Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần
Trang 1NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ NHƯ TRANG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 5
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 11
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 11
1.1.1 Cơ cấu kinh tế 11
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 13
1.1.3 Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu 14
1.1.4 Tính chất và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 15
1.2 CÁC NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 16
1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế 16
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành 19
1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 20
1.3 CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 21 1.3.1 Nhóm nhân tố địa lý tự nhiên 21
1.3.2 Nhóm nhân tố về nguồn vốn đầu tư, lao động, công nghệ sản xuất 23
1.3.3 Nhóm nhân tố về xu thể chính trị - xã hội - kinh tế, thị trường tiêu thụ và cơ chế chính sách 24
Trang 51.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh theo hướng dịch vụ -
công nghiệp - nông nghiệp 26
1.4.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Bình Dương theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ30 THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
2.1.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế 34
2.1.3 Điều kiện về nguồn lực 36
2.1.4 Cơ chế chính sách 41
2.1.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Đà Nẵng 43
2.2 THỰC TRẠNG CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 46
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế 46
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành 52
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 55
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 57
2.3.1 Những thành tựu đạt được 57
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 57
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 58
Trang 6CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 60
3.1 CƠ SỞ ĐỂ ĐƯA RA GIẢI PHÁP 60
3.1.1 Quan điểm phát triển chung 60
3.1.2 Dự báo sự thay đổi của môi trường kinh tế vĩ mô 61
3.1.3 Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng 61
3.2 ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63
3.2.1 Phát triển các ngành dịch vụ 63
3.2.2 Công nghiệp và xây dựng 65
3.2.3 Nông nghiệp (nông - lâm nghiệp - thủy sản) 67
3.3 CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020 69
3.3.1 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư 69
3.3.2 Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 72
3.3.3 Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh và quản lý 74
3.3.4 Thực hiện cải cách hành chính tạo điều kiện phát triển thị trường 76 3.3.5 Tăng cường hợp tác, phối hợp với các tỉnh, thành phố trong vùng 79 3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TRUNG ƯƠNG 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHIẾU NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 7CCKT : Cơ cấu kinh tế
CDCCKT : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
SXKD : Sản xuất kinh doanh
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8Số hiệu bảng Tên bảng Trang
2.1 Tốc độ tăng GRDP bình quân năm qua các thời kỳ 36
2.3 Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của thành phố
Đà Nẵng năm 2010-2015 39 2.4 Nguồn vốn đầu tư qua các thời kỳ 40
2.5 Giá trị sản xuất của nền kinh tế giai đoạn
2.13 Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 54
2.14 Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành
2.15 Tình hình cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo thành phần kinh tế của thành phố Đà Nẵng 56
2.16
Tình hình cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước của thành phố Đà Nẵng
56
Trang 9Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
2.1 Biểu đồ Cơ cấu lao động xã hội và cơ cấu giá trị
tăng thêm năm 2015 40
2.2 Biểu đồ Tổng sản phẩm trên địa bàn năm
2011-2015 theo giá so sánh 2010 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu đúng hướng là tiền đề để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại… Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi
Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện nhiều trong nước và nước ngoài, chủ yếu là các nghiên cứu với đối tượng nền kinh
tế quốc gia và lãnh thổ lớn nhưng đối với nền kinh tế cấp tỉnh thành thì chưa nhiều Tùy thuộc những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau mà mỗi tỉnh thành có những cơ cấu kinh tế khác nhau
Thành phố Đà Nẵng được xác định là một trong 5 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực Trong những năm qua, kinh tế thành phố Đà Nẵng đã có sự tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 9,7%/năm, bằng 1,6 lần năm 2010; Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người đến năm 2015 ước đạt tương đương 2.908 USD, gần bằng 2 lần năm 2010 Tỷ trọng dịch vụ trong GRDP ước đạt 62,6%, công nghiệp 35,3% và nông nghiệp 2,1%
Nhân tố chính gây ra sự chuyển dịch cơ cấu của thành phố Đà Nẵng là
Trang 11do thành công bước đầu của tái cơ cấu nền kinh tế địa phương phát triển theo hướng xây dựng Đà Nẵng trở thành một trung tâm thương mại, dịch vụ của khu vực, một điểm đến du lịch của Việt Nam Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
Đà Nẵng 10 năm qua được đánh giá như một quá trình tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng sức cạnh tranh ở khu vực dịch vụ với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 16%/năm Trong cơ cấu theo ngành kinh tế của thành phố
Đà Nẵng, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm hơn 98% và nông nghiệp chỉ còn chiếm 2% Cơ cấu kinh tế này đã thể hiện cơ cấu ngành của một thành phố hiện đại hóa Thay đổi của cơ cấu kinh tế ngành những năm qua đã chậm dần
