1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng địa lí các châu 2

79 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các áp thấp nhiệt đới và bão này thường được hình thành trong vịnh Bengal, vùng biển phía Đông Việt Nam hoặc phía Đông Philippines, sau đó di chuyển sang phía Tây, đổ bộ vào Đông Nam Ấn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 ĐỊA LÝ CHÂU Á 2

1.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU Á 2

1.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 2

1.1.1.1 Vị trí địa lý 2

1.1.1.2 Biển và bờ biển 2

1.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN 3

1.1.2.1 Địa chất 3

1.1.2.2 Khoáng sản 4

1.1.3 ĐỊA HÌNH 5

1.1.3.1 Bề mặt bị chia cắt thẳng đứng rất mạnh 5

1.1.3.2 Hướng của hệ thống núi 5

1.1.3.3 Sự phân bố địa hình 6

1.1.4 KHÍ HẬU 6

2.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu 6

2.1.4.2 Đặc điểm khí hậu 7

2.1.4.3 Các vành đai khí hậu 10

1.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ 12

1.1.5.1 Sông ngòi 12

1.1.5.2 Hồ 16

1.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT 16

1.1.6.1 Giới thiệu khái quát 16

1.1.6.2 Các vành đai sinh vật 16

1.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI CHÂU Á 21

1.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ 21

1.2.1.1 Tình hình chính trị châu Á 21

1.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Á 21

1.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Á 22

1.2.2 DÂN SỐ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ 22

1.2.2.1 Đặc điểm dân số 22

1.2.2.2 Sự phân bố dân cư 22

1.2.3 THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC VÀ NGÔN NGỮ 22

1.2.3.1 Thành phần chủng tộc 22

1.2.3.2 Ngôn ngữ 23

1.2.4 TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA 23

1.2.4.1 Tôn giáo 23

1.2.4.2 Văn hóa 28

1.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 30

1.2.5.1 Công nghiệp 31

1.2.5.2 Nông nghiệp 31

1.2.5.3 Dịch vụ 31

1.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU Á 32

1.3.1 BẮC Á 32

Trang 3

1.3.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 32

1.3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33

1.3.2 TRUNG Á 34

1.3.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 34

1.3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 34

1.3.3 ĐÔNG Á 35

1.3.3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 35

1.3.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35

1.3.4 TÂY Á 36

1.3.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 36

2.3.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 36

1.3.5 NAM Á 36

1.3.5.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 36

1.3.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

1.3.6 ĐÔNG NAM Á 38

1.3.6.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 38

1.3.6.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 38

CHƯƠNG 2 ĐỊA LÝ CHÂU ĐẠI DƯƠNG 40

2.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU ĐẠI DƯƠNG 40

2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 40

2.1.1.1 Vị trí địa lý 40

2.1.1.2 Biển và bờ biển 40

2.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN 41

2.1.2.1 Địa chất 41

2.1.2.2 Khoáng sản 42

2.1.3 ĐỊA HÌNH 42

2.1.3.1 Địa hình lục địa Australia 42

2.1.3.2 Địa hình các khu vực đảo 43

2.1.4 KHÍ HẬU 43

2.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu 43

2.1.4.2 Đặc điểm khí hậu 44

2.1.4.3 Các vành đai khí hậu 45

2.1.5 SÔNG NGÒI - HỒ 46

2.1.5.1 Sông ngòi 46

2.1.5.2 Hồ 46

2.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT 46

2.1.6.1 Giới thiệu khái quát 46

2.1.6.2 Các vành đai sinh vật 47

2.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI CHÂU ĐẠI DƯƠNG 48

2.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ 48

2.2.1.1 Tình hình chính trị châu Đại Dương 48

2.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Đại Dương 49

2.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Đại Dương 49

2.2.2 DÂN CƯ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ 49

2.2.2.1 Đặc điểm dân số 49

2.2.2.2 Sự phân bố dân cư 49

Trang 4

2.2.3 THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC VÀ NGÔN NGỮ 50

2.2.3.1 Thành phần chủng tộc 50

2.2.3.2 Ngôn ngữ 51

2.2.4 TÔN GIÁO - TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA 51

2.2.4.1 Tôn giáo và tín ngưỡng 51

2.2.4.2 Văn hóa 52

2.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 53

2.2.5.1 Nông nghiệp 53

2.2.5.2 Công nghiệp 53

2.2.5.3 Dịch vụ 53

2.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU ĐẠI DƯƠNG 54

2.3.1 AUSTRALIA 54

2.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 54

2.3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 55

2.3.2 MELANESIA 56

2.3.2.1 Đặc điểm tự nhiên 56

2.3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 58

2.3.3 MICRONESIA 58

2.3.3.1 Đặc điểm tự nhiên 58

2.3.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 59

2.3.4 POLYNESIA 60

2.3.4.1 Đặc điểm tự nhiên 60

2.3.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 61

CHƯƠNG 3 ĐỊA LÝ CHÂU NAM CỰC 62

3.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÂU NAM CỰC 62

3.1.1 LỊCH SỬ KHÁM PHÁ CHÂU NAM CỰC 62

3.1.1.1 Giai đoạn trước Chiến tranh thế giới I 62

3.1.1.2 Giai đoạn từ Chiến tranh thế giới I đến 1957 63

3.1.1.3 Giai đoạn từ 1957 đến nay 63

3.1.2 HIỆP ƯỚC VỀ CHÂU NAM CỰC 63

3.1.2.1 Giới thiệu khái quát 63

3.1.2.2 Các điều khoản và thỏa thuận khác 64

3.1.2.3 Thành viên tham gia 65

3.2 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU NAM CỰC 65

3.2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 65

3.2.1.1 Vị trí địa lý 65

3.2.1.2 Biển và bờ biển 65

3.2.2 ĐỊA CHẤT - ĐỊA HÌNH VÀ KHOÁNG SẢN 67

3.2.2.1 Địa chất 67

3.2.2.2 Địa hình 68

3.2.2.3 Khoáng sản 68

3.2.3 KHÍ HẬU 68

3.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 68

3.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 69

3.2.4 THỰC – ĐỘNG VẬT 70

3.2.4.1 Thực vật 71

Trang 5

3.2.4.2 Động vật 71

3.3 ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI CHÂU NAM CỰC 71

3.3.1 DÂN CƯ 71

3.3.2 CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ 72

3.3.2.1 Bản đồ chính trị 72

3.3.2.2 Hệ thống pháp lý 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 74

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Bài giảng “Địa lý các châu 2” được biên soạn dựa trên cơ sở những giáo

trình có liên quan của các trường bạn và tài liệu tác giả thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau

Bài giảng giới thiệu các vấn đề địa lý của từng châu lục cụ thể: châu Á, châu Đại Dương và châu Nam Cực, các khu vực của mỗi châu lục cả về mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội cho sinh viên ngành Sư phạm Địa lý được đào tạo tại Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Quảng Bình

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để nội dung bài giảng đáp ứng được yêu cầu của chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, song chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, cùng sự góp ý của các bạn sinh viên khi sử dụng bài giảng này Trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Địa lý – Việt Nam học – Công tác xã hội, Trường Đại học Quảng Bình đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích

NGƯỜI BIÊN SOẠN

Trang 7

CHƯƠNG 1 ĐỊA LÝ CHÂU Á

1.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU Á

1.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Về hình dạng, châu Á có bề mặt dạng hình khối khổng lồ với diện tích 43.810.000km2, là châu lục có diện tích lớn nhất Trái Đất, chiếm 29,3% diện tích đất nổi trên Trái Đất Châu Á đa phần nằm ở bán cầu Bắc (chỉ có một số đảo kéo dài xuống bán cầu Nam) và bán cầu Đông Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á – Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á

Điểm cực Bắc là mũi Seliusky trên bán đảo Taymyr thuộc Nga ở vĩ tuyến 77°44' Bắc Điểm cực Nam là mũi Piai trên bán đảo Malay ở vĩ tuyến 1°16' Bắc Từ Bắc xuống Nam của châu Á kéo dài hơn 76 vĩ tuyến, tức là khoảng 8.500km Điểm cực Tây của châu Á là mũi Baba trên bán đảo Tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ở tọa độ 26°4' Đông và điểm cực Đông là mũi Dezhnev trên bán đảo Chukostki thuộc Nga ở kinh tuyến 169°40' Đông Nếu tính cả các đảo hoặc quần đảo thì điểm cực Bắc của châu Á lên tới tận 81°13' trên đảo Komsomolets (Nga), còn điểm cực Nam xuống tới tận đảo Dana (Indonesia) Chiều dài từ bờ Tây đến bờ Đông nơi lãnh thổ rộng nhất là 9.200km

Về giới hạn, châu Á kéo dài từ vùng cực Bắc đến vùng xích đạo, tiếp giáp với 3 châu lục (châu Phi ở phía Tây Nam, châu Âu ở phía Tây Bắc, châu Đại Dương ở phía Đông Nam) và 3 đại dương (Bắc Băng Dương ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở phía Đông và Ấn Độ Dương ở phía Nam)

Châu Á phân cách với châu Phi bởi kênh đào Suez, dù bán đảo Sinai (Ai Cập) nằm

về phía đông của kênh đào này thường được coi là một phần của châu Phi về mặt địa lý – chính trị Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, biển Đen, dãy núi Kavkaz, hồ Caspian, dọc theo dãy núi Ural tới biển Kara ở Kara (Nga) Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương thuộc quần đảo Malay Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ XIX

do có sự khác biệt lớn về mặt địa lý Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu)

1.1.1.2 Biển và bờ biển

Đường bờ biển của châu Á bị chia cắt mạnh, nhiều vịnh, bán đảo lớn song do diện tích lục địa rất rộng nên sự chia cắt lãnh thổ theo chiều ngang như vậy xem ra không đáng kể Phần lục địa có dạng hình khối điển hình, nhất là các bộ phận nằm giữa vĩ tuyến 20° Bắc và 70° Bắc, làm cho các vùng trung tâm của lục địa như Trung Á và Nội

Á nằm cách bờ biển rất xa, có nơi đến 2.500km Điều kiện về vị trí địa lý như vậy đã có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành khí hậu và cảnh quan tự nhiên trên châu lục

Thuộc phạm vi mỗi đại dương, ven theo bờ lục địa thường có các biển nhỏ được phân cách với đại dương bởi các bán đảo, đảo và quần đảo

Phía Bắc tiếp giáp với Bắc Băng Dương Dọc theo bờ có các biển như Laptev, Chuckchi Hầu hết đều nằm trên thềm lục địa với độ sâu không quá 300m Bắc Băng Dương nằm trên các vĩ độ cực và cận cực nên thời tiết quanh năm giá buốt, mặt biển bị bao phủ bởi một lớp băng rất dày Điều kiện đó ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành khí hậu, cảnh quan tự nhiên cũng như đời sống và hoạt động kinh tế của con người ở phần phía Bắc châu lục

Trang 8

Phía Đông châu Á giáp với Thái Bình Dương Dọc theo bờ Tây Thái Bình Dương, đáy biển có cấu trúc rất phức tạp, tạo thành nhiều biển, phân cách với đại dương bởi nhiều đảo, chuỗi đảo hình vòng cung Các biển quan trọng nhất là Bering, Okhotsk, Nhật Bản, Hoàng Hải và Hoa Đông Các biển này phân cách với nhau và với đại dương bởi các bán đảo Kamchatka, Triều Tiên, các quần đảo Aleutian, Kuril, Ryukyu cùng các đảo Sakhalin, Đài Loan, … Dọc theo bờ Đông các vòng cung đảo của Đông Á là các vực biển hẹp và rất sâu như Kuril (10.549m), Nhật Bản (9.764m), Marian (11.034m), Ryukyu (7.507m) và Philipines (10.497m) Tính chất phức tạp của bờ Tây Thái Bình Dương có liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển dịch, xô húc của các mảng Thái Bình Dương với mảng Á-Âu và các mảng khác

Phía Đông Nam châu Á, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có các bán đảo, đảo và quần đảo, biển và vịnh biển xen kẽ với nhau rất phức tạp Thuộc khu vực này gồm bán đảo Trung Ấn và quần đảo Malay Quần đảo Malay có số lượng đảo lớn nhất thế giới Trong số hơn 20.000 hòn đảo lớn nhỏ có 6 đảo lớn nhất: Borneo (ở Malaysia gọi là Kalimantan), Sumatra, Java, Sulawesi, Luzon và Mindanao Nằm giữa các đảo nói trên có nhiều biển lớn và quan trọng, trong đó đáng chú ý nhất là biển

Đông (tên quốc tế là biển Nam Trung Hoa), biển Java, biển Sulu, biển Sulawesi, biển

Banda Biển Đông là biển lớn nhất, cấu tạo của đáy biển khá phức tạp: vùng biển phía Đông kinh tuyến 110° Đông nhìn chung là vùng biển sâu hơn 4.000m, đáy biển có nhiều đảo ngầm và đảo san hô Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là những đảo san hô nằm trong vùng biển này Vùng biển phía tây kinh tuyến nói trên lại nằm trên một thềm lục địa nông, thường không quá 100m Biển Đông được nối với biển Java qua một eo biển rộng là Karimata nằm giữa đảo Borneo và Billiton thuộc Indonesia

Phía Nam châu Á tiếp giáp với Ấn Độ Dương Bờ biển ở đây bị chia cắt mạnh, tạo thành 2 bán đảo lớn là Indostan (Ấn Độ) và Ả Rập Nằm giữa các bán đảo đó là các biển và vịnh biển lớn như biển Andaman, biển Ả Rập, vịnh Bengal, vịnh Ba Tư

Phía Tây châu Á tiếp giáp với phần phía Đông Địa Trung Hải thuộc Đại Tây Dương Đây là con đường biển quốc tế nối liền Đại Tây Dương với Ấn Độ Dương nên

có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt kinh tế và chính trị

Tóm lại, các biển và đại dương bao quanh châu Á không những làm ranh giới tự nhiên cho châu lục mà còn có ảnh hưởng rất lớn đối với điều kiện tự nhiên cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia hải đảo và ven bờ Đặc biệt, sự có mặt của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương rộng lớn bên cạnh châu Á khổng lồ đã tạo nên sự tương phản mạnh mẽ giữa biển và đất liền, là một trong những nguyên nhân làm cho hoàn lưu gió mùa phát triển và phân bố rộng trên châu Á hơn bất kỳ một châu lục nào khác trên thế giới

1.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

1.1.2.1 Địa chất

Châu Á có cấu trúc địa chất phong phú và rất phức tạp Trên toàn bộ châu lục có

sự tương phản rõ nét về các dạng địa hình: các núi và sơn nguyên rất cao với những hố trũng nội địa sâu, những đồng bằng thấp

Châu Á có một số mảng nền cổ nằm ở phía nam miền núi Trung Á Đây là những

bộ phận của lục địa cổ Gondwana có liên quan đến nền Phi, Nam Mỹ, Úc Các nền đó gồm: nền Ả Rập, nền Ấn Độ Phía bắc có nền Sibia nằm ở Trung Sibia (Nga) từ bờ đông sông Yenisey đến bờ tây sông Lena Ở phía đông có nền Trung Hoa

Bên cạnh những nền cổ là khu vực địa máng mà tiêu biểu là địa máng Alpide Himalaya nằm ở phía bắc miền Nam Á, kéo dài theo hướng tây - đông từ bán đảo Tiểu

Á đến quần đảo Malay

Trang 9

Sự phát triển của châu Á sau thời Tiền Cambri diễn biến như sau:

* Đại Paleozoi - Pz

Vận động uốn nếp Caledonia và Hercynia đã nối liền hai khối nền Sibia và Trung Hoa, tạo nên những dãy núi bao quanh nền cổ Sibia kéo dài từ Bắc Tây Tạng đến Đông Bắc Baikan Những dãy núi này đã bị bào mòn nhiều nhưng phần lớn được nâng lên trong các nguyên đại sau Những dãy núi chính thuộc nguyên đại này: phía bắc có Sajan, Alatau, ven Baikan; phía nam có Thiên Sơn, Altay, Đại Hưng An; tây bắc có dãy Ural, ranh giới giữa châu Á và châu Âu Kết quả của hai vận động trên là các nền cổ

Âu, Sibia, Trung Hoa được nối liền với nhau Ranh giới phía nam của châu Á vào thời

kỳ này là địa máng Alpide Himalaya đang trong thời kỳ lắng đọng trầm tích

* Đại Mesozoi - Mz

Bắt đầu từ kỷ Jura đến kỷ Creta có vận động tạo núi ở các khu vực đông bắc, đông

và đông nam châu Á, hình thành những hệ thống núi rộng lớn nối liền nền Trung Hoa với nền Thái Bình Dương Hệ thống núi này kéo dài từ đông bắc Nga qua Mãn Châu (CHND Trung Hoa), biên giới Mông Cổ, phía nam sông Dương Tử đến bán đảo Trung

Ấn thành các dãy núi chính như: Verkhojan, Chucot, Sicote, Alin, các dãy núi phía đông Trung Hoa và Việt Nam

Sau vận động tạo núi Mesozoi, các khối nham kiên cố của nền Trung Hoa đã bị sụt lún và phủ trầm tích rất dày, có nơi chiều dài tới hàng nghìn met, khi đó địa máng

đã thu hẹp, chỉ còn ở khu vực Nam Á

* Đại Kainozoi - Kz

Các vận động tạo núi ở giai đoạn này đã có tác động rất lớn đến châu Á Nó gắn liền các bộ phận của châu Á với nhau và về căn bản đã tạo nên bộ mặt của châu Á ngày nay Sự hình thành những miền núi cao Trung Á ở đại Kainozoi đã làm thay đổi hẳn khí hậu miền này từ khí hậu hải dương sang khí hậu lục địa Do đó, nhiều dải hoang mạc lớn đã xuất hiện ở đây

Vận động tạo núi Alpide Himalaya đã tạo nên những dãy núi trẻ kéo dài từ châu

Âu sang tới Đông Á Ở châu Á, nó bắt đầu từ bán đảo Tiểu Á qua cao nguyên Iran và Tây Ấn, cuối cùng tạo nên miền núi Himalaya đồ sộ nhất Trái Đất

Cũng trong đại Kainozoi còn có vận động tạo núi xảy ra ở ven Thái Bình Dương thuộc châu Á Nó đã tạo nên những miền núi vòng cung kéo dài từ Kamchatka qua Nhật Bản, Đài Loan, Philippines tới Indonesia

