1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 3

24 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với toàn xã hội đang thực hiện CNH – HĐH đất nước, chúng ta phải luon luôn không ngừng phát triển giáo dục – đào tạo những con người có vốn tri thức khoa học, kĩ thuật. Do đó việc đẩy mạnh công tác giáo dục trong tất cả các nhà trường là rất quan trọng. Đặc biệt là ở các trường Tiểu học, cấp học nền tảng cho những cáp học tiếp theo. Tròng công tác giáo dục này “nghề thầy giáo rất quan trọng và rất vẻ vang” người giáo viên chúng ta không những chỉ truyền đạt cho học sinh những tri thức khao học để học sinh có thể vạn dụng khi các em bước vào đời và giáo dục cho các em phẩm chất, đức hạnh đó là tính khiêm tốn, thật thà, cẩn thận, lòng kiên trì, dũng cảm….Đức tỉnh đó thể hiện qua “Nét chữ Nết người”.

Trang 1

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

I LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với toàn xã hội đang thực hiện CNH – HĐH đất nước, chúng taphải luon luôn không ngừng phát triển giáo dục – đào tạo những con người cóvốn tri thức khoa học, kĩ thuật Do đó việc đẩy mạnh công tác giáo dục trong tất

cả các nhà trường là rất quan trọng Đặc biệt là ở các trường Tiểu học, cấp họcnền tảng cho những cáp học tiếp theo Tròng công tác giáo dục này “nghề thầygiáo rất quan trọng và rất vẻ vang” người giáo viên chúng ta không những chỉtruyền đạt cho học sinh những tri thức khao học để học sinh có thể vạn dụng khicác em bước vào đời và giáo dục cho các em phẩm chất, đức hạnh đó là tínhkhiêm tốn, thật thà, cẩn thận, lòng kiên trì, dũng cảm….Đức tỉnh đó thể hiệnqua “Nét chữ - Nết người”

Như chúng ta đã biết, chữ viết là hệ thống kí hiệu bằng đường nét đặt ra

để ghi tiếng nói và có những quy tắc, quy định riêng Chức năng của chữ viết làđại diện cho lời nói, cố định hóa lời nói Cho nên trong những năm gần đây,nhiều công trình nghiên cứu của ngôn ngữ học thường trở lại vấn đề lịch sử chữQuốc ngữ và dường như muốn góp thêm những suy nghĩ tích cực làm giảmgánh nặng về việc dạy và học cách viết đúng, không những cho học sinh màcòn cho cả người lớn nữa Các “mẹo” luật chính tả, từ điển chính tả ra đời rấtnhiều nhưng hiện tượng học sinh (và cả người lớn) viết sai lối chính tả vẫn còntồn tại

Vấn đề chữ viết ngày càng là một vấn đề đang được chú trọng hơn NÓ làmột trong ba nội dung của vấn đề giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Đây lànhiệm vụ của môn chính tả gánh một phần trách nhiệm không nhỏ trongchương trình Tiểu học Mà chính tả là môn học vừa rèn luyện kĩ năng chữ viêt,vừa rèn luyện năng lực tưu duy, phẩm chất đạo đức hco học sinh Tiểu học Họcsinh biết sử dụng Tiếng Việt, viết đúng chính tả, chữ viết đẹp, rõ ràng thì hiệu

Trang 2

quả học tập sẽ cao Có thể khẳng định rằng: Với học sinh tiểu học, chính tả làmôn học khó bởi vì để được điểm mười môn toán dễ bao nhiêu thì điểm mười