và đang thiên về dịch vụ Tuy nhiên đã thể hiện xu thế rõ nét nhưng mức độ chuyển dịch chưa cao, chất lượng chuyển dịch chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố, chưa thực sự tạo động lực cho sự phát triển của thành phố Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp vẫn chưa ổn định Ngành dịch vụ
đã được nâng dần về mặt đầu tư được xem là ngành mũi nhọn nhưng mức đóng góp vào GRDP vẫn chưa thực sự ấn tượng so với đầu tư Tại Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XXI của thành phố Đà Nẵng cũng đã chỉ ra những
hạn chế: “Kinh tế thành phố tăng trưởng khá nhưng chưa thật bền vững, quy
mô nền kinh tế còn nhỏ” Do vậy với mong muốn được góp phần làm rõ hơn
những cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trên cơ sở đó
đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành
phố, vấn đề “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng” được lựa chọn
làm đề tài để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Khái quát được lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
Trang 12- Đánh giá được thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố
Đà Nẵng thời gian qua;
- Đưa ra được các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào chuyển dịch cơ cấu ngành, thành
phần kinh tế
- Thời gian nghiên cứu: số liệu, tài liệu thu thập phân tích về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố từ năm 2010-2015
- Thời gian có hiệu lực của các giải pháp đề xuất là từ năm 2016-2020
- Khu vực nghiên cứu: Địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về KT - XH và quốc phòng -
an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng, là trung tâm lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước Sự phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng có ý nghĩa rất quan trọng không những ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên mà còn ở cả nước Đây là lý do để chọn thành phố làm điểm nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau trong nghiên cứu do tính phức tạp của đề tài
Trang 134.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở những nguồn tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu thu thập được từ sách báo, tạp chí khoa học, internet, niên giám thống kê của Cục Thống kê thành phố
Đà Nẵng, các báo cáo thường niên, bản tin nội bộ, quy hoạch tổng thể của Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành thành phố; Các tài liệu thông tin đã được công bố trên các giáo trình, báo, tạp chí, công trình và đề tài khoa học trong
và ngoài nước; tác giả mới rút ra được các đặc điểm về tình hình Phát triển kinh tế Xã hội cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng
số liệu thu thập được để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh
tế Xã hội đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng Đồng thời, phương pháp Toán học cũng được sử dụng trong việc phân tích, dự báo và lựa chọn các giải pháp thích hợp cho định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng trong tương lai
Việc xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến
Trang 14hành trên máy tính theo các phần mềm Excel
4.4 Phương pháp phân tích, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích, so sánh mang lại nhiều lợi ích Thông qua việc tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu thống kê để thấy được quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các giai đoạn Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chương 2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng Chương 3 Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra đời kể từ khi lý thuyết kinh tế bắt đầu có sự quan tâm đáng kể đến sự thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế (Quesnay, 1758; Turgot, 1766; and Steuart, 1767) Theo Adam Smith
(1776), các đặc trưng của cơ cấu có liên quan chặt chẽ đến mức độ phát
triển của một nền kinh tế; trong khi đó, David Ricardo (1817) lại cho rằng: chính sự thay đổi của các thành phần cấu thành hệ thống sản xuất là điều kiện tiên quyết đối với tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Chenery và các đồng sự, 1986; Syrquin, 2007 đã chỉ ra: Mặc dù khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu theo nhiều
Trang 15cách khác nhau, song ý nghĩa chung nhất đó là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế
luôn gắn liền với sự thay đổi mang tính dài hạn về mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế Về vấn đề này, tác giả cho rằng: Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế liên quan đến sự suy giảm hay gia tăng của mỗi bộ phận trong nền kinh tế, do sự thay đổi của các yếu tố cơ bản của sản xuất bao gồm: công nghệ, nhân lực, sự xuất hiện của các nghề mới, sự suy giảm hay biến mất của nghề cũ và dẫn đến sự phân bổ lại của các yếu tố đầu vào trong dài hạn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không quan tâm đến những thay đổi mang tính ngắn hạn như khi nền kinh tế phản ứng tức thời với các thay đổi trong chính sách tài chính tiền tệ, hay sự tác động ngẫu nhiên ngắn hạn của thiên tai
Nghiên cứu của Fisher, 1939; Clark, 1940; Chenery, 1960; Kuznets, 1961; Chenery và Syrquin, 1975; Kongsamut và các đồng sự, 1999;
Eichengreen và Syrquin, 2009: Lịch sử tăng trưởng và phát triển kinh tế
luôn gắn liền với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế dù ở phương diện quốc gia hay tổng thể kinh tế thế giới Điều này đã được minh chứng trong các
nghiên cứu thực nghiệm cũng như trong các mô hình lý thuyết
Nghiên cứu của Dovring (1959) chỉ ra rằng quy mô lớn của khu vực nông nghiệp làm khó khăn cho việc dịch chuyển lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Trong khi Johnston và Kilby (1975) thì lại cho
rằng sự chuyển dịch cơ cấu lao động chậm là do nhu cầu của khu vực công
