, tri giác, mức độ nhận thức cao là tư duy và tưởng tượng

Thái độ có mối liên quan chặt chẽ với nhận thức, thái độ chịu sự chi phốicủa nhận thức, và thái độ lại tác động ngược trở lại đến nhận thức Thôngthường nếu nhận thức đúng đắn con người sẽ có thái độ tích cực với một vấn đề

cụ thể thì nhu cầu và hứng thú nhận thức của chủ thể sẽ được nâng lên

Trang 30

+ Xúc cảm - tình cảm: Là cảm xúc - tình cảm của con người đối với đối

tượng của thái độ xã hội Trước một tình huống, mỗi cá nhân luôn bộc lộ thái độcủa mình một cách cụ thể, đa dạng và sinh động Thông qua đó một số nét biểuhiện của xúc cảm, tình cảm được bộc lộ ra bên ngoài như vui, buồn, yêu, ghét

Giữa thái độ và xúc cảm - tình cảm có mối quan hệ mật thiết với nhau.Xúc cảm tình cảm của cá nhân chính là những nét biểu hiện thái độ của cá nhânđối với các hiện tượng xảy ra Khi con người có những xúc cảm - tình cảmdương tính với đối tượng nào đó thì sẽ dẫn đến có thái độ tích cực với đối tượng

ấy Ngược lại nếu xúc cảm - tình cảm âm tính có thể dẫn đến thái độ tiêu cực.Xúc cảm - tình cảm xuất hiện đều do có sự tác động của hiện thực khách quanvào óc con người, chúng đều biểu thị thái độ chủ quan của con người đối vớihiện thực đó

+ Hành vi: đó là hành động hay ý định hành động mà chúng ta sẽ ứng xử

với đối tượng Khi hành động chúng ta ý thức được rõ ràng thường xuyên vềthái độ của mình bao nhiêu thì sự thích ứng giữa thái độ và hành vi càng lớn bấynhiêu

Để thực hiện được các vai trò mới nảy sinh trong cuộc sống, điều đó đòihỏi mỗi cá nhân phải có được hành vi mới, phù hợp với những vai trò đó Đồngthời khi thái độ mới xuất hiện, nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi của cánhân và sẽ thúc đẩy quá trình thực hiện hành vi đó

1.2.1.1.3 Đặc điểm của thái độ

Năm 1957 G.W.Allport đã rút ra 5 đặc điểm của thái độ:

Thái độ là trạng thái tinh thần của hệ thần kinh

Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng

Thái độ là trạng thái có tổ chức

Thái độ là được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của quá khứ

Thái độ là điều khiển và ảnh hưởng tới hành vi

Ngoài ra, thái độ còn có những đặc điểm:

- Tính phân cực: Được biểu hiện bằng sự đồng tình hay phản đối, thích haykhông thích, tích cực hay không tích cực

Trang 31

- Tính ổn định: Thể hiện ở thời gian tồn tại của thái độ, mối quan hệ giữa

ba thành phần thái độ Hệ thống thái độ ở người trưởng thành đó là thuộc tínhtâm lý khá bền vững

- Cường độ: Là sự thể hiện mạnh hay yếu của thái độ

- Mức độ: Sự thể hiện nhiều hay ít, cùng một tính chất nhưng mức độ biểuhiện có thể là không giống nhau

Như vậy, trong những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì thái độtồn tại như một trạng thái, một tâm thế chủ quan, chi phối sự định hướng, quyếtđịnh hành vi phản ứng của cá nhân được biểu hiện ở hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ ởbên ngoài hay những cảm xúc bên trong cá nhân Vì vậy chúng ta vừa có cáinhìn khoa học, vừa linh hoạt khi nghiên cứu và đánh giá về thái độ của conngười

1.2.2 Cơ sở lý luận chung về giới tính, giáo dục giới tính

1.2.2.1 Khái niệm giới tính

Giới và giới tính là hai khái niệm khác nhau "Giới" dùng để chỉ ra mộtngười nào đó, một cá nhân nào đó thuộc phái nam hay phái nữ "Giới tính" dùng

để nói đến những đặc điểm giúp phân biệt được nam giới hay nữ giới

Theo như định nghĩa của một vài tác giả về giới và giới tính là [11, tr.49]:

