ứng dụng trong giảng dạy thơ Đờng - ngữ văn 7 I Đặt Vấn Đề 1.Cơ sở lý luận : Dạy học hớng vào hoạt động của ngời học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh đã và đang
Trang 1Đổi mới phơng pháp trong dạy và
học Ngữ Văn.
ứng dụng trong giảng dạy thơ Đờng - ngữ văn 7
I Đặt Vấn Đề 1.Cơ sở lý luận :
Dạy học hớng vào hoạt động của ngời học, phát huy tính tích cực, chủ
động sáng tạo của học sinh đã và đang là vấn dề tiếp tục đợc GV trực tiếp giảng dạy, các nhà nghiên cứu trao đổi, ứng dụng, rút kinh nghiệm để việc
đổi mới phơng pháp giảng dạy, việc thay đổi chơng trình thực sự có hiệu quả,
đáp ứng mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cuộc sông và của
đất nớc thời kì mở cửa, hội nhập Toàn xã hội đang từng ngày dõi theo mỗi bớc đi của sự nghiệp giáo dục nớc nhà, mong muốn thực sự có đợc một nền giáo dục hiện đai, tiên tiến, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nớc , đồng thời cũng theo kịp đợc bạn bè trong khu vực và thế giới Đối mặt với thực tại, không chạy theo thành tích, nói không với những tiêu cực trong giáo dục
đang đợc nhân dân đồng tình hởng ứng Giáo dục nớc nhà có thực sự đảm bảo “chất lợng và hiệu quả ” hay không đã trở thành câu hỏi đặt ra với tất cả các ngành, các cấp, của toàn xã hội đặc biệt là của các nhà giáo dục, của các thầy cô trực tiếp đứng lớp nh chúng ta
Để giải lời bài toán ấy đã có nhiêù công trình nghiên cứu, thử nghiệm Nghị quyết trung ơng II khoá VIII cũng chỉ rõ: “ Đối với phơng pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo của ngời học, từng bớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến, phơng tiện hiện dại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học , tự rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm , đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh”
Bớc vào CCGD ( bắt đầu từ những năm 1985, 1986 đến nay), lối giảng dạy “véo von”,thầy giảng cho trò nghe đã bị phê phán gay gắt.Thay vào đó là một kiểu dạy học mới Bây giờ giáo viên không làm thay cho HS Ngời GV tổ chức cho HS hoạt động Quá trình hoạt động đó giúp HS tự mình nắm vững tác phẩm.Vấn đề dạy học bây giờ điều quan trọng không chỉ đa ra kết luận mà chủ yếu là tìm ra con đờng đi đến kết luận.Đối với môn Ngữ văn, đồng thời là một môn nghệ thuật thì điều quan trọng không chỉ là nhận thức đợc nghệ thuật mà điều quan trọng là giao tiếp có hiệu quả với nghệ thuật.Yêu cầu tìm
ra con đờng đi đến kết luận và giao tiếp hiệu quả với nghệ thuật chỉ có thể
thực hiện đợc trong điều kiện ngời GV tôn trọng HS nh một bạn đọc Coi
HS là chủ thể cảm thụ tác phẩm trong giờ học.Nh vậy, trong giờ văn theo
phơng pháp mới, tất cả các phơng pháp bộ môn, các biện pháp và thủ thuật s phạm của ngời GV đều nhằm khơi gợi, đa HS vào thế giới của nhà văn để các
Trang 2em cảm thụ và hình thành nhân cách Nêú nh trớc đây GV giảng cho hay, cho sâu, GV phân tích hộ, cảm thụ hộ HS thì giờ đây
Bài giảng của thầy, thầy giảng một nửa thôi,“
Còn một nửa nhiều để học sinh làm lấy”
( Chế Lan Viên)
Với t tởng chỉ đạo tiến bộ và tốt đẹp nh vậy, cuộc cải cách về phơng pháp, sự thay đổi về chơng trình, sách giáo khoa là những việc làm cấp thiết,
đợc đa số GV ủng hộ, hởng ứng.T tởng quan trọng nhất của phơng pháp mới
là không áp đặt, không làm thay, không suy nghĩ và cảm thụ thay cho
HS, HS đợc tôn trọng, đợc nhìn nhận là chủ thể sáng tạo, đợc đánh giá
nh một bạn đọc có văn hoá, có thể tham gia tích cực vào quá trình tìm hiểu, cảm thụ, bình giá và chiêm nghiệm tác phẩm T tởng mới mẻ này đợc
thực hiện bằng những cách thức và phơng thức mới.Những phơng pháp
đó,một mặt kế thừa mặt tích cực của phơng pháp cũ, mặt khác đa vào những hoạt động, những cách thức mới cha từng có trong giờ giảng văn trớc đây
2.Cơ sở thực tiễn :
Trong giảng dạy nói chung , dạy thơ văn nói riêng , hiện nay trong tr-ờng THCS luôn dợc giáo viên đặt ra vấn đề : Dạy nh thế nào để phát huy tính tích cực , chủ động , sáng tạo của học sinh ? Dạy nh thế nào để đạt mục tiêu giáo dục?