nghiệp còn nhỏ và lương của người lao động còn thấp
Các nghiên cứu đầu tiên về tăng trưởng kinh tế của Fisher (1939) và Clark (1940) đã chỉ ra rằng: Sự phát triển của các quốc gia sẽ gắn liền với
sự phát triển của ba khu vực, đó là: khu vực I (primary production - khu vực
nông nghiệp), khu vực II (secondary production - khu vực sản xuất hay
Trang 16khu vực công nghiệp) và khu vực III (tertiary production - khu vực dịch vụ) Trong đó, khu vực I là khu vực sản xuất các loại hàng hóa cơ bản và tiềm năng phát triển của khu vực này trong một chừng mực nào đó là bị hạn chế; khu vực II tạo ra các loại hàng hóa lâu bền để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trung gian; khu vực III sản xuất các loại hàng hóa xa xỉ và các đầu vào trung gian dưới nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, và đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển trong xã hội hiện đại Về sau, Pasinetti (1981)
cũng đã nhận định rằng: chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một hệ quả tất yếu
của tăng trưởng kinh tế, do trong quá trình tăng trưởng sẽ có ngành đạt đến mức giới hạn, khi đó nguồn lực sẽ dịch chuyển đến các ngành khác Thêm
vào đó, tăng trưởng kinh tế sẽ giúp thay đổi cơ cấu của cầu về hàng hóa theo qui luật Engle, tăng tích lũy vốn, tạo điều kiện phát triển công nghệ và
do đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Xét theo chiều ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp sẽ giúp gia tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế phải kể đến đóng góp của Kuznets (1961, 1971) Trong những
nghiên cứu này,ông đã chia nền kinh tế thành ba ngành: nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ; đồng thời nhận thấy một xu hướng rõ nét rằng: tỷ trọng
ngành nông nghiệp trong GDP của các nước được nghiên cứu đều giảm nhanh, còn tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ lại gia tăng Cũng chính ông là người đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa quá trình thay đổi cơ cấu
kinh tế này và mức thu nhập bình quân đầu người: mức thu nhập bình quân
đầu người càng cao thì tỷ trọng ngành nông nghiệp sẽ càng giảm Ông xem
mối quan hệ này là kết quả tổng hợp của các yếu tố: thay đổi trong cầu về
hàng hóa, thay đổi về lợi thế tương đối của các nước và thay đổi trong công nghệ Từ đó, ông chỉ rõ: tiến bộ công nghệ đóng vai trò quan trọng nhất
Trang 17trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng khá nhiều Ở đây sẽ trình bày một
số nghiên cứu tiêu biểu:
Ngô Đình Giao (1994) và các tác giả đã đề cập đến cơ sở khoa học
để thực hiện quá trình CNH, HĐH, một số mô hình CNH và phân tích đánh giá thực trạng CNH, HĐH ở Việt Nam trước năm 1994; nghiên cứu phương hướng, giải pháp đảm bảo thực hiện thành công chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam, trong đó nghiên cứu thực tiễn ở một số địa phương
và tập trung nhấn mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ Tuy nhiên, giai đoạn này đất nước ta mới thực hiện đổi mới chưa được 10 năm, biến động ở các nước Đông Âu, các số liệu thống kê hiện nay điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nước ta đã hội nhập sâu rộng kinh tế thế giới
Phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình tăng trưởng kinh
tế Việt Nam từ năm 1987 đến năm 2008 của PGS.TS Bùi Quang Bình
(2010) cũng đáng lưu tâm: Cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương và vùng lãnh
thổ luôn vận động thay đổi không ngừng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh
tế Sự thay đổi cơ cấu kinh tế do nguyên nhân khách quan như nguồn tài nguyên, lao động, vốn, trình độ công nghệ, điều kiện thị trường hay nguyên nhân chủ quan như các chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị
Nghiên cứu của TS Trần Anh Phương năm 2009 về chuyển dịch cơ cấu kinh tế - thực trạng và những vấn đề đặt ra: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Nội dung
Trang 18và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại
- dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi
chung là nông nghiệp) Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế
tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…
Phân tích chuyển dịch cơ cấu của thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ từ năm 1997 đến năm 2009 và định hướng, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của thành phố đến năm 2020 của TS Võ Duy Khương (2009): Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020, thành phố sẽ tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp; để nền kinh tế thành phố sớm trở thành một nền kinh tế hiện đại,
phát triển đòi hỏi phải có các chính sách nhằm biến các tiềm năng, thế
mạnh thành các lợi thế so sánh, tranh thủ ứng dụng tiến bộ công nghệ và tiếp tục chuyển dịch sâu cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, đồng thời có các chính sách sử dụng hợp lý các nguồn lực
đầu vào, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã phần nào tổng hợp, hệ thống hóa lý luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như đưa ra thực trạng tại một số địa phương, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương đó Tuy nhiên, có thể thấy được những hạn chế trong các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài viết nêu trên và thực tế chưa có đề tài nào nghiên
Trang 19cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Tác giả đã định hướng, tập trung nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong luận văn
Trang 20CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của LLSX đã thúc đẩy phân công lao động xã hội Các
ngành, lĩnh vực được phân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thụât Khi các ngành, lĩnh vực kinh tế được hình thành, nó đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa chúng với nhau Mối quan hệ đó vừa thể hiện sự hợp tác, hỗ trợ nhau, song cũng cạnh tranh với nhau để phát triển Sự phân công