Giới là những ý tưởng, kỳ vọng, mong đợi hay chuẩn mực của gia đình và

xã hội về con trai con gái, nam giới và nữ giới Đó là kỳ vọng về đặc điểm vàkhả năng nữ tính và nam tính điển hình (ví dụ như con gái thì nhẹ nhàng dịudàng, con trai thì mạnh mẽ quyết đoán….), và kỳ vọng về cách cư sử của contrai, con gái, là đàn ông hay đàn bà trong những hoàn cảnh khác nhau

Giới tính là những sự khác biệt về cơ thể giữa hai giới (con trai có dươngvật, con gái có âm đạo ), về chức năng sinh lý như phụ nữ có thể sinh con, nuôicon bằng sữa trong khi đó đàn ông có tinh trùng và cả nam và nữ đều có hệhocmon riêng Các đặc điểm giới tính được quy định từ trong bào thai không thểthay đổi trừ phi phẫu thuật Tùy vào sự phát triển của hoàn cảnh lịch sử xã hội

mà quan niệm về giới thay đổi theo

Giới tính có hai nguồn gốc, nguồn gốc sinh học và nguồn gốc xã hội:

Trang 32

- Nguồn gốc sinh học: dựa trên cơ sở di truyền (giới tính về gen, và giới tính giải

phẫu)

+ Giới di truyền:

Giới tính về gen tồn tại trong suốt cuộc đời và sự phát triển của phôi thaithường xuyên phù hợp với giới tính thuộc gen, tuy nhiên có thể có ngoại lệ doảnh hưởng của các hoocmon

+ Giới giải phẫu: Bao gồm giới tính tuyến sinh dục (tinh hoàn và buồngtrứng) và giới tính cơ quan sinh dục ngoài (âm vật và âm đạo của phụ nữ, dươngvật ở nam)

nên sự khác biệt giới tính mà thôi” [12, tr.48] Do vậy xã hội ảnh hưởng lớn đến

giới tính con người, Biểu hiện ở những mặt sau:

+ Xã hội quy định chuẩn mực và đánh giá con người về tư thế, tác phong,phẩm chất khác nhau phù hợp với giới tính

+ Xã hội quy định phân công lao động giữa nam và nữ

+ Xã hội cũng ảnh hưởng đến yếu tố sinh học

+ Sự giáo dục của gia đình và xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm giới tính của conngười

1.2.2.2 Khái niệm về giáo dục giới tính

1.2.2.2.1 Định nghĩa về giáo dục giới tính

* Theo Bách Khoa toàn thư y học phổ thông do Tiến sĩ Karen Soren chủ

biên:

"GDGT là hệ thống những biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục chonhi đồng, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giớitính”

[19, tr.102]

Trang 33

* Theo từ điển Bách khoa về giáo dục:

“GDGT là giáo dục chức năng làm một con người có giới tính Điều quantrọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học từnhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu

lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính” Theo quan điểm của các nhà

khoa học thì GDGT chủ yếu quan tâm đến vấn đề tình dục của con người vớicác quan hệ sinh đẻ và quan hệ giới [32, tr.27]

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp, có nhiều quan niệm và nhiều ýkiến khác nhau về vấn đề này Có một số ý kiến nhầm lẫn cho rằng giáo dụcgiới tính là giáo dục tình dục, tình yêu, nhưng thực chất những loại hình này chỉ

là một bộ phần của GDGT Sự thu hẹp phạm vi như vậy sẽ dẫn đến tác dụngphản biện hoặc hạn chế hiệu quả của GDGT

Có một số người cho rằng không nên GDGT, vì như thế là làm hoen ốtâm hồn thanh cao của các em, là vẽ đường cho hươu chạy, thiếu tế nhị vàkhông phù hợp với môi trường sư phạm

Mặc dù các khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung nhiệm vụ củaGDGT là bồi dưỡng những hiểu biết cần thiết về giới tính, đặc biệt là hình thànhcho họ những phẩm chất giới tính của mình, giáo dục cho họ những thái độ và

kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới, ở mọi lĩnh vực củađời sống xã hội, rèn luyện cho họ ý chí làm chủ bản thân, nhằm đáp ứng yêu cầunâng cao chất lượng cuộc sống bản thân, gia đình, cộng đồng xã hội

1.2.2.2.2 Vai trò của giáo dục giới tính

Mục đích giáo dục hiện nay là đào tạo con người có nhân cách phát triểntoàn diện về mọi mặt: đạo đức, trí tuệ, thể lực Giáo dục giới tính là một bộ quantrọng của giáo dục nhân cách Phẩm chất nhân cách quan hệ mật thiết với giớitính, hoặc cũng là những đặc điểm của giới tính và ngược lại

Sự thiếu hiểu biết về những kiến thức giới tính, về đời sống tình dục vềhôn nhân gia đình làm cho con người dễ mắc vào những tội lỗi, cuộc sống giađình không hạnh phúc, hạn chế khả năng đóng góp xây dựng xã hội của mỗi cá

Trang 34

nhân, nhiều vấn đề của giới tính ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhâncách.