về phân môn chính tả khó bấy nhiêu

Song với hoàn cảnh thực tại, trình độ giáo viên và học sinh còn có hạn,điều kiện dạy và học ở trường cũng hạn chế nhiều Giáo viên trong giờ dạy còndùng nhiều tiếng địa phương, phát âm chưa chuẩn chính tả dẫn đến học sinhviết sai nhiều Bên cạnh đó rất nhiều học sinh không nắm chắc luật chính tả Màchúng ta biết rằng: Thuật ngữ “chính tả” hiểu theo nghĩa gốc là “phép tínhđúng” hoặc lối viết “hợp với chuẩn” Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc vềcách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác, chính tả làmột chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân,mục đích của nó làm phương tiện thuận lợi cho việc giao tiếp bằng chữ viết,đảm bảo cho người viết và người đọc điều hiểu thống nhất những điều đã viết.Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, một sự quy định có tínhchất bắt buộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép vận dung quy tác một cáchlinh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân Một ngôn ngữ không thể không cóchính tả thống nhất Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữviết mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước cũng như giữacác thế hệ đời trước với đời sau Chính tả thống nhất là một trong những biểuhiện của trình độ văn hóa phát triển ở một dân tộc

Chính tả cùng với tập viết, tập đọc, tạp nói giúp cho người học chiếm lĩnhđược tiếng việt văn hóa công cụ để giao tiếp, tư duy học tập Đối người sử dụngTiếng Việt, viết đúng chính tả chứng tỏ người có trình độ văn hóa về mặt ngônngữ, viết đúng chính tả giúp cho học sinh có điều kiện để sử dụng Tiếng Việtđạt hiệu quả cao trong trong việc học tập các bộ môn văn hóa, trong việc viếtvăn bản, thư từ…Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi nhận thấy việc sửa lỗi sai chính

tả cho học sinh là cần thiết nhàm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinhTiểu học nói chung học và sinh lớp 3 nói riêng nên tôi mạnh dạn nêu lên một

Trang 3

vài kinh nghiệm nhỏ để “Khắc phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 3” trong

mỗi giờ học chính tả

II THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN CHÍNH TẢ

LỚP 3 CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH LỚP 3.

Qua khảo sát, nghiên cứu thực tế dạy – học chính tả trong trường tôi thấy

có những ưu, nhược điểm sau:

1 Ưu điểm

Trong mấy năm gần đây, Nhà trường đã tạo điều kiện cho giáo viên đượctham gia tiếp thu chuyên đề thay sách lớp 3 và cung cấp đầy đủ trang thiết bịnhư sách giáo khoa, sách giáo viên, đồ dùng dạy học khác

- Trong trường đã có một số giáo viên nghiên cứu, tìm hiểu kĩ chươngtrình và hệ thống các bài tập của phân môn chính tả Thấy được cấu trúc củachương trình hiểu ý đồ của tác gia rbieen soạn

- Một số giáo viên đã nắm vững phương pháp dạy học, có hình thức tổchức tổ chức phù hợp với từng kiểu bài Chính vì thế mà tiết dạy của họ thườngđạt hiệu quả cao

- Một số đồng chí đã có cách xử lí tình huống nhanh nhạy, gần gủi vớihọc sinh nên tạo cho các em một tâm lí thoải mái khi học bài

2 Tồn tại.

2.1 Đối với giáo viên.

- Bản thân tôi và một số đồng chí giáo viên trong trường thực sự chưa chịu khótìm hiểu kĩ chương trình và hệ thống các bài tập trong phân môn chính tả.Chúng tôi chưa nhìn thấy được mức độ cần thiêt của công việc này mà hầu hếtmới chỉ đi theo đường mòn mà chưa có sự sáng tạo Điều này đã ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng giảng dạy phân môn chính tả

- Một số giáo vien vẫn chưa hiểu hết dụng ý trong sách giáo khoa nóichung và phân môn Chính tả nói riêng Giáo viên còn phụ thuộc vào sách giáoviên nhiều, ngoài ra trong giờ dạy còn dùng nhiều tiếng địa phương, phát âm

Trang 4

chưa chuẩn chính tả dẫn đến việc hướng dẫn học sinh viết sai Không những thế

mà giáo viên còn không dự kiến được các lỗi mà học sinh mắc phải, cũngkhông tìm ra được cách khắc phục các lỗi đó như thế nào

- Phân môn Chính tả chưa thực sự được giáo viên quan tâm, họ vẫn cònxem nhẹ phân môn chính tả, coi trọng cách làm toán làm văn hơn