Cả hai miền núi này đến nay vẫn còn diễn ra nhiều hiện tượng động đất và còn rất nhiều núi lửa đang hoạt động

Tóm lại, các vận động tạo núi đã đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành nên địa hình châu Á Tuy nhiên, các tác động ngoại lực cũng đóng vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là các hiện tượng băng hà lục địa ở Bắc Á và ở trên các khu vực núi cao Trung Á, mặc dù diện tích bao phủ của băng hà lục địa ở châu Á còn kém hơn châu Âu

1.1.2.2 Khoáng sản

Khoáng sản của châu Á tuy chưa được điều tra đầy đủ song rất phong phú và có

số lượng lớn Các loại có trữ lượng đáng kể là dầu mỏ, than, sắt, các kim loại màu như đồng, chì, thiếc và bôxit Về nguồn gốc hình thành và sự phân bố của chúng rất phức tạp nhưng nhìn chung trong mỗi đới kiến tạo tập trung một số loại khoáng sản chính Riêng các mỏ dầu và khí đốt thường phân bố trong các miền bị lún xuống, được bồi trầm tích dày thuộc các miền võng trên nền, trước núi hoặc các vùng thềm lục địa Sự phân bố các khoáng sản chính có thể phân biệt như sau:

Các khu vực nền cổ là nơi tập trung nhiều sắt, mangan, bôxit, vàng và một số kim loại quý hiếm Ví dụ: các mỏ sắt lớn ở Ấn Độ, Đông Bắc Trung Hoa, Triều Tiên, Trung

Trang 10

Siberia và vùng nền Nga Ở Ấn Độ ngoài sắt còn có mangan với hàm lượng cao và trữ lượng đứng đầu thế giới, vàng, kim cương; Ở Trung Hoa và Trung Siberia có nhiều vônfram, kim cương, vàng, bôxit

Đới uốn nếp Paleozoi có nhiều kim loại màu như đồng, chì, thiếc, kẽm Các loại này có nhiều ở Kazakhstan và vùng núi Nam Siberia

Đới uốn nếp Mesozoi có thiếc là kim khoáng quan trọng nhất Thiếc thường kèm theo vônfram hoặc chì, kẽm, vàng Các vùng có nhiều thiếc nhất là vùng núi Đông Siberia và vùng Đông Nam Á Thiếc ở Đông Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý qua bán đảo Trung Ấn đến các đảo Bangka và Billiton thuộc Indonesia Thiếc ở đây chiếm tới 70% trữ lượng thế giới Giờ đây, sản lượng khai thác thiếc của Trung Hoa, Indonesia và Malaysia đang đứng hàng hai, ba, tư thế giới sau Brasil

Đới uốn nếp Kainozoi chưa được nghiên cứu đầy đủ song người ta thấy có nhiều khoáng sản khác nhau như đồng, chì, kẽm, bôxit và sau đó là sắt, mangan và thủy ngân Ngoài ra, ở Tiểu Á và Iran còn có nhiều crôm và môlípđen

Các khoáng sản năng lượng như than đá, dầu mỏ và khí đốt phân bố ở nhiều đới khác nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là trong đới uốn nếp Paleozoi và các miền võng trước núi thuộc đới uốn nếp Kainozoi và trên các nền cổ Các vùng than có trữ lượng lớn gọi

là bồn địa than, có nhiều ở Trung Hoa, Ấn Độ, Mông Cổ và Trung Siberia thuộc Nga Các mỏ dầu và khí đốt tập trung nhiều ở đồng bằng Tây Siberia, vùng Trung Á, đảo Sakhalin và Nhật Bản Ở Trung Hoa, dầu khí tập trung ở các vùng bồn địa Tarim, Xaidam, Dungari, Tứ Xuyên và cao nguyên Gobi Ở thềm lục địa phía Nam Biển Đông, ở Indonesia, Myanma và đồng bằng Ấn – Hằng, vùng đồng bằng Lưỡng Hà và ven vịnh Ba Tư là những nơi có trữ lượng dầu thuộc hàng lớn nhất châu Á

1.1.3 ĐỊA HÌNH

Quá trình phát triển lâu dài của đại lục Á – Âu nói chung và châu Á nói riêng cùng với cấu trúc địa chất phức tạp làm cho địa hình của châu Á rất đa dạng Một số đặc điểm chính của địa hình châu Á là:

1.1.3.1 Bề mặt bị chia cắt thẳng đứng rất mạnh

Trên lãnh thổ châu Á có đầy đủ các dạng địa hình khác nhau: các núi và sơn nguyên cao, các cao nguyên và đồng bằng rộng lớn với nhiều nguồn gốc, kiểu loại khác nhau, các thung lũng rộng và bồn địa kín Tất cả các dạng địa hình đó nằm xen kẽ với nhau làm cho bề mặt địa hình châu lục bị chia cắt rất mạnh

Các hệ thống núi trung bình và cao phân bố rải khắp châu lục như các dãy Đại Hưng An, Altay, Tần Lĩnh, Thiên Sơn, Côn Lôn, Himalaya cao trung bình 5.000 – 6.000m, trong đó dãy núi Pamir cao hơn 7.000m được xem là nóc nhà thế giới và đỉnh Everest cao 8.848m là đỉnh núi cao nhất thế giới

Bên cạnh các hệ thống núi cao có các đồng bằng thấp, rộng lớn và bằng phẳng như Lưỡng Hà, Turan, Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam, Ấn – Hằng

1.1.3.2 Hướng của hệ thống núi

Các dãy núi của châu Á chạy theo nhiều hướng khác nhau trong đó hai hướng chính là Đông-Tây và Bắc-Nam

- Hướng Đông – Tây (hoặc gần Đông – Tây) bao gồm các dãy núi chạy dài từ bán đảo Tiểu Á, sơn nguyên Iran đến Himalaya, các hệ thống núi của vùng Trung Á

- Hướng Bắc – Nam (hoặc gần Bắc – Nam) gồm các dãy núi dọc theo miền Đông

Á, Đông Nam Á, Nam Á như Đông Gaths, Tây Gaths của Ấn Độ, Ural và Kamchatka của Nga, Trường Sơn của Việt Nam

Trang 11

1.1.3.3 Sự phân bố địa hình

Sự phân bố các dạng địa hình trên bề mặt châu lục không đồng đều Các hệ thống núi và sơn nguyên cao nhất đều tập trung ở vùng trung tâm châu lục, tạo thành một vùng núi cao, đồ sộ và hiểm trở nhất thế giới Từ khối núi Pamir tỏa ra 3 cánh núi chính:

- Cánh Đông Bắc gồm các hệ thống núi nối tiếp nhau: Thiên Sơn, Altai, Sayan cho đến đông bắc Siberi;

- Cánh phía Tây gồm dãy Hindu Kush và hệ thống các núi thuộc sơn nguyên Iran cho đến Tiểu Á và Nam Âu;

- Cánh Đông Nam bao gồm các núi thuộc khối Tây Tạng, Himalaya và Đông Nam

Á

Ba cánh núi này chia bề mặt châu Á thành ba phần khác nhau:

- Phần Bắc và Tây Bắc với địa hình chủ yếu là đồng bằng, sơn nguyên thấp, rộng

và tương đối bằng phẳng như Turan (Trung Á), Tây Siberi và cao nguyên Trung Siberi Đây là bộ phận được hình thành trên các nền Tiền Cambri và Paleozoi, có địa hình thấp dần và mở rộng về phía Bắc

- Phần Đông gồm các núi và sơn nguyên cao, các cao nguyên, núi trung bình, núi thấp xen với các đồng bằng nhỏ ven bờ Đây là bộ phận được hình thành trên vùng nền Trung Hoa, các đới uốn nếp Paleozoi, Mesozoi Tất cả được nâng lên mạnh mẽ vào cuối đại Kainozoi Đặc biệt, địa hình của phần phía Đông này có cấu tạo dạng bậc, thấp dần từ nội địa ra phía biển

- Phần Nam và Tây Nam gồm các hệ thống núi uốn nếp trẻ, các sơn nguyên và các đồng bằng xen kẽ với nhau Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh nhất so với hai bộ phận trên

Cấu tạo sơn văn của châu Á như vậy có tác dụng phân chia ảnh hưởng của các đại dương đối với lục địa: phần Bắc chịu ảnh hưởng của Bắc Băng Dương, phần Đông chịu ảnh hưởng của Thái Bình Dương, phần Nam và Tây Nam chịu ảnh hưởng của Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải Tác động của các đại dương có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành khí hậu, cảnh quan tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội của con người

1.1.4 KHÍ HẬU

2.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu

Khí hậu châu Á có sự khác biệt sâu sắc giữa phía bắc với phía nam, giữa phía đông ven biển với phía tây nằm sâu trong nội địa Đặc điểm này là do nhiều yếu tố tác động đến:

* Vị trí địa lý

Châu Á kéo dài từ Bắc Cực cho đến xích đạo nên lượng bức xạ Mặt Trời phân bố không đều, giảm dần từ Nam lên Bắc Ở các vĩ độ phía Nam, tổng lượng bức xạ hằng năm cao, thay đổi từ 120 – 180 kcal/cm², trong đó vùng Tây Nam Á đạt cao nhất, từ

180 – 220 kcal/cm² Ở các vĩ độ trung bình từ 100-120 kcal/cm², còn các vùng từ vòng cực trở lên phía Bắc thì không quá 80 kcal/cm² Lượng bức xạ phân bố không đồng đều

là nguyên nhân chủ yếu làm cho điều kiện nhiệt nói riêng và khí hậu nói chung thay đổi

từ Nam lên Bắc

* Hình dạng, kích thước

Châu Á rộng, với dạng hình khối khổng lồ đã làm cho các vùng nội địa quanh năm chịu ảnh hưởng của khối khí lục địa khô, dễ bị sưởi nóng và hóa lạnh theo mùa Đó là điều kiện hình thành các trung tâm khí áp Mặt khác, điều kiện nhiệt và khí áp đó lại tương phản với các đại dương xung quanh theo mùa, làm cho gió mùa phát triển rộng

Trang 12

khắp châu lục Có thể nói châu Á là châu lục duy nhất trên thế giới có đầy đủ các kiểu khí hậu gió mùa: gió mùa xích đạo, gió mùa nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới

ở Bắc Ấn Độ nhờ dãy Himalaya chắn nên nhiệt độ trung bình về mùa đông bao giờ cũng cao hơn hai vùng nói trên

Ngoài ra, các bồn địa nằm giữa các vùng núi và sơn nguyên cao về mùa đông không khí bị hóa lạnh mạnh nên có nhiệt độ thấp hơn các vùng xung quanh Về mùa hạ, không khí trong bồn địa lại bị sưởi nóng nên lại có nhiệt độ cao hơn Các vùng núi cao

ở Thiên Sơn, Tây Tạng, Hindu Kush, Himalaya càng lên cao nhiệt độ càng giảm Đến

độ cao 3000 – 4000m trở lên, nhiệt độ xuống còn 0°C và bắt đầu đới tuyết vĩnh viễn Cuối cùng, địa hình còn làm lượng mưa trên châu Á phân bố không đồng đều Các mạch núi hướng Đông – Tây hoặc Bắc – Nam có tác dụng chắn gió từ đại dương vào sâu trong lục địa Kết quả là các sườn đón gió mưa nhiều, còn các sườn khuất gió mưa

ít Ví dụ, các vùng thuộc sườn Nam dãy Himalaya có lượng mưa trung bình năm từ 3.000 – 4.000mm trong khi Tây Tạng nằm ở phía Bắc dãy núi thì mưa ít, không quá 300mm một năm

Tóm lại, do vị trí địa lý, ảnh hưởng của yếu tố hình dạng, kích thước, địa hình và dòng biển, khí hậu châu Á có sự chuyển tiếp từ ven biển vào nội địa, từ bắc xuống nam

So với các châu lục khác thì khí hậu châu Á nhìn chung có sự phân hóa sâu sắc nhất

Bắc Nhiệt độ càng giảm khi đi về phía đông bắc châu Á Các đường đẳng nhiệt -20 o

C, -30oC đều boa quanh miền này Khu vực này có nhiệt độ tháng lạnh nhất là dưới - 50oC Nhiệt độ tối thấp xuống tới - 69oC ở Veckhoial và -72oC ở Oimacon

Nhiệt độ về mùa đông có sự chênh lệch rất lớn giữa vĩ độ thấp ở Nam Á với khu vực Đông Bắc Á, tương phản với sự phân bố nhiệt tương đối đồng đều về mùa hạ trên

cả châu lục

Trang 13

Đặc biệt, miền Tây Á và Trung Á, mùa hạ bị sưởi nóng dữ dội Nhiệt độ trung bình tháng 7 trên 30o

C bao quanh bán đảo Ả Rập, đồng bằng Turan, lưu vực sông Ấn

So với châu Âu, ở đây cao hơn Vì vậy có thể nói, châu Á về mùa hạ là một lục địa nóng Tuy nhiệt độ về mùa hạ giảm dần từ Nam lên Bắc nhưng miền nóng nhất vẫn là Trung Á và các khu vực cao nguyên của Tây Á

Tóm lại, phần lớn châu Á có nhiệt độ cực đoan Mùa hạ nhiệt độ tương đối cao, trong khi đó mùa đông lại lạnh lẽo và cũng có những nơi lạnh nhất của bán cầu Bắc

* Khí áp và gió

- Vào tháng 1

Không khí vùng trung tâm, nhất là vùng Đông Bắc Siberia bị hóa lạnh mạnh Nhiệt độ trung bình tháng 1 các vùng Trung Á và Nội Á thay đổi từ -10°C đến -40°C, còn ở vùng Đông Siberia xuống tới từ -40°C đến -50°C Do sự hóa lạnh đó, trên lục địa hình thành một áp cao được gọi là áp cao Siberia Áp cao này có trị số trung bình nhiều năm đạt tới 1040 mb (hoặc 780 mm/Hg) Áp cao Siberia là một xoáy nghịch lớn nhất thế giới, không khí trong vùng áp cao lạnh và rất khô, tạo nên thời tiết trong sáng và yên tĩnh Vào giữa mùa đông, áp cao Siberia gần như bao phủ toàn bộ châu Á, còn ở phía Tây thu hẹp thành một dải chạy dọc vĩ tuyến 60° Bắc và nối liền với áp cao Axo

Ở phía Bắc lục địa có gió Tây Nam thổi từ nội địa lên phía Bắc, gây nên thời tiết rất khô và lạnh Ở phía Đông, áp thấp Aleut cũng phát triển mạnh, bao phủ gần như toàn

bộ Bắc Thái Bình Dương làm cho Đông Á về mùa này cũng có gió thổi từ lục địa ra biển theo hướng Tây hoặc Tây Bắc-Đông Nam Đây là gió mùa mùa đông khô và rất lạnh, nhiệt độ thấp nhưng lượng tuyết rơi không đáng kể Phần phía Nam lục địa, trị số khí áp giảm dần từ Bắc xuống Nam và sau đó chuyển sang đới áp thấp xích đạo Tuy nhiên trên các sơn nguyên Tây Tạng và Quý Châu vẫn tồn tại các áp cao địa phương, còn trên Thái Bình Dương có áp cao Hawaii thường tác động đến Đông Nam Trung Hoa và bán đảo Trung Ấn

Do sự tương phản khí áp như vậy, toàn bộ phần Nam lục địa kể cả Tây Nam Á về mùa đông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi xuống Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi cao theo hướng Đông-Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Siberia không thể xâm nhập tới bán đảo phía Nam được Bởi vậy, gió Đông Bắc ở khu vực này thực chất là gió mậu dịch Đông Bắc từ các áp cao cận nhiệt đới thổi về xích đạo Gió mậu dịch mang theo khối khí nhiệt đới lục địa nên không có mưa, thời tiết ổn định, trong sáng và tương đối nóng Riêng khu vực Nam Trung Hoa và Đông Bắc bán đảo Trung Ấn, gió Đông Bắc xuất phát từ vùng Nội Á thổi xuống, còn phần Bắc bán đảo Indostan lại có gió Tây Bắc

từ Trung Á thổi xuống nên thời tiết nói chung khô và hơi lạnh

Như vậy về mùa đông, trên toàn bộ châu Á đều có gió thổi từ lục địa ra biển Thời tiết khắp nơi khô và lạnh Nhiệt độ giảm dần từ Nam lên Bắc và phần lớn lãnh thổ dưới 0°C, chỉ có phần Hoa Nam, các bán đảo Trung Ấn, Ấn Độ, Arabia và Tiểu Á có nhiệt

Trang 14

độ trên 0°C Các phần nội địa, nhất là Đông Siberia là nơi có nhiệt độ trung bình thấp nhất, từ -30°C trở xuống

- Vào tháng 7

Không khí trong lục địa nóng dần lên, áp cao Siberia suy yếu dần rồi biến mất, còn

ở phía Nam, trên sơn nguyên Iran hình thành một áp thấp, được gọi là áp thấp Iran (áp thấp Nam Á) Áp thấp Iran có trị số trung bình nhiều năm ở vùng trung tâm là 994 mb (hoặc 745,5 mm/Hg) Vào giữa mùa hạ, áp thấp này cùng với áp thấp Bắc Phi và áp thấp Xích đạo phối hợp với nhau thành một đai áp thấp bao phủ phần lớn châu Á và gần như toàn bộ Bắc Phi Cũng trong thời gian này, ở phía Đông áp thấp Aleut biến mất và

áp cao Hawaii phát triển, chiếm toàn bộ phần Bắc Thái Bình Dương và lan sang phần

bờ Đông Á Ở bán cầu Nam, các khu áp cao Nam Phi, Nam Ấn Độ Dương và Úc cũng phát triển thành một đới áp cao liên tục Sự phân bố khí áp như vậy làm cho hoàn lưu không khí trên lục địa về mùa hạ khá phức tạp Ở vùng Bắc Á và Nội Á có gió Bắc hoặc Đông Bắc Sự thống trị của gió thành phần Bắc ở khu vực nói trên dẫn tới kết quả

là không khí cực và ôn đới khi xuống phía Nam bị nóng dần lên, độ ẩm giảm xuống nên mưa rất ít Về mùa hạ, các vùng Bắc Á có thời tiết ẩm và mát, còn ở Trung Á và Nội Á thì trái lại, rất khô và nóng

Ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa này có gió Tây Nam và Đông Nam thổi từ biển vào được gọi là gió mùa mùa hạ Ở Nam Á, Đông Nam Á có gió mùa mùa

hạ mang theo khối khí xích đạo nóng ẩm từ Ấn Độ Dương tới, gây mưa lớn, nhất tại các sườn đón gió như Gaths Tây ở Ấn Độ, Nam Himalaya, Tây Myanma, Tây Nam Campuchia Khối khí xích đạo có thể xâm nhập xa về phía Bắc cho tới dãy Tần Lĩnh

và frong nhiệt đới cũng tiến theo cho đến tận chân núi Himalaya sau đó vòng lên phía Bắc cho tới thung lũng sông Trường Giang Do ảnh hưởng của không khí xích đạo, tất

cả khu vực nằm ở phía Nam frong nhiệt đới đều có thời tiết nóng, ẩm ướt và có mưa nhiều Ở Đông Á, nơi có gió mùa Đông Nam cũng mang theo khối khí nhiệt đới và ôn đới hải dương từ Thái Bình Dương vào, cũng có mưa nhiều Tuy nhiên, do các dãy núi theo hướng Bắc-Nam nên gió mùa chỉ hạn chế trong một dải không rộng, dọc theo phía Đông lục địa Ngoài ra, ở các vùng duyên hải Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa

hạ thường chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới Các áp thấp nhiệt đới

và bão này thường được hình thành trong vịnh Bengal, vùng biển phía Đông Việt Nam hoặc phía Đông Philippines, sau đó di chuyển sang phía Tây, đổ bộ vào Đông Nam Ấn

Độ, Bangladesh, một số vượt sang biển Ả Rập, đổ bộ sang bờ Tây Ấn Độ và có thể sang tận bán đảo Arabia Ở Đông Á, áp thấp nhiệt đới và bão thường đi qua Philippines đến bờ Đông Việt Nam, Đông Trung Hoa và có thể tới cả bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản Chúng làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh, có gió to, mưa lớn Nhiều cơn bão gây tác hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, các công trình xây dựng và đời sống nhân dân vùng biển

Tóm lại, về mùa hạ, phần lớn lục địa chịu ảnh hưởng của gió từ biển thổi vào, có mưa phổ biến ở nhiều nơi Mặt khác về mùa này lục địa được sưởi nóng đến nhiệt độ cao Đường đẳng nhiệt 0°C vào tháng 7 chạy rất xa về phía Bắc của các đảo và quần đảo thuộc Bắc Băng Dương Đường đẳng nhiệt 4°C chạy men theo rìa phía Bắc lục địa,

đi dần xuống phía Nam thì nhiệt độ cũng tăng dần lên

* Mưa

Lượng mưa châu Á có sự phân hóa thành hai miền rõ rệt Ranh giới của hai miền ngang qua khu vực Bắc Ấn Độ (phía Nam dãy Himalaya) qua sông Dương Tử rồi vòng lên phía Bắc, chạy thành một dải hẹp theo ven biển phía Đông Đại bộ phận châu Á có lượng mưa thấp dưới 500mm, trong đó quá nửa có lượng mưa dưới 300mm, bao gồm

Trang 15

Tây Á, Trung Á, Bắc Á Trong đó, Trung Á nằm khá xa biển, bị các dãy núi lớn như những bức thành ngăn gió biển thổi vào Do đó, lượng mưa ở đây rất thấp, chủ yếu dưới 300mm Phần lớn miền này là hoang mạc, bán hoang mạc khô khan Tây Á (trừ khu vực ven Địa Trung Hải mưa mùa đông) còn lại cũng khô hạn như Trung Á do các dãy núi viền quanh các bán đảo, cao nguyên và các khối khí từ trong lục địa châu Phi và châu Á chuyển đến Đây cũng là một bộ phận hoang mạc của châu Á Bắc Á ít mưa do nhiệt độ tương đối thấp, bốc hơi lại ít Lượng mưa giảm dần từ Tây Siberia vào Trung Siberia Phía Đông ven biển lượng mưa có khá hơn

Trong khi đó, khu vực có mưa nhiều là ven xích đạo, nhất là thuộc quần đảo Indonesia Đây là khu vực mưa xích đạo với lượng mưa trên 2.000mm Khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa mùa hạ cũng có lượng mưa cao Serapunji (Đông Bắc Ấn Độ)

có lượng mưa trung bình năm cao nhất Trái Đất (12.000mm, có năm đạt 20.000mm) Các quần đảo Nhật Bản, Philippines do được dòng biển nóng Curosivo làm tăng thêm

độ ẩm nên lượng mưa ở bờ phía Đông lại càng lớn hơn Khu vực ven biển Đông Bắc Á lượng mưa tương đối khá (1.000mm) do có gió biển thổi vào, nhưng lại giảm rất nhanh khi vào sâu trong nội địa

Tóm lại, châu Á có những khu vực mưa tương đối nhiều, đó là những khu vực có khí hậu gió mùa, hoặc khí hậu xích đạo, nhưng do ảnh hưởng của vị trí, hình dạng và

sự phân bố địa hình, lượng mưa của đại bộ phận châu Á nói chung ít Do đó, cùng với châu Phi, châu Á cũng có nhiều hoang mạc lớn vào loại nhất Trái Đất

2.1.4.3 Các vành đai khí hậu

* Vành đai khí hậu cực đới

Thuộc phạm vi đới này có các đảo, quần đảo và một dải hẹp dọc theo duyên hải phía Bắc lục địa Giới hạn phía Nam gần trùng với đường vĩ tuyến 71° Bắc Do vị trí nằm trên những vĩ độ cao nên quanh năm thống trị khối khí cực khô và lạnh nên về mùa đông, ở đây có đêm địa cực kéo dài (từ 75° Bắc trở lên, đêm cực kéo dài hơn 98 ngày), nhiệt độ rất thấp Nhiệt độ trung bình tháng 1 xuống tới -34°C trên bán đảo Taymyr Về mùa đông thường có gió mạnh và bão tuyết, thời tiết rất giá buốt Về mùa hạ trái lại có ngày liên tục kéo dài (từ 75° Bắc trở lên, ngày liên tục có 102 ngày) song do cường độ bức xạ yếu nên nhiệt độ mùa hạ ở đây vẫn thấp Nhiệt độ trung bình tháng ấm nhất vẫn không thể vượt quá 5 °C Mùa hạ thường có gió Bắc, thời tiết lạnh, hay có sương mù hoặc mưa tuyết Lượng mưa trung bình năm 100–200 mm

* Vành đai khí hậu cận cực đới

Đới khí hậu cận cực tạo thành một dải hẹp nằm ở phía Nam đới khí hậu cực Giới hạn của đới này gần trùng với vòng cực Bắc Trong đới này có sự thay đổi khối khí theo mùa: mùa đông là khối khí cực lục địa, còn mùa hạ là khối khí ôn đới ấm và ẩm hơn Thời tiết giữa hai mùa phân biệt khá rõ rệt Mùa đông rất lạnh, nhất là các vùng nằm sâu trong lục địa do sự biến tính của gió thổi từ Đại Tây Dương Nhiệt độ trung bình tháng thay đổi từ -40 đến -50°C ở vùng Trung và Đông Siberia Màu hạ tương đối ấm, nhiệt độ trung bình tháng có thể vào khoảng 8-10°C Đới khí hậu cận cực có thể chia thành 3 kiểu khác nhau: Khí hậu cận cực hải dương ở phía Tây có mùa đông tương đối dịu, mùa hạ mát và ẩm ướt; Khí hậu cận cực lục địa có mùa đông rất lạnh và biên độ nhiệt giữa hai mùa lớn nhất trên Trái Đất; Khí hậu cận cực hải dương phía Đông tương

tự như ở phía Tây nhưng có mùa đông lạnh hơn và thường có gió Bắc hoặc Đông Bắc, còn mùa hạ có gió Đông Nam

* Vành đai khí hậu ôn đới

Đới khí hậu ôn đới chiếm một dải rộng nhất Đường ranh giới phía Nam của đới thay đổi trong khoảng 40° Bắc ở Trung Á đến 35° Bắc ở phía Triều Tiên, Nhật Bản

Trang 16

Trên toàn đới, tuy quanh năm chịu ảnh hưởng của khối khí ôn đới nhưng khí hậu có thay đổi từ Tây sang Đông, vì vậy có thể chia ra làm 3 kiểu chính:

- Kiểu khí hậu ôn đới lục địa: hình thành trong vùng trung tâm lục địa bao gồm

khu vực dãy Ural và Đại Hưng An Trong khu vực này, quanh năm thống trị khối khí

ôn đới lục địa, mùa đông rất khô và lạnh, còn mùa hạ ấm và ẩm hơn phía Bắc, tương đối khô nóng ở phía Nam Nhiệt độ trung bình tháng 1 thay đổi từ -4°C trên thảo nguyên Trung Á đến -50°C ở các vùng Siberia Còn tháng 7, nhiệt độ thay đổi từ 15°C

ở phía Bắc đến 28°C ở phía Nam Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ nhưng lượng giảm dần theo hướng từ Bắc xuống Nam Một dải rộng nằm ở phía Nam khu vực này kéo dài từ Trung Á đến Mông Cổ là vùng khô hạn nhất, lượng mưa hằng năm không quá 250mm

- Kiểu khí hậu ôn đới gió mùa: hình thành trong miền duyên hải phía Đông, gồm

lưu vực sông Amur và đảo Sakhalin Về mùa đông, có gió Tây Bắc thổi từ lục địa ra khô và rất lạnh, còn về mùa hạ có gió Đông Nam từ biển thổi vào ấm và ẩm ướt Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ, chiếm 60-70% lượng mưa cả năm Ngoài ra, về mùa hạ thỉnh thoảng còn có bão từ phía Đông Nam xâm nhập lên làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ -25°C ở phía Bắc đến -15°C ở phía Nam Nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 15 – 20°C Lượng mưa trung bình năm từ 500 –700mm

- Kiểu khí hậu ôn đới hải dương: chiếm phần Đông Bắc biển Okhotsk, bán đảo

Kamchatka và quần đảo Kuril Kiểu khí hậu này chịu ảnh hưởng mạnh từ biển, Hải lưu Kuril-Kamchatka lạnh và đặc biệt là hoạt động của khí xoáy trên biển Okhotsk và biển Bering Về mùa đông ở đây chủ yếu có gió Bắc và Tây Bắc, còn mùa hạ có gió Nam và Đông Nam Điều kiện khí hậu ở đây có sự thay đổi từ Bắc xuống Nam Về mùa hạ mát

và ẩm, nhiệt độ trung bình tháng 7: 10 –18°C, mùa đông từ -10°C đến -20°C Lượng

mưa trung bình năm từ 700–900mm, lớp tuyết phủ về mùa đông dày hơn 100 cm

* Vành đai khí hậu cận nhiệt đới

Đới khí hậu cận nhiệt đới chiếm một dải khá rộng, từ bờ Địa Trung Hải đến bờ Thái Bình Dương, có thể chia thành 4 kiểu chính như sau:

- Kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải: hình thành trong khu vực bán đảo Tiểu Á,

sơn nguyên Armenia, các vùng thuộc Syria, Iraq Điểm nổi bật của kiểu khí hậu này là mùa hạ khô và nóng, thời tiết ổn định và trong sáng, còn mùa đông trái lại do ảnh hưởng của gió Tây và hoạt động của khí xoáy nên thời tiết hay thay đổi, mát dịu và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình tháng 1: 4 – 12°C, tháng 7: 25 – 28°C Lượng mưa trung bình năm từ 500 –700mm

- Kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa: hình thành trong các miền nội địa, bao gồm phần

Nam các đồng bằng Trung Á, Nội Á và các vùng thuộc sơn nguyên Iran Ở đây về mùa

hạ chịu ảnh hưởng của khối khí nhiệt đới lục địa khô và nóng, nhiệt độ trung bình tháng

7 lên tới 30°C, độ ẩm tương đối thấp và mưa rất hiếm Về mùa đông do hoạt động của khí xoáy trên frong ôn đới nên có mưa, nhiệt độ thấp Ở Tehran có năm nhiệt độ xuống thấp tới -20°C, còn ở Trung Á tới -30°C Nhiệt độ trung bình tháng 1 ở các khu vực này thường từ -1 đến 0°C Lượng mưa hằng năm không đáng kể, 100–300mm

- Kiểu khí hậu cận nhiệt núi cao: là một biến dạng đặc biệt của kiểu khí hậu cận

nhiệt lục địa, hình thành trên các sơn nguyên và núi cao 3.500 – 4.000m trở lên, chủ yếu ở Pamir và Tây Tạng Khí hậu vẫn mang tính chất lục địa khá rõ rệt: mùa đông rất lạnh và khô, mùa hạ mát Biên độ nhiệt giữa các mùa lớn, thời tiết trong ngày luôn luôn thay đổi, nhất là ở Tây Tạng Lượng mưa trung bình hằng năm rất ít, vì thế các vùng núi

và sơn nguyên cao phần lớn là hoang mạc núi cao

- Kiểu khí hậu cận nhiệt gió mùa: chiếm phần phía Đông lãnh thổ Trung Hoa, phía

Nam bán đảo Triều Tiên và Nam Nhật Bản Đặc điểm của kiểu khí hậu này đối lập với

Trang 17

kiểu cận nhiệt Địa Trung Hải Ở đây, mùa hạ có gió Đông Nam thổi từ biển vào, thời tiết nóng và mưa nhiều Lượng mưa mùa hạ chiếm tới 60 – 75% lượng mưa cả năm Về mùa đông có gió Tây Bắc từ lục địa thổi ra, nói chung khô và lạnh, tuy nhiên còn nhờ hoạt động của khí xoáy nên thỉnh thoảng vẫn có mưa Lượng mưa trung bình năm 1.000 – 1.5000mm, đây là miền khí hậu ẩm ướt nhất của đới khí hậu cận nhiệt

* Vành đai khí hậu nhiệt đới

Ở châu Á, đới khí hậu nhiệt đới không tạo thành một dải liên tục mà chỉ chiếm phần Tây Nam châu Á bao gồm bán đảo Ả Rập, phần Nam sơn nguyên Iran cho tới Tây Bắc Ấn Độ Trong các khu vực này quanh năm thống trị khối khí nhiệt đới lục địa và gió mậu dịch, vì thế mùa hạ rất khô và nóng còn mùa đông khô và hơi lạnh Lượng mưa hằng năm rất ít, trung bình không có 100mm ở vùng đồng bằng và 300 – 400mm ở miền núi Do không khí khô nên khả năng bốc hơi lớn gấp hàng chục lần khả năng mưa, gây nên tình trạng thiếu ẩm gay gắt Điều kiện khí hậu ở đây tương tự như Sahara

ở châu Phi Nhiệt độ trung bình tháng 7 thay đổi từ 28°C đến 30°C, tháng 1 từ 12°C ở phía Bắc đến 20°C ở phía Nam Biên độ nhiệt giữa các mùa, ngày và đêm rất lớn

* Vành đai khí hậu cận xích đạo

Đới khí hậu cận xích đạo (hay gió mùa xích đạo) bao gồm khu vực Nam Á (Ấn

Độ, Bangladesh, Bắc Sri Lanka), bán đảo Trung Ấn, Nam Trung Hoa và quần đảo Philippines Như vậy, so với các châu lục khác thì ở châu Á, đới khí hậu này dịch lên những vĩ độ cao hơn, đồng thời ở phía Bắc, nó chuyển sang đới khí hậu cận nhiệt và mất hẳn đới khí hậu nhiệt đới Trong đới khí hậu cận xích đạo về mùa hạ có gió mùa từ biển thổi vào, nóng, ẩm ướt và có mưa nhiều Ngoài ra, thường có bão xâm nhập làm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh và có mưa lớn Do ảnh hưởng của địa hình nên sự phân

bố mưa không đều: trên các sườn đón gió, mưa trung bình từ 2.000 – 4.000mm hoặc hơn, còn trên đồng bằng từ 1.000 – 2.000mm Nói chung đây là nơi mưa nhiều nhất châu lục Về mùa đông có gió mùa Đông Bắc từ lục địa thổi ra, thời tiết nhìn chung khô ráo Tuy nhiên, như phần hoàn lưu khí quyển đã nói ở trên, về mùa này ở Bắc Ấn Độ, phía Bắc bán đảo Trung Ấn thời tiết tương đối lạnh và có mưa do ảnh hưởng của khí xoáy, chỉ có phần Nam các bán đảo này tương đối nóng, thời tiết khô và trong sáng

* Vành đai khí hậu xích đạo

Đới khí hậu này bao gồm phần Nam đảo Sri Lanka, phần Nam bán đảo Mã Lai và phần lớn quần đảo Indonesia Với vị trí nằm trên các đảo và bán đảo, biên độ nhiệt giữa các mùa thấp hơn và lượng mưa trung bình hằng năm cao hơn vùng xích đạo ở lục địa Phi Biên độ nhiệt hằng năm ở đây 1-2°C, còn lượng mưa trung bình đạt tới 2.000 – 4.000mm Riêng khu vực từ nửa Đông đảo Java trở về phía Đông thuộc đới khí hậu gió mùa xích đạo của bán cầu Nam nên đặc điểm khí hậu mang tính chất mùa rõ rệt

1.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ

1.1.5.1 Sông ngòi

* Đặc điểm sông ngòi châu Á

Ở châu Á có nhiều hệ thống sông lớn vào bậc nhất thế giới, hằng năm các sông đổ

ra biển một khối lượng nước khổng lồ Sự phát triển của các hệ thống sông lớn đó là do lục địa có kích thước rộng lớn, đồng thời các núi và sơn nguyên cao lại tập trung ở vùng trung tâm, có băng hà phát triển, là nơi bắt nguồn của nhiều con sông Các sông chảy qua các sơn nguyên và đồng bằng rộng, có khí hậu ẩm ướt nên thuận lợi cho việc hình thành các con sông lớn Tất cả các con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử, Hắc Long Giang, Mê Kông, Ấn, Hằng đều hình thành trong các điều kiện như vậy

Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, sự phân bố mạng lưới sông và chế độ sông trên lục địa không đều Ở các vùng có mưa nhiều thì mạng lưới sông ngòi phát triển, các

