Trong chương trình giáo dục Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh. Mục tiêu của môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động cùng lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Mặt khác môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Nó không chỉ bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt mà còn hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong chương trình giáo dục Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh
Mục tiêu của môn Tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động cùng lứa tuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Mặt khác môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Nó không chỉ bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt mà còn hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh
Tập làm văn là một phân môn của môn Tiếng Việt , Tập làm văn không chỉ có nhiệm vụ củng cố nhận thức rèn luyện kĩ năng nghe, nói, viết và đọc cho học sinh mà còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng là phát huy óc sáng tạo, phát triển năng lực suy luận, óc quan sát, óc tưởng tượng, bồi dưỡng tình cảm và mĩ cảm cho học sinh Phân môn Tâp làm văn là môn học có tính chất tổng hợp, có khả năng xung kích Vì thế ta dạy cho học sinh nói tốt, viết tốt là đã góp phần làm cho học sinh có kiến thức về ngôn ngữ (dùng từ, đặt câu ) mà còn trau dồi cho các em kiến thức văn học, kiến thức về đời sống, để từ đó các
em có ý thức tạo thêm cái đẹp trong thiên nhiên và cuộc sống
Trong thực tế, giáo viên dạy khối 4, 5 gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh Quá trình giảng dạy cho thấy các
em học môn Tiếng Việt còn nhiều hạn chế Các em thích học Toán hơn học Tiếng Việt, “Dạy như thế nào để các em có kiến thức tốt, có kĩ năng viết và trình bày một bài văn miêu tả hay?” Đó là những câu hỏi luôn đặt ra trong tôi trong quá trình được phân công giảng dạy Cũng từ đó tôi đã tìm ra những biện pháp giảng dạy tốt nhất Vì vậy tôi mạnh dạn trình bày một sáng kiến kinh nghiệm
nhỏ “Biện pháp nâng cao chất lượng văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” mà
bản thân tôi đã rút ra qua thực tế giảng dạy nhằm giúp học sinh học văn miêu tả tốt hơn
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Văn miêu tả là một kiểu văn có vị trí rất quan trọng trong chương trình Tiếng Việt cấp Tiểu học, văn miêu tả được đưa vào dạy từ lớp 2, lớp 3 nhằm rèn cho học sinh một số kĩ năng bộ phận, ban đầu giúp các em làm quen với loại văn bản này Lên lớp 4, lớp 5 học sinh được rèn kĩ năng viết văn miêu tả ở mức độ
Trang 2cao hơn để từ đó có thể tạo lập những văn bản hoàn chỉnh, mang đậm dấu ấn cá nhân Ở lớp 4, lớp 5 các em đã học các loại văn miêu tả như: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả loài vật, tả cảnh, tả người Với thời lượng (trừ 4 tuần
ôn tập và thi kiểm tra định kì thì văn miêu tả ở lớp 4 như sau: Cả năm lớp 4 (30 tiết), lớp 5 (46 tiết)
Phân môn Tập làm văn tích hợp kiến thức của nhiều phân môn như: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu và được sắp xếp có sự gắn bó chặt chẽ với chủ điểm của tuần học
Thông tin của môn tập làm văn được thể hiện toàn bộ bằng kênh chữ, không có kênh hình minh họa
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Học sinh lớp 4, 5 trường Tiểu học
- Chương trình phân mônTập làm văn 4, 5
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1, Thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu tham khảo
2, Điều tra khảo sát thực tế
3, Sử dụng phương pháp khác: Phân tích ngôn ngữ, trực quan, quan sát, so sánh đối chiếu, thống kê và xử lí số liệu thu được
PHẦN 2: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Miêu tả là thể hiện bằng lời văn, nét vẽ, động tác làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc nội tâm con người
Văn miêu tả là loại văn dùng để trình bày những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh nhằm làm cho những cái được miêu tả như hiện ra trước mắt người đọc, người nghe, giúp họ có thể hình dung
