Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử.Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra ngườ
Trang 21 Hiểu rõ vai trò của thao tác lập luận so sánh
2 Biết vận dụng thao tác lập luận so sánh khi viết một đoạn văn, một bài văn nghị luận
Trang 3I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận so sánh:
1 Tìm hiểu ngữ liệu:
VD1: “Từng nghe nói rằng: người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử.Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng thì
đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy ” (Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm)
VD2: Yêu người, đó là một truyền thống cũ Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc
đã nói đến con người Nhưng dù sao cũng là mới bàn đến một hạng người Với
“Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội người Với Chiêu hồn thì cả loài người
được bàn đến… Chiêu hồn con người trong cái chết Chiêu hồn con người trong từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ
biến, điển hình của từng loài một.
Tôi muốn nói đến bài văn “ Chiêu hồn ”, một tác phẩm có một không hai trong nền văn học chúng ta ( Nghĩ mà xem, trước Chiêu hồn chưa có bài văn nào đem cái
“run rẩy mới” ấy vào văn học Sau Chiêu hồn , lại càng không.) Nếu Truyện Kiều
nâng cao lịch sử thơ ca, thì Chiêu hồn đã mở rộng địa dư của nó qua một vùng
xưa nay ít ai động tới: cõi chết. (TT Chế Lan Viên, tập 2.)
Trang 41 Tìm hiểu ngữ liệu:
Nhóm 1:
Xác định đối
tượng được so
sánh và đối tượng
so sánh.
Nhóm 2:
Phân tích điểm giống
và khác nhau giữa đối tượng được so sánh
và đối tượng so sánh.
Nhóm 3:
Phân tích mục
đích so sánh của 2
đoạn trích.
Nhóm 4: Nªu kh¸i niÖm, t¸c dông, mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận so
s¸nh ?
Trang 5Tiêu chí Ví dụ 1 Ví dụ 2
Đối
tượng
được so
sánh
Đối
tượng so
sánh
Điểm
giống
Khác
nhau
Mục
đích
Người hiền tài Bài “Văn chiêu hồn”
Ngôi sao sáng trên trời cao Bài “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán
ngâm khúc”, “Truyện Kiều”
Sao sáng chầu về ngôi Bắc thần -> người hiền phục vụ cho thiên tử
Cùng nói về tình yêu thương con người
-Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm chỉ nói đến một hạng người
-Truyện Kiều nói đến cả xã hội người -Văn chiêu hồn nói đến cả loài người
Vai trß, nhiệm vụ của người hiền tài với dân tộc
Nét mới mẻ của Nguyễn Du khi viết về con người
Trang 6II CÁCH SO SÁNH:
1 Tìm hiểu ngữ liệu:
Làm sao trong đêm tối ngày xưa đó, Ngô Tất Tố
đã mò ra được những thực tế đó và trong đêm tối, ông lụi hụi thắp được bó hương mà tự mình soi đường cho nhân vật mình đi? Lúc đó, không phải là không ai nói
vê làng xóm dân cày, nhưng người ta nói năng khác ông, người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư tiều tiều canh canh mục mục Còn
Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn Cái cách viết lách như thế, cái cách dựng truyện như thế, không
là phát động quần chúng nông dân chống quan Tây,
chống vua thì còn là cái gì nữa!
(Theo NguyÔn Tu©n toµn
tËp)
Trang 7a Nguyễn Tuân đã so sánh quan niÖm
cña Ngô Tất Tố với hai quan niÖm :
+ Quan niÖm theo chủ trương cải lương
hương ẩm : Họ cho rằng chỉ cần cải cách
những hủ tục, thì đời sống của nông dân được nâng cao.
+ Quan niÖm hoài cổ: Họ cho rằng chỉ cần trở về cuộc sống thuần phác ngày xưa thì đời sống nông dân được cải thiện.