và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành CCKT
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với vị trí, tỷ
trọng của mỗi bộ phận và quan hệ tương tác giữa các bộ phận đó trong quá trình tái sản xuất xã hội
Cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều loại: Cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh
tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu theo khu vực thể chế, cơ cấu tái sản xuất,
cơ cấu thương mại quốc tế Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế là quan trọng nhất
vì nó phản ánh trình độ phân công lao động xã hội, thể hiện trình độ chuyên
Trang 21môn hóa sản xuất của các ngành và của nền kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện quan hệ cả mặt định lượng và định tính giữa các ngành trong nền kinh tế.Mặt định lượng chính là quy mô và tỷ trọng về sản lượng, lao động, vốn của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế quốc dân Mặt định tính thể hiện vị trí và vai trò (tiền đề, hỗ trợ, thúc đẩy, .) của mỗi ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân
Từ khái niệm trên, cần phân tích CCKT trên hai phương diện:
- Phương diện vật chất kỹ thuật CCKT:
+ Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí tỷ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
+ Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng của các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
+ Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lựuc KT - XH của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển ndền kinh tế quốc dân thống nhất
- Phương diện kinh tế xã hội CCKT:
+ Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức SXKD của mọi thành viên xã hội
+ Cơ cấu theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ, nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất
Như vậy cách tiếp cận về CCKT xuất phát từ cấu trúc bên trong của nó qua quá trình tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế bao hàm các mối quan hệ kinh tế đa dạng và phức tạp, được nhìn nhận trên quan điểm hệ thống không
Trang 22chỉ mang tính chất số lượng mà còn mang tính chất về mặt chất lượng Nó không chỉ là mối quan hệ riêng lẻ của từng bộ phận kinh tế mà phải là những quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành nền kinh tế bao gồm các yếu tổ kinh tế, các lĩnh vực kinh tế, các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế
CCKT hợp lý là một cơ cấu có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở
rộng CCKT hợp lý được xem xét trên các điều kiện: phải phù hợp với các quy luật khách quan; phản ánh được khả năng khai thác sử dụng các nguồn lực kinh tế trong nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối, phát triển bền vững; phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới
1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CDCCKT là sự thay đổi CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển Về thực chất, đó là sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt biểu hiện (ngành, lãnh thổ, thành phần kinh tế) nhằm hướng
sự phát triển của cả nền kinh tế vào các chiến lược KT - XH đã được đề ra cho từng thời kỳ cụ thể
CDCCKT chỉ diễn ra khi:
- Có những sự thay đổi lớn về điều kiện phát triển;
- Có những khả năng và giải pháp mới làm thay đổi phương thức khai thác các điều kiện hiện tại;
- Trong quan hệ phát triển giữa các bộ phận của cơ cấu kinh tế có những trở ngại dẫn đến việc hạn chế lẫn nhau làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung
Trang 231.1.3 Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu
CCKT phải được hiểu là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng
và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất trong một hệ thống nhằm tái sản xuất xã hội với những điều kiện xã hội nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định Như thế CCKT bao giờ cũng được đặt trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể, trong điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể và thích hợp với mỗi nước, mỗi vùng hoặc có thể của mỗi doanh nghiệp CCKT không bất biến mà luôn có sự vận động, chuyển dịch cấn thiết để ngày càng hợp lý hơn, mọi sự duy trì quá lâu hay sự thay đổi quá nhanh chóng CCKT, không phù hợp với những biến đổi tự nhiên - kinh tế -xã hội đều ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình SXKD, ngăn cản tăng trưởng kinh tế Việc duy trì hay thay đổi CCKT không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế
Chuyển dịch CCKT là một tất yếu trong quá trình thực hiện CNH- HĐH,
để xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc với tốc độ nhanh đòi hỏi phải xác định một CCKT hợp lý, giải quyết hài hoà mối quan
hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế Mối quan hệ đó vừa thể hiện sự hợp tác, hỗ trợ nhau song cũng cạnh tranh với nhau để phát triển Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong
hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình thành CCKT
Việc xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng Bởi vì, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép:
+ Khai thác hiệu quả thế mạnh về tự nhiên, KT - XH của mỗi vùng,
Trang 24+ Phát triển hợp lý, đồng đều giữa các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế và các vùng kinh tế,
+ Khai thác và phát triển tổng hợp sức mạnh của đất nước, tạo sự phát triển nhanh và bền vững
1.1.4 Tính chất và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a Tính chất
Để nhận thức đúng đắn xu hướng biến đổi khách quan của CCKT và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển nhất định cần lưu ý một số tính chất của CCKT đó là tính chất khách quan và tính chất lịch sử xã hội