ra chúng một cách cụ thể sinh động Miêu tả trong văn chương phải dựa trên quy luật của cái đẹp, lấy cái đẹp làm cứu cánh Văn miêu tả là dùng ngôn từ để thể hiện cái đẹp và tâm hồn nội tâm, nhận thức của con người, giúp cho người đọc tiếp nhận gián tiếp cái đẹp ấy thông qua trí tưởng tượng của mình
Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học văn miêu tả chiếm một vị trí vô cùng quan trọng bởi vì nó là “chìa khóa” mở cánh cửa tri thức cho các em bước vào một tương lai tươi đẹp Kho tàng mà các em thu nhận được ngày hôm nay
sẽ là hành trang sau này các em vững bước vào đời Song do các yếu tố tác động khác nhau như di truyền, điều kiện sống, sự tác động của các yếu tố khách quan
có tác động lên sự nhận thức của học sinh dẫn đến năng lực nhận thức và kết quả
Trang 3học tập của các em khác nhau Vì thế trong cùng một lứa tuổi, trong một khối lớp mỗi em có một kết quả học tập khác nhau và có những xu hướng phát triển khác nhau Nhằm tạo ra một hệ thống những giải pháp khác nhau tác động vào các cá thể giúp cho mỗi cá thể phát huy sự năng động, tích cực và sáng tạo của mình để đạt được kết quả học tập cao nhất theo định hướng của mục tiêu Chính
vì thế nên tôi đã mạnh dạn tìm hiểu, nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy
và đúc rút thành kinh nghiệm của bản thân Những biện pháp và giải pháp nêu trong đề tài này không tránh khỏi những hạn chế do trình độ cũng như thời gian
có hạn nên tôi rất mong sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của đồng nghiệp để đề tài của tôi có chất lượng và hiệu quả hơn trong giảng dạy
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Năm học vừa qua tôi được phân giảng dạy ở lớp 4 tình hình thực tế có một số thuận lợi và khó khăn như sau:
1, Thuận lợi:
- Cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ Học sinh được học trong phòng có đầy đủ ánh sáng, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè, có tủ đựng
đồ dùng trang thiết bị, có bàn ghế đúng quy cách Nhà trường có phòng máy chiếu phục vụ cho việc dạy học bằng giáo án điện tử
- Về học sinh: Các em rất giàu khả năng sáng tạo, ở độ tuổi lớp 4, 5 các
em thích tỏ ra mình là người lớn say mê nghệ thuật, ham học hỏi, ham hiểu biết Luôn hồn nhiên ngây thơ, trong sáng Các em cảm nhận thế giới xung quanh theo cách riêng của mình Với sự phát triển kinh tế như hiện nay nhiều gia đình
đã biết quan tâm đến học sinh nhiều hơn trước Sự kết hợp giữa giáo dục tay ba
là điều kiện tốt giúp các em phát triển
- Nội dung các bài tập làm văn lớp 4, 5 được gắn với các chủ điểm, có sự tích hợp rõ nét với các phân môn khác Ví dụ: Gắn với chủ điểm vẻ đẹp muôn màu học sinh được làm quen với văn miêu tả cây cối, với các bài mẫu như tả sầu riêng, hoa học trò (dùng làm bài tập đọc trong chủ điểm- tuần 22- TV 4) Gắn với chủ điểm Việt Nam – Tổ quốc em Học sinh được làm quen với văn tả cảnh qua bài tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tuần 1- TV 5) Một số ngữ liệu dùng trong phân môn Luyện từ và câu có tác dụng rất tốt đối với việc dạy học văn miêu tả Ví dụ: Câu chuyện Bầu trời mùa thu (LTVC tuần 9- TV 5) giúp học sinh mở rộng vốn từ và quan sát cách dùng từ chỉ hiện tượng thiên nhiên trong văn tả cảnh
Nội dung kiến thức các bài văn miêu tả rất gần gũi thân quen với các em giúp các em có đủ điều kiện để quan sát trực tiếp kĩ lưỡng Đồng thời nó không
gò bó là tả một đồ vật, một cây hay một con cụ thể mà là các em lựa chon những
Trang 4đồ vật, con vật và cây cối em thích theo chủ điểm Từ đó giúp các em bộc lộ
dễ dàng tình cảm, cảm xúc của mình khi viết
- Về phía giáo viên: Nắm vững nội dung chương trình, phương pháp đặc thù của bộ môn, có chuyên môn vững vàng, hiểu tâm lí từng học sinh trong lớp, nắm được học lực của từng học sinh từ đó có hướng rèn luyện đúng đắn tạo hứng thú học văn miêu tả cho các em
Việc dạy tiếng Việt nói chung và Tập làm văn nói riêng đã quan tâm đến việc trau dồi vốn từ, trau dồi cách diễn đạt (luyện nói, luyện viết) cho học sinh, cũng bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm cho học sinh