Riêng với mảng thơ Đờng _đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc và
là mảng văn học có ảnh hởng rất lớn tới thơ ca trung cận đại Việt Nam Ra
đời cách chúng ta tới mời mấy thế kỷ nay , ngôn từ Hán , thể thơ Đờng , cảm xúc suy nghĩ của ngời xa là những khó khăn trong việc tiếp cận , hiểu các tác phẩm Do vậy , bài viết này tôi xin mạnh dạn trao đổi một vài suy nghĩ về việc dạy thơ Đờng cho học sinh THCS , cụ thể là học sinh lớp 7 theo tinh thần đổi mới phơng pháp, cụ thể là theo hớng tích cực , tích hợp
II.Nội dung
1
Nhận thức :
Các phơng pháp dạy văn theo hớng đổi mới là: đọc sáng tạo, tái hiện, gợi tìm, nghiên cứu Bốn phơng pháp này cần đợc vận dụng một cách uyển chuyển và linh hoạt Tuy nhiên, bản chất khoa học của từng phơng pháp, mối tơng quan của các phơng pháp, tỉ lệ phối hợp các phơng pháp căn cứ vào đặc trng, thể loại tác phẩm và đặc điểm lứa tuổi HS vẫn là những trăn trở của mỗi chúng ta.Những việc tìm tòi, đổi mới của việc dạy học văn bây giờ không phải
là thay phơng pháp mà là cách vận dụng các phơng pháp, cách ứng dụng các thành tựu liên môn, liên ngành vào bài dạy cụ thể Đó vẫn là một chân trời
mở, là thách thức lớn đối với GV, với các nhà nghiên cứu
Trang 3a Đọc sáng tạo: là phơng pháp đặc biệt với bộ môn văn Đọc sáng tạo
bao gồm cả đọc thầm, đọc thành tiếng.Mỗi ngời đọc đem phần kinh nghiệm sống, vốn văn hoá riêng của mình vào việc tiếp nhận văn bản, tiếp nhận một cách chủ động sáng tạo Đọc diễn cảm là một hình thức của đọc sáng tạo
b Tái hiện: Phơng pháp phổ biến trong giờ văn.