Giáo dục giới tính đáp ứng những quy luật phát triển tâm lý, sinh lý củacon người và có vai trò quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn do hiệntượng dậy thì sớm Khoảng từ 12 đến 13 tuổi quá trình dậy thì làm cho các emquan tâm đến các vấn đề giới tính và tình dục nhất là khi các em bước vào lứatuổi 14 đến 15 ở nữ, 16 đến 17 ở nam

Mặt khác, việc các em thiếu niên thiếu hiểu biết về các vấn đề giới tínhthường dẫn hậu quả trong cuộc sống Các em thiếu niên không hiểu biết gì về cácvấn đề giới tính thường tỏ ra sợ hãi trước những biến đổi sinh lý diễn ra trong cơthể mình và lấy làm xấu hổ về những biến đổi đó, không được các bậc cha mẹ vàcác nhà sư phạm giải đáp các vấn đề các em muốn biết, các em thường tìm đến cácnguồn tình cờ đôi khi nhảm nhí và nhận được quan niệm sai lệch về những vấn đềcác em quan tâm

Sự dậy thì cùng với việc mở rộng phạm vi giao tiếp gặp gỡ trong đờisống xã hội, sự phát triển tình cảm và đời sống tâm lý hình thành nên ở các emnhững nhu cầu về giới tính Giáo dục giới tính sẽ đáp ứng được những nhu cầunày Ở lứa tuổi dậy thì, do những biến đổi đột ngột của cơ thể làm cho thiếuniên băn khoăn lo lắng, thậm chí sợ hãi không biết giải thích ra sao, các emthường tìm đến bạn cùng trang lứa để trao đổi, để tìm ra sự đồng cảm, tò mòmuốn thử nghiệm bản thân, gây nên những hậu quả khôn lường Giáo dục giớitính giúp các em có thái độ tôn trọng những đặc điểm giới tính, định hướngđúng đắn và phù hợp với đời sống giới tính và đời sống xã hội, trang bị cho các

em những tri thức về vấn đề này một cách phù hợp giúp các em phát triển nhâncách, thích ứng với cuộc sống, chuẩn bị cho các em bước vào đời một cáchvững chấc, tự tin hơn, giải quyết tốt những khúc mắc trong cuộc sống

* Giáo dục giới tính là phương thức hữu hiệu để ngăn ngừa sự bệnh tình dục.

Hiện nay tệ nạn mại dâm đã phát triển tới mức báo động ở cả qui mô vàhình thức hoạt động Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên sự lâylan các căn bệnh như: nấm, lậu, giang mai, HIV - AIDS

Trang 35

Giáo dục giới tính giúp mọi người ý thức được mối nguy hại đến sức khoẻ, tínhmạng nếu quan hệ tình dục bừa bãi, không biết cách giữ gìn Giáo dục giới tínhgiúp mọi người hiểu biết được các bệnh lây lan qua đường tình dục, cách phòngtránh bệnh, cách điều trị bệnh tạo ra lối sống văn hoá lành mạnh.

* Giáo dục giới tính góp phần mang lại hạnh phúc gia đình.

Hiện tượng ly hôn đang có xu hướng ngày càng gia tăng Theo phân tíchcủa các nhà xã hội học và của cán bộ tòa án thì nguyên nhân ly hôn là do:

+ Mâu thuẫn tính cách vợ chồng 42,65%

+ Do thiếu hiểu biết về văn hoá tình dục trước khi bước vào hôn nhân

Giáo dục giới tính dạy người ta biết làm chồng, làm vợ, hiểu biết mộtcách khoa học về đời sống vợ chồng - một trong những điều kiện để có hôn nhânhạnh phúc

* Giáo dục giới tính ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục dân số:

Giáo dục giới tính tạo nên những thuận lợi cho kế hoạch hoá gia đình , sinh

đẻ có kế hoạch Nó cung cấp cho thế hệ trẻ những kiến thức khoa học về dân số

-kế hoạch hoá gia đình, những kiến thức khoa học về quá trình sinh sản của conngười giúp họ làm chủ được dự định sinh sản của mình Giáo dục giới tính manglại khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống con người, tạo nên hôn nhân hạnhphúc Vì vai trò quan trọng của giáo dục giới tính nên cần phải giáo dục giới tínhcho con người từ rất sớm

1.2.3 Thái độ của học sinh THCS đối với giáo dục giới tính

1.2.3.1 Khái niệm về học sinh THCS

Trong tâm lý học lứa tuổi người ta định nghĩa lứa tuổi học sinh THCS baogồm những em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 tuổi Đó là những em đangtheo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường trung học cơ sở

Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên Đây là thời kỳ chuyển từ thờithơ ấu sang tuổi trưởng thành Là giai đoạn dậy thì, chín muồi giới tính, là sựphát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức Cùng với nhữngbiến đổi về thể chất diễn ra ở tuổi vị thành niên, đời sống tâm lý và tình cảm củatuổi vị thành niên cũng trải qua những biến đổi sâu sắc

1.2.3.2 Một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của lứa tuổi học sinh THCS

Trang 36

* Đặc điểm về thể chất:

Học sinh THCS bao gồm những em thuộc lứa tuổi từ 12 đến 15 Sự thayđổi sinh lý của lứa tuổi này là giai đoạn thay đổi quan trọng của đời người, đánhdấu bước ngoặt từ “trẻ con” lên “người lớn”

+ Hệ xương: Ở tuổi thiếu niên thân thể trẻ em lớn lên một cách đột ngột

về chiều cao, trung bình mỗi năm cao từ 5 đến 6cm Các em gái trong nhữngnăm 12, 13, 14 tuổi cao nhanh hơn các em trai ở tuổi đó và khoảng 18, 19 tuổithì dừng lại Các em trai phát triển nhanh trong khoảng 15, 16 tuổi và tiếp tụccao đến 24, 25 tuổi

Hệ xưong tiếp tục được cốt hoá và phát triển mạnh, xương chân, xươngtay nhanh dài, thân hình hơi gầy cao, không cân đối Khuôn mặt của thiếu niênthay đổi nhiều do sự phát triển của xương mặt

Xương sống, lồng ngực, xương hông phát triển mạnh nhưng chưa cốt hoáhoàn toàn, rất dễ bị biến dạng Vì vậy không nên để thiếu niên lao động quá sức,mang vác nặng hoặc ngồi không đúng tư thế

Trọng lượng tăng trung bình mỗi năm 2 đến 5 kg Sự phát triển của hệxương khiến cho thân thể các em thay đổi đột ngột, khác xa trẻ nhỏ và gần nhưngười lớn

+ Hệ cơ: Khối lượng các bắp thịt và sức mạnh của cơ bắp tăng mạnh nhất

vào cuối thời kì trưởng thành về giới tính

Hệ cơ được phát triển theo đặc trưng riêng của mỗi giới: Ở các em traiphát triển theo kiểu đàn ông, ở các em gái phát triển theo kiểu phụ nữ

Bắp thịt của thiếu niên chưa thể chịu đựng căng thẳng lâu dài, chóng mệt

Vì vậy khi tổ chức thể thao và lao động cho các em không nên để thời gian kéodài, gây cho các em mệt mỏi, thiếu tự tin

+ Hệ tuần hoàn: tim lớn nhanh Hệ tim mạch phát triển không cân đối, thểtích tim tăng nhanh, tim to lên, hoạt động mạnh Trong khi đó đường kính cácmạch máu phát triển chậm dẫn đến sự rối loạn của sự tuần hoàn máu, thiếu niênthường có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, tim đập nhanh

+ Tuyến nội tiết: Trong lứa tuổi thiếu niên có sự thay đổi đột ngột bêntrong cơ thể do hoạt động của tuyến nội tiết được tăng cường, trong đó những

Trang 37

hoocmon của tuyến giáp trạng và tuyến sinh dục và những chất xúc tác của sựtrao đổi chất.

Do hệ thống của tuyến nội tiết và hệ thần kinh có liên quan đến nhau vềmặt chức năng nên lứa tuổi thiếu niên có đặc điểm: Một mặt sức lực tăng lênmạnh mẽ, mặt khác nhạy cảm cao với sự căng thẳng thần kinh (tự kiềm chếkém, dễ phân tán, rối loạn giấc ngủ, năng suất làm việc thất thường…)

+ Hệ thần kinh: Ở lứa tuổi thiếu niên đang tiếp tục phát triển và hoàn thiện.