Giáo viên là người tổ chức các hoạt động của học sinh trên lớp nên có sự chủ động linh hoạt điều chỉnh phương pháp phù hợp trong các tiết học Nhiều phụ huynh học sinh cũng mong muốn có sự quan tâm hơn nữa của nhà trường và thầy
cô giáo đối với môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để nâng cao dần năng lực nói và viết tiếng Việt của các em, để các em có điều kiện bộc lộ hết hết khả năng vốn có của mình Đó là nguyện vọng chính đáng
2,Khó khăn
-Thực tế dạy học nhiều năm ở lớp 4, 5 tôi thấy đa số học sinh không thích làm văn miêu tả, những bài văn miêu tả hầu hết còn rất sơ sài, đơn điệu về ngôn
từ, cũng như cách diễn đạt chưa mạch lạc, chưa hấp dẫn, sinh động, thiếu những hình ảnh so sánh, nhân hóa Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi cùng với vốn sống
và vốn từ của các em còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến khả năng dùng từ và diễn đạt của các em Vì vậy, chất lượng bài văn miêu tả còn thấp, số bài văn diễn đạt hay còn quá ít
- Học sinh Tiểu học chưa có khả năng tổng hợp và khái quát vấn đề chỉ mới chú trọng, tập trung vào một vài chi tiết nhỏ
- Điều kiện sống của các em ở nông thôn nên việc mua sắm tài liệu thêm
để đọc, tìm tòi và tích lũy vốn kiến thức còn hạn chế, ý thức học của học sinh Tiểu học chưa cao
Giáo viên đã quan tâm đến việc trau dồi vốn từ, trau dồi cách diễn đạt (luyện nói, luyện viết) cho học sinh, bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm cho học sinh Song còn hạn chế phần rèn kĩ năng quan sát thực tế để tìm ý và còn coi nhẹ việc tích lũy dần các tư liệu văn học cho học sinh, thường mới chỉ giải quyết yêu cầu trước mắt chưa có nền tảng cơ sở vững chắc lâu dài Nghĩa là chỉ mới thông qua các dạng bài tập yêu cầu học sinh làm và chấm chữa bài để học sinh rút kinh nghiệm cho những bài sau Do vậy chất lượng các bài văn miêu tả vẫn chưa có
sự chuyển biến rõ nét, cụ thể qua kết quả khảo sát bài văn miêu tả của học sinh
Trang 5lớp 4A trường Tiểu học trước khi chưa áp dụng cải tiến biện pháp nâng cao chất lượng văn miêu tả thì kết quả đạt như sau:
Số học sinh tham gia khảo sát có 28 em trong đó:
Giỏi: 1 em= 3,7% Khá: 3 em= 10,7%
Trung bình: 14 em= 50% Yếu: 10 em= 35,7%
Kết quả này phản ánh chất lượng văn miêu tả chưa cao so với khả năng và thực lực của học sinh trong lớp Hơn nữa bản thân tôi nhận thấy để học sinh làm được một bài toán đạt điểm 9, 10 đã khó, viết một bài văn đạt điểm 9, 10 lại càng khó hơn nhưng có được kết quả này thì thật thú vị biết bao Từ thực trạng nêu trên, để chất lượng văn miêu tả của học lớp 4, 5 trường Tiểu học đạt kết quả tốt hơn và cũng vì muốn tiếp sức cho các em trong công việc khó khăn thú vị này nên khiến tôi băn khoăn suy nghĩ và tìm ra một số giải pháp thực hiện như sau
III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Nhiều giáo viên và phụ huynh học sinh nêu câu hỏi: Nên dạy tập làm văn miêu tả như thế nào cho hiệu quả? Theo tôi dạy tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng không nên cho học sinh học thuộc văn mẫu để bắt chước Dạy kiểu đó chỉ tạo ra những con vẹt, bài văn sẽ không có cá tính, không có hồn, không làm rung động được người đọc vì giả tạo, thiếu chân thực Do vậy để nâng cao chất lượng văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 cần thực hiện các biện pháp sau:
Một là: Hướng dẫn học sinh đọc sách nâng cao năng lực cảm thụ văn học, tích lũy dần các tư liệu văn học
Hai là: Làm giàu vốn từ
Ba là: Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, sắp xếp ý
Bốn là: Trau dồi cách diễn đạt (luyện nói, luyện viết)
Năm là: Bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm
Sáu là: Tăng cường sử dụng phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của người học, thầy cô chỉ đóng vai trò là người tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được được bộc lộ mình và phát triển
1.Biện pháp 1: Hướng dẫn đọc sách, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, tích lũy dần các tư liệu văn học.