Nếu nhà văn phản ánh cuộc sống trong tác phẩm thì ngời đọc đi theo h-ớng ngợc lại, từ những chi tiết nghệ thuật của tác phẩm đến với cuộc sống.Hiểu rộng hơn, tái hiện không chỉ là sự hình dung tởng tợng mà còn bao gồm cả cách hình dung và tởng tợng nữa.Việc tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra
đời tác phẩm, nghệ thuật chính là nhằm tái hiện cuộc sống để tìm ra qui luật cảm nhận và phản ánh của tác giả.Với những câu hỏi chính xác và có tính thẩm mĩ cao, GV và HS có thể tái hiện gần nh tất cả những gì tác động đến cảm xúc và suy nghĩ của tác giả
c Gợi tìm: Qua mỗi tác phẩm điều chúng ta quan tâm là tác giả muốn
gửi gắm điều gì vào tác phẩm, những phơng tiện nghệ thuật nào đợc sử dụng
để làm công việc đó? Không thể đi đến đích ngay đợc nên phơng pháp gợi tìm là rất quan trọng, ở đây thể hiện rõ nhất trình độ học vấn và năng lực s phạm của ngời GV Ngời GV có cảm nhận đúng, có thể nêu câu hỏi, có thể tạo tình huống có vấn đề nhng điều cốt lõi là không làm thay sự tìm hiểu của
HS Các em phải đợc hớng dẫn đi qua từng chặng đờng cho đến khi hoàn thành một khám phá, một phát hiện Sự gợi tìm chỉ có kết quả khi khi biết kết hợp với các phơng pháp khác
d Nghiên cứu: Phơng pháp này đảm bảo đợc sự tìm hiểu ở mức độ
khách quan và phù hợp tối đa Muốn nghiên cứu đối tợng phải tiếp cận đối t-ợng( đọc sáng tạo), phải hình dung đợc đối tợng rõ ràng (tái hiện), từng bớc tìm hiểu từng bộ phận của đối tợng (gợi tìm) Nhờ những phơng pháp trên phơng pháp nghiên cứu mới có thể có những kết luận đúng về giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm
Các thủ pháp; thuyết giảng, bình giảng, nêu vấn đề, phát vấn- đàm thoại, đọc diễn cảm, thảo luận, là các thủ pháp, không phải là phơng pháp hỗ trợ đắc lực cho giờ dạy thành công
Hoạt động của HS trong giờ văn gồm nhiều hoạt động khác nhau HS nghe, ghi chép, đọc, trả lời câu hỏi, nhận xét Trong nhiều biện pháp tổ chức hoạt động cho HS, việc soạn thảo hệ thống câu hỏi có một vị trí đặc biệt quan trọng Câu hỏi trong giờ văn rất đa dạng và phong phú, có thể tạm qui thành hai loại:
Các câu hỏi nhằm tìm hiểu tác phẩm có tính chất nghiên cứu văn học
Trang 4Các câu hỏi nhằm khơi gợi hoạt động tự bộc lộ và đồng sáng tạo của
HS Câu hỏi loại này có nhiều mới mẻ, tích cực.HS sẽ lần lợt khám phá cái hay, cái đẹp, cái độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Có thể có một số dạng:
? Em hãy thử tởng tợng
? Em có đồng ý với ý kiến của ban( của nhà phê bình nào đó) không? Vì sao?
? Nếu vẽ tranh minh hoạ, em sẽ vẽ nh thế nào, vẽ những nét vẽ gì?
? Nếu đặt tên khác cho tác phẩm, em sẽ đặt tên nh thế nào?
? Nếu đựoc viết tiếp đoạn kết của tác phẩm theo ý mình, em sẽ viết ra sao?
Phơng pháp mới chỉ đợc khẳng định bằng hoạt động thực tiễn của GV Muốn dạy văn theo phơng pháp mới, ngời dạy văn phải có trình độ học vấn và tay nghề cao, cần năng động và sáng tạo rất nhiều.Và phơng pháp mới chỉ thực sự đợc thuyết phục và khẳng định khi chúng ta có đợc những giờ dạy sinh động và lí thú
