Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn toán trong trường tiểu học. Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn toán cũng như những môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát tiển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp của con người. Môn toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời gian trong chương trình học của trẻ.
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Xuất phát từ vị trí tầm quan trọng của môn toán trong trường tiểu học.Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng choviệc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Môn toán cũng như những mônhọc khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giớixung quanh nhằm phát tiển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tìnhcảm tốt đẹp của con người
Môn toán ở trường tiểu học là một môn độc lập, chiếm phần lớn thời giantrong chương trình học của trẻ
Môn toán có tầm quan trọng to lớn Nó là bộ môn khoa học nghiêm cứu có
hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức tự nhiên của con người
Môn toán có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suynghĩ, phương pháp suy luận lô gíc, thao tác tư duy cần thiết để con người phát triểntoàn diện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới
Để góp phần tạo ra những con người thông minh, sáng tạo, giàu ý chí và nghịlực, vững tin vào bàn tay, khối óc của mình, người thầy giáo phải coi trọng việcrèn luyện kĩ năng tư duy độc lập cho học sinh qua các môn học nói chung, qua môntoán nói riêng và đặc biệt là qua học giải toán có lời văn
2 Xuất phát từ ý nghĩ của việc dạy giải toán có lời văn
Giải toán là mạch kiến thức hết sức quan trọng, chính vì thế, nó được sắp xếpxen kẽ với các mạch kiến thức cơ bản khác của môn toán ở bậc tiểu học Giải toán
ở bậc tiểu học giúp học sinh vừa thực hiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đãlĩnh hội, đồng thời vận dụng kiến thức ấy vào giải các bài toán gắn với tình huốngthực tiễn
Qua giải toán tạo điều kiện giúp các em phát triển trí thông minh tư duy độclập, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và cáchgiải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượngcho các em, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kếhoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo
1
Trang 2Đối với học sinh lớp Hai, các em mới làm quen với giải toán có lời văn (các
em đã được học ở lớp Một nhưng rất ít) nên người thầy phải hết sức chú trọng đểtrang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cơ bản trong giải toán để các em
có thể học tốt hơn môn toán
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu tài liệu, học hỏi, tham khảo bạn bèđồng nghiệp và qua thực tế giảng dạy tôi đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ trong
việc “Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp Hai” và đã viết
nên đề tài này
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiếnthức về toán vào các tình huống thực tiễn, đa dạng, phong phú, những vấn đềthường gặp trong cuộc sống
Mạch kiến thức giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiếnthức cơ bản khác trong môn toán lớp 2 giải toán có lời văn giúp học sinh vừa thựchiện nhiệm vụ củng cố kiến thức toán học đã lĩnh hội đồng thời vận dụng kiến thức
ấy vào giải các bài toán gắn liền với tình huống thực tiễn học sinh tự giải được cácbài toán có lời văn là một yêu cầu cơ bản của dạy toán học Vì vậy, việc dạy họcgiải toán có lời văn cho học sinh tiểu học có vai trò hết sức quan trọng trong việcdạy học toán
Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy,rèn luyện phương pháp say luận và những phẩm chất cần thiết của người lao độngmới Vì vậy giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập mối quan
hệ giữa các dữ liệu, giữa các đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn được phéptính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận xét,
so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra các quy tắc ở dạng khái quát nhất định
Giải toán có lời văn là loại toán cần đến sự tư duy bởi vì đề bài được nêu radưới hình thức có lời văn hoàn chỉnh Vì vậy để giải được các loại toán này, họcsinh cần tìm được sự liên quan giữa các đại lượng, các yếu tố đã biết và các yếu tố
Trang 3cần tìm của bài toán một cách lô gíc Nói chung được đưa ra trong đề toán rất đadạng nó gắn liền với thực tế hoạt động của các sự vật, các yếu tố cuộc sống để họcsinh dễ liên hệ.