a, Hướng dẫn đọc sách:
Học sinh Tiểu học thường đọc sách nhằm biết cốt truyện, thiếu nghiền ngẫm, suy nghĩ để cảm thụ sâu Đối với các lớp đầu cấp ta có thể chấp nhận điều đó nhưng đối với học sinh lớp 4, 5 chúng ta cần đặt yêu cầu cao hơn, cần gợi thêm những nội dung cụ thể cho các em tìm hiểu suy nghĩ như: Đánh giá nhân vật
Trang 6trong tác phẩm (ca ngợi hoặc phê phán hành động, ý nghĩ của các nhân vật chính diện, phản diện) Bố cục của tác phẩm (cách sắp xếp theo trật tự nào, có gì mới?).Ý nghĩa của tác phẩm (chủ đề, tác dụng giáo dục) Cảm nghĩ của bản thân sau khi đọc tác phẩm
Từ các nội dung gợi ý trên, giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh suy nghĩ để trả lời Quá trình suy nghĩ sẽ giúp các em cảm thụ sâu tác phẩm Ví dụ: Về truyện
“Cây khế” ta nêu câu hỏi “ Con chim Phượng Hoàng có cố ý trừng phạt người anh tham lam không?” để các em suy nghĩ và tranh luận, các em sẽ thấy được ở các truyện khác, nhân vật tiên xuất hiện thường giúp đỡ những người hiền lành hoặc trừng trị kẻ ác (Như ông Bụt giúp đỡ cô Tấm trong truyện Tấm Cám hoặc sét đánh chết Lí Thông trong truyện Thạch Sanh) thì trong truyện này, chim Phượng Hoàng là một con chim tốt bụng ăn khế của ai cũng mong muốn trả ơn, không hề có ý trừng trị người anh Sở dĩ người anh chết là vì lòng tham, lấy quá nhiều vàng làm cho sức chim không mang nổi Học sinh các lớp 4, 5 rất thích thảo luân, tranh luận nếu câu hỏi vừa sức, hào hứng và bổ ích đối với các em
b, Nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
Cảm thụ văn học là một vấn đề thuộc phạm trù mĩ học, khi nói đến giáo dục thẩm mĩ, ta nói đến nhiều dạng khác nhau: cái đẹp, cái hùng, cái bi, cái hài Ở bậc Tiểu học, chủ yếu giáo dục học sinh rung cảm cái đẹp(cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội) Quy luật nhận thức là từ nông đến sâu, từ cảm giác, tri giác đến biểu tượng, khái niệm Vì vậy, nhận thức thẩm mĩ cũng qua các giai đoạn từ nông đến sâu như: cảm xúc thẩm mĩ, rung động thẩm mĩ, thị hiếu thẩm
mĩ, lí tưởng thẩm mĩ
Cảm xúc thẩm mĩ là sự rung động trước cái đẹp của thiên nhiên và xã hội Học sinh thấy một cánh đồng lúa chín vàng hoặc một em bé bụ bẫm thì thốt lên
“đẹp quá, xinh quá” Đó là giai đoạn đầu tiên, là hình thức thấp mà ta gọi là cảm xúc thẩm mĩ Qua quá trình phân tích, tìm hiểu kĩ hơn, sự tiếp thu sẽ đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn vì vận dụng cả trí tuệ và tình cảm để nhận thức Quá trình này tạo nên rung động thẩm mĩ Rung động thẩm mĩ có khả năng kích thích, thúc đấy sự hoạt động sáng tạo của con người Một em bé khi đã thích lấy bút vẽ một bức tranh hoặc là một bài thơ về một đề tài nào đó chính là rung động thẩm mĩ Cho nên khi hướng dẫn học sinh quan sát để làm văn miêu tả giáo viên dẫn dắt để học sinh tự khám phá nét đẹp, nét tiêu biểu để tạo nên rung động thẩm mĩ
Tích lũy dần các tư liệu văn học: Qua các bài tập đọc, học thuộc lòng và sách đọc thêm, học sinh nên có sổ tay văn học để ghi lại các câu thơ, câu văn hay Ngay từ đầu năm học khi bắt đầu học những bài học đầu tiên tôi đã hướng dẫn
Trang 7học sinh có sổ tay tích lũy văn học và cho đến bây giờ khi kiểm tra lại một số cuốn sổ tay tôi đọc được những câu văn, câu thơ các em đã ghi chép lại như sau:
“Bóng tre âu yếm bao trùm lên làng mạc xóm thôn Dưới bóng tre của ngàn xưa thấp thoáng mái chùa cổ kính.”