áp dụng cụ thể khi dạy Thơ Đờng – một mảng thơ có giá trị rất lớn biểu hiện không chỉ ở số lợng bài (48.000 bài của 2300 nhà thơ ) mà chính bởi nội dung phong phú , sâu sắc , nghệ thuật điêu luyện , hoàn mĩ Do đó tiếp cận với thơ Đờng , các em học đợc rất nhiều điều
ở lớp 7 , các em đợc học một kiểu văn bản mới : văn biểu cảm Thơ Đ-ờng có nhều mặt tơng ứng với văn biểu cảm Do đó giúp học sinh cảm hiểu thơ Đờng sẽ giúp các em có cách viết văn biểu cảm, có chiều sâu của suy nghĩ hơn
Học thơ Đờng , cũng là cơ hội để các em tích luỹ thêm vốn hiểu biết về
từ Hán Việt : Trong 120 chữ đợc học dùng ở 4 bài tuyệt cú ( kể cả nhan đề )
có đến 104 chữ khi sang Việt Nam đã trở thành yếu tố Hán Việt Bởi vậy việc hớng dẫn học sinh học tốt phần dịch nghĩa sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy
từ Hán Việt ở phần tiếng Việt
Hơn nữa , cụm bài thơ Đờng không đặt yêu cầu hiểu thêm về thơ đời
Đờng mà chỉ yêu cầu vận dụng những kiến thức tối thiểu đã đợc cung cấp về các thể thơ ấy ở phần những bài thơ trung đại Việt Nam học trớc đó
Một thuận lợi nữa là trong chơng trình cũ trớc đây thơ Đờng đợc dạy ở lớp 9 gồm 10 bài trong đó giảng 6 bài , 4 bài đọc thêm nhng đến nay thơ Đ-ờng đợc bố trí ở lớp 7 chỉ gồm có 5 bài : 4 bài đọc hiểu , 1 bài đọc thêm : số l-ợng bài giảm một nửa các bài đa vào cũng đợc lựa chọn theo hớng đơn giản , vừa sức hơn với học sinh lớp 7 Số lợng bài ít , học sinh có cơ hội tiếp xúc với tác phẩm nhiều hơn Trong sách giáo khoa trớc đây , 1 tiết học 2 bài tuyệt cú ,
Trang 5đến nay chỉ còn học 1 bài Do đó học sinh có điều kiện để phân tích tác phẩm
kĩ hơn , nhớ và thụôc tác phẩm dễ dàng hơn
Có thể khẳng định dạy thơ Đờng là cần thiết cho học sinh lớp 7 bởi nhũng mặt tích cực , thuận lợi trên Song cũng phải thừa nhận mặt khó , mặt phức tạp trong việc cho học sinh tiếp xúc với phần phiên âm và dịch nghĩa các tác phẩm thơ viết bằng chữ Hán Bởi thế , đối với học sinh THCS thơ Đờng vẫn là khó Điều này có thể giải thích vì thơ Đờng đã cách xa chúng ta cả về không gian và thời gian , cả phơng thức t duy nghệ thuật Vả lại tuổi nhỏ các
em thờng nôn nóng , khó có thể tĩnh tâm để cảm nhận đợc những rung động tinh tế của tâm hồn nhng đó lại là những rung động nhân văn cần có Nếu thiếu đi những vẻ đẹp dịu dàng trong sáng , nếu thiếu đi niềm cảm thông trớc khổ đau của đồng loại, con ngời sẽ thiếu đi nhiều lắm dù họ có thể có đầy đủ những tiện nghi vật chất Văn học góp phần hình thành ở con ngời những tình cảm nhân văn nh thế Những bài thơ Đờng đợc tuyển vào chơng trình không nhiều , nhng mỗi bài một vẻ, để thể hiện những nội dung t tởng tốt đẹp với hình thức nghệ thuật độc đáo Trong những bài thơ sáng tác đã ngàn năm trớc,
ta vẫn thấy có sự gần gũi với tâm hồn chúng ta , cần thiết cho chúng ta Vậy cần có hệ thống phơng pháp phù hợp , cách tổ chức điều khiển linh hoạt của giáo viên nhằm giờ học thực sự cuốn hút học sinh , học sinh thực sự trở thành chủ thể của nhận thức
2
Một số biện pháp
Trớc hết chúng ta hãy xoá bỏ ám ảnh : “thơ Đờng khó” để tạo một tâm thế chủ động , thoải mái khi tìm hiểu loại thơ này Điều cần thiết là phải nắm