2.2 Đối với học sinh

- Lớp 3A là một lớp học duy nhất trong khối, địa bàn cư trú của học sinhtrải rộng khắp xã, học sinh đa phần là con em nhà nông, vì mãi lo “miếng cơmmanh áo” mà hình như một số gia đình đã hình như lãng quên việc học hànhcủa con cái, chỉ được một số rất ít là con gia đình cán bộ có điều kiện quan tâmcủa bố mẹ, còn lại các em do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, do thiếu sự quan tâm củacha mẹ Hơn nữa có một số phụ huynh đi làm ăn xa gửi con nhờ ông bà nuôihoặc do trình độ còn hạn chế việc dạy bảo con cái học hành là rất khó khăn

- Một số học sinh khi viết chính tả chưa có ý thức rèn luyện chữ viết màchỉ cần viết nhanh để xong việc cô giao Các em không nắm vững được quy tắcviết chính tả mà chỉ viết theo cách nhớ máy móc và cũng chưa kiên trì luyệnviết Chính vì thế mà chữ viết của nhiều em rất xấu, viết không đúng chính tảhoặc mắc nhiều lỗi chủ yếu là lỗi về phụ âm đầu tr/ch; s/x; r/d/gi, thanh hỏi,thanh ngã, nguyên âm đôi hoặc tiếng địa phương

- Kĩ năng nghe – viết của các em còn hạn chế, các em thường không nghe

cô đọc hết câu nghe chính xác rồi mới viết mà chỉ nghe thoáng qua là viết ngay

- Một số học sinh còn có ý nghĩ bây giờ máy tính nhiều cần gì phải luyệnviết kể cả luyện viết đúng chính tả

3 Kết quả khảo sát chất lượng về lõi sai trên vở viết chính tả của học sinh tronglớp

3.1 Khảo sát chất lượng về lỗi sai trên vở viết chính tả của học sinh

Ngay tuần thứ 4 tôi đã tiến hành khảo sát chính tả ở lớp xem mức độ cá

em viết thế nào Khi chấm bài cho các em tôi mới nhận ra rằng “Bao nhiêu lỗi

Trang 5

chính tả của cá em là bấy nhiêu lối chính bản thân mình” Tỉ lệ học sinh viết saichủ yếu những lỗi sau:

Bảng thống kê lỗi sai – Tổng số học sinh 26 em.

Lỗi không phân biệt được các phụ âm đầu tr/ch; s/x; r/d/gi 9 em = 34,6%Lỗi không phân biệt được thanh hỏi, thanh ngã 5 em = 19.2%Lỗi không phân biệt được các nguyên âm đôi 5 em = 19,2%Lỗi do ảnh hưởng của tiếng địa phương 7 em = 27 %

3.2 Nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của học sinh là:

Giáo viên:

Giáo viên chưa nắm vững yêu cầu cần đạt cỉa một tiết chính tả lớp 3.Chưa hiểu hết ý đồ của sách giáo khoa, chưa khai thác hết nội dung yêu cầu bàitập Giáo viên chưa giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả hay những “mẹo”cần thiết khi viết chính tả

Học sinh:

1 Do ảnh hưởng của tiếng địa phương, đây là tình trạng sai chính tả hầu hết cálớp, các vùng, tiếng địa phương đã được các em đưa vào bài viết của mình rấtnhiều, song điều này vẫn chưa khắc phục được Điển hình là các cặp vần iêu/iu

và uya/ia; ươu/ưu; uyêt/iêt; iên/uyên và các phụ âm đầu

Ví dụ: tr/ch; s/x …thanh hỏi; thanh ngã…

2 Do không năm được nghĩa của từ dẫn đến viết sai chính tả, người đọc sẽ hiểusai

Hai từ này chỉ khác nhau ở dấu thanh ?/

- dâu (cô dâu)

- râu (chòm râu)