“ Dòng sông như một dải lụa đào vắt lên chiếc áo màu xanh của ruộng đồng”
“ Hàng trăm cây cọ múa xòe
Dây leo dưới gốc, nắng leo trên đầu ”
Xem sổ tay văn học của từng em ta sẽ thấy được khiếu thẫm mĩ riêng của các em Câu văn câu thơ nào các em thấy hay, thấy thích thú thì mới ghi chép lại Tích lũy vốn văn học, ghi chép các câu văn, câu thơ, câu ca dao hay giống như con ong cần cù hút nhụy hoa Đến một lúc nào đó qua sự chế biến nhụy hoa sẽ biến thành mật ngọt Ghi chép như vậy không phải là học vẹt để bê nguyên xi vào bài văn vì văn chương vốn kị sự bắt chước Vốn văn học tích lũy dần như là những viên gạch dùng để xây nhà Có nhiều gạch thì nhà mới dễ xây Đúng như cha ông ta đã từng nói “ có bột mới gột nên hồ”
2 Biện pháp 2: Làm giàu vốn từ.
- Học sinh hiểu thêm một từ mới là hiểu thêm một khái niệm mới Ngôn ngữ phát triển cùng với tư duy Kinh nghiệm cho học sinh tìm từ theo từng chủ đề, đề tài nhỏ là làm tăng vốn từ của các em Có biết bao đề tài nhỏ có thể gợi cho học sinh tìm từ Các đề tài này cần gắn chặt với các thể loại văn đang học Ví dụ: đang học văn tả cây, tả hoa thì cho các em tìm các từ ngữ nói lên các sắc độ khác nhau của màu sắc Chẳng hạn như màu đỏ: đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ son, đỏ hoe, đỏ thẫm, đỏ ối, đỏ au, đỏ chót, đỏ như gấc, đỏ như mặt trời Xanh: xanh lơ, xanh ngắt, xanh thẫm, xanh nhạt, xanh non, xanh nõn nà, xanh da trời Hay đang học
tả người thì cho các em tìm từ nói về khuôn mặt, con mắt, giọng nói dáng đi Muốn nâng cao chất lượng văn miêu tả khâu làm giàu vốn từ là không thể bỏ qua Trong khâu này cần làm giàu từ gợi tả âm thanh, hình ảnh, từ gần nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa cho các em
Học sinh cần phải làm giàu chữ nghĩa vì đối với văn miêu tả muốn tả cái hay phải giàu chữ nghĩa, chữ nghĩa ấy được cất lên từ cái hay, cái biết của người viết Người viết phải cất công chắt lọc bằng mồ hôi, trí óc để chọn được cái vàng ròng của ngôn từ Ngôn ngữ trong văn miêu tả phải giàu chất gợi cảm trên cơ sở biết sử dụng các lớp từ: tính từ, từ gợi tả âm thanh, hình ảnh Từ một màu trắng, một màu xanh, một màu đỏ đều có thể dùng hàng trăm cách thể hiện khác nhau để tạo nên các gam màu, các cung bậc khác nhau
Ví dụ: “Mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông Đà từ từ chín đỏ
Trang 8như da mặt của một người vừa bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bực bội gì mỗi độ thu về” (Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân) Trong văn miêu tả, các hình thức tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ tạo nên sự hòa đồng, vừa dễ nhận thấy vừa giàu sức gợi cảm, vừa gần gũi vừa gợi tả Việc trau dồi vốn từ khi viết văn miêu tả giúp các em mở rộng vốn từ để
đủ vốn từ diễn đạt các sự vật chính xác, sinh động trong miêu tả Trong đó phải lưu ý các lớp từ giàu sự tạo hình, tính gợi cảm cao Chỉ tiếng thác nước Nguyễn Tuân đã có cách biểu hiện rất sinh động: “Tiếng thác nước nghe như oán trách
gì, rồi lại nghe như là van xin, rồi lại nghe như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng cùng gào thét vời đàn trâu da cháy bùng bùng ) (Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân)