đợc cái “mã” nghệ thuật của nó Nếu ta có thể thông qua yếu tố hình thức để tìm ra những điều thi nhân muốn gửi gắm trong tác phẩm thì có nghĩa đã “giải mã ” đợc thông điệp nghệ thuật của ngời xa
Thơ Đờng vốn hàm súc , nói ít , gợi nhiều nên khi giảng dạy thơ Đờng , phần lớn giáo viên chỉ chú trọng thuyết giảng Mà ít đàm thoại vì sợ học sinh không biết , học sinh trả lời chậm, mất thời gian Cách làm ấy vô hình dung
đã đi ngợc lại cái “phép” của thơ Đờng “nói ít gợi nhiều”.Nhng nh thế không
có nghĩa là cứ liên tiếp đặt câu hỏi đàm thoại khiến ngời trả lời không kịp suy nghĩ
Mỗi bài thơ chỉ vẻn vẹn 4 câu ( trừ : Bài nhà tranh bị gió thu phá của
Đỗ Phủ ) 20 chữ vẫn là một thế giới nghệ thuật Thi nhân có thể giấu mình
đi, trong bài thơ không hề có chủ ngữ nhân xng ngôi thứ nhất nhng cái tâm, cái thần của chủ thể trữ tình vẫn “phổ ” vào thế giới nghệ thuật ấy Vậy làm sao để nhận ra tình ý mà thi nhân muốn gửi gắm ? Mỗi ngời trong chúng ta
đều có cách cảm nhận riêng Chúng ta nên đặt mình vào vị trí của chủ thể trữ tình để nhận ra tâm tình của thi nhân Giáo viên phải là ngời hiểu sâu sắc tác
Trang 6phẩm , cùng với sự sáng tạo linh hoạt trong sử dụng các phơng pháp, thủ pháp sẽ là ngời tổ chức điều khiển cho học sinh hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo trên con đờng đi đến đỉnh cao tri thức nhân loại
Có nhiều biện pháp , nhiều hình thức tổ chức hớng dẫn cho học sinh tiếp nhận văn bản Giáo viên cần tuỳ vào đối tợng học sinh , vào hoàn cảnh
để vận dụng cho phù hợp Dới đây là một số biện pháp mà theo tôi là cần thiết khi dạy thơ Đờng
a Đọc sáng tạo
Tiếp cận và thâm nhập vào văn bản bằng hoạt động đọc nhng không phải đọc một cách tự nhiên theo bản năng mà là đọcsáng tạo Đọc sáng tạo là phơng pháp đặc biệt với bộ môn văn.Đọc sáng tạo bao gồm cả đọc thầm, đọc thành tiếng.Mỗi ngời đọc đem phần kinh nghiệm sống, vốn văn hoá riêng của mình vào việc tiếp nhận văn bản, tiếp nhận một cách chủ động sáng tạo Đọc diễn cảm là một hình thức của đọc sáng tạo
Nếu hoạt động này làm tốt sẽ giúp học sinh hình dung , tởng tợng nội dung ẩn chứa trong bài Qua hình thức đọc diễn cảm , thế giới những kí hiệu của văn bản không còn là những kí hiệu chết mà chúng đang sống dậy , đang phập phồng hơi thở cuộc sống Chỉ khi nào thực sự hiểu , cảm nhận đợc cái hay cái đẹp của văn bản , lúc đó mới có thể đọc diễn cảm đợc và ngợc lại ,
đọc diễn cảm văn bản cũng chính là cách giúp học sinh hiểu sâu hơn về văn bản Với thơ Đờng giáo viên cần hớng dẫn học sinh đọc chính xác từ , đúng giọng điệu, phiên âm , dịch nghĩa và dịch thơ GV có thể đọc mẫu trớc rồi gọi
HS đọc hoặc có thể để HS đọc , lớp nhận xét bạn đọc đã phù hơp cha, tự HS tìm ra cách đọc dới sự gợi ý dẫn dắt của GV.( Vấn đề này cũng nên tiến hành linh hoạt tuỳ đối tợng HS, làm sao để phát huy đợc hiệu quả của việc đọc trong quá trình phân tích mà không làm mất nhiều thời giờ vào trọng tâm của bài )
Ví dụ :
Bài 1 : Xa ngắm thác núi L của Lý Bạch