Như vậy đây là một loại toán khó đối với học sinh tiểu học bởi ở lứa tuổi nàycác em chưa tiếp xúc nhiều với cuộc sống, bản chất của các em còn rất hồn nhiên
và ngây thơ, sự chú ý của các em còn hướng ra bên ngoài chứ chưa có khả nănghướng vào bên trong, vào tư duy, vào trí nhớ lô gíc, trí nhớ máy móc cũng dễ dàngđối với các hiện tượng hình ảnh cụ thể hơn là các câu chữ trừu tượng, khô khan
Để giúp học sinh giải toán có lời văn theo hướng tích cực giáo viên cần giúphọc sinh tự mình tìm hiểu được các mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm,
mô tả mối quan hệ đó bằng cấu trúc phép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bàylời giải của bài toàn
Để đặt được mục tiêu trên, giáo viên phải thực hiện được các yêu cầu sau:
Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm toán học, cấu trúcphép tính, các thuật ngữ (chuẩn bị cho học sinh giải toán)
Tổ chức cho học sinh thực hiện giải toán
Tổ chức rèn kĩ năng giải toán
Rèn luyện năng lực khái quát hóa giải toán
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.Thực trạng dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 2
Qua thực tế dạy học từ trường tiểu học, bằng việc dự giờ, thăm lớp, trao đổi giờdạy và rút ra kinh nghiệm giờ dạy của các đồng nghiệp cho thấy
a Về phía giáo viên
Đa số giáo viên đã biết hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được cách giải bài toán
có lời văn theo các bước giải nhưng thống nhất theo một trình tự chặt chẽ, đôi lúclàm tắt, bỏ qua một số bước ( Ví dụ: không cho hoc sinh tóm tắt bài toán, khôngcho học sinh xác định dạng bài, kiểu bài )
Một bộ phận giáo viên chưa linh hoạt trong cách hướng dẫn học sinh giải bài toán,chưa biết cách hướng dẫn học sinh khai thác đề bài để định hướng cách làm bài
b.Về phía học sinh
3
Trang 4Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, đa số các em là thíchhọc toán nhưng lại rất ngại nhưng bài toán có lời văn vì đối với dạng bài này bắtbuộc các em phải tư duy, trình bày nhiều hơn Mặt khác, vì mới học lớp 2 nên vốnngôn ngữ của các em còn hạn chế, đầu năm học có em còn đọc chưa thạo, có emđọc được nhưng còn chưa hiểu vì vậy khi giải các bài tóan có lời văn, lời giải chưagọn, có khi còn thiếu chính xác, chưa liên hệ được những điều đã biết, điều cần tìmtrong bài để có phép tính đúng.
c Khảo sát chất lượng:
Đầu năm, sau khi nhận lớp, tôi bắt tay ngay về tìm hiểu đối tượng học sinh, tôinhận thấy lớp 2B có lực học khá đồng điều, số học sinh giỏi, học sinh khá nhiềunhưng đối với giải toán có lời văn các em vẫn còn hơi yếu:
Kết quả khảo sát đầu năm:
Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trong đó đối với bài toán giải:
Số học sinh sai về lời giải là 5 em = 23,8%
Số học sinh sai về phép tính là 8 em = 38%
Số học sinh sai về đơn vị là 3 em = 14,4%
2 Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát, tìm hiểu thực tiễn tôi thấy có những nguyên nhân như sau:
1 Do học sinh không đọc kĩ đề bài nên không nắm vững được những điều đãbiết, những điều cần tìm trong bài toán dẫn đến chưa định hướng được cách làmbài
2 Học sinh chưa bết cách tóm tắt bài toán
3 Học sinh không nắm vững câu hỏi của bài nên không xác định được dạng bài
4 Có học sinh không biết dựa vào câu hỏi để tìm lời giải
5 Có học sinh chưa nắm vững cách trình bày bài giải
6 Học sinh không có thói quen kiểm tra lại bài sau khi làm bài xong
Trang 5III.GIẢI PHÁP
A Các bước thực hiện giải bài toán có lời văn:
Khi hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, GV phải giúp học sinh tự mìnhtìm hiểu mối quan hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm, mô tả quan hệ đó bằng tóm tắtbài toán, bằng câu lời giải, bằng phép tính cụ thể
Xuất phát từ định hướng trên, khi dạy các bài toán có lời văn tôi tổ chức chohọc sinh thực hiện các bước giải toán cụ thể như sau:
1 Đọc và tìm hiểu bài toán:
Trong các bước giải toán theo tôi bước này là bước quan trọng nhất để giúpcác em xác định được cách giải bài toán đó cụ thể như thế nào?