Kích thước và trọng lượng của não trong giai đoạn này không tăng lênbao nhiêu nhưng do điều kiện sinh hoạt phức tạp hơn nên về mặt chức năng có

+ Hiện tượng dậy thì: Tuổi dậy thì bắt đầu tự giai đoạn tuổi thiếu niên và kết

thúc vào giai đoạn đầu tuổi thanh niên Đầu tiên các cơ quan sinh dục bắt đầuhoạt động báo hiệu thời kỳ trưởng thành về mặt sinh học Tuổi dậy thì ở các emgái bắt đầu và kết thúc sớm hơn các em trai 2 - 3 năm, thời kì này chia làm 2giai đoạn:

Giai đoạn tiền dậy thì: Em gái 11 - 13 tuổi

Em trai 13 - 15 tuổi

Giai đoạn dậy thì chính thức: Em gái 13 - 15 tuổi

Em trai 15 - 17 tuổi

Những thay đổi ở thời kì dậy thì của con gái:

Ngay trước khi bước vào tuổi dậy thì (11 - 13 tuổi) cơ thể nữ bắt đầu pháttriển nhanh hơn mức bình thường Các em gái cao rất nhanh và khi 15 - 16 tuổicác em có thể cao bằng một phụ nữ trưởng thành Bắt đầu giữa 8 đến 13 tuổi

Trang 38

(tuổi trung bình 11 tuổi) Sự phát triển này hoàn thiện giữa 13 và 18 tuổi (tuổitrung bình là 15 tuổi)

Hai hiện tượng đặc biệt thường hay gặp nhất trong những lo lắng củacác em gái:

+ Sự phát triển không cân xứng của cặp vú Đôi khi sự phát triển khôngcân xứng của cặp vú làm trẻ rất đau khổ, tạo ra sự sợ hãi bất thần đối với một sốthiếu niên nữ về nữ tính hóa của chúng Có em nghĩ sợ bị ung thư

Một nữ thiếu niên có ham muốn được thỏa mãn tới điểm tối ưu củamình Do vậy các em rất lo lắng về kích thước bề ngoài của mình: trứng cá và

sự mọc lông làm cho các em rất lo lắng

Giai đoạn dậy thì bắt đầu có kinh nguyệt là một giai đoạn đặc biệt quantrọng trong cuộc đời trẻ em gái và là dấu hiệu để chuyển sang giai đoạn đờisống phụ nữ bình thường Hiện tượng này thường bắt đầu sau khi vú phát triển,

có lông mu, long nách Quá trình chu kỳ kinh nguyệt bao gồm sự hoạt động củatuyến yên, buồng trứng làm trứng rụng, niêm mạc tử cung dày lên và cuối cùngbong ra

Các thay đổi về tình cảm, sinh lý và môi trường có ảnh hưởng đến kinhnguyệt Thời gian này các em gái cần được GDGT, cha mẹ phải giúp các em cónhững kiến thức cần thiết trong giai đoạn này

Những thay đổi ở con trai trong giai đoạn dậy thì:

Tuổi dậy thì của nam được đánh dấu bằng sự phát triển của tinh hoàn vàokhoảng 10 đến 13,5 tuổi Tinh hoàn là tuyến sinh sản nam sản sinh ra tinh trùng

và hoocmon nam giới

Khi cơ thể các em trai bắt đầu trưởng thành thì tinh hoàn liên tục sản xuấttinh trùng Các em ở lứa tuổi này bắt đầu có hiện tượng thủ dâm và mộng tinh.Đây là những hiện tượng bình thường ở nam giới Hiện tượng này đánh dấu sựdậy thì chính thức, xuất hiện khi trẻ từ 14 đến 17 tuổi

Ở tuổi dậy thì, các em trai có hiện tượng vỡ giọng do kết quả của thanhquản phát triển về đường kính và chiều dài Vỡ giọng xảy ra tương đối muộntrong tuổi thiếu niên và triến triển một cách từ từ

Trang 39

Các nam thiếu niên ở giai đoạn này rất lo lắng về biến đổi trên cơ thểmình Chúng thấy mình đang lớn dần lên khi đứng trước gương Cơ thể nhưphổng phao lên, bộ ngực nở nang hẳn ra, điều này đôi khi làm cho chúng sợ hãimột cách khó hiểu bởi đó là hiện tượng nữ tính hóa.