Giáo viên đọc , hớng đãn học sinh đọc : giọng phấn chấn , ngợi ca , nhấn mạnh các từ “vọng” ,” quải” , “ lạc” ,” nghi” Bản dịch nên đọc chậm rõ theo nhịp 4 / 3
Bài 2 : Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh – Lý Bạch
Cần đọc giọng chậm , buồn , tình cảm , nhịp 2/3
Bài 3 : Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê – Hạ Chi Trơng
Đọc với giọng buồn , chậm , nhịp 3/4 hai câu cuối giọng hỏi
Bài 4 : Bài ca nhà tranh bị gió thu phá - Đỗ Phủ
Đọc chậm giọng buồn , nhấn mạnh những từ ngữ , những hình ảnh đối lập
b) Chú ý đúng mức bản dịch thơ , dịch nghĩa và phiên âm
Trang 7Trong phần hớng dẫn đọc - hiểu văn bản phần luyện tập đã có hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tìm hiểu văn bản rút ra những kết luận khoa học cần thiết nhng vẫn đòi hỏi sự sáng tạo , gia công s phạm của giáo viên đẻ giờ học văn thực sự hứng thú với các em , thu hút các em vào hoạt động tìm hiểu tác phẩm
Là thơ nớc ngoài – thế giới nghệ thuật của tác phẩm thể hiện ở nguyên tác Vậy muốn hiểu đợc dụng ý nghệ thuật mà tác giả sử dụng , nhất thiết phải bám sát vào bản phiên âm Phần dịch nghĩa , dịch thơ thờng giúp các em nhận biết giá trị nội dung t tởng của tác phẩm Do đó khi giảng dạy giáo viên phải cho học sinh đối chiếu so sánh thơ dịch với nguyên tác để hiểu hết đợc các giá trị nghệ thuật, những tinh hoa ngôn ngữ mà bản dịch có thể cha nói hết đợc Qua đây, GV cũng có thể mở rộng vốn từ cho HS, tích hợp với Tiếng Việt (Từ Hán Việt)
Trừ bài : “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” do trình độ học sinh nên chúng ta chỉ chú ý bản dịch khi phân tích Do vậy không cần phân tích cụ thể từng từ ngữ trong nguyên tác nh 3 bài kia
Chẳng hạn với bài : “Xa ngắm thác núi L “ - Lý Bạch
Giáo viên có thể đặt câu hỏi để học sinh so sánh nhận xét, từ đó hiểu nội dung một cách đầy đủ , sâu sắc hơn
? So sánh bản dịch thơ, dịch nghĩa và phiên âm , bản dịch ở câu 2 đã
không dịch đợc chữ nào trong nguyên tác ? Sự mất mát ấy có phơng hại gì
đến cảm xúc ngời đọc ?
Với câu hỏi này học sinh dễ dàng nhận thấy chữ “quải ” trong nguyên tác bị mất ở bản dịch thơ (do đó bỏ từ quải sẽ làm cho ấn tợng về dòng thác gợi ra thành mờ nhạt và ảo giác về giải ngân hà ở cuối bài thơ trở nên thiếu cơ
sở ) Và chữ “ quải ” - treo giúp ngời đọc cảm nhận rõ trạng thái “tĩnh” của dòng thác Dòng thác tuôn chảy từ trên đỉnh núi ầm ầm đổ xuống đã biến thành dải lụa trắng rủ xuống yên lặng, bất động treo giữa vách núi và dòng sông
Bài : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” - Lý Bạch
? Đối chiếu 2 câu đầu của bản dịch với nguyên tác trong bài” Cảm nghĩ
trong đêm thanh tĩnh ”và rút ra nhận xét Vậy sự khác biệt ấy có ảnh hởng gì tới việc hiểu 2 câu thơ này ?
Học sinh so sánh : Sàng tiền minh nguyệt quang
(Đầu giờng ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sơng )
Học sinh đối chiếu và thấy ở bản dịch có thêm 2 động từ “rọi” “phủ” làm ngời đọc lầm tởng hai câu thuần tuý tả cảnh
Trang 8Hay ví dụ : ? Chữ vọng là ngắm , nhìn xa.Bản dịch dịch là nhìn“ ” “ ”
thì đã diễn tả hết ý nghĩa của từ cha ? Vì sao ?