Trang 6

Hai từ này chỉ khác nhau ở âm đầu d/r

3 Do không nắm vững cấu trúc âm tiết tiếng việt, vì không hiểu cấu trúc nội bộcủa âm tiếng việt, chưa nắm vững luật chính tả như là dùng nhiều tổ hợp, nhiềuchữ cái để ghi lại một âm dẫn đến học sinh viết thừa, viết sai

Ví dụ: qoanh co; khúc khủy, ngoằn ngèo, lời ngền…

4 Trong giờ chính tả học sinh chưa nghiêm túc, chưa có thói quen nghe giáoviên đọc hết câu mới viết mà hầu như các em chỉ nghe vài tiếng đầu rồi cúi đầuviết ngay, điều này dẫn đến việc không phân biệt được khi viết

5 Thời gian để dành cho môn chính tả nhà quá ít, các em chưa đầu tư cho việcrèn luyện chữ viết Những quy tắc chính tả không dược khắc sâu dẫn đến khôngphân biệt được khi viết là điều tât yếu

Tóm lại: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả của học

sinh Khi đã xác định được yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung chương trình mônchính tả và xác định được nguyên nhân dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả củahọc sinh, tôi bắt đầu dành thời gian cho việc nghiên cứu tìm ra những biện phápsửa chữa và rèn viết đúng chính tả cho học sinh để hạn chế dàn và khắc phụcnhững lỗi mà học sinh thường mắc phải

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Các giải pháp thực hiện

1 Nắm vững yêu cầu, kiến thức kĩ năng của phân môn chính tả

2 Nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa

3 Một số yêu cầu của giáo viên khi dạy chính tả

4 Giúp học sinh chữa được một số lỗi chính tả thường mắc

II Các biện pháp tổ chức thực hiện.

Biện pháp 1: Nắm vững yêu cầu, kiến thức kĩ năng của phân môn chính tả.

Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vịđược ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết thống

Trang 7

nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế đấy Trong giờ chính tả, học sinh

sẽ xác định được cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lờinói (Ví dụ: Hình thức chính tả nghe đọc) Cơ chế của cách viết đúng là xácnhận được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa đọc và viết, giữa tập đọc

và viết chính tả (chính tả nghe – đọc) có mối liên hệ mật thiết với nhau, nhưnglại có quy trình hoạt động trái ngược nhau Nếu tập đọc là sự chuyển hóa vănbản viết thành âm thanh thì chính tả là sự chuyển hóa văn bản dưới dạng âmthanh thành văn bản viết Tập đọc có cơ sở chuẩn mực là chính âm, còn tập viết

có cơ sở là chính tự (sự biểu hiện của quy tắc chính tả ở một đơn vị từ cụ thể)

Mục đích dạy chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo,thuần thục chữ tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, nghĩa là giúp cho học sinhhình thành kĩ xảo chính tả Khái niệm kĩ xảo trong Tâm lí học được hiểu là “những yếu tố tự động có ý thức được tạo ra trong quá trình thực hiện hoạt độngđó” Định nghĩa này bao hàm cả kĩ xảo vận động, kĩ xảo trí tuệ, trong đó có kĩxảo chính tả

Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả có nghĩa là giúp cho học sinh viếtđúng chính tả một cách tự động hóa, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quytắc chính tả, không cần đến sự tham gia của ý chí Để đạt được điều này, có thểtiến hành theo 2 cách: có ý thức và không có ý thức Cách không có ý thức (còngọi là phương pháp máy móc) chủ chương dạy chính tả không cần biết đến sựtồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ pháp âm

và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của chính tả mà chỉ đơn thuần làviệc viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể Cách dạy này tốn nhiều thì giờ,công sức và không thúc đẩy sự phát triển của tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máymóc ở một mức độ nhất định Cách có ý thức (còn gọi là phương pháp có ýthức, có tính tự giác) chủ trương cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc,các mẹo luật chính tả Trên cơ sở đó, tiến hành luyện tập và từng bước đạt tớicác kĩ xảo chính tả Việc hình thành các kĩ xảo bằng con đường có ý thức sẽ tiếtkiệm được thời gian, công sức Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao

Trang 8

nhất Đối với học sinh tiểu học cần vận dụng cả 2 cách nói trên Trong đó cách

có ý thức được sử dụng thích hợp chủ yếu ở các lớp cuối cấp

Trong nhà trường giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa phương pháp có

ý thức, muốn vậy giáo viên phải được trang bị những kiến thức về ngữ âm họcTiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tá, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi,nhất là việc xây dựng các quy tắc chính tả, các “mẹo” chính tả giúp học sinh ghinhớ cách viết một cách khái quát, có hệ thống

Biện pháp 2: Nắm vững nội dung chương trình sách giáo khoa.

a Nội dung:

Phân môn chính tả trong nhà trường Tiểu học giúp học sinh nắm vữngquy tắc chính tả và hình thức, kĩ năng, kĩ xảo chính tả Nói cách khác giúp họcsinh hình thành năng lực và thói quen viets dũng chính tả Phần chính tả ở Tiểuhọc chủ yếu là viết lại một số bài Tập đọc đã học, viết các cặp từ dễ lẫn lộn phụ

âm đầu, vần, thanh

Việc dạy chính tả được tiến hành theo một số nguyên tắc: Dạy chính tảtheo khu vực, kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức, phối hợpgiữa phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực, xây dựng cái đúng loại bỏcái sai

Giống như các phân môn khác trong chương trình, tính chất nổi bật củaphân môn chính tả là tính thực hành Bởi lẽ chỉ có thể thực hành các kĩ xảochính tả thông qua việc thực hành, luyện tập Do đó trong phân môn này, cácquy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lí thuyết không được bố trítrong tiết dạy riêng mà dạy lồng trong hệ thống bài tập chính tả

b Chương trình dạy chính tả ở lớp 3.

* Chương trình phân môn chính tả ở lớp 3 gồm:

- Tập chép (nhìn – viết), áp dụng trong nửa đầu học kì 1

- Nghe – viết (Hình thức luyện tập chủ yếu) Ở lớp 3 có thêm hình thức chính

tả nhớ - viết, áp dụng từ giữa học kì 1

- Chính tả âm, vần: Luyện viết các từ có âm, vần dễ viết sai chính tả

Trang 9

Biện pháp 3: Một số yêu cầu của giáo viên khi dạy chính tả.

1 Trước tiên người giáo viên cần nghiên cứu toàn bộ chương trình phânmôn chính tả đặc biệt là môn chính tả của lớp 3, mỗi tuần có 2 tiết chủ yếu làviết các bài tập đọc đã học và chính tả âm,vần Việc học chính tả ở lớp 3 đượcnâng cao dần và đều có mục đích chung là rèn luyện chữ viết cho học sinh.+ Về nội dung: Trong tất cả các tiết chính tả ở lớp 3 đều có 2 nội dung chính đólà: chính tả đoạn, bài và chính tả âm, vần Với bài chính tả đoạn, bài thì bài viếtđược trích hoặc tóm tăt từ nội dung bài tập đọc trước đó hay nội dung biên soạnmới Còn chính tả âm, vần hầu hết đều có các phần bài tập lựa chọn được đặttrong ngoặc đơn Mỗi bài tập lựa chọn gồm 2-3 bài tập nhỏ dành cho các vùngphương ngữ nhất định Giáo vien căn cứ vào đặc điểm địa phương và thực tếphát âm của học sinh để lựa chọn bài tập hoặc tự biên soạn bài tập mới chothích hợp

+ Về hình thức: Có 3 hình thức chính tả đoạn, bài được sử dụng là chính tả tậpchép (ở lớp 3 có 4 tiết thuộc các tuần 1; 3; 5; 7), chính tả nghe – viết và chính tảnhớ - viết (sách chú trọng hình thức chính tả nghe – viết) ình thức chính tả nhớ -viết được áp dụng từ tuần 8 học kì 1 Còn chính tả âm vần có hình thức rấtphong phú và đa dạng Nội dung bài tập mang tính tình huống và thể hiện rõquan điểm giao tiếp trong dạy học Có thể kể đến một số hình thức bài tập chính

tả âm vần mới xuất hiện ở lớp 3 như:

- Tìm tiếng có nghĩa điền vào ô trong trong bảng cho phù hợp

Trang 10

- Tự rút ra quy tăc chính tả qua các bài tập thực hành.