Tả chú bọ ngựa Tô Hoài đã dùng từ rất sáng tạo: “Anh đi chân nhắc từng bước cao ngang đầu gối kiểu bước chân ngỗng, cách thức rất ta đây kẻ giờ và hách dịch Cái khấc cổ vườn ra Cái mặt ngắn cũn nhưng cái cằm xuông bạnh lún Con mắt đu đưa tưởng như ai xung quanh chỉ còn có việc thán phục nhìn anh ta Hai sợi râu óng ả mấp máy phất lên phất xuống Hai lưỡi gươm bên mạn sườn, lưỡi có răng cưa, luôn luôn co vào trước ngực, ra lối ta đây con nhà võ, đi đứng thế võ, lúc nào cũng giữ miếng ’ (Dế Mèn phiêu lưu kí)
Cách dùng từ chọn hình ảnh so sánh, nhân hóa của tác giả theo đúng cách của các em Các em có thế giới riêng của mình có những sự giao hòa, đồng điệu với giai điệu cuộc sống của các em Thế giới khách quan trong cặp mắt của các em
có vẻ đẹp riêng Cho nên cách tả, màu sắc, chi tiết đưa ra thể hiện, vật đưa ra so sánh đều có sự khác biệt so với người lớn Cách bố cục bài viết, cách diễn đạt cũng rất riêng Giáo viên cần mở rộng con đường sáng tạo để các em phát huy hết khả năng của mình Mỗi em đều có đời sống, hoàn cảnh riêng đừng bắt em này giống em kia Cũng là người mẹ, cũng là người bà, cũng là một em bé nhưng mỗi em có cách nhìn riêng, cách thể hiện riêng, tránh khuôn mẫu em nào cũng giống em nào
Bài văn của các em trước tiên phải có độ chân thực của nỗi lòng các em, cảm xúc của các em Hiện thực đó thể hiện qua lăng kính cuộc đời của em
3, Biện pháp 3: Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, sắp xếp ý
Muốn viết bài văn miêu tả tốt, trước hết phải dạy học sinh cách quan sát Quan sát là hình thức cao nhất của tri giác Quan sát không chỉ nhìn và thấy mà phải được hiểu là tổng thể hoạt động của các giác quan bao gồm; nhìn thấy, ngửi thấy, sờ thấy, cảm thấy Quan sát là cửa ngõ nối liền thế giới khách quan với thế giới chủ quan Quan sát là một hoạt động có tính chủ đích, có động cơ, có
Trang 9hứng thú để đi đến kết quả Kết quả trong quan sát để miêu tả đó là việc đem tới một nhận thức mới, một cảm xúc mới có tính thẫm mĩ trong cảm nhận về đối tượng Bất kì sự tưởng tượng nào dù có phong phú và kì vĩ đến đâu cũng đều bắt đầu từ thực tế, gắn với đời sống thực tế Quan sát không chỉ là cảm nhận bề ngoài mà còn phải nhập thân, hóa thân vào nhân vât, sống đời sống tâm hồn của nhân vật Muốn quan sát tốt người quan sát cần phải biết chọn cho mình một điểm nhìn, một góc nhìn hợp lí Do điểm nhìn, góc quan sát khác nhau, đem đến những hình ảnh khác nhau, trong đó thể hiện rõ dấu ấn của người nhìn Trẻ thơ khác với người lớn, trẻ em nông thôn có cái nhìn khác trẻ em thành thị Góc nhìn, cách nhìn còn là qua điểm, thái độ và thể hiện nó bằng nhãn quan thẩm mĩ của chính mình
Quan sát khi làm văn giống như người họa sĩ quan sát mẫu vẽ Nếu người họa sĩ chỉ ngồi trong phòng để vẽ một cảnh gặt lúa thì bức tranh sẽ không thực
tế, không sinh động vì không thể hiện đúng hình dáng, màu sắc, âm thanh Quan sát một người để miêu tả khi làm văn (như quan sát một người thợ rèn, một cô y
tá, một cụ già, một anh bộ đội ) phải tìm được những nét riêng biệt về hình dáng, khuôn mặt, giọng nói, tính tình của người đó thì bài tả mới sinh động Miêu tả cánh đồng mùa cấy tác giả Trần Đăng Khoa viết:
Nơi này mấy bác cày Đầu nghiêng nghiêng chiếc nón Tiếng trâu và tiếng người