Học sinh cần hiểu: “Vọng” giá trị biểu cảm rõ nét hơn “Vọng” không chỉ đơn thuần là nhìn mà còn là sự say sa , còn ẩn chứa tình cảm thiết tha trong ánh mắt
c) Chú ý tới mối quan hệ của các câu thơ và mạch cảm xúc trong từng bài
Cùng là thơ Đờng nhng mỗi bài có một sự sáng tạo riêng ở bài “Xa ngắm thác núi L ” với bố cục 1 / 3 ( Câu một là phông nền cho bức tranh, ba câu sau đặc tả cảnh thác ) Bài “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ” có
bố cục 2 / 2 ( Hai câu đầu là sự thay đổi của bản thân theo năm tháng , hai câu sau là một tình huống và tâm trạng của tác giả ) Bài “Cảm nghĩ trong
đêm thanh tĩnh” cũng có bố cục 2 /.2 ( hai câu đầu tả cảnh trăng và tâm trạng thao thức bâng khuâng của tác giả , hai câu sau là nỗi nhớ da diết với quê
h-ơng ) Bài “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” có kết cấu bốn phần ( cảnh tợng gió thu tốc mái nhà tranh ; sự bất lực xót xa của nhà thơ trớc đám trẻ cớp tranh ; nỗi khổ đau trong ngôi nhà mất mát ; đoạn cuối là khát vọng , mơ ớc của nhà thơ )
Phân tích bài theo bố cục với học sinh lớp 7 dễ khai thác , dễ tìm hiểu hơn Ngoài ra, trong quá trình phân tích học sinh cũng cần thấy đợc mối liên
hệ giữa các câu thơ bằng hệ thống câu hỏi hợp lý của giáo viên
Vd : Bài cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
? Câu thứ 3 là câu thơ có vai trò nh một bản lề nối hai câu trên với câu 4.
Hãy chứng minh ?
Giáo viên có thể định hớng : hành động ngẩng đầu nhìn trăng ở câu 3 là một hành động tất yếu để kiểm nghiệm ý 2 câu đầu : ánh sáng phủ trên mặt
đất là trăng hay sơng ? Nhìn trăng thì nỗi lòng tác giả với quê hơng lại trỗi dậy và lập tức tác giả cúi xuống không phải để nhìn lại ánh trăng mà bởi nỗi lòng nặng trĩu
Mối liên kết giữa các câu trong bài : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” còn đợc liên kết với nhau bởi các động từ , giáo viên có thể hớng dẫn học sinh phân tích bằng câu hỏi :
? Bốn câu trong bài còn đợc liên kết chặt chẽ với nhau bằng các động
từ , em hãy chỉ rõ đó là những động từ nào, các động từ đó có mối liên hệ nh thế nào trong bài thơ?.
Nếu học sinh không trả lời đợc , giáo viên có thể gợi :
? Tìm các động từ trong bài ?
? Em có xác định đợc chủ ngữ của các động từ đó không ?
? Vậy việc diễn đạt thiếu chủ ngữ ấy có đụng ý gì ?
Trang 9Qua đó học sinh sẽ xác định đợc các động từ có trong bài là : nghi (ngỡ ) , cử (ngẩng ) , vọng (ngắm , nhìn xa ) , đê ( cúi ) , t (nhớ ) Cả năm
động từ này đều bị lợc bỏ chủ ngữ nhng qua đây ta vẫn có thể khẳng định chỉ
có môt chủ thể duy nhất đó là chủ thể trữ tình Việc lợc bỏ chủ ngữ ngụ ý hành động , đặc điểm nói trong câu là chung của mọi ngời Do đó làm cho sức cộng hởng của thơ tăng lên gấp bội , chủ thể đó có thể là Lý Bạch hoặc là của bất cứ ai có hoàn cảnh tơng tự
Giáo viên có thể tích hợp luôn với bài 19 : “ Câu rút gọn” , các em
sẽ đợc học Và đây cũng là hoạt động phổ biến trong thơ ca nói chung Những câu bị lợc bỏ chủ ngữ còn có dụng ý thể hiện những suy nghĩ, hành
động đợc nói đến trong câu thơ, bài thơ không phải chỉ là của cá nhân một
ng-ời mà của chung nhiều ngng-ời Nh vậy bài thơ sẽ dễ gợi đợc sự đồng cảm nhiều hơn nơi ngời đọc
Bài : “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về thăm quê”
Giáo viên cũng hớng dẫn để học sinh thấy đợc 3 câu đầu là tâm trạng buồn vui lẫn lộn , là bớc chân hấp tấp , lập cập , líu ríu tay bắt mặt mừng khi trở về thăm quê thì câu 4 lại là sự hẫng hụt trớc lời hỏi vô t của lũ trẻ
Bài : “ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” : 3 khổ đầu là nỗi khổ của tác giả , nỗi bất hạnh của tác giả đợc diễn tả ngày một tăng cấp nhng trong tăm tối khổ đau ấy lại bừng lên tia sáng đó là mơ ớc , khát vọng về cuộc sống hạnh phúc không chỉ cho bản thân mà là cho đông đảo ngời nghèo khổ trong xã hội ( đoạn 4 )
đ) Hớng dẫn học sinh phân tích nghệ thuật đối trong thơ Đờng - đây là bút pháp nghệ thuật đợc sử dụng phổ biến trong thơ Đờng
Có nhiều kiểu đối : tiểu đối , đối câu , đối từ , đối ý… đợc các tác giả vận dụng linh hoạt sáng tạo Bởi thế khi phân tích thơ Đờng giáo viên cần h-ớng dẫn học sinh phát hiện và phân tích tác dụng của nghệ thuật đối trong mỗi bài
VD : ? Chỉ ra và phân tích tác dụng của nghệ thuật đối trong bài “
Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ”
ở đây 3 câu đầu bài thơ đều tự tách ra 2 vế đối ý , đối lời , riêng câu 4 lại
đối lập với 3 câu trớc :
Thiếu tiểu ly gia > < lão đại hồi Hơng âm vô cải > < mấn mao tồi Nhi đồng tơng kiến > < bất tơng thức
Trang 10Tiểu vấn : Khách tòng hà xứ lai ?