Nền kinh tế có sự phân công lao động xã hội, có các ngành, lĩnh vực,
bộ phận kinh tế và sự phát triển của LLSX nhất định sẽ hình thành một CCKT với tỷ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận, tỷ lệ đó được thay đổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó Đó chính là tính chất khách quan của CCKT
Sự biến đổi của CCKT gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lượng lực xã hội, nhu cầu tiêu dùng và đặc điểm chính trị - xã hội của từng thời kỳ CCKT được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động xã hội diễn ra một cách hợp lý Đó chính là tính chất lịch sử xã hội của CCKT
b Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quy luật chung của của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nội dung cụ thể của xu hướng này thể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng kể cả GDP và lao động Xu hướng
Trang 25chuyển dịch cụ thể trong mỗi loại hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khác nhau, nhưng phải đảm bảo:
+ Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo sự ổn định, tạo ra sự cân đối trong phát triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội
+ Chuyển dịch CCKT nhằm khai thác triệt để tiềm lực kinh tế, tài nguyên, lao động, kỹ thuật hiện có trong nước, nhanh chóng thích ứng vơi nhu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế
+ Chuyển dịch CCKT phải nhằm duy trì có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, đảm bảo định hướng XHCN
+ Chuyển dịch CCKT phải đảm bảo triển khai thành công quá trình CNH - HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức
1.2 CÁC NỘI DUNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.2.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế
a Khái niệm
- CDCCKT theo ngành chính là quá trình làm thay đổi các mối quan hệ
số lượng và chất lượng giữa các ngành (nông lâm thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ) của nền KTQD trên cơ sở thay đổi việc phân bổ các nguồn lực giữa chúng dưới sự tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài khác nhau
Cơ cấu ngành được thể hiện bằng tỷ trọng giá trị gia tăng của từng ngành trong tổng sản lượng GDP của nền kinh tế Nếu tiếp cận theo đầu vào thì cơ cấu ngành kinh tế còn được biểu thị bằng tỷ trọng vốn, lao động, tài
Trang 26nguyên … cho từng ngành trong nền kinh tế Thông qua tỷ trọng giữa đầu vào
và đầu ra sẽ cho phép đánh giá khía cạnh hiệu quả kinh tế của các ngành Đây
là sự thay đổi và dịch chuyển từ trạng thái và trình độ này tới một trạng thái
và trình độ khác phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và các điều kiện vốn
có nhưng không lặp lại trạng thái cũ
b Xu hướng
Trong quá trình vận động của nền kinh tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế luôn diễn ra theo hai chiều hướng chủ động và tự phát Nếu CDCC ngành kinh tế dưới tác động của các chính sách và biện pháp của con người trong sự kết hợp với cơ chế thị trường thì đó là chuyển dịch chủ động Nếu không có
sự tác động của còn người thì nền kinh tế cũng tự điều chỉnh cơ cấu kinh tế dưới tác động của các yếu tố khác nhau đặc biệt là sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng
Xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong dài hạn theo lý luận kinh tế là tỷ trọng của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng trong GDP chung nền kinh tế giảm dần còn tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp trong GDP chung nền kinh tế tăng dần Sự thay đổi này diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc vào trình độ phát triển và điều kiện của nền kinh tế
c Các tiêu chí phản ánh
Mức thay đổi tỷ lệ GO của các ngành trong tổng GO của nền kinh tế theo thời gian Trong đó, tổng giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia (địa phương) trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) GO có thể tính theo hai cách sau đây:
+Thứ nhất, GO = tổng doanh thu bán hàng từ các đơn vị trong toàn bộ nền kinh tế
Trang 27+ Thứ hai, từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA) : GO = IC + VA
Mức thay đổi tỷ trọng lao động của mỗi ngành so với tổng số lao động của nền kinh tế theo thời gian;
Mức thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của mỗi ngành so với tổng số vốn của nền kinh tế theo thời gian;
Ngoài ra có thể đo lường mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một thời kỳ nhất định bằng cách sử dụng hệ số cosφ hoạch góc φ theo công thức
do các chuyên gia ngân hàng thế giới đề xuất1 :
) ( ) (
) ( ) (
1 2 2 2
1 2
t S t S
t S t S Cos
i i
i i
Ở đây Si(t) là tỷ trọng ngành i trong GDP năm t Góc φ (00 <φ< 900) là góc giữa hai véc tơ cơ cấu kinh tế Nếu φ = 00 không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếu φ = 900 có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế lớn nhất
Để đánh giá một cách trực giác sự chuyển dịch cơ cấu có thể so sánh góc φ với giới hạn tối đa của sự sai lệch giữa hai vec tor Do vậy tỷ số φ /90 phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu Trong đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài cơ cấu giữa 3 khu vực nói trên (ngành cấp I) người ta còn phân tích cơ cấu các phân ngành (cấp II, cấp III, )
1 Nguyễn Thường Lạng -Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập, Tạp chí kinh tế và Phát triển số 120, tháng 6/2007
Trang 281.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành
ăn uống, dịch vụ y tế, giáo dục…Tùy theo mỗi địa phương mà các ngành này
có thể có cấu thành khác nhau
b Xu hướng
Xu hướng chung theo lý thuyết và trong dài hạn có khác nhau từng ngành Trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp, tỷ trọng của chăn nuôi trong giá trị sản xuất chung và dịch vụ nông nghiệp trong giá trị sản xuất chung ngày càng tăng, còn tỷ trọng của ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất chung Trong ngành công nghiệp thì tỷ trọng của công nghiệp chế biến trong giá trị sản xuất chung tăng dần nhưng cũng sẽ chậm dần