Vang ruộng dài bì bõm
Nơi kia là mấy chị Thì thòm tắt gàu giai Nước reo trong lòng máng Bọt tung trắng hoa nhài
Nơi ấy mấy cô cấy Ngửa tay phía mặt trời
Mạ bén hàng đứng thẳng Hồn nhiên trong tiếng cười
(Cánh đồng làng Trực Trì) Phải có sự quan sát thực tế cảnh cánh dồng đang vào mùa cấy thì tác giả mới có được những hình ảnh châ thực và sinh động đến như vậy Hơn nữa quan sát thực tế cũng cần sự tinh tế Việc quan sát tinh tế cho ta vẻ đẹp trong bài văn miêu tả
Ví dụ: Cảnh lá rụng
Trang 10“ Trời cuối đông Vàng úa nhuộm màu buồn vô hạn Một luồng gió lạnh thổi qua, cành cây chao qua chao lại, mấy chiếc lá lắc lư thật mạnh rồi rụng
Mỗi chiếc lá rụng có linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng Có chiếc tựa mũi tên nhọn, tự cành cây cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng, thản nhiên không thương tiếc, không do dự vẩn vơ Có chiếc lá như con chim lảo đảo mấy vòng trên không, rồi cố gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho chậm tới cái giây phơi trên mắt đất Có chiếc lá nhẹ nhàng đùa bỡn, múa may với làn gió thoảng như thầm bảo rằng sự đẹp của vạn vật chỉ ở hiện tại: Cả một thời quá khứ dài dằng dặc của chiếc lá ở trên cành cây không bằng vài giây bay lượn, nếu sự bay lượn ấy có vẻ đẹp nên thơ Có chiếc lá như sợ hãi, ngần ngại, rụt rè, rồi gần như tới mặt đất còn cất mình muốn bay trở lại trên cành Có chiếc lá đầy âu yếm rơi bám vào một bông hoa thơm hay đến mơn trớn trên ngọn cỏ xanh mềm mại
Mỗi chiếc lá rụng là một cái biểu hiện cho một cảnh biệt ly Vì vậy sự biệt
ly không chỉ có nghĩa buồn rầu, khổ sở Sao ta không ngắm sự biệt ly theo tâm hồn một chiếc lá nhẹ nhàng rơi.”
Bài văn tuy ngắn nhưng có đầy đủ ba phần của một bài văn miêu tả hoàn chỉnh Mỗi chiếc lá rơi theo một kiểu, thấm đẫm tâm trạng tư tưởng cảu người viết và mỗi chiếc lá có linh hồn riêng
Vì trẻ thường chưa có thói quen quan sát toàn diện nên cần có sự hướng dẫn của giáo viên Ví dụ quan sát để làm một bài văn tả phong cảnh giáo viên cần giúp học sinh phát hiện những nét đặc sắc của bầu trời, sông núi nhà cửa, cây cối ở nơi đó và phải quan sát bằng nhiều giác quan Quan sát đối tượng miêu
tả mới chỉ là bước thu thập tài liệu Học sinh còn phải biết sàng lọc bỏ thô lấy tinh Dựa vào đâu để lấy tinh? Chỗ dựa chính là phải nắm được ý chủ đạo của bài văn sắp viết ra Nếu bài văn nhằm nêu cảnh đẹp thì phải chọn đường nét đẹp, màu sắc đẹp, âm thanh hay, còn những cái khác không phục vụ cho ý chủ đạo đó thì kiên quyết gạt ra Khi hướng dẫn học sinh quan sát sự vật trước khi tả giáo viên cần lưu ý học sinh:
- Quan sát cần gắn liền quan sát bên trong với quan sát bên ngoài: quan sát bên trong là dùng các giác quan mà vẽ nên hình dáng, đường nét, âm thanh, màu sắc, hương vị quan sát bên trong là quan sát cái “hồn”, cái “thần” và có sự tham gia của các hình ảnh so sánh, suy nghĩ cảm xúc
- Quan sát phải gắn liền với so sánh, liên tưởng, tìm ra những nét đồng nhất, độc đáo của sự vật, gắn liền tình yêu thái độ của tác giả Điều hết sức quan trọng là cần hướng dẫn học sinh trong quan sát phải có sự lựa chọn, không nên thấy cái gì cũng tả cái đó, phải tìm được ra nét đặc biệt, chủ yếu của sự vật, hiện