- Đặt câu để phân biệt các từ có hình thức chính tả dễ lẫn

- Giải đố để phân biệt từ ngữ có âm vần, thanh dễ lẫn

- Nối tiếng hoặc từ ngữ đã cho để tạo thành từ ngữ hoặc câu đúng

- Tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý về nghĩa của từ

2 Song song với việc nắm nội dung chương trình phân môn chính tả lớp

3 tôi đã đọc và nghiên cứu một số giáo trình hướng dẫn dạy chính tả, phươngpháp dạy các kiểu bài chính tả Trong đó giáo viên phải là người nắm vững quytắc dạy chính tả, nắm chắc các phương pháp dạy chính tả Từ đó giáo viên biets

tổ chức phối hợp các phương pháp, lấy ưu diểm của phương pháp này khắcphục nhược điểm của phương pháp kia và lựa chọn phương pháp phù hợp vớiđối tượng học sinh khu vực

3 Trước khi dạy giáo vien cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm lối chính

tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp, giáo viêncần tăng cường sự linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy Cụ thể trong việc xâydựng nội dung bài sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mìnhdạy Ở một chừng mực nào đó có thể lược bớt nội dung giảng dạy trong SGKxét thấy không phù hợp với học sinh lớp mình, đồng thời bổ sung những nộidung cần thiết mà SGK chưa đề cập đến

4 Giờ học chính tả phải được xem như giờ luyện chính tả Cần có nhữngyêu cầu cao hơn khi viết chính tả Cụ thể trong khi nghe đọc để viết, học sinhcần phải nghe chọn vẹn cả câu rồi mới viết, không yêu cầu viết tốc độ quánhanh Đây không phải là công việc vủa nagyf một ngày hai mà phải là cả mộtquá trình rèn luyện thường xuyên, và phải có tính tự ý thức học tập vả rènluyện

5 Phải hiểu được mục tiêu, nội dung bài dạy, giáo viên không chỉ sửdụng một phương pháp mà phải phối hợp 2 phương pháp chính tả có ý thức vàchính tả không có ý thức một cách hợp lí nhằm đạt tới một hiệu quả dạy họccao Trong điều kienj nhà trường, việc sử dụng phương pháp có ý thức được coi

Trang 11

là chủ yếu Phương pháp không có ý thức được sử dụng, khai thác khi cần thiết,phương pháp không có ý thức còn phát huy tác dụng khi giáo viên hướng dẫnhọc sinh ghi nhớ các hiện tượng chính tả có tính chất võ đoán, không gắn vớimột quy luật, quy tắc nào.

Biện pháp 4: Giúp học sinh chữa được một số lỗi chính tả thường mắc.

4.1 Rèn luyện cho HS viết đúng các tiếng có phụ âm đầu s/x; r/d/gi; tr/ch

Khi dạy những bài này trước hết tôi yêu cầu học sinh tìm những tiếng cócác âm đó và ghi thành hệ thống trên bảng rồi hướng dẫn học sinh đọc đúng.Giáo viên đọc mẫu rồi phân tích để học sinh viết đúng: Khi đọc các tiếng cóphụ âm tr; s; r (đọc uốn lưỡi), còn khi đọc các tiếng có phụ âm ch; x; gi ta đọckhông uốn lưỡi ( đọc nhẹ hơn) Sau khi học sinh đọc chuẩn, trên cơ sở đó giáoviên phân tích so sánh để học sinh viết đúng ra giấy nháp, bảng con hoặc bảnglớp trước khi viết bài chính tả vào vở Ví dụ: Tiết chính tả (nghe – viết) Tuần 3(tiết 1) Bài: Chiếc áo len, trong bài có tiếng “ trong” trong cụm từ “nằm cuộntròn trong chiếc chăn bông” khi các em viết “trong” là chỉ vị trí còn “chong” là