Bước này tập trung cao độ tư duy của học sinh để lập được mối tương quangiữa các địa lượng Giáo viên là người giúp đỡ học sinh hiểu rõ một số từ quantrọng như “thêm, hơn, kém, bớt, gấp, chia, ”; “còn lại, có tất cả, ”ở đây giáo viêngiúp học sinh biết suy luận: Muốn tìm cái chưa biết thì phải dựa vào thông tin đãbiết Để làm được điều đó cần thực hiện qua các bước:
Bước 1: Đọc bài toán (đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc bằng mắt)
Bước 2: Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắmđược mối quan hệ giữa những điều đã biết và những điều cần tìm trong bài toán.Xác định được kiểu bài, dạng bài
Thông thường đề bài của bài toán có lời văn bao gồm có 2 phần đó là: Điều
đã biết; Điều cần tìm Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận biết:
- Điều đã biết thường bắt đầu bằng từ “ có”
- Điều cần tìm thường bắt đầu bằng từ “ Hỏi” hay từ “ Tính”
Ngoài ra trong đề toán còn nêu ra mối quan hệ giữa điều đã biết và điều cần tìm Vì vậy muốn tìm hiểu được đề của bài toán yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài
(3 lần trở lên) Tìm hiểu xem bài toán cho biết những gì, bài toán hỏi gì? Liên hệvới những điều đã học để xác định dạng bài
Ví dụ:
Bài tập 4 (Trang 57 - SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp?
5
Trang 6Tìm hiểu, phân tích bài toán ta có thể có các cách như sau:
Cách 1: GV hỏi HS:
+ Bài toán đã cho biết gì? (Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp.)
+ Bài toán hỏi gì? (Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp?)
+ Giáo viên cho một vài học sinh nêu lại điều đã biết và điều cần tìm GV
nhấn mạnh các từ có, đã bán, còn lại để học sinh nhận dạng được bài toán).
Qua 2 cách làm trên cho ta thấy:
Cách 1: Phân tích rất cụ thể, phù hợp với các đối tượng học sinh lớp 2 Tuy vậycách phân tích đó nếu lập lại nhiều lần sẽ dập khuôn, máy móc, nhàm chán Họcsinh không phát huy được tính tích cực, chủ động, có em còn ỷ lại cho bạn hoặc chỉthụ động làm theo ý bạn hay cô giáo nêu ra
Cách 2: Giúp học sinh có kỹ năng biết phân tích bài toán tốt hơn, đọc kỹ đề bàihơn và chủ động, tích cực hơn Phân tích bài toán theo cách 2 đối với HS lúc đầu
có vẻ khó, các em làm hơi chậm nhưng điều quan trọng là rèn luyện cho học sinh
có thói quen đọc kỹ đề bài trước khi làm bài
Mỗi cách đều có những mặt tích cực và hạn chế, giáo viên cần linh hoạt vậndụng để hướng dẫn học sinh sao cho đạt hiệu quả cao nhất
2 Tìm cách giải bài toán:
* Tóm tắt bài toán: Dựa vào những điều đó biết, những điều cần tìm để viếttóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học (Tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng sơ đồ đoạnthẳng, sơ đồ ven…)
Ví dụ:
* Tóm tắt bằng lời:
Trang 7Bài tập 4 (Trang 57 - SGK) Cửa hàng có 13 xe đạp, đã bán 6 xe đạp Hỏi cửa hàng còn lại mấy xe đạp?
Hướng dẫn HS đọc đề bài, nêu những điều đã biết (Có 13 xe đạp, đã bán 6
xe đạp), những điều cần tìm (cửa hàng còn lại mấy xe đạp), chọn lọc những từ ngữ
quan trọng (Có, đã bán, còn lại) để tóm tắt bài toán:
Tóm tắt: Có : 13 xe đạp
Bán : 6 xe đạpCòn lại :… xe đạp?
* Tóm tắt bằng hồ sơ đoạn thẳng
Bài 2: (Trang 24 - SGK) Nam có 10 viên bi, Bảo có nhiều hơn Nam 5 viên
bi Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?
Hướng dẫn HS cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Yêu cầu học sinh đọc thầm đề bài, dùng bút chì gạch một gạch dưới điều đãcho biết và 2 gạch dưới điều cần tìm
Sau đó tôi hỏi HS: Nam có bao nhiêu viên bi? (Nam có 10 viên bi), vậy tabiểu thị số bi của Nam bằng 1 đoạn thẳng
Số bi của Bảo như thế nào so với số bi của Nam? (Bảo có nhiều hơn Nam 5viên bi)
Muốn biểu diễn số bi của Bảo ta phải vẽ đoạn thẳng như thế nào? (Đoạnthẳng dài hơn đoạn thẳng biểu diễn số bi của Nam)
- Phần dài hơn đó tương ứng với bao nhiêu viên bi? (5 viên bi)
- GV vẽ tiếp đoạn thẳng biểu diễn số bi của Bảo
- Vậy bài toán hỏi gì? (Hỏi có bao nhiêu viên bi?)
Sau khi phân tích rõ ràng như trên tôi hướng dẫn học sinh vẽ tóm tắt:
7
10 viên bi
10 viên bi
5 viên bi
Trang 83 Tìm lời giải.