c Các tiêu chí phản ánh
Mức thay đổi tỷ lệ GO của các ngành nội bộ từng ngành của nên kinh
tế theo thời gian;
Mức thay đổi tỷ trọng lao động của mỗi ngành so với tổng số lao động của ngành kinh tế lớn theo thời gian;
Mức thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của mỗi ngành so với tổng số vốn của ngành kinh tế lớn theo thời gian;
Trang 291.2.3 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế
a Khái niệm
CDCCKT theo thành phần kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế theo thời gian được thể hiện bằng sự thay đổi tỷ trọng đầu vào phân bổ cho từng thành phần kinh tế (thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) hay kết quả đầu ra trong kết quả cuối cùng của từng thành phần kinh tế trong tổng giá trị sản xuất chung
Cơ cấu theo thành phần kinh tế thường được biểu hiện bằng tỷ trọng của các thành phần kinh tế theo yếu tố đầu vào hay kết quả cuối cùng của nền kinh tế
b Xu hướng
Xu hướng chung theo lý thuyết và trong dài hạn có khác nhau từng từng thành phần kinh tế Tỷ trọng của kinh tế tư nhân ngày càng tăng trong giá trị sản xuất chung trong khi khu vực kinh tế nhà nước có tỷ trọng ngày càng giảm
c Các tiêu chí phản ánh
Mức thay đổi tỷ lệ GO của các thành phần kinh tế trong GO chung của nền kinh tế theo thời gian;
Mức thay đổi tỷ trọng lao động của mỗi thành phần kinh tế so với tổng
số lao động của ngành kinh tế theo thời gian;
Mức thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của mỗi thành phần kinh tế so với tổng số vốn của nền kinh tế lớn theo thời gian;
Trang 301.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
CCKT chịu sự tác động của nhiều nhân tố, có nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển, song cũng có nhân tố kìm hãm, hạn chế sự phát triển Các nhân tố
cơ bản tác động đến CCKT, được chia thành 3 nhóm:
1.3.1 Nhóm nhân tố địa lý tự nhiên
Vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, khoáng sản, nguồn nước ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và chuyển dịch CCKT cũng như quyết định đầu tư
Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng, bao giờ cũng dựa trên ưu thế
về địa lý và khí hậu Vì vậy, ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu khác nhau thì việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau Nếu điều kiện tự
nhiên thuận lợi, con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào “miễn phí”
để tạo ra những sản phẩm với chi phí thấp nhất và chất lượng cao nhất
Thiên nhiên vừa là điều kiện chung của sản xuất xã hội, vừa là tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế mang tính trực tiếp Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh tế hiện đại, vai trò của yếu tố thiên nhiên ngày càng không phải là nhân tố có vai trò tiên quyết Không phải khi nào thì sự dồi dào của các yếu tố
“thiên thiên” này cũng mang lại năng lực cạnh tranh tốt hơn cho địa phương Ngược lại, không phải bao giờ sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên cũng đồng nghĩa với sự bất lợi trong cạnh tranh Lịch sử phát triển kinh tế thế giới
đã cho thấy những bài học kinh nghiệm đắt giá rằng việc quá dư thừa nhân tố sản xuất có thể dẫn đến làm suy giảm,thay vì làm gia tăng lợi thế cạnh tranh (Căn bệnh Hà Lan) Trong khi đó, những bất lợi nhất định về nhân tố sản xuất, thông qua tác động của chiến lược và sự đổi mới, lại thường đóng góp vào sự thành công lâu dài trong cạnh tranh Điều này cũng có nghĩa là những
Trang 31lợi thế về sự sẵn có của nguồn tài nguyên hay vị trí địa lý có thể đóng góp cho
sự thịnh vượng của địa phương trong một số thời kỳ và với những điều kiện nhất định, song nếu chỉ dựa vào những lợi thế “trời cho” này thì sự thịnh vượng cũng sẽ chỉ có giới hạn Không những thế, không loại trừ một khả năng
là chính thu nhập dễ dàng từ những nguồn tài nguyên “từ trên trời rơi xuống”
sẽ là một mầm mống của nạn tham nhũng và cho phép các chính sách tồi tồn tại dai dẳng Các nhà kinh tế gọi nghịch lý này là “lời nguyền tài nguyên” Nhiều bằng chứng cho thấy có những quốc gia rất giàu tài nguyên và nguồn lực tự nhiên nhưng lại rất kém phát triển trong khi cũng có nhiều quốc gia thành công trong phát triển mặc dù không có nguồn tài nguyên đáng kể nào Ngược lại nếu xem nhẹ yếu tố thiên nhiên sẽ hoặc không khai thác đầy đủ lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế hoặc là khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, phá hoại môi trường phát triển kinh tế lâu dài
Chính vì vậy, tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định hoàn toàn cho một quốc gia có thu nhập cao, nhưng chính sự phong phú tài nguyên sẽ tạo ra những cơ hội như: thu hút đầu tư vào các nghành, địa phương có lợi thế, khai khoáng, tập trung lao động để sản xuất Chính điều
đó sẽ quyết định cơ cấu kinh tế mang lại hiệu quả nhất cho mỗi vùng, mỗi quốc gia từ định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp, cấu lao động cũng sẽ dịch chuyển theo
Đây là yếu tố quyết định tới CDCC kinh tế, những thay đổi của cơ cấu thị trường có thực hiện dược hay không còn tùy thuộc vào những điều kiện để thực hiện mà một trong đó là điều kiện tự nhiên Như vậy điều kiện này vừa quyết định cơ cấu kinh tế cũng như việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 321.3.2 Nhóm nhân tố về nguồn vốn đầu tư, lao động, công nghệ sản xuất:
Nguồn vốn, trình độ phát triển của LLSX, quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển KT - XH của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định ảnh hưởng đến việc hình thành và CDCCKT
Nguồn vốn đầu tư