Trang 18

sông có nhiều nước và đầy nước quanh năm Trái lại, ở các vùng khô hạn như Trung Á, Nội Á và bán đảo Ả Rập thì mang lưới sông rất thưa thớt, thậm chí có những nơi không

có dòng chảy Ở châu Á, lưu vực nội lưu chiếm một diện tích rất rộng tới 18 triệu km², bằng khoảng 41,3% diện tích châu lục

Về chế độ sông phụ thuộc vào chế độ mưa và nguồn nước cung cấp có thể phân chia thành mấy kiểu chính sau:

- Sông chảy trong các miền khí hậu xích đạo và ôn đới hải dương có nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa Ở đây, lượng mưa phân bố đều quanh năm nên sông có nhiều nước và đầy nước thường xuyên

- Sông chảy trong các miền khí hậu gió mùa, có mưa chủ yếu vào mùa hạ nên nước sông lớn vào hạ - thu và cạn vào đông – xuân Sông Hồng tại miền Bắc Việt Nam thuộc kiểu chế độ này

- Sông chảy trong miền cận nhiệt Địa Trung Hải có mưa về mùa đông nên nước sông lớn vào mùa đông và khô cạn vào mùa hạ,

- Sông chảy trong miền khí hậu cận cực, ôn đới lục địa, có nguồn cung cấp nước chủ yếu vào mùa xuân do tuyết tan và mưa vào xuân-hạ nên nước lớn vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ Về mùa đông, các sông đóng băng trong một thời gian dài

- Các sông chảy trong miền khí hậu khô hạn, nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết và băng tan từ núi cao nên có nước lớn vào cuối mùa xuân, đầu mùa hạ và lưu lượng giảm dần về hạ lưu

* Các sông lớn ở châu Á

- Lưu vực Bắc Băng Dương

Lưu vực Bắc Băng Dương gồm các sông của miền Tây Siberia chảy về phía Bắc Các sông lớn là sông Obi (còn gọi là Ob), Enisei, Lena và Kolyma Tất cả các sông đều bắt nguồn từ vùng núi Nam Siberia rồi chảy về phía Bắc qua các đới khí hậu ôn đới, cận cực và cực Nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết tan và mưa vào mùa xuân-hạ Lượng mưa tuy không nhiều nhưng do nước bốc hơi kém nên mạng lưới sông rất dày Các sông có nước lớn vào cuối mùa xuân và đầu mùa hạ Ở các sông lớn vào cuối mùa xuân thường có lũ băng ở phần trung lưu và hạ lưu Về mùa đông, các sông bị đóng băng trong một thời gian dài Tuy nhiên, các sông vẫn có giá trị về giao thông và có dự trữ thủy năng lớn Hiện nay trên các sông thuộc lưu vực này tập trung nhiều nhà máy thủy điện lớn trên thế giới

Các sông thuộc Bắc Băng Dương tuy bị đóng băng về mùa đông nhưng vẫn có giá trị về giao thông Do miền Siberia có điều kiện khí hậu giá rét gay gắt, đông kết vĩnh cửu phát triển, việc xây dựng hệ thống đường bộ gặp nhiều khó khăn nên các sông vẫn

là đường giao thông chủ yếu Về mùa hạ, trên các sông tàu bè đi lại khá tấp nập Một số sông chảy trên các vùng núi và sơn nguyên có nhiều thác lớn nên có nhiều tiềm năng về thủy điện

Hệ thống sông lớn nhất (tính theo diện tích lưu vực) của lưu vực Bắc Băng Dương

là Obi-Irtysh Sông Obi cùng phụ lưu lớn của nó là Irtysh làm thành một hệ thống dài tới 5.410km Sông Obi là con sông đồng bằng điển hình Độ dốc của sông rất bé (từ 8 – 10cm/km) nên quanh năm nước chảy êm đềm Phần hạ lưu sông đổ vào một vịnh cửa sông gọi là vịnh Obi, dài gần 1.000km Ngoài Obi, ở Siberia còn có hệ thống sông Enisei và Lena là hai hệ thống sông lớn, chảy dọc theo rìa phía Tây và Đông sơn nguyên Trung Siberia Diện tích lưu vực hai sông này tuy nhỏ hơn Obi nhưng lưu lượng

và dao động mực nước giữa hai mùa lại lớn hơn Hiện tượng trái ngược trên đây chủ yếu do các sông chảy trên các vùng núi và sơn nguyên có nhiều băng tuyết đông kết vĩnh cửu Về mùa xuân, khi tuyết tan thì đất vẫn còn đóng băng, nước không ngấm

Trang 19

được vào đất nên theo sườn dốc chảy vào sông Các sông có nước lớn vào cuối xuân và đầu hạ, sang mùa đông thì nước cạn và bị đóng băng một thời gian khá dài

- Lưu vực Thái Bình Dương

Bao gồm tất cả các sông của miền Đông Á và các vùng đảo trong Thái Bình Dương Các sông lớn nhất là Amur (Hắc Long Giang), Hoàng Hà, Trường Giang, Mê Kông, Mê Nam Phần lớn các sông thuộc lưu vực này đều chảy trong miền khí hậu gió mùa nên sông có nước lớn vào cuối mùa hạ, đầu mùa thu và nước cạn vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân Vào mùa hạ, các sông thường có lũ lụt lớn gây tai họa cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân Tuy nhiên do điều kiện khí hậu và nguồn cung cấp nước khác nhau nên chế độ nước các sông không đồng nhất trên toàn khu vực Các sông miền duyên hải Bắc Viễn Đông và Kamchatka, do địa thế hẹp nên rất ngắn Sông có lượng nước lớn vào cuối mùa xuân do tuyết tan từ trên núi xuống Lượng nước chảy trong thời kỳ này chiếm tới 60% lưu lượng dòng chảy cả năm Các sông ở Kamchatka, về mùa hạ, còn có nước băng tan và mưa phối hợp nên vẫn đầy nước Về mùa đông các sông bị đóng băng hoàn toàn

Vùng Đông Á (bao gồm cả lãnh thổ Trung Hoa, bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản)

có địa thế rộng lớn và mưa nhiều nên có nhiều sông lớn Các sông quan trọng nhất là Amur, Hoàng Hà và Trường Giang Sông Amur là sông lớn nhất của miền Nam Viễn Đông liên bang Nga Trên một quãng dài, nó là biên giới tự nhiên giữa Trung Hoa và Nga Sông Amur dài gần 4.500km, có nhiều nước (lưu lượng trung bình 12.500m³/s) nên có giá trị lớn về giao thông Hoàng Hà khác với sông Amur ở chỗ chế độ nước sông phức tạp hơn Con sông này bắt nguồn từ sơn nguyên Tây Tạng, phần thượng lưu chảy trong miền núi cao Nguồn nước tạo thành dòng sông ở đầu nguồn là do tuyết và băng tan từ núi cao xuống, vì thế phần thượng lưu sông có nước lớn nhất vào cuối mùa xuân

và đầu mùa hạ Phần trung và hạ lưu chịu ảnh hưởng của mưa gió mùa nên có nước lớn nhất vào cuối mùa hạ, về mùa đông, nước sông bị khô cạn Hoàng Hà có chế độ nước thất thường, mực nước chênh lệch giữa hai mùa rất lớn, vào cuối mùa hạ thường có lũ nguy hiểm Trong lịch sử Trung Hoa, Hoàng Hà đã gây ra nhiều trận lụt lớn, sông đổi dòng nhiều lần, làm cho nhân dân vùng đồng bằng Hoa Bắc gánh chịu những tai họa khủng khiếp Ngày nay nhờ những công trình cải tạo dòng sông nên đã hạn chế được thiên tai, đồng thời sử dụng được nguồn thủy năng dồi dào, nguồn nước tưới ruộng và việc giao thông đi lại cũng tương đối thuận lợi hơn Tuy nhiên việc xây dựng những công trình thuỷ điện lớn như đập Tam Hiệp cũng đã bị các nhà bảo vệ môi trường thế giới và Trung Hoa phê phán là làm ngập nước một vùng rộng lớn, tạo ra bồi lắng nhanh phù sa ở hồ chứa nước thuỷ điện cũng như làm thay đổi chất lượng nước ở hạ lưu, kiệt nước gây khô cạn và ngập mặn vùng hạ lưu Hoàng Hà, phá vỡ sự cân bằng sinh thái của dòng sông

Trường Giang cũng bắt nguồn từ sơn nguyên Tây Tạng, sau đó chảy qua bồn địa

Tứ Xuyên, qua miền Hoa Trung rồi đổ ra biển Trường Giang tuy chảy trong đới khí hậu cận nhiệt gió mùa tương tự như Hoàng Hà nhưng lại là dòng sông có nhiều nước và chế độ nước tương đối điều hòa Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do ở lưu vực Trường Giang ngoài tuyết và băng tan từ trên núi, mưa gió về mùa hạ, về mùa đông sông nó còn nhận được nước do hoạt động của khí xoáy Dòng sông quanh năm đầy nước, việc giao thông do vậy rất thuận lợi Trên thực tế Trường Giang còn là con sông có giá trị giao thông quan trọng nhất của Trung Hoa Ngoài ra, sông còn có giá trị tưới ruộng và khai thác thủy điện Chính phủ Trung Hoa đã tiến hành xây dựng đập Tam Hiệp, đập thủy điện lớn nhất thế giới, đồng thời cũng đang xây dựng công trình chuyển nước của

Trang 20

Trường Giang về phía Bắc để cung cấp cho các vùng phía Bắc đang ngày càng thiếu nước

Chế độ nước của các sông trên bán đảo Trung Ấn phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mưa gió mùa xích đạo Mực nước lớn nhất thường vào cuối mùa hạ và cạn nhất vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân Những năm có mưa bão lớn, các sông dễ gây ra lũ lụt Sông Mê Kông là con sông lớn nhất trên bán đảo Trung Ấn Sông bắt nguồn từ sơn nguyên Tây Tạng, dài 4.500km Nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa gió mùa về mùa

hạ và tuyết, băng tan từ thượng nguồn xuống Mực nước sông tuy thay đổi theo hai mùa rất rõ nhưng phần hạ lưu nhờ có Biển Hồ Tonlé Sap điều tiết nên về mùa cạn nước sông còn khá lớn Lưu lượng trung bình ở cửa sông là hơn 15.000km³/s, thời kỳ lũ là 30.000km³/s và thời kỳ cạn nhất là 1500 km³/s Ở hạ lưu sông bồi thành một châu thổ rộng tới 70.000km² Sông Mê Kông từ lâu đã trở thành con đường giao thông của nhiều nước như Trung Hoa, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Trong tương lai, việc khai thác thủy điện, sử dụng nước tưới và đánh cá sẽ được phát triển, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với kinh tế các nước trong khu vực

Vùng quần đảo Mã Lai nằm trong miền xích đạo nóng và ẩm ướt quanh năm, có mạng lưới sông dày đặc và chế độ nước sông rất điều hòa Các sông có nhiều nước quanh năm, mực nước chênh lệch giữa mùa cạn và mùa lũ không đáng kể Tuy nhiên do địa thế hẹp, các đảo có nhiều núi non hiểm trở nên các sông thường ngắn và có nhiều thác ghềnh Các sông không thuận tiện cho giao thông nhưng có nhiều tiềm năng về thủy điện

- Lưu vực Ấn Độ Dương

Lưu vực này gồm các sông thuộc Tây Nam Á, Nam Á và phần Tây bán đảo Trung

Ấn Ở Tây Nam Á, mạng lưới sông rất thưa thớt trong đó nhiều vùng rộng không có dòng chảy thường xuyên Có hai sông khu vực này là Euphrates và Tigris chảy từ sơn nguyên Armenia xuống Nhờ nguồn nước tuyết và mưa trên núi phong phú mới có thể vượt qua vùng đồng bằng Lưỡng Hà khô hạn để ra vịnh Persian Các sông có hai thời

kỳ nước lớn, một vào mùa xuân do tuyết tan trên núi và một vào mùa đông do mưa trên đồng bằng Mùa hạ khô và nóng, nước bốc hơi mạnh nên mực nước rất thấp và lưu lượng càng về hạ lưu thì càng giảm dần Các sông có vai trò trong việc tưới ruộng, cung cấp nước cho nhân dân trong khu vực, giao thông và thủy điện

Các sông thuộc những lưu vực còn lại đều chịu ảnh hưởng của chế độ mưa gió mùa nên chế độ tương tự như các sông ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á Các sông đáng chú ý nhất là Ấn, Hằng, Brahmaputra và Salween Sông Hằng là con sông lớn có giá trị về kinh tế hàng đầu của Ấn Độ Lưu lượng trung bình năm ở cuối trung lưu đã lên tới 12.105 km³/s Các sông của lưu vực này có giá trị quan trọng trong tưới ruộng, cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, đời sống nhân dân và giao thông vận tải Tuy nhiên hằng năm trên các con sông vẫn thường xảy ra lũ lột dữ dội cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người dân, nhất là tại Bangladesh

- Lưu vực nội lưu

Gồm các sông chảy trong miền Trung Á, Nội Á và sơn nguyên Iran Các vùng này tuy thuộc đới khí hậu khô, lượng mưa hằng năm không đáng kể song các sông tồn tại được là nhờ có nguồn tuyết và băng tan từ trên núi cao cung cấp Các sông lớn nhất là Syr Darya và Amu Darya, bắt nguồn từ vùng núi cao Thiên Sơn, Pamir rồi chảy qua các hoang mạc cát Trung Á và đổ vào hồ Aral, sông Ili đổ vào hồ Balkhash Một số sông như Murghab thì cạn dần khi đổ vào các hoang mạc cát Các sông ở khu vực nội lưu đều có nước lớn vào cuối mùa xuân và mùa hạ, nhưng lưu lượng của chúng giảm dần từ

Trang 21

nguồn đến hạ lưu Các sông thuộc lưu vực này là nguồn nước vô cùng quý giá cho đời sống của cư dân, cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông và thủy điện

1.1.5.2 Hồ

Ở châu Á có khá nhiều hồ trong đó có các hồ lớn và sâu nhất thế giới Đa số các

hồ lớn lại không nằm trong vùng khí hậu ẩm ướt mà lại phân bố trong các vùng khô hạn như Tiểu Á, Trung Á và Nội Á Hầu hết các hồ có nguồn gốc kiến tạo nên có độ sâu lớn, một số hồ còn có mực nước thấp hơn mực nước biển

Các hồ các quan trọng nhất là Caspian (371.000km², sâu 995m, mức nước thấp hơn mực nước đại dương 28m), Aral (66.458km², sâu 68m) Hai hồ có kích thước rất lớn nên người ta thường gọi là “biển” hay “biển hồ” Hiện nay hồ Aral bị thu hẹp diện tích rất nhiều do việc xây dựng các kênh đào để lấy nước tưới cho các vùng hoang mạc Trung Á Sự thu hẹp diện tích các hồ đã gây ra sự khủng hoảng sinh thái lớn, làm cho sản xuất và đời sống của cư dân các vùng đồng bằng xung quanh hồ bị thiệt hại nặng Một số hồ khác như Balkhash (22.000km², sâu 26,5m), Issyk Kul (6.200 km, sâu 702m), hồ Chết (1.000km², sâu 747m, thấp hơn mực nước biển 392m), là những hồ mặn Hồ Baikal nằm ở phía Nam vùng Trung Siberia là hồ sâu nhất thế giới (31.500km², sâu 1.620m), đây là hồ nước ngọt trong lành, chứa tới 20% tổng lượng nước ngọt trên Trái Đất, có phong cảnh thiên nhiên đẹp, có ý nghĩa cả về kinh tế và bảo

vệ tự nhiên

1.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT

1.1.6.1 Giới thiệu khái quát

Sự phân hóa về điều kiện vị trí địa lý, địa hình, khí hậu đã tạo ra sự phân hóa đa dạng về sinh vật cho châu Á từ các loài thực vật lá kim ở phía bắc (Bắc Á) đến các cách rừng cận nhiệt đới ở Đông Á, rừng nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á và Nam Á là các loại rừng giàu nhất thế giới Trong rừng có nhiều loại gỗ tốt, cũng như loài động vật quý hiếm Trong khi đó, nhiều khu vực nằm sâu trong nội địa, lượng mưa thấp, nhiệt độ cao

đã dẫn đến sự khô hạn, hình thành các hoang mạc, bán hoang mạc với hệ động – thực vật nghèo nàn

Ngày nay, trừ rừng lá kim, đa số các loại rừng khác và savan, thảo nguyên đã bị con người khai phá, biến thành đất nông nghiệp, các khu dân cư và khu công nghiệp Các khu rừng tự nhiên còn lại rất ít, do đó việc bảo vệ rừng là nhiệm vụ rất quan trọng của các quốc gia ở châu Á

* Miền đài nguyên và đài nguyên rừng

Miền đài nguyên và đài nguyên rừng là hai miền kế tiếp nhau, chiếm một dải nằm phía Bắc châu lục Trong các đới này về mùa đông rất lạnh, băng giá kéo dài, lớp đất đông kết vĩnh cửu phát triển trên toàn đới Về mùa hạ thời tiết có ấm hơn, nhiệt độ trung bình tháng 7 thay đổi từ 10°C ở phía Bắc đến 13 –14°C ở phía Nam của đới Trong điều kiện đó ở phía Bắc chỉ có rêu và địa y, còn ở phía Nam nhờ ấm hơn nên bắt

Trang 22

đầu xuất hiện các loại cây bụi thân gỗ, tạo thành các dải rừng cây bụi xen với đồng rêu Trong điều kiện bốc hơi kém, lớp rêu phủ dày, mặt đất luôn luôn ẩm ướt nên đầm lầy phát triển mạnh Trong đầm lầy hình thành lớp than bùn dày, còn đất rất chua và nghèo chất dinh dưỡng Giới động vật cũng nghèo, chỉ có một số đại diện đáng chú ý như tuần lộc, chó sói đỏ, cú trắng, Về mùa hạ, một số loài chim di cư từ phương Nam lên Đới đồng rêu và đồng rêu rừng là nơi dân cư rất thưa thớt và chuyên sống nhờ vào việc săn bắn và chăn nuôi tuần lộc