Ba câu đầu thể hiện rõ tâm trạng nửa vui , nửa buồn, vừa mừng, vừa tủi
Đây là tâm trạng thực của ngời con bao năm xa quê nhà giờ mới trở về, buồn vui lẫn lộn , những ngọn triều tình cảm, những đợt sóng lòng không kìm nén
đợc, thoắt vui , thoắt buồn, thoắt mừng, thoắt tủi, không tự chủ đợc Đọc lên
ta cảm giác thấy bớc chân hấp tấp, lập cập, líu ríu, tay bắt mặt mừng, nớc mắt rơi xuống ớt cả nụ cời trên môi
Cụ già 86 tuổi nhng vẫn là đứa con của quê hơng , vẫn giọng quê không
đổi với nỗi nhớ không nguôi nhng đột ngột hẫng hụt biết bao , tủi lòng biết bao khi mình trở thành khách lạ ngay chính quê hơng mình
ở bài : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”, hai câu cuối là cả một sự sáng tạo nghệ thuật của Lý Bạch : từng từ đối nhau rất chỉnh về từ loại , số tiếng , về cấu trúc ngữ pháp :
Cử đầu / vọng / minh nguyệt
Đê đầu / t / cố hơng Học sinh nhận rõ đối ở đây rất chỉnh có tác dụng làm rõ 2 hành động trong khoảnh khắc : ngẩng đầu nhìn trăng cố xua đi nỗi nhớ thì nỗi nhớ bỗng trở lại tràn ngập con tim nên ngay lập tức “ cúi đầu” Trăng rất đẹp , rất trong sáng nhng lòng ngời không vui với trăng đợc Dù ngẩng đầu hớng ngoại hay cúi đầu hớng nội thì nỗi nhớ quê hơng vẫn khắc khoải trĩu lặng trong lòng
e) Hớng dẫn học sinh phân tích kỹ hơn nhãn tự ( nếu có ) hoặc câu kết trong mỗi bài Đây là yêu cầu cần thíêt giúp học sinh hiểu đợc tác phẩm một cách đầy đủ , sâu sắc
Bài : “ Xa ngắm thác núi L”
? Tại sao có thể khẳng định câu kết của bài là một danh cú ?
Giáo viên có thể định hớng :
Bài : “ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”
? Câu cuối là 1 câu hỏi hồn nhiên của trẻ nhng gợi bao suy nghĩ trong lòng tác giả , trong lòng ngời đọc Hãy phân tích để làm rõ ?
Tiểu vấn : Khách tòng hà xứ lai ?
(Cời hỏi : Khách ở nơi nào đến đây ? )
Tiếng cời trong trẻo vô t , câu hỏi ngộ nghĩnh , thái độ ngoan ngoãn của bọn trẻ lại gợi cho tác giả nỗi buồn thấm thía, mình cũng là ngời con quê
h-ơng vậy mà… Phải chăng câu cuối này cũng là lời tạ lỗi của đứa con với ngời
mẹ quê hơng ?
Bài : “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”