Trong xác định cơ cấu kinh tế, vốn đầu tư có vai trò quan trọng, muốn đưa ra một cơ cấu mới theo phương án mới phải đi theo với việc điều chỉnh thay đổi cùng với những đòi hỏi về vốn để thực hiện Nếu xét về mặt hiện vật vốn là tài sản cố định, cơ sở vật chất mà tình hiện đại hay đồng bộ của nó sẽ ảnh hưởng nhất định, nếu xét về mặt giá trị là vốn tài chính
Nguồn lao động
Đây là yếu tố liên kết các yếu tố khác trong quá trình sản xuất Số lượng và chất lượng lao động cho phép các nhà đầu tư vào các ngành, các vùng hay thành phần kinh tế Ngoài ra, việc lựa chọn một cơ cáu kinh tế nào
đó của các nhà hoạch định chiến lược cũng phải tính tới nhân tố này
Công nghệ sản xuất
Đây là yếu tố quan trọng với mọi nền kinh tế nhất là trong tạo ra cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì trình công nghệ sản xuất ở trình độ nào sẽ quyết định cơ cấu sản xuất của từng doanh nghiệp cũng như nền kinh
tế Ngay các nhà đầu tư hay hoạch định chính sách đều phải căn cứ vào trình
độ công nghệ để xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất phù hợp với nhu cấu thị trường Có những sản phẩm yêu cầu trình độ công nghệ mà không phải nhà sản xuất nào cũng có điều kiện thực hiện
Trang 331.3.3 Nhóm nhân tố về xu thể chính trị - xã hội - kinh tế, thị trường tiêu thụ và cơ chế chính sách:
Nhóm này bao gồm các nhân tố bên ngoài như xu thế chính trị - xã hội của khu vực và thế giới; xu thế toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa LLSX; các thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin; tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc; thị trường tiêu thụ và cơ chế chính sách
Do sự khác nhau về điều kiện sản xuất ở các nước, đòi hỏi phải có sự trao đổi kết quả lao động với bên ngoài ở những mức độ và phạm vi khác nhau Trong trao đổi quốc tế mỗi nước đều phát huy lợi thế so sánh của mình trên cơ sở chuyên môn hoá vào các ngành, lĩnh vực có chi phí tương đối thấp Chính chuyên môn hoá đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội phát triển và kết quả là làm biến đổi cơ cấu kinh tế Trong điều kiện hội nhập thế giới, quốc tế hoá và khu vực hoá đời sống kinh tế hiện nay, cơ cấu kinh tế của một nước còn chịu sự tác động của cơ cấu kinh tế của các nước trong khu vực Khái quát hoá sự tác động qua lại đó, các nhà kinh tế đã nêu lên một đặc trưng quan trọng về sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo kiểu làn sóng
Theo Porter (2008), khi nguồn nguyên vật liệu được cung cấp một cách phong phú với giá rẻ hay lao động dư thừa, thì các doanh nghiệp có thể có khuynh hướng ỷ lại thái quá vào những lợi thế này và khai thác chúng một cách kém hiệu quả Nhưng khi các doanh nghiệp phải đối mặt với một số bất lợi, ví dụ như chi phí đất đai cao, thiếu hụt lao động, hay thiếu hụt nguyên vật liệu tại địa phương, thì các doanh nghiệp đó phải đổi mới và nâng cấp để có thể cạnh tranh Vì vậy trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khi đánh giá vai trò các nhân tố điều kiện tự nhiên cần tránh cả hai khuynh hướng đối lập nhau: Hoặc là quá lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên hoặc xem nhẹ vai trò
Trang 34của nó Cả hai khuynh hướng đó đều không đúng đắn Dưới sự thống trị của khoa học, công nghệ hiện đại, tài nguyên thiên nhiên không phải là điều kiện
tiên quyết cho sự phát triển
Thị trường tiêu thụ
Là nơi người tiêu dùng mua sắm các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Mỗi thị trường tiêu dùng có nhu cầu về số lượng, chất lượng và loại hàng hóa khác nhau, để đáp ứng được nhu cầu này các nghành sẽ có cơ cấu cho phù hợp ở mỗi thị trường Trong điều kiện kinh tế thị trường, cầu thị trường luôn
là yếu tố quyết định tới lụa chọn mục tiêu chiến lược của các công ty hay nên kinh tế Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng nhu cầu, thị hiếu và cơ cấu tiêu dùng sẽ quyết định cơ cấu sản xuất Đối với sản phẩm nông nghiệp thì tính chất quyết định của thị trường càng mạnh Đồng thời tính cạnh tranh của thi trường cũng rất lớn
Cơ cấu chính sách thực sự có tác động rất mạnh đến xu hướng vận động tổng quát của sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kể cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng lãnh thổ của nền kinh tế Trong điều kiện phát tiển nền kinh tế hành hoá, kinh tế thị trường, việc nghiên cứu các tác động của các yếu tố thị trường là nội dung không thể bỏ qua đối với các chính sách về cơ cấu kinh tế Sở dĩ như vậy là vì mức độ ảnh hưởng của chúng đối
Trang 35với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng mạnh mẽ không kém các nhân
tố đầu vào của sản xuất
1.4 KINH NGHIỆM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA MỘT
SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh theo hướng dịch vụ
- công nghiệp - nông nghiệp
Tùy thuộc vào những điều kiện tự nhiên hay những nhân tố khác như
đã nêu ở mục 1.3.2 ở trên mà mỗi địa phương có cơ cấu hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế khác nhau Đối với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố đã xác
định cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông
nghiệp Đến năm 2020: khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng từ 58,16% - 60,07%,
khu vực công nghiệp chiếm tỷ trọng từ 39,19 - 41,07% và nông nghiệp chiếm
tỷ trọng từ 0,74% - 0,78% Nhìn lại thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
TP Hồ Chí Minh, có thể thấy một số điểm nổi bật như sau:
Trong giai đoạn 2000 - 2014, cơ cấu kinh tế của TP Hồ Chí Minh đã chuyển dịch tích cực theo hướng, giảm dần tỷ trọng GRDP hai khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản và công nghiệp, đồng thời tăng dần tỷ trọng GRDP khu vực dịch vụ Sự chuyển dịch này đã và đang đi đúng hướng theo định hướng của Chính phủ và TP Hồ Chí Minh và sẽ là bước đệm để Thành phố từng bước trở thành trung tâm thương mại, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo của khu vực