* Miền rừng cây lá kim

Đới rừng lá kim hay còn gọi là rừng taiga chiếm một dải rộng về phía Bắc vành đai ôn đới với khí hậu ôn đới lục địa lạnh Về mùa đông ở đây băng giá kéo dài và băng kết vĩnh cửu có mặt ở khắp nơi Rừng nghèo về thành phần loài và có cấu trúc đơn giản Các loài phổ biến nhất là vân sam, thông, thông rụng lá Siberia Ngoài ra còn có lãnh sam và thông Siberia Rừng taiga của châu Á được phân biệt thành hai kiểu chính là:

“rừng taiga tối” và “rừng taiga sáng” Rừng taiga tối phân bố ở chủ yếu ở vùng đồng bằng Tây Siberia trở về phía Tây Trong rừng cây mọc dày, vươn lên rất cao nên rừng rậm, tối và ẩm ướt Rừng taiga sáng phân bố chủ yếu ở Trung và Đông Siberia, là những nơi có khí hậu giá lạnh gay gắt nhất Ở đây chỉ có tùng rụng lá là loài chịu được các điều kiện khắc nghiệt nói trên Trong rừng, cây mọc thưa, thấp và rụng lá về mùa đông Phần Nam đới rừng taiga, về mùa hạ thời tiết khá ấm, mưa ít hơn, phát triển rừng cây lá nhỏ gồm thùy dương và liễu

Trong đới rừng lá kim do bốc hơi yếu nên đầm lầy phát triển mạnh, chiếm 50% diện tích của đới Mặt đất luôn ẩm ướt, đồng thời xác thực vật lá kim khi phân hủy sẽ tạo thành các axít nên quá trình rửa trôi mạnh, hình thành đất potsol và đất đầm lầy Đất potsol là loại đất chua và nghèo chất dinh dưỡng Trong đới rừng taiga, nhờ thức ăn phong phú và điều kiện khí hậu thuận lợi hơn các đới phía Bắc nên giới động vật cũng phong phú hơn Các loài điển hình là nai sừng tấm, gấu nâu, mèo rừng, sóc và nhiều loài chim như gà rừng, gõ kiến, quạ khoang, cú, Rừng lá kim là nguồn dự trữ gỗ quan trọng cho các ngành kinh tế

* Miền rừng hỗn hợp và rừng cây lá rộng

Đây là hai đới kế tiếp nhau, phát triển trong các vùng khí hậu ôn đới chuyển tiếp

và ôn đới hải dương Ở châu Á thì hai đới này không tạo thành các dải liên tục mà phân

bố trong những khu vực hạn chế ở Đông Á như vùng trung và hạ lưu sông Amur, vùng Mãn Châu-Triều Tiên và vùng Bắc đảo Honshu (Nhật Bản) Trong rừng có các cây lá nhọn xen cây lá rộng Các loài cây lá rộng phổ biến nhất là sồi Mông Cổ (Quercus mongolia), dẻ gai rừng (Fagus sylvatica), hồ đào Mãn Châu (Juglans mandshurica), thùy dương vàng Trong tầng dưới rừng có nhiều loại dây leo như ngũ vị tử, nho Amur, nhiều loại cây bụi nhỏ trong đó đáng chú ý nhất là nhân sâm (Panax ginseng), một loài cây thuốc rất quý Nhờ nguồn thức ăn phong phú, khí hậu ấm áp nên giới động vật của rừng hỗn hợp và rừng lá rộng rất đa dạng, đáng chú ý nhất là hươu sao, thỏ, nai sừng tấm, hổ, gấu đen, mèo rừng Viễn Đông, nhiều loài chim như trĩ, cú bắt cá, quạ xanh, sáo, sẻ ngô Đới rừng hỗn hợp và rừng lá rộng là nơi có dân cư tập trung đông

và nông nghiệp phát triển Thổ nhưỡng ở dưới rừng hỗn hợp là đất podzol cỏ, dưới rừng

lá rộng là đất rừng nâu xám Đây là những loại đất tốt có thể trồng được nhiều loại cây khác nhau như lúa mạch, lúa miến, khoai tây, củ cải đường đồng thời đây cũng là đới chăn nuôi nhiều bò, lợn

* Miền thảo nguyên và thảo nguyên rừng

Đây cũng là hai đới nằm kế nhau làm thành một dải rộng kéo dài từ vùng núi Kavkaz cho đến Altai, trong đó dải phía Bắc là thảo nguyên rừng, còn dải phía Nam là

Trang 23

thảo nguyên Từ dãy Altai trở về phía Đông (bao gồm lãnh thổ Mông Cổ và phía Bắc Trung Hoa) thì thảo nguyên chiếm ưu thế, còn thảo nguyên rừng chỉ chiếm những bộ phận lẻ tẻ

Trong các đới này, điều kiện khí hậu mang tính chất lục địa khá rõ: mùa đông lạnh

và kéo dài, nhiệt độ trung bình tháng 1 từ -5 đến -20°C, mùa hạ tương đối nóng, nhiệt

độ trung bình tháng 7 từ 17-23°C Lượng mưa trung bình năm từ 250–400mm Do mưa

ít nhưng nước bốc hơi mạnh nên nước trên mặt đất và nước ngầm đều kém (mực nước ngầm ở đông bằng sâu tới 5–10 m, còn ở vùng đất cao tới 10–20 m), hiện tượng thiếu

ẩm xuất hiện khá rõ rệt Sự thiếu ẩm này làm cho thực vật cỏ ưa khô phát triển thuận lợi hơn cây thân gỗ Vì thế, đồng cỏ dần thay thế rừng Trong dải thảo nguyên rừng, đồng

cỏ xen vào giữa các khu rừng, còn xuống phía Nam do khí hậu khô và nóng hơn, rừng dần dần mất hẳn, đồng cỏ xâm chiếm toàn bộ và trở thành đới thảo nguyên Trong thảo nguyên rừng, các cây thân gỗ gồm có sồi, dẻ rừng, phong và bạch dương, còn trong đới thảo nguyên thống trị có các loài cỏ, các loài phổ biến nhất là cỏ vũ mao (Stipa spp.), cỏ

vũ mao lông dài và cỏ mục dịch (Festuca sulcata) Ở thảo nguyên Mông Cổ còn có thêm các bụi cây ngải Thổ nhưỡng chính của hai đới này là đất rừng xám, đất đen, đất đen rửa trôi và đất hạt dẻ

Giới động vật của hai đới có sự khác nhau khá rõ: ở đới thảo nguyên rừng có các động vật rừng như chồn, sóc, thỏ nâu và các loại chim Ở thảo nguyên có nhiềm loại gặm nhấm và loài ăn cỏ, đáng chú ý nhất là sơn dương, nhiều loài chuột và dê Ngoài ra còn có ngựa hoang Mông Cổ, lạc đà hai bướu sống ở các vùng của Nội Á Bên cạnh các loài ăn cỏ và gặm nhấm còn có các loài ăn thịt như chó sói, chồn, đại bàng

Thảo nguyên và thảo nguyên rừng là hai đới có đất tốt, đồng cỏ rộng, thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi gia súc Tuy nhiên, do độ ẩm không khí không đầy đủ và kém ổn định nên trong sản xuất cần có biện pháp tưới tiêu, chống xói mòn đất mới bảo đảm được năng suất cao

* Miền hoang mạc và bán hoang mạc ôn đới

Hai đới này phân bố trong các vùng Trung Á và Nội Á Đây là những vùng khí hậu khô hạn và mang tính chất lục địa gay gắt nhất Ở các vùng Đông Nam đồng bằng Nga và Trung Á, hai đới này có dấu hiệu phân biệt tương đối rõ, còn ở vùng Nội Á chúng phát triển xen kẽ với nhau

Trong đới bán hoang mạc, lượng mưa hằng năm khoảng 150-200mm, còn trong đới hoang mạc giảm xuống không đầy 150mm Độ bốc hơi rất lớn, có thể gấp 4-9 lần lượng mưa, vì thế mà độ ẩm thường xuyên thấp Tại các vùng ở Trung Á, độ ẩm không khí trung bình khoảng 35-40%, còn mùa hạ, những lúc có gió mạnh và bão bụi kéo dài thì độ ẩm có thể giảm xuống tới 18-19%, gây tác hại lớn cho trồng trọt và chăn nuôi

Do bốc hơi mạnh, dòng chảy trên mặt đất trong các đới này rất hiếm, mặt đất được tích

tụ muối nên nhiều nơi tầng cacbonat trồi lên tới mặt đất Thổ nhưỡng điển hình của đới bán hoang mạc và đới hoang mạc là đất xám

Lớp phủ thực vật của bán hoang mạc và hoang mạc rất nghèo, có khả năng chịu hạn và chịu mặn cao Trong bán hoang mạc thường gặp quần thể hòa thảo-ngải cứu, còn ở hoang mạc phổ biến nhất là ngải cứu-cỏ muối Ở phía Nam vùng Trung Á, ven theo các cồn cát trong hoang mạc còn gặp các bụi cây muối đen (Haloxylon aphyllum), một loại cây bụi lớn Ven theo các hồ và thung lũng sông có các rừng hành lang và rừng lau sậy

Tương tự như thực vật, giới động vật của bán hoang mạc và hoang mạc cũng rất nghèo, phổ biến nhất là các loài gặm nhấm và bò sát (các loài chuột, kỳ đà và rắn) Một

Trang 24

vài nơi trong thung lũng thỉnh thoảng gặp sơn dương, ngựa hoang và lạc đà hai bướu Trong các đới này cư dân rất thưa, tập trung ven hồ, các thung lũng sông và các ốc đảo

* Miền rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt đới

Đới rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt đới hay còn gọi là đới Địa Trung Hải bởi vì đới này phân bố ở vùng lãnh thổ phía Tây châu Á giáp với Địa Trung Hải Trong đới này tuy lượng mưa không ít nhưng hai mùa mùa mưa ẩm và mùa khô nóng chênh lệch lại tạo nên tình trạng bất lợi cho sự phát triển bình thường của thực vật Về mùa đông đới này ấm và ẩm, có mưa nhiều nhưng đến mùa hạ lại khô nóng và mưa không đáng

kể Trong mùa hạ do không khí khô nóng, bốc hơi mạnh gây nên tình trạng thiếu ẩm gay gắt Để tồn tại và phát triển trong điều kiện khí hậu khô nóng và bốc hơi mạnh, thực vật ở đây thường phát triển theo hình thái làm giảm sự bốc hơi và phản chiếu bớt ánh nắng mạnh như lá cứng, màu lá xanh bóng, có lớp lông mịn dưới lá hoặc lớp sáp trên mặt lá, thân cây có vỏ dày hoặc xốp hoặc có nhiều gai để làm giảm bớt độ bốc hơi của cây

Lớp phủ thực vật ở đây gồm hai kiểu: rừng và cây bụi Rừng thường phát triển trên các sườn phía Tây có mưa nhiều, tạo thành kiểu rừng lá cứng thường xanh Trong rừng có các cây lá rộng như sồi thường xanh (Quercus ilex), sồi lie hay sồi bần có lớp

vỏ xốp và dày, nguyệt quế (Laurus nobilis), ôliu xen các cây lá kim như thông, tuyết tùng Rừng tương đối sáng, tầng dưới rừng khá phát triển với nhiều loài cỏ và cây bụi nhỏ Trên các sườn phía Đông hoặc trong các thung lũng khuất gió, lượng mưa hằng năm rất ít, phát triển kiểu truông cây bụi Truông là một kiểu cảnh quan gồm các cây bụi mọc thấp và thưa (gồm các cây thường xanh hoặc rụng lá theo mùa) gồm các loài: sồi cây bụi, táo dại, ôliu cây bụi, tùng cối Hy Lạp (Juniperus excelsa) và một số loài cây gai khác Những nơi như bán đảo Tiểu Á, khô hạn mạnh thì phát triển chủ yếu kiểu chuông bụi gai Nhiều nơi cây bụi gai mọc rất dày, người không thể đi qua được

Thổ nhưỡng dưới tán rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt là đất nâu và nâu xám Đất

có lượng mùn khá cao và có phản ứng trung tính Động vật của đới Địa Trung Hải phổ biến nhất là các loài bò sát như thằn lằn, tắc kè, rùa, nhím và các loài rắn Ngoài ra còn

có khỉ không đuôi (khỉ mặt đỏ), cầy đốm, thỏ hoang,

* Miền rừng hỗn hợp cận nhiệt đới gió mùa

Đới rừng này phát triển trong các khu vực thuộc kiểu cận nhiệt đới gió mùa, phân

bố chủ yếu ở Đông Trung Hoa, phía Nam bán đảo Triều Tiên và Nam Nhật Bản Nhờ khí hậu nóng và ẩm về mùa hạ, hơi lạnh về mùa đông nên thực vật gồm các cây lá rộng xen cây lá kim, các loài điển hình là sơn trà, nguyệt quế, mộc lan (Magnolia spp.), sồi thường xanh, dẻ rừng, thông đuôi ngựa Động vật cũng rất phong phú Các đại diện thường gặp là khỉ, báo, gấu trúc, lợn rừng, nhiều loài chim như trĩ, vẹt, vịt trời, cốc Ngày nay, phần lớn các khu rừng đã bị khai thác, trở thành những vùng dân cư đông đúc

* Miền hoang mạc và bán hoang mạc nhiệt đới

Hình thành trong miền khí hậu nhiệt đới bao gồm toàn bộ bán đảo Ả Rập, phía Nam sơn nguyên Iran và một phần đồng bằng sông Ấn Với thời tiết nóng và khô quanh năm, lượng mưa rất thấp nhưng bốc hơi mạnh, thiếu ẩm gay gắt nên toàn bộ vành đai phát triển quang cảnh hoang mạc và bán hoang mạc Ở đây, khắp nơi chỉ thấy cánh đồng cát, các bãi đá khô cằn và buồn tẻ như hoang mạc Arabi, Dasht-e Kavir ở Iran, hoang mạc Thar ở Tây Bắc Ấn Độ Thực vật phổ biến ở đây là các loài cỏ hòa thảo cứng và các cây bụi gai Chỉ ở những vùng trũng thấp và dọc theo miền duyên hải vịnh Persian, nhờ có nước ngầm lộ ra mà hình thành các ốc đảo Các ốc đảo là nơi có thực

Trang 25

vật xanh tươi và có dân cư tập trung đông Chà là là loại cây trồng chính ở các ốc đảo này

* Miền rừng gió mùa, rừng thưa, đồng cỏ nhiệt đới

Đây là những kiểu cảnh quan được hình thành trên các sườn núi và các đồng bằng, thung lũng nội địa, có lượng mưa trung bình năm không vượt quá 1.500mm và có mùa khô kéo dài Tùy theo lượng mưa và mùa khô khác nhau mà có sự chuyển tiếp từ kiểu này sang kiểu khác, thể hiện qua hình thái thực vật và thổ nhưỡng

Rừng gió mùa thường được hình thành trong các khu vực có lượng mưa hằng năm

từ 1000 – 1500mm và mùa khô chỉ dài từ 2 – 3 tháng Phần lớn các cây trong rừng rụng

lá về mùa khô Các cây mọc thưa và thấp nên trong rừng thoáng và không ẩm ướt như rừng nhiệt đới ẩm thường xanh Các loài thực vật điển hình gồm tếch, căm xe, cẩm liên, dầu trà ben, dầu lông, Rừng gió mùa phân bố chủ yếu ở vùng Đông Bắc sơn nguyên Decan, vùng núi Bắc Thái Lan, Bắc Lào, sườn Tây của dãy Trường Sơn và các cao nguyên Di Linh, Đắc Lắc ở Việt Nam

Ở những nơi mưa ít hơn từ 800-1000mm và mùa khô kéo dài hơn, rừng gió mùa chuyển thành rừng thưa với cây thấp và thưa hơn rừng gió mùa Kiểu rừng thưa này phân bố ở đồng bằng trung lưu sông Hằng, cao nguyên Korat (Lào) và đồng bằng Campuchia Ở những nơi có lượng mưa dưới 800mm như vùng trung tâm thung lũng Yaraoadi và trung tâm sơn nguyên Decan phát triển kiểu xavan cây bụi

Lớp phủ thổ nhưỡng cũng có sự thay đổi tương ứng: dưới rừng gió mùa là đất feralit đỏ, dưới rừng thưa là đất nâu đỏ, còn trong xavan cây bụi là đất nâu xám

Giới động vật trong vòng đai cận xích đạo rất phong phú và đa dạng Các loài đáng chú ý là khỉ, voi, trâu rừng, tê giác, bò tót, nai, linh dương cùng các loài ăn thịt như hổ, báo, chó sói Ngoài ra còn có rắn, trăn, nhiều loài chim, côn trùng và sâu bọ

* Miền rừng nhiệt đới ẩm thường xanh

Đới này phát triển trong các khu vực có lượng mưa trung bình năm hơn 1.500mm

và độ ẩm phân bố đều trong các tháng Rừng nhiệt đới ẩm thường xanh phát triển trên các sườn đón gió từ biển vào và các đồng bằng duyên hải, bao gồm đồng bằng hạ lưu sông Hằng, duyên hải phía Tây Ấn Độ, Myanma, Tây Nam Campuchia, sườn núi phía Đông Việt Nam và Philippines Rừng ở đây rất rậm, phân thành nhiều tầng và có thành phần loài rất phong phú với nhiều loài gỗ quý như chò nâu, lim, sến, lát hoa, Dưới rừng hình thành đất feralit đỏ vàng, đất tuy ít mùn nhưng giàu các khoáng dinh dưỡng

* Miền rừng rậm nhiệt đới

Ở châu Á, vòng đai này chiếm một dải hẹp gồm phần Nam bán đảo Mã Lai, các đảo Sumatra, Borneo, Sulawesi và phần Tây đảo Java, phát triển trong điều kiện khí hậu nóng ẩm quanh năm Ở đây đã hình thành đới rừng xích đạo ẩm thường xanh Đới rừng này cũng tương tự như đới rừng nhiệt đới thường xanh ở châu Phi nhưng độ phong phú và đa dạng loài cao hơn Về giới thực vật, ngoài các cây gỗ lớn thuộc họ đậu, họ sung vả, họ dầu còn có các loài cây họ dừa, các loài tre nứa và dương xỉ thân gỗ Về động vật cũng rất phong phú, các loài phổ biến và phong phú nhất là các loài sống trên cây như khỉ không đuôi, vượn và đười ươi Các loài sống dưới đất có voi, heo vòi, hổ,

tê giác một sừng, trâu rừng Đới rừng xích đạo là nơi có điều kiện sinh thái cho sự phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp Hiện nay nhiều khu rừng đã được khai phá để trồng các loài cây nhiệt đới như cà phê, cao su, chè, dừa và các loài cây ăn quả