Những mối lo thường gặp của các em trai trong thời kỳ niên thiếu:

- Lo sợ về biểu hiện không bình thường của cơ quan sinh dục: Các thiếuniên trong thời kỳ này thường rất lo lắng về sự phát triển của tầm vóc cơ thể vàkích thước dương vật Một vóc dáng nhỏ sẽ gây khó khăn cho chúng khi chơitrong nhóm bạn

- Một tinh hoàn bị teo ở dưới tinh hoàn kia

- Sự nhô lên của mào tinh thường bị nổi lên trên tinh hoàn mà chúng tình

cờ khám phá ra

- Các em trai cảm thấy tội lỗi trước hiện tượng cương cứng của dương vậtvào buổi sáng hoặc khi đứng trước bạn gái Các em nghĩ rằng đó là những hammuốn của mình Sự tưởng tượng gợi dục của cậu bé làm cho cậu ta trở nên nhạycảm với những kích thích biến đổi nhất

Tuổi dậy thì là một giai đoạn thay đổi phức tạp về tầm vóc, tay chân vàthần kinh nên các em vụng về Các em trai và gái trong giai đoạn này cũngthường quan tâm đến sự thay đổi của mình và có nhiều thắc mắc trước sự thayđổi đó Vì vậy các em cần được giáo dục một cách đầy đủ và khoa học về cácvấn đề giới tính

Mặt khác, đây là thời kì có nhiều thay đổi mới về chất:

Tự ý thức, kiểu quan hệ với người lớn, với bạn khác giới, hứng thú, hoạt độngnhận thức, hoạt động học tập…

* Sự phát triển tự ý thức: Việc đứa trẻ bước vào thời kì thiếu niên được

gắn liền với những chuyển biến về chất song sự phát triển tự ý thức Thiếu niên

có mối quan hệ mới với hiện thực xung quanh, ý thức về mình như là một nhâncách có quyền được tôn trọng, được độc lập, và được tin cậy giống như ngườilớn Nó tích cực lĩnh hội những giá trị khác nhau, những chuẩn mực và phươngthức hành vi trong thế giới người lớn Những chuẩn mực đó cấu tạo thành nội

Trang 40

dung mới của ý thức và trở thành những yêu cầu đối với hành vi của người khácdung đối với bản thân mình, thành tiêu chuẩn đánh giá và tự đánh giá

Sự nảy sinh nhu cầu hiểu biết những đặc điểm của bản thân, hứng thúđối với mình và suy nghĩ về mình là đặc điểm đặc trưng của trẻ em ở lứa tuổithiếu niên Nhu cầu ý thức được những khuyết điểm và những đặc điểm củamình nảy sinh do sự cần thiết phải đáp ứng những yêu cầu do người khác đề ra

và những yêu cầu của bản thân, do phải điều chỉnh những quan hệ với nhữngngười xung quanh Thiếu niên phân tích những đặc điểm trong nhân cách củamình và coi sự phân tích đó như là một phương tiện cần thiết để tổ chức nhữngquan hệ qua lại và hoạt động, để đạt được những nhiệm vụ có ý nghĩa đối với cánhân trong hiện tại và trong tương lai Sự chú ý đặc biệt đến những khuyết điểmđược duy trì trong suốt toàn bộ lứa tuổi thiếu niên Ở thiếu niên sự không hàilòng về mình cứ tăng lên Những suy nghĩ của thiếu niên về mình mang tínhchất có chủ định, chúng trở thành quá trình độc lập bên trong, chúng được thiếuniên đánh giá như là những điều cần thiết và như là cái gì đó mới mẻ so với lứatuổi học sinh nhỏ

Kích thích quan trọng nhất làm nảy sinh ở thiếu niên những suy nghĩ vềmình, là nhu cầu chiếm được vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn cùng tuổi, làkhát vọng tìm được những đồng chí và bạn thân Điều rất quan trong là chính làngười bạn cùng tuổi lại thể hiện với tư cách là đối tượng so sánh với mình vàhình ảnh mẫu để thiếu niên noi theo