“chong chong” “chong đèn” …

Tiếng “trong”: phụ âm đầu tr + nguyên âm o + âm cuối ng

Còn tiếng “chong”: phụ âm đầu ch + nguyên âm o + âm cuối ng

Hay “chăn bông” các em viết sai là “trăn bông” trong bài chính tả phânbiệt ch hay tr này giáo viên hướng dẫn cho các em có thể dùng “mẹo” sau:Những từ chỉ người trong gia đình hoặc chỉ đồ dùng trong gia đình như: chăn,chiếu, chảo, chậu, chum, chỉnh, chạn, cha, chú, cháu….thì khi viết ta thườngdùng ch hoặc phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ gắn liền với hình thức chữviết Sang phần bài tập phân biệt ch/tr tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơiTìm đúng phụ âm đầu diền vào chỗ trống:

Ví dụ: Bài tập 2a (SGK-trang 22) Điền vào chỗ trống ch/tr?

Cuồn …òn; …ân thật; chậm ….ễ

Giáo viên chuẩn bị sẵn phụ âm đầu tr/ch đủ cho 2 nhóm chơi, sau đó họcsinh lên bảng tìm đúng phụ âm đầu và gắn vào chỗ chấm Sau khi kết thúc trò

Trang 12

chơi, học sinh nhận xét chấm điểm thi đua để học sinh hào hứng khi đọc bài còngiáo viên tổng kết nhận xét giúp học sinh nắm vững bài.

Hoặc khi viết “chú, bác” chỉ người trong quan hệ gia đình, họ hàng thì viết

“chú”

Còn “trú ẩn” chỉ nơi mình đang sống và làm việc (không phải là quênquán) thì viết là “trú”

Ngoài ra tôi lưu ý đến học sinh một số tình huống chính tả đặc biệt

Ví dụ: Bài tập 3 (SGK – trang 87 – Tập 1) Phân biệt s/x: Thi tìm nhanhviết đúng từ ngữ có phụ âm đầu s/x: Có em viết “sum xuê”, có em lại viết “xumsuê” Tôi phải uốn nắn ngay cho học sinh: Với trường hợp này các em phải viết

“sum suê” âm đầu là “s”, hoặc “xum xuê” âm đầulà “x” Vì tôi đã tìm trong cáctài liệu có liên quan đến chính tả Tài liệu “Sổ tay chính tả học sinh” phần cáchviết (x/s) Tất nhiên: khi viết “xum xuê” hai âm đầu đều là “x” Hoặc khi viết

“sum suê” hai âm đầu đều là “s” vì chúng đều là những từ láy âm đầu chỉ câycối tốt tươi dày đặc lá cành

Tương tự có thể viết “sệ” má hoặc “xệ” má

“sều” bọt hoặc “xều” bọt Đều được

chổi “sễ” hoặc chổi “xể”

Hoặc tình huống mà lâu nay học sinh chúng ta vẫn tiện tay viết sai màkhông biết như: xổ số lại viết là sổ số

Đối với lỗi r/d/gi cách làm như “tr và ch” Khi đọc các tiếng có phụ âmđầu viết “r” thì đọc uốn lưỡi còn “d; gi” thì đọc bình thường và tôi cũng cho họcsinh hiểu đũng nghĩa của từ

Ví dụ: Bài Chính tả (nghe – viết) Tuần 8 – Tiết 1 bài: Các em nhỏ và cụgià có cụm từ “các cháu không giúp gì được” Mặc dù giáo viên đọc đúngnhưng học sinh vẫn viết sai “gì” thành “dì” hoặc “rì” nên tôi phải hướng dẫn đểhọc sinh hiểu bằng cách cho học sinh tìm tiếng ghép với các tiếng đó để nhậnbiết nghĩa cho dễ dàng như:

Ngày đăng: 22/12/2017, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w