Ngành chế biến tinh lương thực thực phẩm có xu hướng giảm dần tỷ trọng giá trị sản xuất trong cùng giai đoạn 2000 - 2014 Điều này phù hợp với định hướng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao để tạo ra những sản phẩm tinh chế, có giá trị gia tăng cao Trong khi đó, ngành công nghiệp tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp trọng yếu, bao gồm: cơ
Trang 36khí, điện tử - công nghệ thông tin, hóa dược - cao su, chế biến tinh lương thực thực phẩm Tính đến cuối năm 2013, 4 ngành công nghiệp trọng yếu này chiếm 65,2% tổng giá trị sản xuất khu vực công nghiệp toàn Thành phố Hiện các ngành đang phát triển theo hướng bảo vệ môi sinh, môi trường và tăng giá trị gia tăng, với công nghệ và thiết bị không ngừng được cải tiến, đầu tư
1.4.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu của tỉnh Bình Dương theo
hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam Bình Dương
có khoảng 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp cho thuê chiếm hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng
An, Nam Tân Uyên, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP - Việt Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5 Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 3483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có vốn 2,656 tỷ đồng Nhằm tăng cường sự thu hút đầu tư, địa phương đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh
Tỉnh đã tạo điều kiện tối đa cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sử dụng đất đai, đầu tư sản xuất Qua đó, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện triệt
để chủ trương giao đất cho các nhà đầu tư, xây dựng các khu và cụm công nghiệp để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, như khu công nghiệp Bình Đường, Sóng Thần, Đồng An, Việt Hương, Việt Nam - Singapore, cùng các cụm công nghiệp, các nhà đầu tư đã đặt nền móng cho phát triển công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bên cạnh đó, đường lối đổi mới cũng đã có tác động mạnh mẽ đến các mặt sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình bước đầu giải phóng năng lực sản xuất trong nông thôn; trong lĩnh vực
Trang 37sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhiều công ty, xí nghiệp đã dần thích ứng với cơ chế mới, phát huy được nguồn vốn, kỹ thuật, năng lực quản
lý và từng bước phát triển, mở rộng sản xuất Tính đến cuối năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh đạt 187.531 tỷ đồng, tăng gấp hơn 34,3 lần so với thời điểm 1997 Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 103.493 tỷ đồng, tăng gấp 34 lần; kim ngạch xuất khẩu đạt 17.741 triệu USD, tăng gần
49 lần; thu ngân sách đạt 32.000 tỷ đồng, tăng gần 39,6 lần, tỷ lệ đô thị hóa đạt 82%, tăng 3,4 lần Cơ cấu kinh tế của tỉnh với công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ đạo theo tỷ lệ công nghiệp 60,8% - dịch vụ 36,2% - nông nghiệp 3,0%
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đề cập đến những vấn đề khoa học sau đây:
Thứ nhất, khái quát một số khái niệm cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, các kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương trong quá trình CNH từ góc độ của kinh tế học phát triển và khái niệm chính sách ngành Phần này lập luận rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của quá trình CNH - HĐH Hiểu rõ bản chất của chuyển dịch cơ cấu để có các chính sách, điều chỉnh thích ứng nhằm mục tiêu CNH - HĐH là một việc làm thiết thực
Thứ hai, tổng kết kinh nghiệm của một số các địa phương trong nước về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó có rút ra được một số bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của Đà Nẵng
Những luận cứ khoa học trên đây là tiền đề, là căn cứ lý luận để phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng cũng như đề ra các giải pháp hoàn thiện trong các chương sau của luận văn
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông, nằm ở trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam
về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Đà Nẵng cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km
về hướng Tây Bắc
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế trọng yếu, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
b Khí hậu
Khí hậu đa dạng kiểu khí hậu núi cao và núi vừa; khí hậu núi thấp và trung du; vừa có kiểu khí hậu đồng bằng duyên hải - bán đảo đã tạo cho Đà
Trang 40Nẵng có sự đa dạng sinh học cao về các nguồn gen, loài sinh vật trong hệ sinh
thái biển và rừng
c Địa hình
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 128.543,09 ha (1.285,4309km2) (trong đó huyện đảo Hoàng Sa 30.500ha) Về hành chính thành phố có 06 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên
Chiểu, Cẩm Lệ; 02 huyện là huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa (tổng
diện tích trên đất liền: 94.261ha)
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân
sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Vị thế đặc biệt và đặc điểm địa lý tự nhiên đã tạo cho Đà Nẵng những điều kiện thuận lợi để phát triển vùng kinh tế trọng điểm trong khu vực miền
Trung - Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung
d Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên khoáng sản:
* Cát trắng: tập trung ở Nam Ô, trữ lượng khoảng 5 triệu m3
* Đá hoa cương: ở Non Nước, nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, loại đá này đã được cấm khai thác
* Đá xây dựng: đây là loại khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập trung
ở khu vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố
* Đá phiến lợp: tập trung ở thôn Phò Nam, xã Hòa Bắc Đây là loại đá filit màu xám đen, có thể tách thành từng tấm với kích thước (0,5 x 10) x 0,3-0,5m Trữ lượng khoảng 500.000m3