Đầu tuổi thiếu niên, trẻ em ý thức được và đánh giá tốt hơn, đúng hơnnhững đặc điểm của bản than, có sự liên quan với hoạt động học tập Cùng vớilứa tuổi, biểu tượng về bản thân càng mở rộng và khơi sâu, tăng thêm tính độclập trong việc nhận định của mình Tuy nhiên ở nhiều thiếu niên sự tự đánh giánhững phẩm chất tốt thường cao hơn và mức độ kỳ vọng cũng cao hơn nhữngkhả năng có thực Sự tự đánh giá của thiếu niên ngày càng trở nên phù hợp vớilứa tuổi Thiếu niên đánh giá người khác đầy đủ hơn và đúng đắn hơn khi đánhgiá bản thân Thiếu niên rất cởi mở, dễ tiếp xúc, đối với các em được đánh giácao và có quan hệ tốt với người xung quanh mang ý nghĩa rất quan trọng

Ngày đăng: 03/12/2014, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. TLH lứa tuổi và TLH sư phạm - tập 1+2 - NXB - 1982 - Đỗ Xuân Hoài và Đỗ Văn dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: TLH lứa tuổi và TLH sư phạm
Nhà XB: NXB - 1982 - Đỗ Xuân Hoài vàĐỗ Văn dịch)
3. Lê Văn Hồng (chủ biên) - TLH lứa tuổi và TLH sư phạm, NXB GD. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TLH lứa tuổi và TLH sư phạm
Nhà XB: NXB GD. 1998
4. Giáo trình tâm lý học phát triển , Trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học phát triển
5. TS Nguyễn Văn Đồng.- Tâm lý học phát triển giai đoạn thiếu niên đến tuổi già. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển giai đoạn thiếu niên đến tuổigià
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2007
6. Đào Xuân Dũng – Giáo dục tính dục NXB Thanh Niên 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tính dục
Nhà XB: NXB Thanh Niên 1995
7. Phạm Minh Hạc, Nhập môn tâm lý học, NXB Giáo dục Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
8. Bùi Văn Huệ - Vũ Dũng , Tâm lý học xã hội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia HàNội
9. Đặng Xuân Hoài - Tuổi dậy thì, NXB Thanh Niên, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi dậy thì
Nhà XB: NXB Thanh Niên

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.2.2. Hình thức giáo dục giới tính 63 - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
2.2.2.2. Hình thức giáo dục giới tính 63 (Trang 4)
Bảng 10 Hành vi của học sinh trong các giờ có nội dung giáo dục giới - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 10 Hành vi của học sinh trong các giờ có nội dung giáo dục giới (Trang 6)
Bảng 11 Biểu hiện của học sinh THCS trong các giờ học giáo dục - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 11 Biểu hiện của học sinh THCS trong các giờ học giáo dục (Trang 6)
Bảng 2: Mức độ cần thiết của giáo dục giới tính đối với học sinh THCS. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 2 Mức độ cần thiết của giáo dục giới tính đối với học sinh THCS (Trang 49)
Bảng 4: Nhận thức của học sinh THCS về sự hình thành giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 4 Nhận thức của học sinh THCS về sự hình thành giới tính (Trang 54)
Bảng 8: Lí do học sinh THCS tham gia học các nội dung giáo dục giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 8 Lí do học sinh THCS tham gia học các nội dung giáo dục giới tính (Trang 63)
Bảng 9: Mức độ quan tâm của học sinh THCS về giới tính và giáo dục giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 9 Mức độ quan tâm của học sinh THCS về giới tính và giáo dục giới tính (Trang 65)
Bảng 10:   Hành vi      của học sinh trong các giờ có nội dung giáo dục giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 10 Hành vi của học sinh trong các giờ có nội dung giáo dục giới tính (Trang 68)
Bảng 11 . Biểu hiện của học sinh THCS trong các giờ học giáo dục giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 11 Biểu hiện của học sinh THCS trong các giờ học giáo dục giới tính (Trang 69)
Bảng 12 : Những khó khăn của học sinh THCS khi tìm hiểu và học các nội dung của chương - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 12 Những khó khăn của học sinh THCS khi tìm hiểu và học các nội dung của chương (Trang 72)
Bảng 13: Các hình thức giáo dục giới tính phù hợp - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 13 Các hình thức giáo dục giới tính phù hợp (Trang 74)
Bảng 14: Thái độ của cha mẹ khi con tìm hiểu các vấn đề giới tính. - Luận văn tốt nghiệp  Giáo dục giới tính cho học sinh
Bảng 14 Thái độ của cha mẹ khi con tìm hiểu các vấn đề giới tính (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w