Trang 8b Căn cứ để so sánh
- “Soi đường'' trên dựa vào sự phát
triển tính cách của các nhân vật trong ''Tắt đèn'' (chủ yếu là nhân vật chị
Dậu) với các nhân vật trong một số
TP cũng viết về nông thôn và nông
dân thời kì ấy nhưng viết với chủ
trương ''cải lương hương ẩm'' hoặc
“ngư ngư tiều tiều canh canh mục
mục”.
Trang 9c Mục đích:
- Chỉ ra cái ảo tưởng về suy nghĩ của 2 loại người trên.
nông dân phải đứng lên chống lại kẻ bóc lột, áp bức mình.
Trang 10III GHI NHỚ: (SGK Tr 80)
IV LUYỆN TẬP:
Bµi 1: (SGK Tr 81)
Trang 111 Tác giả so sánh Bắc –Nam về các mặt : văn
hoá - phong tục; địa lý; lịch sử; hào kiệt-
hiền tài.
2 Mục đích của việc so sánh : khẳng định hùng
hồn, mạnh mẽ về vị trí, tư thế của nước ta đứng ngang bằng, hiên ngang bên cạnh các nhà nước phong kiến Trung Hoa…
3 Sức thuyết phục của đoạn trích thể hiện ở
cách sử dụng kiểu so sánh tương đồng với cách lập luận chặt chẽ,giàu cảm xúc …
Trang 12So sánh tương đồng So sánh tương phản
Bµi 2: Cách vận dụng lập luận so sánh ở hai VD dưới
đây có gì khác nhau?
VD1: “Thơ hay là hay cả
hồn lẫn xác, hay cả bài, như
con gà ngon, ngon ở từng
phao câu đầu cánh lắt lẻo
khuỷu xương , không thể
tóm tắt thơ được, mà phải
đọc lại” (Theo Xuân Diệu)
VD2: “Những kẻ nho nhe năm ba câu học vấn, mắt sáng nhỏ như hạt đậu, kinh lịch chẳng ra khỏi nhà, gặp một vài chú đi cày, năm ba chị hàng xén đã tưởng mình là trí thức, trên trời dưới đất chỉ có một mình ta, không phải là người tự trọng
Người tự trọng vốn ở trong nhân quần, vốn tôn kính bậc tiền bối, tài đức, kiến thức tự đủ, việc đã làm không sợ khó, trí đã định không rụt rè, thân mình mình tự trị, không sai pháp luật, không trái đạo lí, không dối mình, không dối người, không thấy người giàu sang, quyền quý mà nịnh hót, không thấy người bần hàn mà khinh
Trang 13Bài 3: Viết một đoạn văn dựng thao tỏc so sỏnh để phỏt triển ý kiến sau:
“ Lần đầu tiên trong văn học dân tộc, Nguyễn Đỡnh Chiểu đã khắc họa thành công chân dung ng ời anh hùng nông dân nghĩa sĩ.”
Bài 4: viết đoạn văn nghị luận so sánh bàn về vấn đề “cho” và “nhận”
Trang 14Lần đầu tiên trong văn học dân
họa thành công chân dung ng ời
anh hùng nông dân nghĩa sĩ.” Tr ớc tác giả, ng ời nông dân đã đ ợc
nhắc đến trong tác phẩm của
ảnh của họ ch a hực sự nổi bật, ch a
là nhân vật trung tâm của tác
phẩm Bằng bức t ợng đài này,
ng ng ời nông dân yêu n ớc Nam Bộ trong buổi đầu chống Pháp
Trang 15Cuộc sống này có quá nhiều điều bất ngờ nhưng cái quan trọng nhất thực sự tồn tại là tình thương Sống không chỉ nhận mà còn
phải biết cho đi Chính lúc ta cho đi nhiều
nhất lại là lúc ta được nhận lại nhiều nhất Có
ai đó đã từng nói “hạnh phúc là một cái rất kì
lạ mà người ta chỉ nhận được khi đem nó cho người khác”, mỗi người chúng ta hãy thử cho
đi môt cái gì đó, để rồi biến niềm hạnh phúc của người khác thành niềm hạnh phúc của
chính mình, bëi “cho ®i lµ h¹nh phóc h¬n nhËn vÒ”…