* Miền núi cao

Tại các miền núi cao, thực vật thay đổi theo độ cao Khí hậu thay đổi từ nhiệt đới

ở chân núi đến băng và tuyết vĩnh cửu ở những đỉnh cao nhất Nhiều vùng núi cao của châu Á hiện nay là vẫn là các trung tâm băng hà lớn nhất thế giới như băng hà

Trang 26

Himalaya, băng hà Tây Tạng, Thiên Sơn, Pamir Himalaya là vùng núi có diện tích băng phủ lớn nhất lục địa, chiếm gần 33.250km², sau đó đến Tây Tạng 32.150km², Karakoram tại Pakistan 17.835km², Pamir 10.200km² Tuy nhiên do các vùng băng hà này nằm sâu trong nội địa với điều kiện khí hậu khô hạn nên sự phát triển của băng hà

có phần hạn chế so với các vùng có khí hậu ẩm ướt Đường ranh giới đới tuyết vĩnh viễn trên các núi này thường từ 5.000m trở lên, trong đó các sườn hướng về nội địa còn cao hơn một ít Đa số các băng hà có chiều dài vài km, chỉ có ở Karakoram và Pamia mới có các băng hà có chiều dài tới 20–30km Băng hà Fedchenko ở Tajikistan là dài nhất, đạt tới 71km

Sự đa dạng về khí hậu, cao độ, lượng mưa, và đất đai tạo điều kiện cho nhiều quần

xã động - thực vật phát triển Ví dụ như ở những cao độ rất cao (áp suất thấp) cùng với khí hậu cực lạnh cho phép các sinh vật chịu được điều kiện sống rất khắc nghiệt sống sót

1.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI CHÂU Á

1.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ

1.2.1.1 Tình hình chính trị châu Á

Trong khi châu Âu và Bắc Mỹ phát triển công nghiệp, cải thiện phương pháp canh tác nông nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm, gia tăng sản lượng, và đời sống cư dân cũng được cải thiện, thì tại châu Á, phát triển công nghiệp như còn hiếm hoi Họ vẫn là các quốc gia nông nghiệp, và nông dân tiếp tục sử dụng công cụ bằng tay, theo phương pháp canh tác cổ truyền Sự bùng nổ dân số bắt đầu cuối những năm 1500, khiến số người ở châu Á và châu Âu tăng vọt Nhu cầu ngày càng nhiều hơn về thực phẩm, việc làm, trường học, và các thứ cần thiết khác đáp ứng cho việc gia tăng dân số Nhờ phát triển kinh tế mà châu Âu giải quyết vấn đề tốt hơn châu Á Đi xâm chiếm thuộc địa, rồi đưa người châu Âu đến định cư ở vùng đất mới là một trong các phương cách đặc trưng của châu Âu

Từ những năm 1500, châu Á bị châu Âu đặt ách cai trị thuộc địa đến giữa những năm 1900, nhiều nước châu Á mới khôi phục được nền độc lập của mình Từ đó phát triển công nghiệp, cải thiện nông nghiệp và giảm dần đà gia tăng dân số Nhờ vậy, mà nhiều người có việc làm và tiêu chuẩn sống tăng lên đôi phần Tuy nhiên, việc tranh chấp chính trị giữa các phe nhóm tạo thêm sự khó khăn cho “tiến trình phát triển.” Sau chiến tranh thế giới thứ II (1939 - 1945), châu Á trở thành trung tâm tranh giành giữa hai thế lực tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Thêm vào đó, các mâu thuẫn khác cũng đưa đến các cuộc chiến tranh giữa các nhóm sắc tộc, tôn giáo trong lục địa Và kết quả là, tại châu Á hầu như còn tiếp tục đối diện với chiến tranh, hoặc đe dọa chiến tranh, cùng với các vấn đề bức thiết khác

1.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Á

Tính đến 2014, châu Á có 49 quốc gia độc lập, trong đó có cả quốc gia lớn nhất thế giới về diện tích Nga tuy được tính thuộc về châu Âu, nhưng chiếm tới 12.766.000km2 ở châu Á và Ai Cập nằm ở châu Phi cũng có trên 60.000km2 ở châu Á

Ba quốc gia nhỏ nhất ở lục địa là Bahrain, Maldives và Singapore, mỗi quốc gia chỉ có dưới 700km2

Về thể chế chính trị thì hiện châu Á có tới 5 loại thể chế: xã hội chủ nghĩa (Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam); tư bản chủ nghĩa (Ấn Độ, Israel, Nhật Bản); quân chủ lập hiến (Bhutan, Ả Rập Saudi); giáo chủ Hồi giáo (Bahrain Qatar, Arab Emirates); quân quản (Myanmar - kết thúc vào 02/2011 với việc Quốc hội Myanma bầu ông Thein Sein làm tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội, Thái Lan

- trong 20 cuộc đảo chính hoặc nỗ lực đảo chính của quân đội từ năm 1932 tới 2014)

Trang 27

1.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Á

Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Á rất đa dạng về hình thức và mức độ phụ thuộc Hiện nay, ở châu Á có khoảng 10 lãnh thổ phụ thuộc, trong đó có một số vùng hiện đang tranh chấp

1.2.2 DÂN SỐ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ

1.2.2.1 Đặc điểm dân số

Tổng số dân của châu Á là 4.273,1 triệu người (2012), là châu lục đông dân nhất trên thế giới, chiếm 60,5% dân số thế giới Trung Hoa có trên 1.355 triệu người, nhưng cũng có tới 2/5 quốc gia châu Á chỉ dưới 5 triệu người Dân số châu Á thay đổi nhanh nhất hơn bất cứ sự thay đổi nào khác Các sự khác nhau về nguồn gốc, tập quán, ngôn ngữ, tôn giáo, và cả đời sống đang tồn tại khá kiên cố ở lục địa này Chính vì điều đó

mà người ta chia châu Á thành 6 khu vực khác nhau về văn hoá, phát triển kinh tế, đời sống xã hội, và cả thể chế chính trị

Về sự gia tăng dân số, đại bộ phận các nước châu Á có tỷ lệ gia tăng tự nhiên khá cao Theo số liệu thống kê năm 2005, tỉ lệ gia tăng dân số của châu Á là 1,3%, trong khi

đó ở một số nước thì tỷ lệ đó rất cao như Pakistan: 2,4%, Yemen: 3,3%, Palestin: 3,5%

1.2.2.2 Sự phân bố dân cư

Mật độ dân số trung bình của châu Á là 124 người/km² (không tính Nga) hoặc 86,1 người/km² (nếu tính cả Nga) Tuy nhiên sự phân bố dân cư trên toàn châu lục là không đồng đều, phụ thuộc vào sự phân hóa về các điều kiện tự nhiên như khí hậu, địa hình Có một số nước mật độ dân cư rất cao như Nhật Bản: 336,1 người/km², Ấn Độ: 341,2 người/km², Bangladesh: 1.045 người/km², Singapore: 6425,3 người/km² Trong khi đó nhiều khu vực dân cư vô cùng thưa thớt như Mông Cổ: 1,7 người/km², Kazakhstan: 5,7 người/km², Ả Rập Saudi: 12 người/km² Đặc biệt, ở nhiều vùng rộng lớn như Bắc Siberia, sơn nguyên Tây Tạng, bồn địa Tarim, hầu như không có người

ở Sự phân bố dân cư nói trên cho ta hiểu được điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn đối với các vùng đó

Về trình độ đô thị hóa, nhìn chung không đều giữa các nước Nếu tính về số lượng các đô thị lớn thì châu Á đứng đầu thế giới Có 15 thành phố trên 15 triệu dân và hơn

100 thành phố có số dân trên 1 triệu người, song tỷ lệ dân sống ở đô thị ở châu Á chỉ mới đạt 50%

- Tiểu chủng Mongoloid phương Bắc gồm cư dân vùng Siberia và phần Bắc vùng

Nội Á, bao gồm người Siberia (người Eskimo, người Evanks), người Mông Cổ, Mãn Châu, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Trung Hoa Ngoài những đặc điểm của người Mongoloid nói chung, người Mongoloid phương Bắc còn có tầm vóc cao hơn và nước

da sáng hơn

Trang 28

- Tiểu chủng Mongoloid phương Nam gồm người Nam Trung Hoa và các nước

Đông Nam Á Tiểu chủng tộc được hình thành do sự hòa huyết giữa người Mongoloid với người Negroid Vì thế họ có da màu vàng sậm, cánh mũi rộng, môi hơi dày, tóc làn sóng và hàm hơi vẩu

* Đại chủng Europeoid

Đại chủng này bao gồm toàn bộ cư dân sống ở vùng Tây Nam Á và một số ở Bắc

Ấn Độ, Trung Á và Nội Á Để phân biệt với người châu Âu, nhóm người này được gọi chung là tiểu chủng tộc Europeoid phương Nam Họ có đặc điểm da ngăm, tóc và mắt đen hơn người phương Bắc, đầu dài, tầm vóc trung bình

* Đại chủng Negroid

Đại chủng này bao gồm cư dân sống ở vùng Nam Ấn Độ, Sri Lanka và một số rải rác ở Indonesia và Malaysia Nhóm người này chiếm một tỉ lệ không đáng kể trong tổng số dân toàn châu lục

1.2.3.2 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của châu Á rất đa dạng và phong phú, xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau Châu Á có nhiều ngôn ngữ và phương ngữ hiện đang được sử dụng Đây là một trong những lực cản chính về phương diện truyền thông Trong một số nơi của lục địa, người trong một làng không thể nói chuyện, và hiểu được ngôn ngữ của làng bên cạnh, chỉ cách nhau vài km Chẳng hạn, trong vùng Madhya, Pradesh, một tiểu bang của Ấn Độ, người ta sử dụng tới hơn 375 ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau

Châu Á chiếm đa số các ngữ hệ của toàn thế giới, trong đó gồm các ngữ hệ chính: ngữ hệ Ấn – Âu, ngữ hệ Altaic - Uralic, ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Dravidian, ngữ hệ Phi – Á, ngữ hệ Nhật Bản - Triều Tiên, ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, ngữ

hệ Tai - Kadai, ngữ hệ Eskimo – Aleut – Siberian, …

Sự phân bố các ngôn ngữ trong châu lục cũng khá phức tạp, trong đó có một số quốc gia có sự đa dạng ngôn ngữ như: Ấn Độ, Trung Hoa, Nga, Indonesia, Việt Nam Tiếng Ả Rập (Arabic) và Do Thái (Hebrew) là ngôn ngữ chính vùng Tây Á thuộc ngữ

hệ Phi - Á Tiếng Nga, Afghanistan, Iran, Pakistan, Bắc Ấn Độ và Sri Lanka cùng với tiếng Anh thuộc ngữ hệ Ấn - Âu Tiếng nói ở phía nam Ấn Độ thuộc ngữ hệ Dravidian Tiếng Kazakistan, Mông Cổ, Siberia, Thổ Nhĩ Kỳ, Turkmenistan và Uzbekistan được xếp vào ngữ hệ Altaic - Uralic Tiếng Trung, Tây Tạng, Myanmar thuộc ngữ hệ Hán – Tạng Tiếng Lào và Thái thuộc ngữ hệ Tai – Kadai Tiếng Khmer, Việt thì xếp vào ngữ

hệ Nam Á Tiếng nói của hầu hết người trên các đảo Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Phillippines thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo Tiếng Nhật, Triều Tiên thì thuộc nhóm ngôn ngữ Nhật Bản – Triều Tiên

1.2.4 TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA

1.2.4.1 Tôn giáo

Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:

* Baha'i giáo ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là Iran) Người sáng lập đạo Baha’i

là Mirza Husayn Ali Baha'u'llah (1817-1892) nhằm phục hưng đạo đức và tâm linh cho

xã hội Ba Tư, cổ vũ cho vị trí của phụ nữ, cải thiện cuộc sống cho người nghèo, đề cao nền giáo dục nâng cao dân trí và cổ vũ cho các hoạt động khoa học hữu ích Hiện nay, tôn giáo Baha’i phân bố chủ yếu ở Ấn Độ (2 triệu người – đông nhất thế giới) và các nước khu vực Ả rập

* Phật giáo là một tôn giáo do Tất Đạt Đa Cồ Đàm, thường được gọi là Phật Đà,

Bụt Đà sáng lập ở vùng đông Ấn Độ từ khoảng thế kỷ VI Tr CN – IV Tr CN Giáo lý

Trang 29

của Phật nhằm giải thoát chúng sinh khỏi cái khổ sanh tử luân hồi, để đạt được Niết bàn Giáo pháp đó được gọi là Phật pháp Phật pháp có 2 nhánh chính:

- Đạo Phật Nguyên Thủy (Theravada, Tiểu Thừa, Trưởng lão bộ) và Đại Thừa

(Hữu chúng bộ, Mahayana) Đạo Phật Nguyên Thủy phát triển mạnh ở Sri Lanka và Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Camdobia, Myanmar, miền Nam Việt Nam)

- Đạo Phật Đại Thừa phát triển ở Đông Á (Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật, Việt

Nam, Singapore,…) và bao gồm nhiều truyền thống như Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Phật giáo Tây Tạng, Chân Ngôn Tông, Thiên Thai Tông, Mật Tông (Vajrayana) Trong

đó, Mật Tông phát triển ở Tây Tạng và Mông Cổ Ở tây nam Việt Nam, còn có Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia Tôn giáo này có khoảng 1.433.252 tín đồ, đông thứ 4 tại Việt Nam

* Ấn giáo, còn gọi là Hindu giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào khoảng 1500 năm Tr

CN, bao gồm những nhánh tôn giáo chính có tương quan với nhau và hiện còn tồn tại ở Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh) Chúng có những khái niệm thượng đế khác nhau, có những pho thánh điển khác nhau cũng như những phương pháp tu tập, hình thức thực hiện nghi lễ khác nhau Chúng có những hệ thần học khác nhau, lập cơ sở trên những nhà thần học, những bậc đạo sư khác nhau, và tôn xưng các thần thể khác nhau như vị Thần tối cao Tôn giáo này phân bố chủ yếu ở khu vực Nam Á, đông nhất

là Ấn Độ với khoảng 80% người Ấn Độ tự xem mình là người theo Ấn giáo

* Hồi giáo, còn gọi là Islam giáo, khởi nguồn ở Ả Rập Saudi vào thế kỷ thứ VII,

còn gọi là đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham Đây

là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất, với số tín đồ hiện nay là 1,57 tỷ, chiếm 23% dân số thế giới Hầu hết người theo Hồi giáo thuộc hai dòng: Sunni (75–90%) hoặc Shia (10–25%) Hiện nay ở châu Á, Hồi giáo phân bố chủ yếu ở Nam Á (25%), Tây Á (20%), Trung Á, quần đảo Mã Lai (13%)

* Jaina giáo khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI Tr CN, là một tôn giáo có hệ

tư tưởng ngoài hệ thống thánh điển Veda, mặc dù trong số những vị mở đường ấy có Rsabha, Agitanàtha và Aritanemi; cả ba đều ở thời cổ đại và được đề cập tới trong kinh Yagur-Veda

Jaina là một trong những tôn giáo lâu đời trên thế giới Jaina giáo do Mahavir (540 TCN - 468 TCN) sáng lập ra tại bắc Ấn Độ gần như là cùng thời với Phật giáo Triết lý

và phương thức thực hành của đạo dựa vào nỗ lực bản thân để đến cõi Niết Bàn Trong một thời gian dài Jaina là tôn giáo của vương quốc Ấn Độ và được truyền bá rộng rãi ở tiểu lục địa Ấn Độ Tôn giáo này đã suy yếu từ thế kỷ 8 do sự phát lên mạnh mẽ của các tín đồ đi theo đạo Hindu và đạo Hồi

Jaina là một tôn giáo thiểu số ở Ấn Độ với 4,2 triệu tín đồ, và có một số nhóm nhỏ

di cư đến Bỉ, Canada, Hồng Kông, Nhật Bản, Singapore, và Hoa Kỳ Jaina có trình độ biết chữ cao nhất trong bất kỳ cộng đồng tôn giáo nào khác ở Ấn Độ (94,1%), và các thư viện bản thảo của họ là cổ nhất ở đất nước này

* Đạo Shinto khởi nguồn ở Nhật Bản Tr CN, còn gọi là Thần đạo, có rất nhiều

các thần thánh, có đến 8 triệu thần Tuy một số các vị thần này được nhân cách hóa, đa phần các thần liên quan đến thiên nhiên như linh hồn của đất, trời, Mặt Trăng, cây cỏ, hoa lá Ngay cả đá, núi, hay động vật như cáo, gấu và người quá cố đã trở thành linh hồn cũng được xem là thần Những thần trú ngụ ở tầng cao nhất trên thiên đàng gọi là

"cao thiên nguyên", và chỉ rời khỏi đó khi được mời xuống các đền thờ trong các nghi

lễ

Trang 30

Nghi lễ trong Thần đạo để cầu nguyện hay cảm tạ các thần thường được tổ chức tại các thần xã hoặc những nơi linh thiêng đặc biệt Những linh vật thường được dâng lên thần linh là vải, gương hay kiếm Nghi lễ tẩy trần rất quan trọng, người làm lễ phải giữ cho mình được trong sáng để được tĩnh tâm và có được may mắn Ngày nay, các hoạt động nghi lễ Thần đạo thường được gắn với lễ hội, lễ cưới truyền thống hay năm mới Tuy nhiên người ta cũng thường hay đến đền để cầu nguyện và dâng lễ (thường là chỉ bỏ vài yen vào thùng rồi cầu xin thần), hay mua bùa may mắn Và ở nhà cũng thường có thần bằng để thờ các linh hồn