Học sinh dựa vào câu hỏi của bài để tìm lời giải cho bài toán (Giáo viên giảithích cho học sinh hiểu câu trả lời giải chính là câu trả lời cho câu hỏi trong bài - Vìlớp 2 giải toán đều là các bài toán đơn)
Vậy để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên có thểhướng dẫn học sinh đặt câu lời giải như sau:
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán Ví dụ: Hỏi Bảo có bao nhiêu viên bi?
Bỏ bớt chữ “Hỏi”, cụm từ “bao nhiêu” thay bằng từ “số”, thêm từ “là” vào cuối câuđược câu lời giải: “Bảo có số viên bi là” Đây là cách đơn giản, học sinh dễ nắm bắtnhất
Cách 2: Cũng ví dụ trên, đưa từ “viên bi” ở cuối câu hỏi lên đầu câu hỏi thay
cho chữ “Hỏi” và thêm chữ “số” ở đầu câu, cuối câu thêm chữ “là” để được câu trảlời: “Số viên bi Bảo có là:”
Cách 3: Giáo viên nêu miệng câu hỏi: “Bảo có bao nhiêu viên bi? để học
sinh trả lời miệng: “ Bảo có 15 viên bi” rồi chèn phép tính vào để có các bước giải(gồm cả lời giải và cả phép tính)
Bảo có số viên bi là:
10 + 5 = 15 (viên bi)
? viên bi
Trang 9Cách 4: Sau khi học sinh nêu phép tính: 10 + 5 = 15 (viên bi), giáo viên chỉ
vào 15 và hỏi: “15 viên bi” ở đây là số bi của ai? (là số bi của Bảo) Từ câu trả lờicủa các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bi của Bảo là”:
Trên đây là một số cách hướng dẫn học sinh trình bày câu lời giải của bàitoán Song với mỗi bài toán sau khi giáo viên hướng dẫn xong phải cho học sinh tựnêu được nhiều câu lời giải khác nhau, sau đó chọn câu lời giải thích hợp nhất,ngắn gọn nhất và dễ hiểu, sát với yêu cầu đề bài
4 Xác định đơn vị bài giải:
Cách xác định đơn vị của bài toán: Muốn xác định được đơn vị của bài toánphải giúp học sinh trả lời được câu hỏi xem bài toán yêu cầu tìm gì? Giáo viên gạchdưới đơn vị của bài Giáo viên hướng dẫn tìm cụ thể một vài bài để học sinh địnhhướng và dần dần xác định được đơn vị của bài toán
Vì bài toán có lời văn của lớp 2 chỉ là những bài toán đơn nên tôi có một
mẹo nhỏ giúp HS xác định đúng đơn vị bài toán đó là khi đọc câu hỏi sau từ: bao nhiêu hay từ mấy là từ gì thì đó chính là đơn vị của bài giải.
5 Thực hiện cách giải và trình bày bài giải.
Đây là bước cụ thể cụ thể hóa của quá trình tư duy trên, nó thể hiện rõ nét kỹnăng kỹ xảo giải bài tập của học sinh, Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để viếtbài giải, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích
- Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câulời giải và thực hiện phép tính)
- Viết câu lời giải
- Viết phép tính tương ứng
- Viết đáp số
- Tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải vào vở ô li như sau:
+ Lùi vào 5 ô so với lề để viết Bài giải.
+ Viết câu lời giải cân đối với từ Bài giải (thường là lùi vào 2 ô so với lề).+ Viết phép tính lùi vào 2 ô so với lời giải
+ Viết đáp số lùi vào thẳng với từ bài giải
9
Trang 10Số học sinh trong lớp học đó là:
14 + 16 = 30 (học sinh)
Đáp số: 30 học sinhCách trình bày bài giải đối với học sinh lớp 2 cũng rất quan trọng Giáo viêncần rèn cho học sinh có con mắt thẩm mĩ trong cách trình bày bài, rèn cho các em
có thói quen trình bày bài khoa học và đẹp để sau này khi lên các lớp trên các emkhông còn lúng túng khi trình bày bài giải
6 Kiểm tra bài giải: Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm tra phép tính,
kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu
Tóm lại: Trong quá trình dạy dạng toán có lời văn, giáo viên cần lưu ý:
- Luôn luôn củng cố các bước giải toán Vì nếu trong quá trình giải toán, họcsinh không nắm được các bước giải một bài toán thì học sinh sẽ không có cách giảihay, nhanh nhất và đúng nhất
- Giúp học sinh nắm vững, ghi nhớ được các bảng cộng, trừ, nhân, chia… để
áp dụng vào phép tính trong bài toán có lời văn Vì nếu không thuộc bảng cộng,trừ, nhân, chia… không biết cách tính nhẩm thì không tránh khỏi sai sót kết quảcủa bài toán
B Các ví dụ:
Trong chương trình Toán 2 có các dạng toán giải sau:
1 Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ
2 Bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị
3 Giải các bài toán đơn về phép nhân và phép chia
Tôi có hướng dẫn học sinh ở mỗi dạng bài như sau:
1 Dạng bài toán có phép tính cộng
Học sinh cần đọc kỹ đề bài, tìm hiểu các từ ngữ trong bài để xác định hướnggiải của bài toán Dạng này giáo viên hướng dẫn HS dựa vào một số từ ngữ để xácđịnh dạng bài như: Ở phần “cho biết” thường có các từ “và”, “thêm”, phần cần tìmthường có các cụm từ “Hỏi có tất cả”, “hỏi cả hai 2 buổi”, “hỏi cả hai bạn”…
Ví dụ 1: Bài tập 4 (Trang 14) Một lớp học có 14 học sinh nữ và 16 học sinh nam Hỏi lớp học đó có tất cả bao nhiêu học sinh?
Trang 11- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
Giáo viên cho học sinh đọc thành tiếng, đọc thầm
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điềucần tìm trong bài toán?
HS nêu những điều đã biết, những điều cần tìm của bài toán để tóm tắt bàitoán
2 Tìm cách giải bài toán
- Tóm tắt đề bài
Cách 1: Nữ: 14 học sinh
Nam: 16 học sinh Cách 2: Học sinh nữ: 14 bạn
Học sinh nam: 16 bạnTất cả……… học sinh?
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán
- Lập kế hoạch giải bài toán: Muốn biết lớp học đó có bao nhiêu học sinh talàm thế nào? Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “và” cụm từ “hỏi tất cả” đểxác định và nêu cách làm bài
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán
3 Tìm lời giải và trình bày lời giải
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải:
Số học sinh trong lớp học đó là Lớp học đó có số học sinh là,….)
HS nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng vàphân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
4 Xác định đơn vị bài toán
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu học sinh?)
Đơn vị bài toán là gì? (Học sinh)
11
? học sinh
Trang 125 Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêucầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học.
Bài giải
Số học sinh trong lớp học đó là:
14 + 16 = 30 (học sinh)
Đáp số: 30 học sinh
6 Kiểm tra bài toán
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm traphép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bàitoán
Ví dụ 2: Bài tập 4 (trang 15) Trong vườn có 9 cây táo, mẹ trồng thêm 6 cây táo nữa Hỏi trong vườn có tất cả bao nhiêu cây táo?
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:
1 Tìm hiểu đề bài toán:
Em hãy gạch 1 gạch dưới tất cả những điều đã biết, 2 gạch dưới những điềucần tìm trong bài toán?
Học sinh nêu những điều đã biết, những điều cần tìm Giáo viên cho học sinhnêu tóm tắt để xác định dạng bài từ đó định hướng cách làm bài
2 Tìm cách giải bài toán
- Tóm tắt đề bài
Có: 9 cây táo
Thêm: 6 cây táo
Có tất cả…… cây táo?
- Học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại bài toán
Lập kế hoạch giải bài toán:
Muốn biết trong vườn có tất cả bao nhiêu cây táo ta phải làm phép tính gì?Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào từ “thêm” cụm từ “hỏi tất cả” để xác địnhcách làm
- Học sinh nêu trình tự giải bài toán
Trang 133 Tìm lời giải và trình bày lời giải.
Hãy nêu lời giải cho bài toán? (Học sinh dựa vào câu hỏi để nêu câu lời giải:Trong vườn có tất cả số cây táo là, Tất cả số cây táo trong vườn là….)
HS nêu nhiều hướng đặt lời giải khác nhau, giáo viên phải định hướng vàphân tích để các em lựa chọn lời giải phù hợp, chính xác bằng các câu hỏi:
Lời giải này phù hợp chưa?
Vì sao em cho là phù hợp?
4 Xác định đơn vị bài toán
Bài toán yêu cầu tìm gì? (Có tất cả bao nhiêu cây táo?)
Đơn vị bài toán là gì? (Cây táo)
5 Trình bày bài giải: Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải theo đúng yêucầu, đẹp, sạch sẽ và khoa học
Bài giảiTrong vườn có tất cả số cây táo là:
9 + 6 = 15 (cây)
Đáp số: 15 cây táo
6 Kiểm tra bài toán
Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt, kiểm traphép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bàitoán