Tư tưởng của Thần đạo khác với những tôn giáo khác ở chỗ không cấm hay buộc con người làm gì, mà chỉ khuyên nên hướng tới sự trong sáng và tránh điều ác Giết chóc đối với Thần đạo là điều ác và không nên giết sinh vật trừ khi vì sự sống còn của bạn, nên trước khi ăn thường phải nói câu Itadakimasu! để cảm ơn những sinh linh đã chết để trở thành thức ăn, ngày nay điều này đã trở thành một phong tục Những người hay sinh vật bị giết một cách dã man, và không được thờ cúng sẽ trở thành hoang thần dạng Ngoài ra, còn có rất nhiều loại ma quỉ như quỉ, yêu quái, hà đồng,

* Đạo Sikh khởi nguồn ở vùng Punjab (Ấn Độ) vào thế kỷ XV do Guru Nanak

sáng lập, truyền dạy những giáo lý của Guru Nanak Dev và 10 vị Guru khác truyền lại (người cuối cùng thành thánh trong Guru Granth Sahib), là tôn giáo lớn thứ năm trên thế giới

Là một cộng đồng lớn đã cải cách trong Ấn Độ giáo, giáo lý của đạo Sikh ít nhiều

có những điểm gần giống với tư tưởng Ấn giáo, chẳng hạn như những khái niệm về luân hồi (samsara) và nghiệp báo (karma) Đạo Sikh cho rằng, mục đích trong cuộc sống của con người là thoát ly sinh, tử và hợp nhất với Chúa trời, và theo họ, mục đích này có thể đạt được bằng cách nghe theo lời dạy của bậc đạo sư (Sat Guru – True guru), suy ngẫm về thánh lý và làm tất cả các công việc thiện và phục vụ mọi người Đối với các tín đồ đạo Sikh, thiên đường chính là thế giới này! Thiện nghiệp có nghĩa là sự tái sinh làm lại thân con người; còn tái sinh làm súc sanh thì giống như ở trong địa ngục,

đó là kết quả do ác nghiệp mà ra Tuy nhiên, trung thành với tôn chỉ, chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần, tín đồ đạo Sikh cấm không được tôn thờ nhiều thần, không sùng bái, không hành hương đến các điện thờ lớn của Hindu và thực hành các nghi lễ mù quáng Họ không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩ hoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh đời sống thực tại Trong tư duy của những người theo đạo Sikh, việc giải thoát hay không được giải thoát trong cuộc đời này là do mình Họ cho rằng, mỗi một con người cần phải tu thân ngay trong cuộc sống hiện tại, và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sống hằng ngày bằng cách khắc phục năm tật xấu luôn tiềm tàng trong chính mỗi con người; đó là dâm dục, sân hận, tham lam, cố chấp (chấp thủ) và tự kiêu (ngã mạn)

* Nho giáo khởi nguồn ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI TCN Nho giáo là một hệ

thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên,Hàn Quốc và Việt Nam Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh Tại Trung Hoa, Nho giáo được độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởng chính thống của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm Nho giáo cũng rất phát triển ở các nước châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên

và Việt Nam

Đến thế kỷ XX, với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Hoa trong thập niên 1960-1970 Đến đầu thế kỷ, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được tôn vinh trở lại

Trang 31

Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Hoa đã khởi xướng phong trào đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí 26.000 nhân dân tệ cho một khóa học về đạo đức Nho gia, Đại học Phục Đán thu mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí rất cao Từ 2004 cho tới năm 2020, Chính phủ Trung Hoa có kế hoạch thành lập hơn 1.000 Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để quảng bá văn hóa truyền thống Trung Hoa

* Đạo giáo khởi nguồn ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ V – VI Tr CN Đạo giáo là

một nhánh triết học và tôn giáo Trung Hoa, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này Nguồn gốc lịch sử được xác nhận của Đạo giáo được xem nằm ở thế kỉ thứ

4 trước CN, khi tác phẩm Đạo Đức kinh của Lão Tử xuất hiện Các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia

Đạo giáo là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Hoa cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo Ba truyền thống tư tưởng nội sinh (Nho-Lão) và ngoại nhập (Phật) này đã ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân tộc Trung Hoa Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác biệt nhưng cả ba giáo lí này đã hoà hợp thành một truyền thống Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi biên giới Trung Hoa, được truyền đến các nước Đông Nam Á lân cận như Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản.Tại Trung Hoa, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ thuật và địa lý

Vì xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm được số người theo Đạo giáo Đặc biệt có nhiều người theo Đạo giáo sinh sống tại Đài Loan, nơi nhiều trường phái Đạo gia đã lánh nạn Cách mạng văn hoá tại Trung Hoa lục địa Hiện nay, Đạo giáo có khoảng 400 triệu tín đồ tập trung tại các nước Trung Hoa, Singapore, Malaysia, Đài Loan và cộng đồng người Hoa hải ngoại

* Hỏa giáo, khởi nguồn ở Iran khoảng hơn 1000 năm Tr CN Hỏa giáo còn được

gọi là Hiên giáo, Hỏa hiên giáo hay Bái hỏa giáo là tôn giáo do nhà tiên tri Zoroaster sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ VII Tr CN tại miền Đông Đế quốc Ba Tư cổ đại Đây

là một trong những tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại, với bộ kinh chính thức là kinh Avesta (Cổ kinh Ba Tư) Tôn giáo này phát triển mạnh ở Ba Tư từ thế kỷ VII Tr CN, sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa

Hỏa giáo cho rằng thế giới gồm hai bản nguyên đối lập đấu tranh với nhau đó là: Thiện nguyên là hóa thân của thần quang minh (Ánh Sáng) Ahura Mazda (Ahura Mazdā) hoặc Oocmut (Ormuzd); Ác nguyên là hóa thân của thần hắc ám (Bóng Tối) Angra Mainyu (Angra Mainyu) Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, con người có thể có ý chí lựa chọn tự do, cũng có quyền quyết định vận mệnh của mình

Tôn giáo này tin rằng, con người sau khi chết, linh hồn phải chịu sự phán xét cuối cùng của Ahura Mazđa Thần quang minh căn cứ vào lời nói và việc làm trên trần gian của con người và cho họ lên thiên đường hay vào địa ngục Do đó, trong lúc còn sống, mọi người phải làm điều thiện, tránh điều ác, bỏ đen tối đi vào chỗ sáng Tôn chỉ đạo đức của Hỏa giáo là: "Nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm điều thiện"

Hỏa giáo cho lửa là đại biểu của quang minh và điều thiện, là tượng trưng cho Ahura Mazđa, do đó có nghi lễ thờ lửa Trong đền thờ của Hỏa giáo thường xuyên có một ngọn lửa để thờ, gọi là ngọn lửa vĩnh cửu vì được giữ không bao giờ tắt Ngọn lửa trong ngôi đền Ateshkadeh, ngôi đền chính của Hỏa giáo có từ năm 470 sau Công Nguyên, truyền qua nhiều nơi trước khi được lấy về đền này vào đầu thế kỷ XX Ngọn lửa hiện đang cháy trong một cái lò bằng đồng, đặt trong căn phòng có những lớp tường

Trang 32

kính bao quanh Mọi người chụp ảnh ngọn lửa qua bức tường kính ấy Đồng thời có tục cấm chôn cất người chết mà để xác cho loài chim thú ăn thịt gọi là Thiên táng Hỏa giáo tôn thờ sự sạch sẽ của đất, nước, lửa và không khí, Vì vậy người ta không hỏa táng

để làm ô uế lửa và không khí, không thủy táng để làm ô uế nước, không địa táng để làm

ô uế đất Nhưng tục thiên táng không phù hợp với quan niệm của thời đại mới, nên từ những năm 1960 tín đồ Hỏa giáo đã phải bỏ tháp thiên táng và chấp nhận tục mai táng trong nghĩa trang ở dưới chân núi Người ta mai táng tử thi trong những ngôi mộ bêtông, hạn chế việc làm "tổn hại" cho đất

Theo ước tính, hiện nay có khoảng 250.000 và 300.000 người Hỏa giáo trên toàn thế giới Nhóm lớn nhất - khoảng 75.000 người, sống ở Ấn Độ, trong khi đó có khoảng 40.000 sống ở Iran Tại Pakistan, có khoảng 5.000 tín đồ Hỏa giáo tập trung tại Karachi, hiện nay cộng đồng này được củng cố thêm nhờ những người Hỏa giáo sang tị nạn từ Iran

* Cao Đài giáo là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX,

năm 1926 Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là đạo Trời Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút cho các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là Nền đạo lớn phổ

độ lần thứ Ba

Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và Kitô giáo Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi

Tuy được khai sinh chính thức vào năm 1926, có nguồn nói rằng đạo Cao Đài vào đêm Noel năm 1925 trong lúc tình trạng nước Việt Nam đang rất hỗn độn Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài thì có khoảng hơn 2,4 triệu tín đồ, còn theo Thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam cũng trong năm 2009 thì số người tự xem mình là tín đồ Cao Đài tại Việt Nam là 807.915 người, cũng có nguồn ghi hơn 5 triệu Về mặt tổ chức đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần

3 vạn chức việc với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận Trên toàn quốc có 35/38 tỉnh thành đạo Cao Đài hoạt động với 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 ngàn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài) Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín

đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín đồ Cao Đài là khoảng 5 triệu Hiện nay, Đạo Cao Đài là tôn giáo lớn thứ 3 tại Việt Nam

* Kitô giáo khởi nguồn ở Israel vào những năm đầu Công Nguyên Sau này Kitô

giáo bị phân rẽ ra thành ba nhánh chính: Đạo Thiên chúa (Công giáo Rôma), Đạo Chính Thống Đông phương và Đạo Tin Lành (Kháng Cách)

* Do Thái giáo khởi nguồn ở Israel khoảng năm 2000 Tr CN, là một tôn giáo gắn

liền với Kinh Thánh Do Thái và lịch sử dân tộc Israel, như đã được giải thích và nói rất

Trang 33

rõ trong sách Talmud và các sách thánh khác Do Thái giáo xem mình là mối quan hệ giao ước giữa Con cái Israel với Thiên Chúa Và như thế, nhiều người xem đây là tôn giáo thờ độc thần đầu tiên Nhiều phương diện của Do Thái giáo tuân theo các khái niệm về đạo đức và Luật Dân sự của phương Tây Do Thái giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất mà vẫn còn được thực thi cho đến ngày hôm nay, và có rất nhiều sách thánh và truyền thống của đạo này là trung tâm của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham Như vậy, lịch sử và những luân lý đạo đức của Do Thái giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến các tôn giáo khác, bao gồm cả Kitô giáo và Hồi giáo

Vì đại đa số người theo Do Thái giáo là người Do Thái nên tín đồ tôn giáo này cũng còn được gọi là người Do Thái, và gọi như thế là đang nói đến nhóm tôn giáo-dân tộc, vì các lý do trong sách thánh đã xác định họ là một quốc gia, chứ không chỉ riêng những người theo đạo Năm 2007, dân số Do Thái ước tính khoảng 13,2 triệu người, trong đó có 41% sinh sống ở Israel

Trong Do Thái giáo hiện đại, uy quyền không được trao cho một người riêng lẻ hay một cơ quan nào cả mà nó ở trong sách thánh, giáo luật, và các thầy giảng (Rabbi)

là những người diễn dịch Kinh Thánh thư Giáo luật Theo những lời truyền của người

Do Thái, Do Thái giáo khởi nguồn bằng Giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (khoảng năm 2000 Tr CN), tổ phụ và quốc tổ của nhà nước Do Thái Qua nhiều thời đại, Do Thái giáo gắn liền với rất nhiều luân lý tôn giáo, mà quan trọng nhất là đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất là đấng toàn năng, rất nhân từ, thông biết mọi sự, Người

đã tạo dựng vũ trụ và tiếp tục thống trị nó Theo tục truyền Do Thái, Thiên Chúa thiết lập giao ước với con cái Israel và hậu duệ của nó và cho chúng biết lề luật và giới răn của Người thông qua ông Moses trên Núi Sinai Do Thái giáo trân trọng việc học hỏi Cựu ước và tuân giữ các điều răn đã ghi trong Cựu ước như đã được dẫn giải chi tiết trong sách Talmud

1.2.4.2 Văn hóa

Nền văn hóa châu Á có thể được phân chia thành 6 vùng văn hóa: Bắc Á, Đông Á, Trung Á, Tây Á, Nam Á, Đông Nam Á

* Bắc Á

Đây là khu vực rộng lớn nằm ở phía bắc châu Á, chảy dàu theo chiều đông – tây

từ biển Okhot đến dãy núi Ural

- Sản xuất: du mục, chăn nuôi cừu, ngựa, lạc đà

- Văn hóa vật chất: ăn thịt, uống sữa, mặc ấm, quần áo chủ yếu bằng da thú dày, nhiều lông, ở lều di động, đốt lửa, đi lại bằng lạc đà, ngựa, dùng cung tên rất giỏi

- Văn hóa ứng xử, đạo đức: coi trọng sức mạnh quân sự, suy tôn và tuân thủ nhất luật theo thủ lĩnh

- Văn hóa tâm linh: sùng bái tự nhiên, Hồi giáo, Phật giáo du nhập từ ngoài vào và được cải biến, có ảnh hưởng đáng kể trong đời sống xã hội

Trang 34

- Văn hóa tâm linh: tục thờ cúng tổ tiên, sùng bái tự nhiên, đạo Giáo phổ biến, ngoài ra còn có Nho giáo

- Văn hóa đạo đức: trọng lễ nghĩa, tuổi tác, quan hệ cộng đồng, huyết thống, trọng chức tước, học thức

+ Quần đảo Nhật Bản

- Sản xuất: trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá

- Văn hóa vật chất: ăn cơm với cá và các loại hải sản khác, ăn đũa; mặc đồ ấm, chắc, bền; ở nhà sàn như nhiều quốc gia Đông Nam Á; đi lại bằng tàu thuyền phổ biến

- Văn hóa tâm linh: Thần giáo (Shinto) rất thịnh hành

- Văn hóa ứng xử và quy phạm đạo đức: trọng chữ tín, tính kỷ luật cao, tiết kiệm, cần cù, nhẫn nại, có ý thức rõ rệt về bổn phận và nghĩa vụ, chu đáo, tỉ mỉ, cẩn thận; vừa giữ gìn tính khép kín cộng đồng do hoàn cảnh sống biệt lập với thế giới lục địa vừa muốn tìm hiểu, học tập cái hay, cái tốt của người khác do hướng ngoại nhờ biển

+ Bán đảo Triều Tiên

- Sản xuất: trồng lúa nước, lúa mì, lúa mạch và các loại rau đậu, chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá

- Văn hóa vật chất: ăn cơm với cá và rau dưa (kim chi), thích gia vị, ăn đũa, ở nhà một tầng hình chữ L, chữ U hoặc chữ nhật, làm bằng đất sét và gỗ, mái tranh, mặc âm

- Đạo đức, lối sống: theo Đạo Khổng nên hòa hiếu, tôn trọng quan hệ thứ bậc trong cư xử, hiếu kính cha mẹ, trung thành với bạn bè

Tây Á còn được gọi là Tây Nam Á Những đặc trưng văn hóa của Tây Á:

- Sản xuất: nông nghiệp phát triển ở lưu vực các con sông lớn, chăn nuôi phát triển rộng khắp ở các vùng, thương mại phát triển kéo theo sự ra đời sớm các đô thị

- Văn hóa vật chất phục vụ đời sống: bánh làm bằng bột mì, bột ngô rất phổ biến; mặc kín (trùm đầu và mặt vừa do khí hậu khắc nghiệt vừa do những quy định của Hồi giáo); vận chuyển, đi lại bằng lạc đà là chính (phù hợp với điều kiện sa mạc vì loài vật này có sức chịu đựng dẻo dai, có khả năng chịu được nóng bức và chịu được khát), một

số nơi gần sông thì dùng thuyền

- Văn hóa ứng xử, đạo đức: trọng nam, vợ bị coi là tài sản riêng của chồng; bậc dưới tuyệt đối tuân thủ và phục tùng bậc trên; đề cao sự trung thành, thù ghét sự phản bội; trung thực, căm ghét sự lừa dối

- Văn hóa tâm linh: sùng bái tâm linh, nhất luật tin ở ý Trời; có niềm tin đến mức cuồng tín vào tôn giáo; là nơi phát sinh các tôn giáo lớn của thế giới: Kito giáo ở Palestin, Hồi giáo ở Mecca mà hiện nay vẫn còn là khu vực nóng về Hồi giáo

Trang 35

* Nam Á

Nam Á nằm ở phía Nam dãy Himalaya, được ngăn cách bởi biển Ả Rập ở phía tây, vịnh Belgan ở phía đông và Ấn Độ Dương ở phía nam Những đặc trưng văn hóa chủ yếu của Nam Á:

- Sản xuất: trồng lúa nước là chủ đạo, ngoài ra còn trồng lúa khô và phát triển kinh

tế du mục, thủy lợi giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp

- Văn hóa vật chất: thức ăn chính là cơm song nhiều vùng thiếu lương thực, ăn bốc nhiều vùng

- Đi lại: nhờ sông Ấn và sông Hằng cùng các nhánh dày đặc của nó mà thuyền bè

Ấn Độ đã đi lại, buôn bán với nhiều nước trên thế giới

- Văn hóa ứng xử, đạo đức: chế độ đẳng cấp nặng nề, trọng sự phục tùng, cam chịu

- Văn hóa tâm linh: quê hương của Phật giáo, Ấn giáo

* Đông Nam Á

Khu vực văn hóa Đông Nam Á có giới hạn về phía tây đến bang Assam (Ấn Độ),

về phía bắc lên đến phía nam bờ Dương Tử, về phía đông đến quần đảo Philippines và

về phía nam đến các đảo cực nam của Indonesia Do ở cạnh hai nền văn hóa – văn minh lớn của nhân loại là văn hóa – văn minh Trung Hoa và Ấn Độ nên Đông Nam Á đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa từ hai nền văn hóa – văn minh này Những đặc điểm văn hóa tiêu biểu của Đông Nam Á:

- Sản xuất: trồng lúa nước, đánh bắt cá, trồng một số cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, )

- Văn hóa vật chất: ăn cơm với rau, cá, sản phẩm đồng quê như cua, ốc, hến, các loại gia vị, hương liệu, thức ăn tươi sống, nhiều vùng ăn bốc; mặc thoáng, mát; ở nhà sàn; đi lại bằng thuyền

- Văn hóa tâm linh: sùng bái tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, Hồi giáo, Phật giáo, Ấn giáo, Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều người

- Đạo đức, lối sống: Văn hóa nông nghiệp nên trọng tình hơn lý, trọng quan hệ thân tộc quan hệ cộng đồng, trọng tuổi tác, kinh nghiệm Chế độ mẫu hệ ra đời sớm và tồn tại lâu dài

1.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Kinh tế châu Á là nền kinh tế của hơn 4 tỷ người (chiếm 60% dân số thế giới) sống ở 51 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau

Như tất cả các vùng miền khác trên thế giới, sự thịnh vượng của kinh tế châu Á có

sự khác nhau rất lớn giữa các nước và ở cả ở trong một nước Điều đó là do quy mô của

nó rất lớn, từ văn hóa, môi trường, lịch sử đến hệ thống chính quyền

Kinh tế có quy mô khác nhau, từ Trung Hoa với nền kinh tế đứng thứ hai thế giới tính theo GDP danh nghĩa (2012) do Quỹ tiền tệ Quốc tế - IMF công bố, tới Bhutan, Maldives là những nước nghèo nhất Trong những thập niên gần đây thì kinh tế Trung Hoa và Ấn Độ đã phát triển nhanh chóng, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 6% Trung Hoa trở thành nền kinh tế lớn nhất châu Á Những nền kinh tế lớn nhất trong châu Á tính theo GDP danh nghĩa là Trung Hoa (8.221.015 triệu USD) – xếp thứ nhì thế giới, Nhật Bản (5.960.269 triệu USD) – xếp thứ 3 thế giới sau Hoa Kỳ, Trung Hoa; Ấn Độ (1.841.717 triệu USD) – xếp thứ 12 thế giới, Hàn Quốc (1.129.598 triệu USD) – xếp thứ 15 thế giới Hàn Quốc cũng là một nước có nền kinh tế lớn Hàn Quốc được hy vọng sẽ trở thành nền kinh tế lớn hơn Pháp vào năm 2020

Hiện nay, ở châu Á đã hình thành các khối kinh tế quan trọng:

- Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Trang 36

Châu Á – Thái Bình Dương (gọi tắt: APAC) là một khu vực trên Trái Đất nằm gần hoặc nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, bao gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đông

Á, Đông Nam Á, Australasia và châu Đại Dương Đôi khi thuật ngữ này còn được sử dụng để chỉ những quốc gia vùng Nam Á, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ dù các nước này nằm xa hoặc gần như không có liên hệ đến vùng Thái Bình Dương

Bất chấp tính xác thực của thuật, nó vẫn được sử dụng phổ biến từ cuối thập niên

1980 trong giao thương với thị trường tư bản, và các loại hình hợp tác kinh tế chính trị khác

Trong một số trường hợp, khu vực này mở rộng ra phần lớn châu Á, các nước nằm trong vành đai Thái Bình Dương kéo dài từ châu Đại Dương đến Nga, vòng xuống phía tây châu Mỹ Ví dụ như: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm các quốc gia Canada, Chile, Nga, Mexico, Peru và Hoa Kỳ

- Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)

- Thỏa thuận cộng tác kinh tế gần (CEPA)

- Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS/СНГ)

- Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC)

- Hiệp định Thương mại Tự do Nam Á (SAFTA) (dự thảo)

1.2.5.1 Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp ở châu Á rất đa dạng, nhưng phát triển không đồng đều Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản phát triển dựa vào sự giàu có về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và sắt, đặc biệt là ở khu vực Tây Á, khai thác dầu mỏ là thu nhập chính của nhiều quốc gia

Công nghiệp luyện kim, cơ khí chế tạo máy (máy công cụ, phương tiện giao thông vận tải), điện tử phát triển ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung Hoa, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore Các ngành nghề công nghiệp đa dạng từ sản xuất các mặt hàng đơn giản như đồ chơi đến các mặt hàng công nghệ cao như máy tính

và ô tô Nhiều công ty ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền

Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (may mặc, dệt, chế biến thực phẩm) phát triển ở hầu hết các nước Tuy nhiên, phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Hoa và khu vực Đông Nam Á

Về chăn nuôi, các sản phẩm nông nghiệp quan trọng là trâu, bò, lợn, gà, vịt, ở các vùng khí hậu ẩm ướt và de, bò, ngựa, cừu, ở vùng khí hậu khô khan, tuần lộc ở vùng khí hậu lạnh (Bắc Á)

Lâm nghiệp cũng phát triển rộng khắp châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật

Bản

1.2.5.3 Dịch vụ

Các hoạt động dịch vụ của châu Á nhìn chung khá phát triển, đa dạng về loại hình như: giao thông vận tải, tài chính - thương mại, viễn thông, du lịch,

Trang 37

Về tài chính, châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn: Hồng Kông, Singapore và Tokyo Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Hoa là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh tốt

Du lịch phát triển ở nhiều khu vực khác nhau dựa vào những đặc trưng về điều kiện tự nhiên và yếu tố văn hóa Các nước phát triển mạnh về du lịch ở châu Á là: Trung Hoa, Thái Lan, Việt Nam,

1.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU Á

1.3.1 BẮC Á

1.3.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Về vị trí địa lý, Bắc Á là bộ phận phía Bắc châu Á, phía bắc giáp Bắc Băng Dương, phía nam giáp các ngọn đồi miền bắc Kazakhstan và có biên giới với Mông Cổ

và Trung Hoa Với diện tích 13,1 triệu km², Bắc Á chiếm khoảng 77% lãnh thổ Nga, bao gồm đồng bằng Tây Siberia, sơn nguyên Trung Siberia, miền núi Đông và Nam Siberia Như vậy lãnh thổ Bắc Á gần trùng hoàn toàn với miền Siberia rộng lớn của Nga

Về địa hình, Bắc Á có ba khu vực chính:

- Đồng bằng Tây Siberia bao gồm phần lớn đất trầm tích từ đại Kainozoi và rất

thấp, nếu mực nước biển dâng 50m sẽ làm toàn bộ dùng đất giữa Bắc Băng Dương và Novosibirsk (thành phố ở giữa nước Nga, chếch về phía nam) ngập trong nước và băng tuyết Rất nhiều vùng đất thấp này hình thành bởi các mảng băng tuyết, duy trì dòng chảy của sông Ob và sông Yenisei ra biển Caspi và biển Aral Vùng này chủ yếu là đầm lầy, những vùng có đất cứng là đất mùn và ở phía bắc là vùng đất lạnh quanh năm không có cây Ở phía nam, nơi nhiệt độ cao hơn, đồng cỏ tươi tốt là phần mở rộng của Bình nguyên Kazakh

- Sơn nguyên Trung Siberia là nền đất ổn định đã là lục địa từ kỷ Permi Vùng

đất này rất dồi dào khoáng sản, gồm vàng, kim cương, quặng măng-gan, chì, thiếc, nikel, coban và molipden Phần khá lớn của vùng đất này chứa nhiều đá mắc-ma của vụ phun trào núi lửa cuối kỷ Permi, vụ phun trào lớn nhất của lịch sử Trái Đất

Khí hậu Bắc Á khác biệt rất lớn vào các thời điểm trong năm Ở bờ biển phía bắc,giáp Bắc Băng Dương, trên vòng cực bắc, mùa hạ rất ngắn, chỉ một tháng Khí hậu vùng này là khí hậu lục địa cận cực, mùa đông dài, nhiệt độ trung bình trong năm là

0oC, tháng 1 khoảng – 15ºC, tháng 7 là 20º C Với khí hậu ổn định, mùa hạ nhiều nắng

và đất đai khá màu mỡ, phía nam Bắc Á có thể được sử dụng với mục đích nông nghiệp

Những cơn gió ấm từ Trung Á và Trung Đông thổi đến nam Bắc Á, làm vùng Tây Siberia (như Omsk, Novosibirsk) ấm hơn vùng phía đông (Irkutsk, Chita) Tuy nhiên, Bắc Á được xem là địa điểm có nhiệt độ thấp thứ nhì thế giới, chỉ kém châu Nam Cực Với nhiệt độ kỷ lục ghi được -71ºC, thị trấn Oymyakon là thị trấn lạnh nhất trên thế giới Cả thành phố Yakutsk, là trung tâm kinh tế quan trọng ở Bắc Á, vào mùa đông nhiệt độ ở đây từng xuống kỉ lục tới – 64ºC, sông Lena chảy qua thành phố này cũng bị đóng băng Thành phố Novosibirsk vào mùa đông nhiệt độ cũng là – 51ºC Tuy vậy, nhiệt độ mùa hạ ở một số nơi ở Bắc Á rất nóng và nắng nhiều, lên đến 36 – 38ºC Nhìn chung, các địa điểm ở Bắc Á đều có khí hậu thất thường, có lúc rất nóng và có lúc rất lạnh do nằm sâu trong nội địa hay trên cao nguyên, có thời điểm nhiệt độ mùa hạ và mùa đông tại Bắc Á chênh lệch tới hơn 100ºC Bắc Á lạnh nhất vào tháng 1 và nóng nhất vào tháng 7 Sakha (đông bắc Bắc Á) là vùng lạnh nhất ở đây và lưu vực sông Yana có nhiệt độ thấp nhất Tuy vậy, nước Nga không có kế hoạch đưa người sống ở

Trang 38

đây, do đó, khí hậu khắc nghiệt của vùng đất này chưa từng bị coi là một vấn đề nghiêm trọng Phía nam Bắc Á ở gần khu vực không khí áp suất cao, nhờ đó mà vào mùa đông, gió không mạnh

Mặc dù là khu vực lạnh, tuyết ở đây rất ít, đặc biệt là vùng phía đông Lượng mưa ở Bắc Á nhìn chung là thấp, chỉ có vùng bán đảo Kamchatka có lượng mưa hơn 500mm nhờ gió ẩm biển Okhotsk thổi vào gặp núi cao Vùng cực nam của bán đảo chịu ảnh hưởng gió mùa nên có mưa lớn vào mùa hạ

Về khoáng sản, Bắc Á là vùng rất giàu tài nguyên khoáng sản, bao gồm gần như tất cả các loại kim loại có giá trị Một số mỏ ở đây có trữ lượng vào hàng lớn nhất thế giới như nikel, vàng, chì, molypden, kim cương, bạc, và thiếc Bên cạnh đó là nguồn dầu mỏ và khí tự nhiên khổng lồ Phần lớn những tài nguyên này phân bổ ở vùng xa xôi, lạnh lẽo, điều kiện sinh sống và đi lại khắc nghiệt

Về sinh vật, do vị trí nằm trên các vĩ độ cao và chịu ảnh hưởng trực tiếp của Bắc Băng Dương, khí hậu Bắc Á thuộc loại khí hậu lạnh mang tính chất lục địa gay gắt đã tác động tới các đới cảnh quan tự nhiên Bắc Á là nơi phổ biến các cảnh quan vùng khí hậu lạnh với rừng lá kim ỏ phía nam, rêu, địa lý ở phía bắc Bắc Á là nơi cư ngụ của nhiều động vật quý hiếm như hổ Siberia, gấu nâu, tuần lộc, gấu Bắc Cực, hải tượng, cá voi xanh,

1.3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Khu vực Bắc Á gồm một quốc gia duy nhất: Nga, là khu vực thuộc phía đông dãy núi Ural bao gồm phần lớn lãnh thổ của Liên bang Soviet cũ

Về dân số, Bắc Á chỉ có khoảng 31,9 triệu người (2012), chiếm 0,7% dân số châu Á Mật độ dân cư ở vùng đất này rất thấp 3 người/km², chủ yếu là người Nga và các sắc dân gốc Slavic, họ bắt đầu đến ở đây từ 400 năm trước Phần lớn cư dân sống ở phía nam, dọc theo tuyến đường sắt xuyên Bắc Á Các dân tộc có nguồn gốc Mông Cổ

và Đột Quyết như Buryat, Tuva và Yakut đã sống ở đây từ rất lâu Các nhóm người thiểu số khác là Ket, Evenk, Chukchi, Koryak và Yukaghir

Tuy nhiên, kể từ năm 2012, khi Tổng thống Nga Putin thành lập Bộ phát triển Viễn Đông Nga và khuyến khích sinh sản, tỉ lệ sinh ở Bắc Á đã tăng đáng kể Theo nhiều chuyên gia, đến năm 2020, số dân ở Bắc Á sẽ tăng 45%

Khoảng 70% dân số là ở các thành phố Phần lớn thị dân sống trong các căn hộ

Ở ngoài đô thị, người dân ở trong những nhà gỗ, lớn và giản dị Novosibirsk là thành phố đông dân nhất của Bắc Á (thứ ba ở Nga sau Moskva và Sankt-Peterburg) với 1,5 triệu người Tobolsk, Tomsk, Irkutsk, Yakutsk và Omsk là các trung tâm cổ kính hơn Những khu vực nằm gần Bắc Cực như thị trấn Oymyakon do nằm ở vĩ độ cao, khí hậu rất lạnh nên dân số thưa thớt hơn

Nông nghiệp bị hạn chế nhiều bởi mùa hạ ngắn ngủi Song, phía tây nam với khí hậu ôn hòa và đất đen màu mỡ, có các cây lương thực như lúa mì, lúa mạch, lúa mạch đen và khoai tây cùng đồng cỏ cho cừu và gia súc Ở những nơi đất cằn cỗi và mùa hạ ngắn ngủi, thức ăn có được từ chăn thả tuần lộc – một hình thức kiếm ăn được người dân ở đây duy trì từ hơn 10 nghìn năm trước Bắc Á có những khu rừng rộng nhất trên thế giới, gỗ mang lại nguồn thu quan trọng Biển Okhotsk là một trong những biển nhiều cá nhất thế giới nhờ luồng nước lạnh và thủy triều trải rộng Bắc Á cung cấp khoảng 10% lượng cá đánh bắt toàn cầu, sản lượng có giảm sút từ khi Liên bang Soviet sụp đổ

Công nghiệp của vùng đã từng được chú trọng phát triển mạnh mẽ trong Thế chiến thứ hai Những nhà máy quy mô lớn được xây dựng ở phía tây Bắc Á và một số ở

Trang 39

quanh hồ Baikal, tuy vậy bước phát triển đã dừng lại kể từ khi không còn nhà nước Soviet

1.3.2 TRUNG Á

1.3.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên

Trung Á là một vùng của châu Á không tiếp giáp với đại dương Có nhiều định nghĩa về Trung Á, nhưng không có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi Các tính chất chung của vùng đất này có thể kể ra như: vùng này trong lịch sử có Con đường Tơ lụa và có những người dân du mục, từng là điểm trung chuyển hàng hóa giữa Đông Á, Nam Á, Trung Đông và châu Âu

Do vị trí sâu trong nội địa, xa các đại dương và bị các hệ thống núi bao bọc xung quanh nên khí hậu ở đây mang tính lục địa gay gắt Về mùa đông, thời tiết khô và lạnh, nhiệt độ trung bình tháng 1 đều dưới 0 °C, còn mùa hạ khô và nóng, nhiệt độ trung bình tháng 7 đều từ 25° trở lên Lượng mưa hằng năm rất ít, không nơi nào vượt quá 300mm Mưa ít nhưng khả năng bốc hơi lại rất lớn nên có sự thiếu ẩm gay gắt Do thiếu

ẩm, phần lớn lãnh thổ Trung Á có cảnh quan hoang mạc và bán hoang mạc, ở đây có những hoang mạc cát nổi tiếng như Kara Kum, Kyzyl Kum, Taklamakan Các cảnh quan hoang mạc không những phát triển trên đồng bằng mà còn lên các sườn núi cao tới 900m ở Thiên Sơn, đến 4.100-4.200m ở Pamir và Antai

Trung Á là xứ sở của các hiện tượng tự nhiên tương phản nhau rất độc đáo Ở đây, bên cạnh các hệ thống núi và sơn nguyên cao như Pamir, Thiên Sơn, Thanh Tạng còn

có các đồng bằng và bồn địa thấp Trên các đỉnh núi cao, quanh năm tuyết bao phủ, trong khi đó các vùng đồng bằng và bồn địa xung quanh lại là vùng khô hạn và có mùa

hạ nóng nực Giữa các đồng bằng và bồn địa khô hạn lại có các sông và hồ lớn Dọc theo các thung lũng sông và ven các hồ đất đai nhìn chung tốt, cây cối xanh tươi, dân cư đông đúc, đối lập với ngoại vi của nó

Trung Á tuy điều kiện khí hậu, nước, đất đai không thuận lợi cho sản xuất và đời sống nhưng lại có một số tài nguyên thiên nhiên khá phong phú Về khoáng sản, trên các đồng bằng, sơn nguyên và bồn địa tập trung nhiều kim loại như đồng, chì, kẽm, thiếc, dầu mỏ và khí đốt Ngoài ra còn có sắt, thủy ngân và các kim loại hiếm

1.3.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trung Á là khu vực bao gồm 5 quốc gia: Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan

Về dân số, Trung Á có khoảng 65,5 triệu người (2012), chiếm 1,5% số dân châu

Á Vùng Trung Á dân cư thưa thớt, mật độ dân số chỉ vào khoảng 9 người/km2, thấp hơn rất nhiều so với mật độ trung bình của châu Á là 80,5 người/km2

Về ngôn ngữ, phần lớn cư dân tại các nước Cộng hòa Trung Á Soviet cũ thuộc hệ ngôn ngữ Altai:

- Tiếng Mông Cổ (thuộc nhóm ngôn ngữ Mông Cổ) được nói khắp các vùng Mông

Cổ, Thanh Hải và Tân Cương

- Tiếng Turkmen (thuộc nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ) được nói chủ yếu ở

Turkmenistan, Afghanistan, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ

- Tiếng Kazakh, Kyrgyz và Tatar (thuộc nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ) được sử

dụng tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan cũng như Afghanistan, Tân Cương và Thanh Hải

- Tiếng Uzbek và Duy Ngô Nhĩ - Uighur (thuộc nhóm ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ) được

nói tại Uzbekistan, Tajikistan và Tân Cương

Ngoài ra, còn có tiếng Nga (thuộc hệ ngôn ngữ Ấn – Âu) là ngôn ngữ của người Nga sống tại các nước Cộng hòa Trung Á Soviet cũ; tiếng Ba Tư (thuộc hệ ngôn ngữ

Ngày đăng: 08/11/2017, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN