Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở phần phía bắc đảo Anh, tây Scandinavia, Svalbard, đông Greenland, các phần thuộc phía bắc khu vực trung tâm châu Âu, bắc và đông châu Á, phía đông
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 2
1.1 VỊ TRÍ CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC 2
1.1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC 2
1.1.1.1 Thời Cổ đại (trước thế kỷ V) 2
1.1.1.2 Thời Trung đại (thế kỷ V – XV) 2
1.1.1.3 Giai đoạn thế kỷ XV – XVII 3
1.1.1.4 Thời hiện đại 4
1.1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC 4
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.1.2.2 Nhiệm vụ của địa lý khu vực 4
1.1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5
1.1.3.1 Phương pháp luận phổ biến 5
1.1.3.2 Phương pháp luận cụ thể 5
1.1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG ĐỊA LÝ KHU VỰC 5
1.1.4.1 Phương pháp khảo sát thực địa 5
1.1.4.2 Phương pháp địa vật lý 5
1.1.4.3 Phương pháp địa hóa học 6
1.1.4.4 Phương pháp toán học 6
1.1.4.5 Phương pháp cổ địa lý 6
1.1.4.6 Phương pháp bản đồ 6
1.1.4.7 Phương pháp không ảnh – viễn thám 6
1.1.4.8 Phương pháp phân tích hệ thống 6
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHÂU LỤC TRÊN THẾ GIỚI 7
1.2.1 SỰ HÌNH THÀNH CÁC CHÂU LỤC 7
1.2.1.1 Các thuật ngữ liên quan 7
1.2.1.2 Sự thay đổi các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất 7
1.2.1.3 Các chu kỳ tạo núi chính 9
1.2.2 SỰ PHÂN CHIA VÀ PHÂN BỐ CÁC CHÂU LỤC 10
1.2.2.1 Sự phân chia các châu lục 10
1.2.2.2 Sự phân bố các châu lục 11
1.2.3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 11
1.2.3.1 Các châu lục đều là những tổng thể tự nhiên và là bộ phận của lớp vỏ địa lý 11
1.2.3.2 Tác động của kinh tế đến tự nhiên 12
1.2.4 VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC 13
1.2.4.1 Dân cư các châu lục phát triển nhanh và phân bố không đều 13
1.2.4.2 Dân cư các châu lục thuộc bốn đại chủng: Mongoloid, Europeaid, Negroid và Australoid 13
1.2.5 BIẾN ĐỘNG VỀ CHÍNH TRỊ VÀ XUNG ĐỘT DÂN TỘC – TÔN GIÁO 14
Trang 31.2.5.1 Bản đồ chính trị các châu lục đã có những biến đổi lớn từ sau chiến
tranh thế giới II 14
1.2.5.2 Vấn đề xung đột dân tộc, tôn giáo 14
1.2.6 LIÊN KẾT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 15
1.2.6.1 Xu hướng liên kết 15
1.2.6.2 Các tổ chức tiêu biểu 16
CHƯƠNG 2 ĐỊA LÝ CHÂU ÂU 20
2.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU ÂU 20
2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 20
2.1.1.1 Vị trí địa lý 20
2.1.1.2 Biển và bờ biển 20
2.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN 22
2.1.2.1 Địa chất 22
2.1.2.2 Khoáng sản 23
2.1.3 ĐỊA HÌNH 24
2.1.3.1 Đồng bằng Âu 24
2.1.3.2 Các miền núi già 24
2.1.3.3 Hệ thống núi trẻ 24
2.1.4 KHÍ HẬU 25
2.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu 25
2.1.4.2 Đặc điểm khí hậu 26
2.1.4.3 Các vành đai khí hậu 27
2.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ 28
2.1.5.1 Sông ngòi 28
2.1.5.2 Hồ 29
2.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT 30
2.1.6.1 Giới thiệu khái quát 30
2.1.6.2 Các vành đai sinh vật 31
2.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI CHÂU ÂU 33
2.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ 33
2.2.1.1 Tình hình chính trị châu Âu 33
2.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Âu 34
2.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Âu 34
2.2.2 DÂN SỐ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ 34
2.2.2.1 Đặc điểm dân số 34
2.2.2.2 Sự phân bố dân cư 34
2.2.3 THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC VÀ NGÔN NGỮ 35
2.2.3.1 Thành phần chủng tộc 35
2.2.3.2 Ngôn ngữ 35
2.2.4 TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA 37
2.2.4.1 Tôn giáo 37
2.2.4.2 Văn hóa 37
2.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 39
2.2.5.1 Nông nghiệp 40
2.2.5.2 Công nghiệp 41
2.2.5.3 Dịch vụ 41
Trang 42.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU ÂU 42
2.3.1 BẮC ÂU 42
2.3.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 42
2.3.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 43
2.3.2 TÂY VÀ TRUNG ÂU 43
2.3.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 43
2.3.2.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 45
2.3.3 ĐÔNG ÂU 46
2.3.3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 46
2.3.3.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 46
2.3.4 NAM ÂU 47
2.3.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 47
2.3.4.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 48
CHƯƠNG 3 ĐỊA LÝ CHÂU PHI 49
3.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU PHI 49
3.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 49
3.1.1.1 Vị trí địa lý 49
3.1.1.2 Biển và bờ biển 49
3.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN 50
3.1.2.1 Địa chất 50
3.1.2.2 Khoáng sản 51
3.1.3 ĐỊA HÌNH 52
3.1.3.1 Miền địa hình thấp phía tây bắc 52
3.1.3.1 Miền địa hình cao phía đông nam 52
3.1.4 KHÍ HẬU 53
3.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu 53
3.1.4.2 Đặc điểm khí hậu 53
3.1.4.3 Các vành đai khí hậu 55
3.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ 56
3.1.5.1 Sông ngòi 56
3.1.5.2 Hồ 57
3.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT 58
3.1.6.1 Giới thiệu khái quát 58
3.1.6.2 Các vành đai sinh vật 59
3.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI CHÂU PHI 60
3.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ 60
3.2.1.1 Tình hình chính trị châu Phi 60
3.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Phi 61
3.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Phi 62
3.2.2 DÂN CƯ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ 62
3.2.2.1 Đặc điểm dân cư 62
3.2.2.2 Sự phân bố dân cư 62
3.2.3 THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC VÀ NGÔN NGỮ 63
3.2.3.1 Thành phần chủng tộc 63
3.2.3.2 Ngôn ngữ 64
3.2.4 TÔN GIÁO – TÍN NGƯỠNG VÀ VĂN HÓA 65
Trang 53.2.4.1 Tôn giáo và tín ngưỡng 65
3.2.4.2 Văn hóa 67
3.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 69
3.2.5.1 Nông nghiệp 70
3.2.5.2 Công nghiệp 72
3.2.5.3 Dịch vụ 72
3.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU PHI 72
3.3.1 BẮC PHI 72
3.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 72
3.3.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 74
3.3.2 ĐÔNG PHI 75
3.3.2.1 Đặc điểm tự nhiên 75
3.3.2.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 76
3.3.3 TÂY VÀ TRUNG PHI 77
3.3.3.1 Đặc điểm tự nhiên 77
3.3.3.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 77
3.3.4 NAM PHI 79
3.3.4.1 Đặc điểm tự nhiên 79
3.3.4.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 79
CHƯƠNG 4 ĐỊA LÝ CHÂU MỸ 81
4.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU MỸ 81
4.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN 81
4.1.1.1 Vị trí địa lý 81
4.1.1.2 Biển và bờ biển 81
4.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN 84
4.1.2.1 Địa chất 84
4.1.2.2 Khoáng sản 85
4.1.3 ĐỊA HÌNH 86
4.1.3.1 Hệ thống núi trẻ phía tây 86
4.1.3.2 Các núi thấp phía đông 87
4.1.3.3 Các cao nguyên và đồng bằng ở giữa 87
4.1.4 KHÍ HẬU 88
4.1.4.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 88
2.1.4.2 Đặc điểm khí hậu 89
4.1.4.3 Các vành đai khí hậu 91
4.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ 93
4.1.5.1 Sông ngòi 93
1.1.5.2 Hồ 95
4.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT 96
4.1.6.1 Giới thiệu khái quát 96
4.1.6.2 Các vành đai sinh vật 97
4.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI CHÂU MỸ 99
4.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ 99
4.2.1.1 Tình hình chính trị châu Mỹ 99
4.2.1.2 Các quốc gia độc lập của châu Mỹ 100
4.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc của châu Mỹ 100
Trang 64.2.2 DÂN CƯ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ 100
4.2.2.1 Đặc điểm dân cư 100
4.2.2.2 Sự phân bố dân cư 101
4.2.3 THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC VÀ NGÔN NGỮ 101
4.2.3.1 Thành phần chủng tộc 101
4.2.3.2 Ngôn ngữ 102
4.2.4 TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA 103
4.2.4.1 Tôn giáo 103
4.2.4.2 Văn hóa 104
4.2.5 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 107
4.2.5.1 Nông nghiệp 107
4.2.5.2 Công nghiệp 109
4.2.5.3 Dịch vụ 109
4.3 ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC CHÂU MỸ 110
4.3.1 BẮC MỸ 110
4.3.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 110
4.3.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 110
4.3.2 TRUNG MỸ VÀ CARIBE 111
4.3.2.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 111
4.3.2.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 112
4.3.3 TÂY NAM MỸ 113
4.3.3.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 113
4.3.3.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 113
4.3.4 ĐÔNG NAM MỸ 114
4.3.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 114
4.3.4.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 116
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng “Địa lý các châu 1” được biên soạn dựa trên cơ sở những giáo
trình có liên quan của các trường bạn và tài liệu tác giả thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau
Bài giảng giới thiệu về các vấn đề chung liên quan đến địa lý khu vực bao gồm: lịch sử hình thành và phát triển, nhiệm vụ của địa lý khu vực, các phương pháp nghiên cứu địa lý khu vực Bên cạnh đó, học phần còn cắt nghĩa các thuật ngữ thường được sử dụng trong địa lý khu vực và khái quát chung về các châu lục trên thế giới Sau đó, học phần đi vào nghiên cứu các vấn đề địa lý cụ thể của từng khu vực cụ thể: châu Âu, châu Phi và châu Mỹ, trong đó nhấn mạnh đến các đặc thù về tự nhiên và kinh tế - xã hội ở mỗi khu vực cho sinh viên ngành Sư phạm Địa lý được đào tạo tại Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Quảng Bình
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để nội dung bài giảng đáp ứng được yêu cầu của chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, song chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, cùng sự góp ý của các bạn sinh viên khi sử dụng bài giảng này Trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Địa lý – Việt Nam học – Công tác xã hội, Trường Đại học Quảng Bình đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích
NGƯỜI BIÊN SOẠN
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 VỊ TRÍ CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC
1.1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC
1.1.1.1 Thời Cổ đại (trước thế kỷ V)
Kiến thức được truyền miệng là chính cho tới thế kỷ V Tr CN Các lò văn minh Trung Hoa, India, ven Địa Trung Hải (đến thế kỷ V): các đặc tính riêng lẻ của một vài yếu tố trong không gian được thu thập sau nhưng chuyến đi dài ven biển hay trên đất liền
Những nghiên cứu về hình dạng và kích thước Trái Đất đã được thực hiện Aristotel (thế kỷ IV Tr CN) đã đưa ra các bằng chứng về dạng cầu của Trái Đất dựa vào các hiện tượng: bóng Trái Đất khi nguyệt thực, bầu trời sao thay đổi khi đi theo hướng bắc – nam, chân trời mở rộng khi người quan sát đứng càng cao, con tàu càng đi
xa, ống khói càng thấp dần Erastothen (thế kỷ III – IV Tr CN) đã đo được chu vi Trái Đất là 39.500km (chính xác nhất cho đến TK VIII) và đưa ra được khái niệm Địa lý học cho môn học nghiên cứu Trái Đất Ptoleme (thế kỷ II) đã tìm ra hệ thống địa tâm biểu diễn vũ trụ và Trái Đất và thành lập bản đồ thế giới đầu tiên
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về một khu vực cụ thể cũng đã được hình thành Herodote (thế kỷ V Tr CN) đã mô tả các vùng đất và biển khu vực biển Đen, tiểu Á, Lưỡng Hà, Ai Cập, ven Địa Trung Hải Straborn (thế kỷ I Tr CN – I) đã xuất bản hai bộ sách Tự nhiên đại cương và 15 bộ tự nhiên khu vực Ngoài ra, còn có nhiều nhà khoa học khác cũng đã tích luỹ tài liệu về địa lý đai cương và địa lý khu vực xung quanh các
lò văn minh và nhận thực được mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hướng nghiên cứu trên Như vậy, ngay trong thời cổ đại các nghiên cứu về địa lý khu vực đã xuất hiện Địa lý khu vực được nghiên cứu trong mối tương quan chặt chẽ với địa lý đai cương Tuy nhiên, trong thời kỳ này, việc nghiên cứu địa lý khu vực chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, chủ yếu là các dạng ghi chép ở những khu vực lân cận chứ chưa được nghiên cứu một cách quy mô, trên một diện rộng
1.1.1.2 Thời Trung đại (thế kỷ V – XV)
Sự phát triển của khoa học nói chung và địa lý học nói riêng bị các quan niệm tôn giáo cổ hủ kìm hãm Nhiều thành tựu trước đây bị phủ nhận Trái Đất được cho là phẳng dạng đĩa, bản đồ định hướng về phương đông, bầu trời thuỷ tinh, thời tiết do các
Mỹ Gia đình Marco Polo đến Trung Hoa, Mông Cổ bằng đường bộ sau đó đi vòng quanh Nam Á và Tiểu Á bằng đường biển để lại nhiều tài liệu quý giá
Nhưng về sau, uy tín của nhà thờ bị giảm sút, quan hệ buôn bán được mở rộng, tiền tệ xuất hiện, các cuộc săn lùng hàng hoá và thị trường ngày một ráo riết Đế quốc Thổ xuất hiện ở Tiểu Á cắt đứt con đường thuỷ bộ sang phương đông Nhu cầu có con đường buôn bán mới thúc đẩy sự phát triển của địa lý học Quá trình thăm dò thám hiểm này vô tình tìm ra nhiều kết luận và quy luật địa lý mới
Các công cuộc phát kiến chính ra đời mà khởi đầu là cuộc phát kiến của Cristoforo Colombo và cuộc hành trình sang châu Mỹ năm 1492 – 1502 Sau đó là của
Trang 9người Bồ Đào Nha sang Ấn Độ bằng cách vòng quanh châu Phi và từ Ấn Độ đến Indonesia, ngược lên Trung Hoa và Nhật Bản sang Brasil; của người Tây Ban Nha vượt
eo đất Panama sang Thái Bình Dương, dọc theo bờ đông châu Mỹ để đi xuống Nam Mỹ; cuộc thám hiểm vòng quanh Trái Đất của Magellan đã phát hiện ra rằng: đại dương nối liền nhau đồng thời tìm ra các miền đất mới ở phương nam (châu Đại Dương) Ngoài ra, còn có nhiều cuộc phát kiến của người Hà Lan, Pháp, Anh và Nga Trong khi
đó tại Việt Nam, Nguyễn Trãi biên soạn Dư địa chí (1435), ghi chép sơ lược về địa lý hành chính và tự nhiên của Việt Nam qua các giai đoạn
Như vậy, trong giai đoạn này đã có những tiến bộ vượt bậc Việc khảo sát địa lý khu vực đã thoát ra khỏi những không gian chật hẹp, bắt đầu đã có những nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, địa lý khu vực trong giai đoạn này vẫn chưa được nghiên cứu với một cách quy mô và phương pháp hoàn chỉnh
1.1.1.3 Giai đoạn thế kỷ XV – XVII
Điều kiện hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, cách mạng khoa học kỹ thuật và nhiều thành tựu trong công nghệ ra đời đã làm cho nhu cầu thị trường, nguồn nguyên liệu, nhân công ngày càng cao Các cuộc thám hiểm đòi hỏi quy mô, nguồn tài trợ lớn Sự ra đời của các hiệp hội, các cơ quan chức năng ở nhiều nước
Giáo lý của nhà thờ dần bị phủ định Thuyết tiến hoá (Darwin), các định luật Newton và giả thuyết về nguồn gốc của Trái Đất (Kant–Laplace) ra đời
Địa lý học bước đầu có sự phân dị: các ngành khí hậu, thủy văn, địa mạo, thổ nhưỡng, địa lý kinh tế – xã hội ra đời Địa lý khu vực cũng có nhiều chuyển biến, hình thành nên các hướng nghiên cứu chính:
* Nghiên cứu các đại dương
J Cook đi vòng quanh Trái Đất ba lần, tìm ra châu Đại Dương, một số đảo Nam Cực Belinhauxen, Lazarev tìm ra châu Nam Cực (1820) Hoạ đồ ranh giới biển, đại dương, đảo, quần đảo chính được xây dựng Đặc tính đáy biển một số khu vực được nghiên cứu
* Nghiên cứu các châu lục
Châu Phi, châu Mỹ được quan tâm đặc biệt do giàu tài nguyên Trong đó: Alexander von Humboldt đã thực hiện cuộc thám hiểm đến Nam Mỹ và Trung Mỹ (1799 – 1804).Ông là người đầu tiên tìm hiểu và mô tả vùng đất “mới” này theo quan điểm khoa học thực sự Ông cũng là một trong những người đầu tiên đề ra giả thuyết cho rằng hai bờ Đại Tây Dương (ở phía Mỹ Latinh và phía Châu Phi) đã từng gắn liền với nhau Đến 1829, Humboldt lại tiếp tục thực hiện chuyến thám hiểm tại vùng nội địa nước Nga (Ural, Altai) Về cuối đời, von Humboldt đã cho xuất bản bộ sách 5 tập Kosmos trong nỗ lực thống nhất các nhánh kiến thức khác nhau của Trái Đất
David Livingstone đã thực hiện cuộc thám hiểm đến Nam và Trung Phi, tiến sâu vào nội địa châu Phi và hành trình nối hai bờ biển của châu lục, khởi hành từ Luanda tại cửa sông Zambezi và kết thúc ở bờ biển phía đông (1852 – 1856), mở đường cho người Anh xâm nhập vào châu Phi G.Stanley đã thực hiện việc thám hiểm đến khu vực xích đạo châu Phi
Nhiều hội địa lý lớn ra đời, tài trợ cho các cuộc thám hiểm trung tâm các lục địa lớn (Siberia)
* Nghiên cứu các xứ ở cực
Đoàn Nordensen (Nga) đã đi vòng quanh rìa bắc lục địa Á – Âu theo con đường hàng hải Đông Bắc (1878 – 1879) Đoàn của Amunxen (Anh) quay lại mở đường hàng hải Tây Bắc từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương (1906) Trong khi đó, việc thám hiểm Bắc Cực đã được tiến hành nhiều lần nhưng kết quả không được như ý (chỉ đến
Trang 10được vĩ độ 86o14’Nam) nhưng các tài liệu thu thập được lại có giá trị cao Việc thám hiểm châu Nam Cực chỉ thật sự rầm rộ sau chuyến đi của Bellingshausen
Như vậy, trong giai đoạn này, địa lý khu vực đã có những bước tiến vượt trội theo hướng chuyên môn rõ rệt Vấn đề nghiên cứu về các châu lục đã được tách thành một mảng riêng và có những đầu tư bài bản hơn so với trước đây
1.1.1.4 Thời hiện đại
Hiện nay, việc nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý khu vực nói riêng đã được tiến hành trên quy mô rộng lớn với mức độ chuyên môn cao Địa lý hiện đại mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết trước đây về Trái Đất và tất cả những mối quan hệ phức tạp giữa con con người và tự nhiên – không chỉ đơn thuần là nơi có các đối tượng đó, mà còn về cách chúng thay đổi và đến được như thế nào Địa lý đã được gọi là “ngành học về thế giới” và “cầu nối giữa con người và khoa học vật lý”
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu địa lý khu vực ngày càng có ý nghĩa trong việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên theo từng khu vực, là cơ sở cho việc phát triển bền vững trước áp lực dân số ngày càng tăng nhanh, nhất là ở các quốc gia nghèo như hiện nay
1.1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ KHU VỰC
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Địa lý khu vực được xem là một bộ phận của địa lý học Địa lý khu vực nghiên cứu về các đặc điểm, phân bố và tổ chức không gian của các vấn đề về tự nhiên và kinh
tế – xã hội tại một khu vực được giới hạn cụ thể Sự khác biệt cơ bản giữa địa lý khu vực và địa lý chung nằm ở chỗ: Địa lý chung phân tích và nghiên cứu quy luật phân bố không gian của các vấn đề về tự nhiên và kinh tế – xã hội ở góc độ tổng thể Trong khi
đó, địa lý khu vực nghiên cứu về một khu vực cụ thể trên thế giới Do đó, địa lý khu vực chú ý đến đặc điểm độc đáo về các vấn đề tự nhiên, kinh tế – xã hội của một vùng cụ thể mà trong địa lý chung không phản ánh được Các vấn đề về tự nhiên thuộc về nhóm địa lý tự nhiên bao gồm: Địa mạo học, Khí tượng và khí hậu học, Thuỷ văn học, Thổ nhưỡng học, Địa lý sinh vật, Cổ địa lý học và Cảnh quan học Các vấn đề về kinh tế –
xã hội thuộc về nhóm địa lý kinh tế – xã hội bao gồm: Cơ sở Địa lý kinh tế, Địa lý công nghiệp, Địa lý nông nghiệp, Địa lý giao thông vận tải, Địa lý thương mại, Địa lý dân cư, Địa lý đô thị và Địa lý chính trị
Từ những nhận thức trên, có thể xác định được đối tượng nghiên cứu của địa lý
khu vực chính là hệ thống lãnh thổ tự nhiên và kinh tế – xã hội trong một khu vực cụ
thể Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau như
những cơ quan chức năng Các yếu tố tự nhiên trong hệ thống bao gồm: vị trí địa lý, hình dạng lãnh thổ, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, sinh vật, … Các yếu tốc kinh tế – xã hội trong hệ thống bao gồm: dân cư, nguồn lao động, chính trị, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, … Giữa các yếu tố này có sự gắn kết với nhau theo những quy luật tự nhiên hoặc xã hội nhất định Sự thay đổi của một yếu tố này sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố khác trong hệ thống
1.1.2.2 Nhiệm vụ của địa lý khu vực
Nhiệm vụ của địa lý khu vực được xác định bao gồm:
– Nghiên cứu các hệ thống sinh thái khu vực và kiểm soát quá trình phát triển của chúng
– Phân bố tài nguyên và vấn đề sử dụng tài nguyên tại một khu vực cụ thể
– Phát triển bền vững khu vực trong mối liên hệ với toàn cầu
– Xây dựng các mô hình tối ưu cho các hoạt động sản xuất kinh tế – xã hội tại một khu vực
Trang 111.1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phương pháp luận là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế
giới Phương pháp luận bao gồm nhiều mức độ khác nhau: phương pháp luận phổ biến, phương pháp luận cụ thể, quan điểm, hệ phương pháp
Vì địa lý khu vực là một bộ phận của địa lý học nên địa lý khu vực cũng sử dụng các phương pháp luận chung của địa lý học
1.1.3.1 Phương pháp luận phổ biến
Cũng như các ngành khoa học khác, phương pháp luận phổ biến là chủ nghĩa duy vật biện chứng Phương pháp luận phổ biến trong Địa lý học nói chung và Địa lý khu vực nói riêng được thể hiện như sau:
– Các sự vật hiện tượng không riêng rẽ cô lập mà có quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau
– Thiên nhiên và lớp vỏ địa lý luôn vận động
– Quá trình phát triển của vật chất là sự phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, không đơn thuần là sự chồng chất về số lượng Sự biến đổi về lượng sau khi vượt qua những ngưỡng nhất định sẽ chuyển thành biến đổi về chất
– Mọi quá trình phát triển mang tính thời gian và không gian
1.1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG ĐỊA LÝ KHU VỰC
1.1.4.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là phương pháp cổ điển, không thể thiếu trong nghiên cứu địa lý khu vực Phương pháp khảo sát thực địa thường được kết hợp với phương pháp mô tả,
so sánh Vì đối tượng nghiên cứu của địa lý khu vực là hệ thống lãnh thổ tự nhiên và
kinh tế – xã hội trong một khu vực cụ thể, muốn nắm rõ đặc tính phân bố của các thành
phần, xác định chính xác được mối quan hệ giữa các thành phần với nhau trong hệ thống, cần thiết phải thực hiện việc khảo sát ngoài thực địa Trong các giai đoạn lịch sử phát kiến địa lý, các nhà thám hiểm đã thực hiện rất nhiều chuyến khảo sát thực địa khác nhau Phương pháp khảo sát thực địa sẽ giúp bổ sung các dữ liệu trống về địa bàn khu vực cụ thể mà các phương pháp nội nghiệp không thể giải quyết được Khảo sát thưc địa còn có ý nghĩa trong việc kiểm chứng, loại bỏ các lập luận chưa chuẩn xác về khu vực đang nghiên cứu
1.1.4.2 Phương pháp địa vật lý
Địa vật lý là một nhóm các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu về cấu trúc, tính chất và môi trường địa chất của Trái Đất, giúp xây dựng công trình và tìm kiếm thăm dò khoáng sản, nghiên cứu môi trường tự nhiên Các phương pháp địa vật lý rất phong phú, đa dạng: địa chấn, trọng trường, từ trường, điện trường, phóng xạ, địa nhiệt, địa vật lý giếng khoan, …
Trang 121.1.4.3 Phương pháp địa hóa học
Các phương pháp địa hóa học được sử dụng để nghiên cứu địa chất như tính hoạt động của đứt gãy kiến tạo hiện đại, tốc độ xói mòn, bồi lắng, tìm kiếm khoáng sản; nghiên cứu đặc điểm môi trường, …
– Địa hoá các quá trình địa chất: bao gồm địa hoá các quá trình nội sinh (magma, biến chất, các quá trình quặng hoá nội sinh); địa hoá các quá trình ngoại sinh và các quá trình quặng hóa ngoại sinh
– Địa hoá đồng vị: sử dụng đồng vị phóng xạ trong xác đinh tuổi tuyệt đối của các đối tượng địa chất, sử dụng đồng vị để nghiên cứu nguồn gốc và bản chất các quá trình thành tạo các đối tượng địa chất
1.1.4.4 Phương pháp toán học
Phương pháp toán học được sử dụng để nghiên cứu các hệ thống động lực phức tạp – sự thay đổi trạng thái của các sự vật theo thời gian và không gian trên cơ sở các quan hệ thuận và các quan hệ nghịch
1.1.4.5 Phương pháp cổ địa lý
Nhằm giải quyết vấn đề về tuổi của yếu tố địa lý, xác định các giai đoạn trong lịch
sử phát triển của yếu tố địa lý Trên cơ sở đó để dựng lại địa lý cổ và xác định các điều kiện tồn tại, phát triển của các yếu tố địa lý của khu vực nghiên cứu trong quá khứ
1.1.4.6 Phương pháp bản đồ
Phương pháp này được sử dụng để ghi nhận, mô tả, phân tích, tổng hợp và nhận thức các hiện tượng thực tại)cũng như dự báo sự phát triển của chúng thông qua việc thành lập và sử dụng bản đồ Đây là một phương pháp nhận thức, thể hiện ở ba hình thái:
– Thành lập bản đồ cơ sở như những mô hình không gian của thế giới vật chất; – Thành lập bản đồ dẫn xuất từ các bản đồ cơ sở với quá trình biến đổi hình biểu thị của bản đồ và tổng quát hoá bản đồ;
– Sử dụng bản đồ để mô tả, phân tích tổng hợp và nhận thức thực tại
Dựa theo phương pháp sử dụng, nguồn tài liệu và mục đích sử dụng, hình thành các hướng sử dụng bản đồ sau: nghiên cứu bản đồ ở dạng nguyên bản; biến đổi hình biểu thị bản đồ; tách hình biểu thị trên bản đồ thành các hình biểu thị thành phần; đối sánh bản đồ phản ánh đối tượng ở các thời điểm khác nhau; nghiên cứu kết hợp các bản
đồ có các chủ đề hoặc đối tượng khác nhau; nghiên cứu, đối sánh các bản đồ – tương đương (cùng chủ đề), được thành lập cho các vùng khác nhau; phân tích kết hợp bản đồ cùng chủ đề, cùng lãnh thổ nhưng ở tỷ lệ khác nhau
1.1.4.7 Phương pháp không ảnh – viễn thám
Viễn thám cho phép nghiên cứu việc đo đạc, thu thập thông tin về một đối tượng,
sự vật bằng cách sử dụng thiết bị đo qua tác động một cách gián tiếp (ví dụ như qua các bước sóng ánh sáng) với đối tượng nghiên cứu Viễn thám không chỉ tìm hiểu bề mặt của Trái Đất hay các hành tinh mà nó còn có thể thăm dò được cả trong các lớp sâu bên trong các hành tinh Trên Trái Đất, người ta có thể sử dụng máy bay dân dụng, chuyên dụng hay các vệ tinh nhân tạo để thu phát các ảnh viễn thám Trong nghiên cứu địa lý khu vực, việc sử dụng không ảnh – viễn thám giúp tiết kiệm thời gian, chi phí thực địa cũng như công sức đi lại, đặc biệt tại các khu vực địa hình hiểm trở Đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp cần quan sát tổng quát một khu vực mà việc khảo sát thực địa tỏ ra kém hiệu quả
1.1.4.8 Phương pháp phân tích hệ thống
Phân tích hệ thống là việc tách rời các thành phần trong hệ thống ra thành những
bộ phận riêng biệt Trong nghiên cứu địa lý khu vực, phương pháp này có ý nghĩa trong
Trang 13việc loại trừ bớt các yếu tố tác động gây nhiễu Từ đó, ta có thể dễ dàng xem xét được
sự thay đổi theo không gian của đối tượng mà ta cần khảo sát Coi vỏ Trái Đất bao gồm những tổng thể địa lý tự nhiên, kinh tế – xã hội riêng biệt, hoạt động như nhưng cơ quan chức năng, duy trì những quá trình trao đổi vật chất năng lượng (VD: chu trình nước)
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC CHÂU LỤC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 SỰ HÌNH THÀNH CÁC CHÂU LỤC
1.2.1.1 Các thuật ngữ liên quan
Các thuật ngữ châu lục/châu, lục địa, đại lục, đảo có mối quan hệ với nhau, tuy
nhiên giữa chúng vẫn có những sự khác biệt nhất định Hiện nay, các thuật ngữ này còn chưa được hiểu và sử dụng một cách thống nhất
Lục địa, đại lục và đảo là các khái niệm của địa lý tự nhiên Thuật ngữ lục địa có
tính tổng quát hơn so với thuật ngữ đại lục vì đại lục là mảng đất liền lớn nằm trên bề
mặt lớp vỏ của Trái Đất, bị nước bao quanh trong khi lục địa không chỉ rõ là có quy mô
về diện tích lớn hay nhỏ
Điều 121 của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển đưa ra định nghĩa đảo “là một
vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt
nước” Tuy nhiên, nếu dựa theo diện tích thì giữa lục địa và đảo lại không có chuẩn nào
để phân biệt rõ ràng Song, nếu quan niệm rằng: lục địa có thể kéo dài liên tục ra bên ngoài đường bờ biển đến khu vực nước nông gần kề (gọi là thềm lục địa) thì các bộ phận đất nổi trên thềm lục địa sẽ thuộc về lục địa Theo cách hiểu này thì rìa của thềm lục địa mới là rìa thực sự của lục địa, do các đường bờ thay đổi khi mực nước biển dâng
hay hạ Và sự phân biệt giữa lục địa và đảo gắn liền các mảng nền Lục địa gắn với một
mảng nền riêng biệt nhưng đảo chỉ là một bộ phận nổi nằm trên cùng một mảng với lục địa Ví dụ: Greenland với diện tích 2.166.086km² hay Madagascar với diện tích 587.040km² chỉ được gọi là các đảo (dù có diện tích rất lớn) nhưng không bao giờ được coi là lục địa vì Greenland chỉ là một bộ phận của lục địa Mỹ còn Madagascar là bộ phận của lục địa Phi
Trong khi đó, châu lục/châu là khái niệm được sử dụng chủ yếu trong địa chính trị, dựa vào quá trình phát kiến đất đai Châu lục/châu là tổ hợp lớn về đất đai, trên đó có nhiều quốc gia với các phần diện tích thuộc cả đại lục lẫn các đảo xung quanh Sự thống
nhất về cách hiểu các thuật ngữ trên là cần thiết bởi vì tùy vào các quan điểm khác nhau
sẽ có những cách vận dụng khác nhau về ngoại diên của đối tượng mà ta đang tiếp cận
1.2.1.2 Sự thay đổi các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất
Hình dạng và sự phân bố các châu lục đã trải qua lịch sử hình thành lâu dài Từ khi vỏ Trái Đất mới hình thành vào cách đây 3,5 tỷ năm trên bề mặt Trái Đất, nước bao phủ phần lớn diện tích Các vật liệu phân hủy của đất đá lắng đọng dần dưới những lớp nước sâu, qua hàng triệu năm tạo nên những tầng đá trầm tích dày hàng nghìn mét Do nội lực (sức ép của các lực bên trong Trái Đất) các lớp đá trầm đó uốn nếp rồi nổi dần lên trên mặt nước, tạo thành vùng núi uốn nếp Nhưng rồi do tác động của ngoại lực (nhiệt độ, mưa, gió, sông ngòi, băng hà, …) những vùng núi cao đó bị phá hủy, bào mòn dần qua hàng triệu năm và cuối cùng biến thành những mặt bằng Các quá trình tạo núi sau này không thể làm cho các mặt bằng rắn chắc đó tiếp tục uốn nếp nữa mà chỉ có thể nâng chúng lên hoặc hạ xuống, đứt gãy, đổ vỡ Đó là những vùng tương đối ổn định nhất của vỏ Trái Đất mà được gọi là nền lục địa Trên các biển ở rìa các nền lục địa đó lại tiếp tục hình thành những hệ thống núi trẻ và những lục địa mới lại xuất hiện
Bên cạnh những vùng nền lục địa vững chắc, tương đối ổn định lại có những vùng bất ổn, vận động tạo núi còn đang tiếp diễn, với những trận động đất và núi lửa phun trào đang xảy ra Nhiều vùng trước kia là đất liền thì nay là biển (vùng biển Manchess ở
Trang 14châu Âu, vùng biển Đông Nam Á) Ngược lại có những vùng biển trước kia giờ lại là đất liền (đồng bằng Tây Siberia, đồng bằng châu Âu)
Ngay cả khí hậu cũng có những biến đổi lớn Ngày nay người ta tìm thấy những mẫu thực vật nhiệt đới đã hóa thạch và những san hô ở đồng bằng châu Âu, ở Anh, ở bán đảo Scandinavia Điều đó chứng tỏ trước kia ở đây là những vùng có khí hậu nóng Những lòng sông cạn ở hoang mạc Sahara là bằng chứng chứng tỏ trước đây là vùng khí hậu ẩm
Ngày nay, trên các châu lục vẫn có những vùng đang được nâng lên và có những vùng đang tiếp tục hạ xuống, có những đồng bằng hàng năm lấn ra biển hàng trăm mét,
và có những vùng đang bị biển nhấn chìm dần Có những dòng sông vẫn tiếp tục đào sâu thêm và mở rộng các thung lũng, trong khi đó có nhiều dòng sông đang bị bồi lấp
bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương nước mặn, phần còn lại là các phần đất nổi bao gồm các lục địa và các đảo
Dựa vào vị trí hiện tại của các mảng, vị trí cực quay, phương hướng và tốc độ dịch chuyển của các mảng trong quá khứ cũng như trong tương lai Từ đó đưa ra sự thay đổi
về các phần đất nổi trên Trái Đất qua các niên đại địa chất khác nhau Từ khi Trái Đất hình thành đến nay, các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất đã liên tục thay đổi hình dạng của chính nó dưới dạng các lục địa hình thành và phân rã Các lục địa di chuyển trên bề mặt, đôi khi kết hợp với nhau để tạo thành một siêu lục địa
Khoảng 1,1 tỷ năm trước, siêu lục địa Rodinia đã ra đời Hiện nay, siêu lục địa Rodinia được coi là siêu lục địa xuất hiện đầu tiên trên Trái Đất Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết và hiện nay vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu bổ sung Khoảng 750 triệu năm trước, siêu lục địa Rodinia đã bắt đầu chia tách thành các lục địa: Đông Gondwanaland (EG), Laurentia (LA), Tây Gondwanaland (WG), Khối Niger (NI), Baltica (BA), Craton Siberian (SB), Khối Baikal (BK), Cordilleran (CO), Tây Ả Rập (WA), Craton Rio De La Plata (RP)
Khoảng 10 lục địa bị chia tách từ Rodinia sau đó đã liên kết lại thành một siêu lục địa gọi là Pannotia vào cách đây 600 triệu năm
Đến cách đây 540 triệu năm thì siêu lục địa Pannotia lại bắt đầu chia tách thành các lục địa: Gondwanaland (GON), Laurentia (LA), Baltica (BA), Craton Siberian (SB), Cordilleran (CO), Khối Baikal (BK)
Và sau đó các lục địa bị chia tách từ Pannotia lại liên kết thành một siêu lục địa
là Pangaea (cách đây 300 triệu năm) Bên cạnh siêu lục địa là các tiểu lục địa như: Iran, Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa, Đông Nam Á, Bắc Terranes, Khối Baikal phân bố thành cách dải nằm dọc theo bờ biển Tethys
Siêu lục địa Pangaea lại tách thành hai siêu lục địa là Laurasia (LAU) và Gondwana (GON) vào 200 triệu năm trước Laurasia nằm ở phía bắc, bao gồm lục địa Laurentia (phần lớn lục địa Bắc Mỹ hiện nay), Eurasia (phần lớn lục địa Á – Âu hiện nay) Gondwana nằm ở phía nam bao gồm phần lớn các lục địa ngày nay của bán cầu Nam: Nam Cực, Nam Mỹ, Phi, Madagasca, Ấn Độ, Ả Rập, Úc – New Guinea và New Zealand
Trang 15Siêu lục địa Gondwana bắt đầu tách thành hai phần từ kỷ Jura sớm (khoảng 184 triệu năm trước): Đông Gondwana (gồm Nam Cực, Úc, New Guinea, New Zealand, Madagascar, Ấn Độ ngày nay); Tây Gondwana (gồm Phi và Nam Mỹ ngày nay) Trong khoảng thời gian này, tiểu lục địa Baikal, Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa đang dần tiếp xúc với nhau Các tiểu lục địa Đông Nam Á, Bắc Terranes, Iran chuyển động dần dần về phía tây bắc
Siêu lục địa Laurasia bắt đầu tách thành hai phần vào đầu kỷ Creta (khoảng 140 triệu năm trước): Laurentia (phần lớn lục địa Bắc Mỹ ngày nay) và Eurasia (phần lớn lục địa Á – Âu ngày nay)
Tây Gondwana cũng bắt đầu chia tách ra thành lục địa Phi và lục địa Nam Mỹ vào đầu kỷ Creta (khoảng 130 triệu năm trước) Lục địa Nam Mỹ dần tách ra xa và bắt đầu trôi chậm về phía tây, còn lục địa Phi trôi chậm về phía bắc và xoay góc ngược chiều kim đồng hồ Tuy nhiên, sau đó phần cực nam của Nam Mỹ lại kết nối trở lại với phần phía tây Nam Cực ngày nay
Sau đó, Đông Gondwana cũng bắt đầu chia tách vào giai đoạn đầu của kỷ Creta (khoảng 120 triệu năm trước) với sự kiện tiểu lục địa Madagascar – Ấn Độ tách ra khỏi Đông Gondwana và di chuyển dần về phía bắc Sau đó, tiểu lục địa Madagascar – Ấn
Độ phân rã ra thành hai phần riêng biệt Trong thời gian này, tiểu lục địa Trung Hoa (Bắc Trung Hoa và Nam Trung Hoa) tiếp xúc với lục địa Á – Âu Các tiểu lục địa Đông Nam Á, Bắc Terranes, Iran tiếp tục chuyển động dần dần về phía tây bắc hướng về phía lục địa Á – Âu
Vào thế Eocen thuộc kỷ Paleogen (55 triệu năm trước), lục địa Úc – New Guinea cũng bắt đầu từ từ tách ra khỏi Đông Gondwana và chuyển động về phía bắc Trong thời gian này, tiểu lục địa Ấn Độ tiếp tục di chuyển về phía bắc và gần tiếp xúc với lục địa Á – Âu
Sau đó, vào thế Eocen thuộc kỷ Paleogen (45 triệu năm trước), New Zealand và Tasmania (phần cực nam của Úc ngày nay) cũng đã tách ra khỏi Đông Gondwana Các tiểu lục địa Đông Nam Á, Bắc Terranes, Iran và Ấn Độ từ phía nam trôi lên đã tiếp xúc với lục địa Á – Âu Sự tiếp xúc của tiểu lục địa Ấn Độ đã làm cho lớp vỏ Trái Đất lồi lên, tạo ra dãy núi Himalaya
Vào thế Miocen (khoảng 15 triệu năm trước), New Guinea bắt đầu va chạm với phần phía nam của lục địa Á – Âu, một lần nữa làm cao lên các ngọn núi, và Nam Mỹ bắt đầu kết nối với Bắc Mỹ qua khu vực bây giờ là eo đất Panama Diện mạo các lục địa
và các đảo tại thời điểm về cơ bản đã gần giống với hiện nay Tuy nhiên, các vận động của các lục địa vẫn tiếp tục diễn ra
1.2.1.3 Các chu kỳ tạo núi chính
Chu kỳ tạo núi đã được nhà địa chất học người Pháp là M Bertrand (1887, 1894) đưa ra lần đầu tiên M Bertrand cho rằng sự tiến hóa của vỏ Trái Đất trải qua 4 chu kỳ kiến tạo quan trọng: Huroni, Caledonia, Hercyni, Alpide Trong đó, ngày nay 3 chu kỳ Caledonia, Hercyni, Alpide được sử dụng phổ biến hơn cả trong khi chu kỳ Huroni ngày nay hầu như không được sử dụng nhiều Các nhà nghiên cứu sau này bổ sung nhiều chu kỳ kiến tạo mang tính chất địa phương: Belomori, Careli, Baicali, Indosini, Kimmeri, Các chu kỳ kiến tạo (theo Bertrand) biểu thị sự mở và đóng các bể đại dương nhỏ, các quá trình sụt lún – nâng hoặc địa máng – uốn nếp Sau này, học giả người Đức WH Shi Dile đã xác định thời gian cụ thể xảy ra của mỗi chu kỳ kiến tạo: Huroni (Tân Nguyên sinh), Caledonia (đầu Cổ sinh), Hercyni (cuối Cổ sinh), Alpide (cuối Trung sinh, đầu Tân sinh)
– Chu kỳ tạo núi Caledonia
Trang 16Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở phần phía bắc đảo Anh, tây Scandinavia, Svalbard, đông Greenland, các phần thuộc phía bắc khu vực trung tâm châu Âu, bắc và đông châu Á, phía đông lục địa Úc Vận động tạo núi Caledonia bao gồm các sự kiện xảy ra từ kỷ Ordovic đến kỷ Devon (cách đây khoảng 390 – 490 triệu năm) Nó là nguyên nhân làm khép lại đại dương Iapetus khi các lục địa và địa thể thuộc Laurentia, Baltica và Avalonia va chạm vào nhau
– Chu kỳ tạo núi Hercyni (Variscan)
Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở Nam Ireland, Anh khu vực phía nam của Tây và Trung Âu, bắc và đông châu Á, phía đông Bắc Mỹ, cực nam Nam Mỹ, phía đông lục địa Úc, … xảy ra ở giữa và cuối Cổ sinh (khoảng kỷ Carbon đến kỷ Pecmi)
– Chu kỳ tạo núi Alpide
Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở Nam Âu, Tây và Trung Âu, Bắc Phi Tây Á, Nam Á, hình thành nên các dãi núi: Atlas, Pyrenees, Alp, Dinaric Alps, Hellenides, Carpathians, Balkan, Taurus, Caucasus, Alborz, Zagros, Hindu Kush, Pamir, Karakoram và Himalaya Vận động tạo núi Alpide bao gồm các sự kiện xảy ra từ kỷ Creta đến kỷ Paleogen, cách đây khoảng 25 – 146 triệu năm, tuy nhiên các chính tạo núi bắt đầu từ thế Paleocen đến thế Eocen Hiện tại, quá trình này vẫn đang tiếp diễn ở một vài nơi trong dãi núi Alps
1.2.2 SỰ PHÂN CHIA VÀ PHÂN BỐ CÁC CHÂU LỤC
1.2.2.1 Sự phân chia các châu lục
Trải qua lịch sử hình thành phức tạp, nhiều biến động nên có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại lục địa Mô hình 7 lục địa (Phi, Âu, Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Cực, Úc) thường được giảng dạy ở Trung Quốc, Ấn Độ, một vài phần ở Tây Âu và hầu hết các nước nói tiếng Anh, bao gồm cả Úc và Anh Mô hình 6 lục địa (Phi, Á – Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Cực, Úc) được các cộng đồng địa lý học, Nga, Đông Âu, và Nhật Bản đề cập Trong khi đó, mô hình 6 lục địa (Phi, Âu, Á, Mỹ, Nam Cực, Úc) được dùng ở các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha và một vài phần của châu Âu bao gồm Hy Lạp Việc xác định các lục địa có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định các châu lục trên thế giới bởi vì về mặt lãnh thổ, các châu lục thường bao gồm phần lục địa và các đảo lân cận
Về số lượng các châu lục, có nhiều cách phân chia khác nhau Bản đồ màu chỉ ra các châu lục Các màu gần giống nhau thể hiện các khu vực có thể gộp lại hay phân chia
ra Theo quan điểm chia thế giới thành 7 châu lục thì Bắc Mỹ và Nam Mỹ là hai châu lục riêng vì dựa trên cơ sở 2 lục địa là Bắc Mỹ và Nam Mỹ là hai lục địa khác nhau nên
đã tách thành 2 châu lục riêng Trong khi đó, ở quan điểm 6 châu lục và 5 châu lục thì 2 lục địa này được ghép chung với nhau để thành châu Mỹ Quan điểm 5 châu lục còn không liệt kê châu Nam Cực vào vì cho rằng lục địa này chưa có dân số chính thức sinh sống, mà hiện nay mới chỉ có các đoàn nghiên cứu của các nước đến đây để làm việc
mà thôi Tuy nhiên, trong các cách phân chia trên thì cách phân chia thành 6 châu lục được chấp nhận phổ biến hơn cả
Theo mô hình 6 lục thì hiện nay thì 6 châu lục hiện nay được các tạo từ các mảng nền:
– Châu Á: bao gồm phần phần đất nổi phía đông của mảng Á – Âu và các mảng: Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Iran, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Đông Nam Á – Châu Âu: bao gồm một phần của phần đất nổi phía tây mảng Á – Âu
– Châu Phi: bao gồm toàn bộ phần đất nổi của mảng Phi (bao gồm của đảo Madagascar có thể được xem là một mảng nhỏ)
– Châu Mỹ: bao gồm toàn bộ mảng Bắc Mỹ và mảng Nam Mỹ
Trang 17– Châu Đại Dương: bao gồm phần đất nổi của mảng Úc – New Guinea, mảng New Zealand, và mảng Thái Bình Dương (các đảo nhỏ, là những bộ phận cao nhất của mảng này hình thành nên các quần đảo Polynesia, Mcrinesia của châu Đại Dương)
– Châu Nam Cực: bao gồm toàn bộ phần đất nổi mảng Nam Cực
Các châu địa được biết đến sớm hơn cả như châu Á, châu Âu, châu Phi nên thường được gọi là “Cựu Thế giới” Trong khi đó châu Mỹ, châu Đại Dương, châu Nam Cực mới được phát hiện sau này nên được gọi là “Tân Thế giới”
Tổng diện tích toàn bộ các châu lục trên thế giới là 149.420.000km², chiếm khoảng 29,1% diện tích bề mặt Trái Đất Với quan điểm phân chia thành 6 châu lục thì: lớn nhất là châu Á (43.810.000km2), kế tiếp là châu Mỹ (42.330.000km2), thứ ba là châu Phi (30.370.000 km2
), thứ tư là châu Nam Cực (13.720.000km2), thứ năm là châu
Âu (10.553.000km2) và nhỏ nhất là châu Đại Dương (9.010.000km2
)
1.2.2.2 Sự phân bố các châu lục
Nếu lấy xích đạo để phân chia bề mặt Trái Đất thành hai nửa cầu thì ta có: bán cầu Bắc và bán cầu Nam Mặt khác, nếu lấy kinh tuyến 0o (Greenwich – đi ngang qua Đài thiên văn Hoàng gia Anh) và kinh tuyến 180o
chia bề mặt Trái Đất thành hai nửa cầu thì
ta có bán cầu Tây và bán cầu Đông Có thể hình dung sự phân bố của các châu lục trên thế giới như sau:
Châu Á nằm phần lớn ở bán cầu Bắc (chỉ có một phần nhỏ các đảo ở Đông Nam
Á nằm ở bán cầu Nam) và thuộc về bán cầu Đông
Châu Âu nằm ở phía tây bắc châu Á Châu Âu nằm hoàn toàn ở bán cầu Bắc và thuộc phần lớn ở bán cầu Đông (chỉ có 1 phần bán đảo Iberich thuộc về bán cầu Tây) Châu Phi nằm ở phía nam châu Âu Châu Phi nằm trải đều trên hai nửa cầu: bán cầu Bắc và bán cầu Nam (đường xích đạo đi qua khoảng giữa của châu Phi) và phần lớn châu Phi nằm ở bán cầu Đông, một bộ phận nhỏ hơn nằm ở bán cầu Tây
Châu Đại Dương nằm chủ yếu ở bán cầu Nam và bán cầu
Châu Mỹ nằm hoàn toàn ở bán cầu Tây và trải dài trên hai nửa cầu: bán cầu Bắc
và bán cầu Nam (từ cận cực Bắc đến cận cực Nam)
Châu Nam Cực nằm ở vùng cực của bán cầu Nam, trải toàn bộ trên cả bán cầu Đông và bán cầu Tây Điểm cực Nam của Trái Đất nằm trên châu Nam Cực
Bao quanh các châu lục là năm đại dương: Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương, Đại Tây Dương, Nam Đại Dương và Thái Bình Dương Trong đó Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất Trái Đất
1.2.3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.3.1 Các châu lục đều là những tổng thể tự nhiên và là bộ phận của lớp
vỏ địa lý
Các châu lục có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, sông ngòi – hồ, thực và động vật Những yếu tố này kết hợp lại với nhau, tác động và quyết định lẫn nhau, tạo nên bộ mặt độc đáo cho mỗi châu lục
Ví dụ trường hợp châu Âu là một châu lục nhỏ, nằm gần như hoàn toàn ở các vĩ
độ ôn đới, lại có bờ biển cắt xẻ mạnh, biển ăn sâu vào đất liền Những đặc điểm đó làm cho châu lục này có khí hậu ôn hòa, không lạnh lắm và cũng không nóng lắm Các dãy núi phần lớn lại chạy theo hướng tây – đông nên gió Tây ôn đới dễ dàng vào sâu nội địa, mang theo khí ấm và hơi ẩm từ Đại Tây Dương làm cho mùa đông đỡ lạnh, mùa hạ bớt nóng, phân bố mưa đều hơn Chế độ nước của sông ngòi ít thay đổi Cũng nhờ điều kiện khí hậu như vậy mà châu Âu có nhiều rừng, trong khi đó lại ít hoang mạc, đài nguyên Trong khi đó châu Nam Cực nằm hoàn toàn ở vùng cực Nam của Trái Đất, bao xung
Trang 18quanh là hệ thống dòng biển lạnh, bờ biển lại ít chia cắt Những đặc điểm đó làm cho châu Nam Cực có khí hậu cực, bề mặt luôn luôn bị bao phủ bởi lớp băng dày Với đặc điểm đó, thực – động vật của châu Nam Cực rất nghèo nàn
Rõ ràng là vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, … của một châu lục không hề tách rời nhau mà phải được xem xét trong mối quan hệ với nhau và chính các mối quan hệ đó đã tạo nên tổng thể tự nhiên châu lục
1.2.3.2 Tác động của kinh tế đến tự nhiên
Môi trường tự nhiên của các châu lục ngày nay không còn nguyên vẹn như xưa
Nhiều vùng rộng lớn đã được khai phá, biến thành đất đai trồng trọt, chăn nuôi, thành những thành phố, khu công nghiệp sầm uất, đường sá, kênh mương Hầu hết mọi khu vực đều đã có bàn tay con người can thiệp nên không còn thuần túy tự nhiên nữa mà đã
trở thành môi trường địa lý Thậm chí, ở các thành phố, trung tâm công nghiệp, những
sản phẩm lao động của con người như nhà cửa, đường phố, cầu cống, nhà máy, xí nghiệp, các cung văn hóa, các nhà hát, … đã lấn át thậm chí là làm biến mất tự nhiên,
tạo thành môi trường văn hóa
Trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người đã gây ra những ảnh hưởng vừa tích cực, vừa tiêu cực Những hồ chứa nước nhân tạo vừa có tác dụng trữ nước để tưới ruộng, cung cấp nước cho thủy điện, làm nơi nuôi cá, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại, điều hòa khí hậu trong vùng Những dải rừng trồng, hệ thống kênh mương
và hồ chứa nước ở một số vùng hoang mạc thuộc Trung Á đã tạo nên những vùng trồng bông trù phú, những công trình tiêu nước, lấn biển ở Hà Lan, Đức đã làm khô vùng đầm lầy phía bắc biến thành đất trồng lúa mạch, khoai tây, … Đó là những kết quả tích cực Nhưng trong khi khai thác, sử dụng tự nhiên, mở mang nông nghiệp, công nghiệp, con người đã làm kiệt quệ nhiều diện tích rừng, tiêu diệt nhiều loài thực vật, động vật quý, tạo ra hàng triệu ha đồi trọc, làm mất đi hàng triệu tấn đất màu mỡ, làm tăng thêm các trận lụt lịch sử, làm ô nhiễm đất, nước, không khí Nói tóm lại, các nguồn tài nguyên cần cho cuộc sống con người có nguy cơ cạn kiệt dần
Các vấn đề môi trường hàng đầu đang được đặt ra và cần giải quyết cách bách:
– Biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ozon
Lượng CO2 tăng đáng kể trong khí quyển đã gây ra hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên Ước tính trong 100 năm trở lại đây Trái Đất nóng lên 0,6oC
Dự báo đến năm 2100, nhiệt độ Trái Đất sẽ tăng thêm từ 1,4đến 5,8o
C
Việc sử dụng năng lượng trong công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt ở các nước đang phát triển đã đưa vào khí quyển mộ lượng lớn khí thải, gây ra mưa axit ở nhiều nơi trên Trái Đất Đồng thời, khí thải CFCs đã làm tầng ozon mỏng dần và thủng tầng ozon ngày càng mở rộng, đặc biệt là ở khu vực châu Nam Cực
– Ô nhiễm môi trường nước
Việc xả thải nước sinh hoạt và nước thải công nghiệp ra trực tiếp các sông hồ mà chưa qua quá trình xử lý đã làm phát tán các chất độc hại ra môi trường, trong đó đặc biệt là nước thải công nghiệp với hàm lượng hóa chất cao đã làm hủy hoại nghiêm trọng các hệ sinh thái tự nhiên và dẫn đến tình trạng thiếu nước sinh hoạt, bệnh tật do ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng Theo thống kê của Liên hiệp quốc, hiện nay trên thế giới
có khoảng 1,3 tỷ người thiếu nước sạch, trong đó có khoảng 1,0 tỷ người ở các nước đang phát triển
– Sự suy giảm đa dạng sinh học
Sự đa dạng về số lượng cá thể và số lượng loài, số lượng hệ sinh thái đang bị đe dọa bởi sự khai thác quá mức của con người để phục vụ cho các hoạt động kinh tế Nhiều loài đã bị tuyệt chủng hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Sự mất đi đa dạng
Trang 19sinh học dẫn đến các hậu quả: mất đi nguồn thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh, nguồn nguyên liệu của nhiều ngành sản xuất
1.2.4 VẤN ĐỀ DÂN SỐ VÀ THÀNH PHẦN CHỦNG TỘC
1.2.4.1 Dân cư các châu lục phát triển nhanh và phân bố không đều
Dân số thế giới năm 1650 mới có 500 triệu người, nhưng đến 2013, dân số thế giới ước tính là 7,137 tỷ người Châu Á dẫn đầu với 4.302 triệu người, châu Phi 1.000 triệu người, châu Mỹ 945,6 triệu người, châu Âu 741,2 triệu người, châu Đại Dương 38,0 triệu người Dân số tăng nhanh, đặc biệt là nửa sau thế kỷ XX (càng về sau, thời gian dân số tăng thêm 1 tỷ người càng rút ngắn) Hiện nay, trung bình thế giới, mỗi năm tăng thêm 80 triệu người Số dân của các châu lục nhìn chung đều tăng nhưng tăng nhanh nhất là châu Á, châu Phi và khu vực châu Mỹ Latin, tức là nhóm các nước đang phát triển Các quốc gia thuộc các châu lục này chiếm tới 80% dân số và 95% số dân gia tăng hàng năm của thế giới Tỷ lệ gia tăng dân số vượt quá nhịp điệu phát triển của sản xuất gây ra những khó khăn cho lĩnh vực kinh tế và đời sống
Dân cư trên thế giới phân bố không đều, có những vùng rất đông dân, lại có những vùng thưa dân, thậm chí nhiều vùng không có người sinh sống: châu Nam Cực, các đảo phía bắc châu Mỹ, vùng hoang mạc châu Phi, châu Á, Nói chung, sự phân bố dân cư
ở các châu lục đều chênh lệch giữa các vùng Các vùng công nghiệp, đầu mối giao thông, ven sông, ven biển, các đồng bằng phù sa màu mỡ là những nơi tập trung dân đông Các vùng hoang mạc, đài nguyên, núi cao, rừng rậm thường là những nơi thưa dân nhất Tình hình đó cho thấy mức độ phụ thuộc của con người vào tự nhiên còn khá lớn
Sự phân bố dân cư sẽ thay đổi dần cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Các cuộc đấu tranh của nhân dân các nước, nhất là các nước đang phát triển, để giành tiến bộ xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật là cơ sở để cải tạo tự nhiên, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sẵn có, biến những miền hoang vu thành những vùng kinh tế trù phú, đông đúc
Tình hình gia tăng dân số và sự phân bố dân cư các châu lục trên thế giới được cụ thể qua các thời điểm như sau:
– Năm thứ 1: 200 triệu Thời điểm này dân cư phân bố chủ yếu ở khu vực đồng bằng phía đông Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu, …
– Năm thứ 1000: 300 triệu Thời điểm này dân cư phân bố chủ yếu vẫn ở các khu vực như thời điểm năm 1, nhưng dày hơn
– Năm 1800: 1 tỷ Thời điểm này dân cư mở rộng ra các khu vực lân cận
– Năm 1999: 6 tỷ Dân cư hình thành những dải liên tục từ châu Âu sang phía nam
và đông châu Á, Bắc Mỹ đến Nam Mỹ
– Dự báo đến 2050: 9 tỷ Dân cư phân bố đông đúc ở cả những vùng có điều kiện khí hậu kém thuận lợi (núi cao, hoang mạc, vùng băng giá, …)
1.2.4.2 Dân cư các châu lục thuộc bốn đại chủng: Mongoloid, Europeaid, Negroid và Australoid
Trừ châu Âu tương đối thuần với đại chủng Europeaid, các châu lục khác đều có nhiều đại chủng Mỗi đại chủng bao gồm nhiều dân tộc Có những châu lục mà dân cư thuộc nhiều đại chủng khác nhau như trường hợp châu Phi: Bắc Phi là đại chủng Europeaid, phía nam hoang mạc Sahara trở xuống lại thuộc đại chủng Negroid
Các chủng tộc đều chung một nguồn gốc Tuy nhiên, do phải thích nghi với các điều kiện, hoàn cảnh cư trú khác nhau nên có các dấu hiệu bề ngoài khác nhau Người Negroid có màu da đen và bộ tóc quăn để bảo vệ cơ thể, chống lại ánh nắng gay gắt của Mặt Trời ở miền nhiệt đới
Trang 20Qua quá trình di cư lâu dài, các chủng tộc không còn sinh sống tách biệt mà đã hòa vào nhau, hình thành nên các nhóm người lai Hiện nay, số người lai đã chiếm trên 1/2 nhân loại
1.2.5 BIẾN ĐỘNG VỀ CHÍNH TRỊ VÀ XUNG ĐỘT DÂN TỘC – TÔN GIÁO
1.2.5.1 Bản đồ chính trị các châu lục đã có những biến đổi lớn từ sau chiến tranh thế giới II
Theo Điều 1, Công ước Montevideo năm 1933, một quốc gia có chủ quyền phải
có những đặc điểm sau: (a) dân số ổn định, (b) lãnh thổ xác định, (c) chính phủ và (d) khả năng quan hệ với các quốc gia khác Thực tế có một vài quốc gia tuy tuyên bố là
“độc lập” nhưng không được quốc tế công nhận là một thực thể chính trị (không đáp ứng điểm d) Ngược lại có những quốc gia đã được công nhận rộng rãi (chính danh) nhưng chính phủ không có đủ quyền hạn (điểm c bị hạn chế)
Trước chiến tranh thế giới II, hầu hết các quốc gia có chủ quyền ở châu Á, châu Phi, châu Đại Dương và vùng Caribe (châu Mỹ) bị chiếm đóng, mất chủ quyền và trở thành thuộc địa của các nước đế quốc Anh, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ, Nhật Bản Chiến tranh kết thúc bằng thất bại thảm hại của phát xít Đức, Nhật, Italia, đã kéo theo một loạt thuộc địa ở các châu Á, châu Phi, châu Đại Dương lần lượt giành độc lập, trở thành các quốc gia có chủ quyền
Đến nay, trên thế giới đã có 193 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc và 1 quan sát viên tại Liên hiệp quốc: Vatican; 2 quốc gia được nhiều quốc gia công nhận, độc lập trên thực tế: Cộng hòa Trung Hoa (Đài Loan), Kosovo; 2 quốc gia được nhiều nước thừa nhận nhưng thực tế không độc lập: Palestine và Tây Sahara; 6 quốc gia độc lập trên thực tế nhưng không được công nhận rộng rãi: Abkhazia (chỉ được Nga, Nicaragua, Venezuela, Nauru, Tuvalu và Vanuatu công nhận), Nam Ossetia (chỉ được Nga, Venezuela, Nicaragua, Nauru công nhận), Nagorno –Karabakh, Transnistria, Bắc Síp (chỉ được duy nhất Thổ Nhĩ Kỳ công nhận), Somaliland Transnistria, Nagorno – Karabakh, Abkhazia và Nam Ossetia là một khu vực “xung đột lạnh” hậu Soviet Các quốc gia này không được công nhận rộng rãi bởi các quốc gia có chủ quyền, nhưng giữa các quốc gia này lại công nhận lẫn nhau và duy trì quan hệ hữu nghị, hình thành nên Cộng đồng vì Dân chủ và Quyền của các Dân tộc Hiện nay, chỉ còn một số rất ít chủ yếu là các đảo nhỏ thuộc châu Đại Dương, vùng Caribe (châu Mỹ), châu Phi còn là thuộc địa hoặc là lãnh thổ hải ngoại của một số quốc gia
1.2.5.2 Vấn đề xung đột dân tộc, tôn giáo
Theo số liệu của Liên hiệp quốc, hiện nay 83% dân số thế giới có theo tôn giáo Trong số hơn 500 tôn giáo đang tồn tại, có 5 tôn giáo lớn với số lượng tín đồ lên tới gần 3,9 tỷ, chiếm 77% số người theo tôn giáo Đó là Kito giáo (Cơ Đốc giáo/ Gia Tô giáo) với các giáo phái quan trọng nhất là Đạo Thiên chúa (gần 1 tỷ tín đồ), Đạo Tin Lành (453,8 triệu tín đồ) và Đạo Chính thống (180 triệu tín đồ); Hồi giáo (Islam giáo) (trên 1
tỷ tín đồ), Hinđu giáo (Ấn giáo) (750 triệu tín đồ), Phật giáo (344 triệu tín đồ) và Do Thái giáo (18,2 triệu tín đồ)
Trong những năm qua, ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới đã xảy ra những cuộc xung đột, trong đó có một số cuộc xung đột liên quan đến dân tộc, tôn giáo hoặc xen lẫn cả dân tộc và tôn giáo như: xung đột giữa những cộng đồng Hồi giáo theo dòng Sunni và Shiite hay các dòng khác nhau ở trong một quốc gia như: Syria, Iraq; giữa một
số quốc gia Arap, Hồi giáo với nhau và với Israel (Do Thái giáo); giữa Hồi giáo và Công giáo ở Philippines, Indonesia; giữa Hồi giáo và Phật giáo ở miền Nam Thái Lan, Myanmar,
Trang 21Ngoài ra, một số tổ chức đang có xu hướng lợi dụng dân tộc, tôn giáo để thực hiện mưu đồ chính trị Các cuộc xung đột dân tộc, tôn giáo thường rất phức tạp, kéo dài và khó giải quyết do liên quan đến lịch sử, dân tộc, đạo đức, truyền thống tôn giáo, có khi ở một vùng miền, một quốc gia hay liên quan đến nhiều quốc gia; mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc, tôn giáo ngày càng tăng, trở thành nhân tố gây mất ổn định ở nhiều nơi
Dù là cuộc xung đột tôn giáo, sắc tộc hay đan xen luôn là mối quan tâm, lo lắng của mọi người và làm cho lãnh đạo nhiều tổ chức quốc tế cũng như quốc gia trên thế giới đau đầu Tất cả các cuộc xung đột từ trước đến nay đều để lại những hậu quả rất nặng nề, thậm chí biến thành những cuộc chiến tranh kinh hoàng kéo dài nhiều năm Biết bao dân thường vô tội ở nhiều nơi luôn phải sống trong tình trạng căng thẳng, lo
âu, sợ hãi Để giải quyết xung đột, việc tìm ra những nguyên nhân nhằm có giải pháp đúng đắn nhất, giải quyết có hiệu quả nhất là nhiệm vụ quan trọng Trong số các nguyên nhân thì đáng chú ý đến nguyên nhân về sắc tộc, tôn giáo, như: một bộ phận người thiểu
số theo một tôn giáo với số ít tín đồ trong một quốc gia mà đa số người theo một tôn giáo khác lại nắm quyền cai trị nên gây ra sự bất bình của cộng đồng sắc tộc, tôn giáo đối lập Cũng có trường hợp do không chịu sự thống trị của chính quyền đương thời nên
đã gây ra những cuộc đấu tranh đòi ly khai (xung đột tại khu vực phía nam Sudan kéo dài hơn 20 năm với kết quả là sự ra đời của nhà nước Nam Sudan (2011) – nhà nước trẻ nhất thế giới), … đều là những nguyên nhân gây nên xung đột
1.2.6 LIÊN KẾT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.6.1 Xu hướng liên kết
Các xu hướng liên kết này nhằm giải quyết sự khó khăn về các nguồn lực trong phát triển kinh tế – xã hội, nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực trên các lãnh thổ khác nhau, nâng cao khả năng đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của con người Các xu hướng này được thể hiện qua việc khu vực hóa và toàn cầu hóa Trong đó, khu vực hóa được coi là bước đầu của toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các
tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay tự do thương mại nói riêng
Có thể nhận biết toàn cầu hoá thông qua một số xu hướng, hầu hết các xu hướng
đó bắt đầu từ Chiến tranh thế giới II, trong số đó có sự lưu thông hàng hoá, tiền tệ, thông tin trên phạm vi quốc tế ngày càng tăng cùng với việc phát triển các công nghệ, tổ chức, hệ thống luật lệ và cơ sở hạ tầng cho việc lưu thông này Một số xu hướng trong toàn cầu hóa:
- Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới;
- Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài;
- Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại;
- Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá phẩm như phim ảnh hay sách báo
- Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố, buôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo
Trang 22- Sự tràn lan của chủ nghĩa đa văn hoá và việc cá nhân ngày càng có xu hướng hướng đến đa dạng văn hoá, mặt khác, làm mất đi tính đa dạng văn hoá thông qua sự đồng hoá, lai tạp hoá, Tây hoá, Mỹ hoá hay Hán hoá của văn hoá
- Làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các hiệp ước quốc tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC;
- Gia tăng việc đi lại và du lịch quốc tế;
- Gia tăng di cư, bao gồm cả nhập cư trái phép;
- Phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu;
- Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế;
- Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia;
- Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử lý các giao dịch quốc tế;
Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu (luật bản quyền)
1.2.6.2 Các tổ chức tiêu biểu
* Tổ chức Liên hiệp quốc (UN)
Đây là tổ chức quốc tế lớn nhất Hiến chương Liên hiệp quốc có hiệu lực thi hành ngày 24/10/1945 tổ chức thành 6 cơ quan chính:
- Đại Hội đồng Liên hiệp quốc là cơ quan quyền lực cao nhất bao gồm tất cả các
quốc gia thành viên Đại diện mỗi quốc gia thành viên được quyền bỏ một phiếu Đại Hội đồng họp hàng năm và đặc biệt khi cần thiết Họp đặc biệt được triệu tập bởi Tổng thư ký Liên hiệp quốc theo đề nghị của Hội đồng Bảo an hoặc một đa số thành viên của Liên hiệp quốc Quyết định các vấn đề quan trọng phải có phiếu thuận của 2/3 các nước thành viên Các vấn đề khác, chỉ cần đa số phiếu giản đơn Đại Hội đồng quyết định chi ngân sách và phân bổ đóng góp ngân sách giữa các quốc gia thành viên Một thành viên không làm tròn nghĩa vụ đóng góp số tiền tương đương 2 năm liền trước sẽ mất quyền
điều phiếu
- Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc gồm 15 thành viên, trong đó 5 thành viên
thường trực (Anh, Pháp, Nga, Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa), 10 thành viên còn lại được bầu với nhiệm kỳ 2 năm bởi Đại Hội đồng Không được bầu vào nhiệm kỳ kế sau khi mãn nhiệm Hội đồng Bảo an là cơ quan được ủy thác, nhân danh Liên hiệp quốc duy trì an ninh và hoà bình thế giới Hội đồng tiến hành điều tra, xem xét các cuộc tranh chấp nào từ đó có thể đe dọa an ninh và hoà bình thế giới Hội đồng có thể mời bất cứ thành viên nào có liên quan tham gia thảo luận Một bên tranh chấp không phải là thành viên của Liên hiệp quốc cũng được mời trình bày sự việc Thủ tục quyết định vấn đề phải được 9/15 thành viên Hội đồng chấp thuận Tất cả các vấn đề, 9 phiếu thuận phải gồm cả 5 thành viên thường trực, bởi vì họ được ban cấp quyền phủ quyết Nếu một bên tranh chấp là thành viên của Hội đồng, thì thành viên ấy không được quyền bỏ phiếu Hội đồng Bảo an trực tiếp triển khai các lực lượng vũ trang giữ gìn an ninh và hòa bình đến tất cả các nơi trên thế giới
- Hội đồng Kinh tế và Xã hội gồm 54 thành viên được bầu bởi Đại Hội đồng với
nhiệm kỳ 3 năm Trách nhiệm của Hội đồng là thực hiện chức năng của Liên hiệp quốc trong việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế và các vấn đề liên quan Hội đồng có 5 ủy ban kinh tế, xã hội cấp vùng tại châu Phi, châu Âu, vùng Mỹ Latin và Caribe, vùng châu Á - Thái Bình Dương và vùng Trung Đông Hội đồng họp một năm
một lần
- Hội đồng ủy trị có trách nhiệm quản lý các vùng ủy trị, đặt dưới sự giám sát của
Liên hiệp quốc
Trang 23- Văn phòng Tổng thư ký có trách nhiệm quản lý công việc hành chính của Liên
hiệp quốc Tổng Thư ký báo cáo lên Đại Hội đồng, và cũng có thể đưa ra trước Hội
đồng Bảo an bất cứ ấn đề nào, mà từ đó ảnh hưởng đến an ninh, và hoà bình thế giới
- Toà án Quốc tế là cơ quan Tư pháp của Liên hiệp quốc Tất cả các thành viên
của Liên hiệp quốc tự nó là các bên tham gia tố tụng theo luật toà án Những quốc gia không phải là thành viên củng có thể trở thành các bên tham gia tố tụng Toà án có thẩm quyền xét xử các vụ kiện do nguyên đơn kiện lên toà, và các vấn đề đặt biệt do Hiến chương Liên hiệp quốc hoặc các Hiệp ước quy định Quyết định của toà án chỉ ràng buộc các bên liên quan, và lưu ý mỗi bên trong các cuộc tranh chấp Nếu một bên không thi hành bản án, thì bên kia sẽ nhờ tới Hội đồng Bảo an can thiệp 15 thẩm phán được bầu bởi Đại Hội đồng, và Hội đồng Bảo an với nhiệm kỳ 9 năm Các thẩm phán mãn nhiệm có thể được tái bầu Toà án thường xuyên có các phiên xử, ngoại trừ thời gian
nghỉ Tất cả các vấn đề được giải quyết bởi đa số Trụ sở toà án tại Hague, Hà Lan
Bên cạnh 6 tổ chức chính còn có các cơ quan đặc biệt hoặc có liên quan như:
- Tổ chức Lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) có vai trò khuyến khích gia
tăng sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, đánh cá, góp phần cải thiện thực phẩm, dinh dưỡng và điều kiện sống cho người dân ở nông thôn
- Tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì khuyến khích tăng việc làm, cải thiện điều
kiện làm việc, và nâng cao tiêu chuẩn sống cho người lao động
- Tổ chức Hàng hải thế giới (IMO) thúc đẩy hợp tác kỹ thuật trên các vấn đề liên
quan đến tàu biển, và vận chuyển hàng quốc tế
- Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trợ giúp đạt tới trình độ sức khỏe cho cư dân, chăm
sóc y tế cao nhất nếu có thể
- Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) bảo vệ tác quyền thông qua hợp tác quốc
tế trên các công trình sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghệ
- Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) phối hợp hoạt động, và cải thiện công trình
nghiên cứu khí tượng thế giới
- Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) quản lý các hiệp ước, hợp đồng thương
mại, xem xét các phương thức giao thương, theo dõi tiêu chuẩn đo lường, và thống kê thương mại khác nhau, và nỗ lực giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên
- Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) khuyến
khích sự cộng tác giữa các quốc gia, thông qua giao lưu văn hóa, giáo dục và kỹ thuật
- Cao ủy Liên hiệp quốc về người tỵ nạn (UNHCR) cung cấp các sự trợ giúp cần
thiết cho người tị nạn
- Sở Năng lượng hạt nhân quôc tế (IAEA) cổ vũ sử dụng năng lượng hạt nhân an
toàn và nhằm mục đích hòa bình
- Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) cung cấp dịch vụ, trợ giúp tài chính, và
cố vấn phát triển cho các chương trình phục vụ bà mẹ và trẻ em trong các quốc gia đang phát triển
- Liên đoàn Bưu chính viễn thông toàn cầu (UPU) hoàn thiện dịch vụ bưu chính
viễn thông, khuyến khích thúc đẩy sự cộng tác viễn thông quốc tế, lập ra các quy định cho việc thu, phát vô tuyến điện báo, điện thoại và truyền thông không gian, phân bố tần
số thu phát cho các vùng
- Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (IBRD) thường gọi là Ngân hàng Thế
giới (WB) và 4 tổ chức thành viên của nó: Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA), Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Cơ quan Bảo đảm Đầu tư đa phương (IMGA) và Trung tâm Giải quyết tranh chấp Đầu tư Quốc tế (ICSID) Chức năng của Ngân hàng Thế
Trang 24giới (WB) là cho vay, và trợ giúp kỹ thuật các dự án phát triển ở các quốc gia đang phát triển; khuyến khích đóng góp tài chính cho những dự án từ nguồn tài chính tư nhân và chính phủ, cung cấp quỹ cho dự án phát triển với điều kiện ưu đãi cho các nước nghèo (IDA); khuyến khích phát triển trong lĩnh vực tư nhân tại các nước đang phát triển, huy động thị trường vốn, động viên nguồn vốn tư nhân trên thế giới (IFC); khuyến khích tư nhân đầu tư vào các nước đang phát triển, bảo đảm cho các nhà đầu tư từ những rủi ro phi kinh tế (MIGA); cung cấp dịch vụ, trung gian hòa giải và trọng tài quốc tế giải quyết các tranh chấp giữa các nhà đầu tư và chính phủ chủ nhà phát sinh trong quá trình đầu tư kinh doanh (ICSID)
- Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) có nhiệm vụ khuyến khích hợp tác tiền tệ thế giới, ổn
định đồng tiền lưu hành và mở rộng thanh toán thương mại quốc tế
- Quỹ Phát triển Quốc tế (IFAD) với nhiệm vụ lưu động quỹ cho phát triển nông
nghiệp và các dự án cải thiện nông thôn ở các quốc gia đang phát triển
- Ngân hàng Tái thiết và Tái Phát triển Quốc tế (IBRR) cung cấp vốn, trợ giúp kỹ
thuật cho các nước đang phát triển để giảm nạn nghèo đói, duy trì sự tăng trưởng kinh tế thuận lợi
Trong nhiệm vụ duy trì an ninh và hòa bình thế giới, Liên hiệp quốc gửi lực lượng
vũ trang đến các nơi có chiến sự, giám sát, theo dõi việc thi hành các thỏa hiệp ngừng bắn, cùng với các phương tiện cứu nạn, giúp những người chạy trốn khỏi vùng lâm chiến, lánh nạn bị đàn áp hoặc bức hại Tính đến năm 2007, lực lượng giữ gìn hòa bình
và an ninh đang triển khai hoạt động tại châu Á thì có Ấn Độ - Pakistan (1948), Israel -
Ả Rập (1948), Síp (1964), cao nguyên Golan (1974), Lebanon (1978), Iraq – Kuwait (1991 –1992), Đông Timor (2000), Afghanistan (2002) Tại châu Âu có Georgia (1993), Bosnia - Herzegovena (1995), Croatia - Motenegro (1996), Kosovo (1999) Và tại châu Phi có Tây Sahara (1991), CHDC Congo (1999), Ethiopia - Eritrea (2000), Liberia (2003), Cote D’voire (2004), Sierra Leon (2006), Burundi (2007) và Darfur (2007)
* Tổ chức cấp vùng, khu vực
Ngoài tổ chức Liên hiệp quốc, còn có các tổ chức cấp vùng, khu vực nhằm thúc đẩy hợp tác, phát triển các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, y tế, khoa học, kỹ thuật và thương mại
- Tại châu Âu thì có Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu (EBRD), Ngân hàng đầu tư châu Âu (EIB), Ngân hàng đầu tư Bắc Âu (NIB), Ngân hàng thanh toán quốc tế (IBS), Hợp nhất tiền tệ châu Âu (EMU), Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC), Liên hiệp châu Âu (EU), Khối thịnh vượng Anh (Commonwealth) Khu vực các nước nói tiếng Pháp (FZ), Các quốc gia độc lập vì thịnh vượng (CIS), Tổ chức Phòng thủ Bắc Đại tây dương (NATO), Tổ chức Hợp tác an ninh châu Âu (OSCE)
- Tại châu Á thì có Ngân hàng phát triển châu Á (ASDB), Ngân hàng phát triển các nước Hồi giáo (ISDB), Quỹ phát triển kinh tế, xã hội các nước Ả Rập (AFESD), Quỹ tiền tệ khối Ả Rập (AMF), Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Liên đoàn Ả Rập (AL), Tổ chức các nước Ả Rập xuất khẩu dầu lửa (OPEC), Liên đoàn Quốc hội châu Á – Thái Bình Dương (APPU)
- Tại châu Phi có Ngân hàng phát triển châu Phi (ADB), Ngân hàng phát triển các nước Đông Phi (EADB), Ngân hàng phất triển các nước Tây Phi (WADB), Ngân hàng phát triển kinh tế các nước Ả Rập Bắc Phi (ABEDB), Tổ chức thống nhất châu Phi (AU), Tổ chức hợp nhất thuế quan Nam Phi (SACA)
Trang 25- Tại châu Mỹ có Ngân hàng phát triển các nước châu Mỹ (IADB), Ngân hàng phát triển vùng Caribe (CDB), Thị trường chung cộng đồng Caribe (CARICOM), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Hệ thống kinh tế các nước Mỹ Latin (SELA), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Hiệp hội hợp nhất các nước Mỹ Latin (LAIA), Hiệp hội các nước vùng Caribe
- Và tại châu Đại Dương thì có Hiệp ước an ninh Hoa Kỳ - New Zealand – Úc (AMRUS) Nhóm 14 nước xuất khẩu nông nghiệp (CAIRNS GROUP)
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỊA LÝ CHÂU ÂU
2.1 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU ÂU
2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ – BIỂN VÀ BỜ BIỂN
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Châu Âu có diện tích 10.553.000km², là một châu lục nhỏ, chỉ chiếm 6,81% diện tích đất nổi trên Trái Đất, xếp thứ 5 Trái Đất sau châu Á, châu Mỹ, châu Phi và châu Nam Cực Châu Âu bao gồm phần phía tây bắc của lục địa Á – Âu và các đảo lân cận
Về giới hạn, điểm cực bắc châu Âu nằm ở mũi Nordkinn (71o08’Bắc) thuộc lãnh thổ Na Uy Điểm cực nam nằm ở Punta de Tarifa (36o00’Bắc) gần eo Gibraltar, phía nam Tây Ban Nha Khoảng cách từ bắc xuống nam khoảng 3.800 km Từ tây sang đông châu Âu dài khoảng 6.000km, chạy từ Cabo da Roca, Bồ Đào Nha, đến sườn đông bắc của dãy Ural (67o20’Đông) thuộc Nga
Trên thực tế, giới hạn của châu Âu thông thường được xác định dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa Do vậy mà kích thước cũng như số lượng các nước của châu Âu sẽ khác nhau tùy theo định nghĩa Hầu hết các nước trong châu Âu là thành viên của Hội đồng châu Âu, ngoại trừ Belarus và Tòa thánh Vatican
Về tiếp giáp, phía bắc châu Âu giáp Bắc Băng Dương, phía tây giáp Đại Tây Dương, phía nam giáp Địa Trung Hải và biển Đen, phía đông giáp châu Á Tuy nhiên, ranh giới cụ thể về phía đông thì hiện không rõ ràng Ranh giới của lục địa châu Âu với châu Á bắt đầu từ dãy Ural (Nga) ở phía đông, đến đông nam thì không thống nhất, có thể coi là sông Ural hoặc sông Emba Từ đó ranh giới này kéo đến hồ Caspian (thường được gọi là biển Caspian), sau đó đến sông Kuma và Manych hoặc dãy Caucasus rồi kéo đến biển Đen, eo biển Bosporus, biển Marmara và eo biển Dardanelles chấm dứt ranh giới với châu Á
Chính châu Âu cũng là một bán đảo khổng lồ của lục địa Á – Âu vì ba mặt của nó
là biển và đại dương
– Phía bắc là Bắc Băng Dương và các biển phụ thuộc nằm ở ven bờ:
Biển Barents: giới hạn bởi biển Na Uy về phía tây, đảo Svalbard (Na Uy) về phía
tây bắc, các đảo đất Franz Josef, Spitsbergen và Novaya Zemlya (đảo Đất Mới – Nga)
về phía đông bắc và đông
Biển Trắng: vịnh của biển Barents, được bao quanh bởi Karelia về phía tây và bán
đảo Kola về phía bắc
– Phía tây châu Âu là Đại Tây Dương, đại dương lớn thứ hai Trái Đất Thềm lục địa ở đây nông (100 – 200m), mở rộng về phía bờ biển các nước Anh, Pháp, Thụy Điển,
Hà Lan, Đan Mạch, … và thu hẹp ở bờ biển bán đảo Iberia (Tây Ban Nha) Các biển nhỏ, vịnh ven bờ như:
Trang 27Biển Na Uy: tiếp giáp với biển Iceland về phía tây và biển Barents về phía đông
bắc, phân cách với Đại Tây Dương bởi một rặng núi ngầm chạy giữa Ireland và quần đảo Faroe ở phía tây nam, phân cách với Bắc Băng Dương bởi rặng núi Jan Mayen ở phía bắc
Biển Bắc: được giới hạn bởi quần đảo Shetland ở phía bắc, quần đảo Orkney, đảo
Anh ở phía tây, miền bắc và trung của châu Âu lục địa về phía đông và nam, eo biển Dover và eo biển Manche nối ra Đại Tây Dương ở phía tây nam, nối với biển Baltic qua các eo biển hẹp Skagerrak và Kattegat ở phía đông
Biển Baltic: bao bọc bởi bán đảo Scandinavia, khu vực Trung Âu và Đông Âu và
quần đảo Đan Mạch Biển Baltic nối với biển Trắng bởi kênh đào Biển Trắng và với biển Bắc bởi kênh đào Kiel
Biển Celtic: giáp với kênh đào Saint George, kênh đào Briston, kênh đào Anh cũng
như những vùng liền kề thuộc Wales, Cornwall, Devon và Breton
Vịnh Biscay: còn gọi là biển Cantabria là một vịnh ở đông bắc Đại Tây Dương
nằm phía nam của biển Celtic Nó chạy dọc bờ biển phía tây của Pháp từ Brest dọc xuống phía nam tới biên giới Tây Ban Nha và từ bờ biển phía bắc của Tây Ban Nha cho tới Punta de Estaca de Bares
Dòng biển nóng Gulf Stream là dòng biển mạnh, ấm và chảy nhanh ở Đại Tây Dương xuất phát từ vịnh Mexico, chảy qua eo biển Florida tới bờ biển phía đông nước
Mỹ và Newfoundland Khi đi ra khỏi khu vực Newfoundland và hướng về phía châu
Âu, dòng biển này được gọi là Bắc Đại Tây Dương Dòng biển kéo dài tới tận miền bờ biển bán đảo Scandinavia và bán đảo Kola của châu Âu làm cho các quốc gia Tây Âu
ấm hơn một cách đáng kể Vì vậy, biển Na Uy và niển Barents không bao giờ bị đóng băng và không có băng trôi mặc dù hai biển này nằm ở vĩ độ cao
Ngược lại là dòng biển lạnh Greenland, hình thành từ Bắc Băng Dương chạy men theo bờ phía đông đảo Greenland xuống mang theo nhiều khối băng trôi đến tận bờ biển Bắc Mỹ Dòng biển lạnh Greenland tiếp xúc với dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương tại Iceland làm sinh ra nhiều sương mù
– Phía nam châu Âu là Địa Trung Hải và biển Đen Đây là những biển nội địa, gần như đóng kín, chỉ thông với Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển hẹp
Địa Trung Hải: được vây quanh bởi đất liền – phía bắc bởi châu Âu, phía nam bởi
châu Phi và phía đông bởi châu Á, thông với Đại Tây Dương qua eo biển Gibraltar Một
số biển nhỏ là một phần của Địa Trung Hải: biển Adriatic; biển Ionia; biển Tyrrhenus; biển Ligure; biển Aegea
Biển Đen: nằm ở đông nam châu Âu và bán đảo Tiểu Á (châu Á), được nối với
Địa Trung Hải qua eo biển Bosporus và biển Marmara Bên trong biển Đen còn có biển Azov là phần phía bắc của biển Đen, nối với biển này bằng eo biển Kerch, có ranh giới
về phía bắc với Ukraina, về phía đông với Nga và về phía tây là bán đảo Crimea Biển Azov là biển nông nhất Trái Đất (sâu trung bình 13 m)
– Phía đông nam châu Âu là hồ Caspian, nằm giữa Nga ở bờ phía bắc và Iran ở bờ phía nam, đông tây giáp các nước Turkmenistan, Kazakhstan và Azerbaijan Đây là hồ nước mặn lớn nhất Trái Đất về cả diện tích (371.000km²) và thể tích (78.200km³) Vì không thông với đại dương nên đây được gọi là một hồ, tuy nhiên do lịch sử địa chất từng nối thông với Địa Trung Hải, diện tích lại quá lớn, độ sâu khá cao (tối đa: 1.025m)
và có nước mặn (nồng độ muối: 1,2%, tương đương khoảng 1/3 nồng độ muối của nước biển) nên hồ này thường được gọi là “biển”
Châu Âu cũng bao gồm nhiều đảo ngoài khơi, diện tích các đảo đã chiếm khoảng trên 3.000.000km2
Đảo Anh nằm ở phía tây bắc của lục địa châu Âu Đây là hòn đảo
Trang 28lớn thứ tám Trái Đất, và là đảo lớn nhất châu Âu Đảo Iceland nằm giáp vòng cực Bắc nên có khí hậu rất lạnh giá Iceland nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương, nên có rất nhiều núi lửa, suối nước nóng và nguồn địa nhiệt khổng lồ Iceland cũng có rất nhiều sông băng Nhờ có dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương chảy gần bên, khí hậu Iceland
ôn hòa hơn, thường có sương mù xảy ra do dòng biển lạnh Greenland và dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương gặp nhau tại đây
2.1.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN
2.1.2.1 Địa chất
Châu Âu được hình thành xung quanh nền cổ Âu (còn được gọi là nền Đông Âu hoặc nền Nga) vào cuối thời Tiền Cambri Đây là một nền lớn, ổn định, phân bố chủ yếu ở Đông Âu, nằm giữa ba cấu trúc núi uốn nếp trẻ hơn là uốn nếp Caledonia (dãy Scandinavia ở tây bắc), Hercynia (khối núi Trung – Tây Âu ở phía tây, Ural ở phía đông), Alps (dãy núi Carpat ở tây nam) Trên nền Âu, hiện nay chỉ thấy hai khiên:
– Khiên Baltic (Scandinavia): nằm ở phía tây của nền Âu, không tìm thấy lớp trầm
tích bên trên bề mặt Điều này có thể giải thích bởi sự nâng lên liên tục bắt đầu từ Cổ sinh nên hầu như khu vực này không bị biển bao phủ Tuy nhiên, phía nam khiên Baltic
là các lục hướng tà (miền võng): Ba Lan – Đức và Ba Lan – Litovsky, hiện nay tương ứng với đồng bằng Ba Lan, Đức, phần lòng chảo phía nam biển Baltic, phần đông của biển Bắc, miền Jutland (bán đảo phía tây Đan Mạch) và các đảo xung quanh, lại tìm thấy lớp trầm tích rất dày, có tuổi trẻ hơn (từ Cổ sinh đến Trung sinh) bao phủ khắp các
lục hướng tà này
– Khiên Ucrain: nằm ở phía tây nam của nền Âu Nhiều vùng trên khiên bị bao
phủ bởi lớp trầm tích băng hà Trong đó, trầm tích phủ ở tây bắc, trung tâm và đông bắc
là trầm tích biển (Cambri, Ocdovis, Silua, Devon muộn, Carbon giữa và muộn, Pecmi sớm), trầm tích lục địa (Devon giữa, trầm tích than đá Carbon sớm) Trầm tích ở bồn địa Moskow là Pecmi muộn và Paleozoi
Trong các đại tiếp theo, sự phát triển của châu Âu diễn biến như sau:
* Đại Paleozoi – Pz
Vào đầu Đại Paleozoi, 3 lục địa cổ là Âu, Bắc Đại Tây Dương, Gondwana đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển các miền địa máng: địa máng Grampian (hướng đông bắc – tây nam) ở phía bắc và địa máng Tethys (hướng đông – tây) ở phía nam Cuối kỷ Silua và đầu kỷ Devon, vận động tạo núi Caledonia đã diễn ra ở vùng địa máng Grampians và địa máng Tethys (ở địa máng Tethys yếu hơn) Vận động này chỉ tạo ra những khối núi riêng lẻ làm cơ sở cho các vận động tạo núi sau này Vận động tạo núi Caledonia còn bao gồm các vận động thẳng đứng và đứt gãy Các đứt gãy này chạy theo hai hướng chính: tây bắc và đông bắc, thể hiện rõ nét ở miền núi Scandinavia và Anh Di tích của Caledonia còn thấy ở đại bộ phận Ireland, Tây Spitsbergen (Na Uy), Greenland, Zemlya Frantsa–Iosifa (Nga)
Đến kỷ Carbon, châu Âu lại diễn ra tạo núi mới: tạo núi Hercynia, hình thành nên một miền núi kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam Tiếp đó lại có những vận động tạo lục mạnh mẽ làm đứt gãy các uốn nếp Hercynia Ngày nay, miền núi Hercynia rất phức tạp, có bộ phận được nâng lên, có bộ phận bị đứt gãy, sụt lún, đoạn tầng Di tích của Hercynia còn tìm thấy ở Nam Ireland và Anh, dãy Vosges, dãy Rừng Đen, khối núi Trung Tâm (Pháp), núi diệp thạch sông Rhine, …
* Đại Mesozoi – Mz
Miền địa máng Tethys ở phía nam vẫn tiếp tục phát triển vượt quá phạm vi châu
Âu Địa máng tiếp tục sụt lún và lắng đọng trầm tích Đáy của địa máng còn có những vực sâu gọi là hố địa máng, ngăn cách với nhau bởi các địa bối tà (miền vồng), có nơi
Trang 29nổi hẳn lên trên mặt biển Ở các hố địa máng lắng đọng trầm tích biển sâu, cấu tạo chủ yếu là đá vôi Trái lại ở các địa bối tà thì có trầm tích biển nông
Xuất phát từ nền móng địa chất như vậy cho nên cấu trúc của Alps sau này hết sức phong phú về thành phần cũng như về màu sắc nham thạch Nham tướng thường thay đổi từ thế nằm ngang cho đến thế dựng đứng Đến Creta, địa máng Tethys mới bước vào chu kỳ uốn nếp, đồng thời kèm theo vận động nâng lên làm cho các nếp núi Alps xuất hiện dần trên mặt biển
* Đại Cenozoi – Kz
Vận động tạo núi Alpide và các vận động tân kiến tạo không những chỉ tác động đến miền địa máng Tethys mà còn thấy biểu hiện ở các nơi khác xa hơn bằng những vận động nâng lên từng khối lớn đồng thời gây ra những đứt gãy, tạo thành các địa hào, địa lũy Lục địa Bắc Đại Tây Dương lúc này bị sụt lún và đổ vỡ gây ra hiện tượng núi lửa, phún xuất dung nham ở Iceland, Ireland, quần đảo Faroe, một phần quần đảo Shetland,
…
Vận động nâng lên thấy rõ ở ven rìa kiến trúc Caledonia, trên bán đảo Scandinavia
và quần đảo Anh Các vận động sụt lún tạo ra eo Manche và tách đảo Anh ra khỏi lục địa Á – Âu
Ngày nay, ta còn thấy các kiến trúc uốn nếp Alpide đồ sộ nhất châu Âu là các mạch núi Alps, Carpat, Balkan Nó còn tiếp tục lan qua đảo Crete (Hy Lạp) sang Tiểu
Á Ngoài ra, Alps còn có quan hệ với núi Apennin, Pyrénées, Andalusia, …
Vận động tạo núi Alpide và các vận động tân kiến tạo đã làm cho miền núi già Hercynia nhiều nơi hóa trẻ lại kèm theo nhiều đứt gãy, đoạn tầng Đặc biệt, đáng chú ý
là hoạt động của băng hà kỷ Neogen mà trung tâm là bán đảo Scandinavia Băng hà trên đường đi đã mang theo vật liệu tạo thành những dạng địa hình lượn sóng ở đồng bằng
Âu và rất nhiều hồ điển hình ở Phần Lan
2.1.2.2 Khoáng sản
Châu Âu tuy có nguồn khoáng sản không phong phú bằng một số châu lục khác nhưng lại có nhiều mỏ với trữ lượng vào loại lớn nhất Trái Đất Sự hình thành và phát triển các mỏ khoáng sản của châu Âu có liên quan mật thiết đối với các quá trình địa chất và quyết định đến sự phân bố của các mỏ khoáng sản
* Các mỏ mạch
Các mỏ mạch thường phân bố trên các khu vực có vận động kiến tạo và tân kiến tạo chiếm ưu thế Nguồn quặng sắt chính của châu Âu ngày nay là mỏ sắt Kiruna ở (phía bắc Thụy Điển) và các khu vực trên bán đảo Scandinavia, Ukraine, bán đảo Iberich, … Ngoài ra, còn có nhiều loại khoáng sản khác là đồng (bán đảo Balkan, bán đảo Iberich, bán đảo Scandinavia, Ba Lan), chì – kẽm (bán đảo Balkan, Ba Lan), bauxite, mangan, niken, vàng, bạc, đất sét, thạch cao, khoáng chất dolomit và muối ở nhiều khu vực khác nhau
* Các mỏ trầm tích
Các mỏ trầm tích nằm trong các vỉa trầm tích, các miền võng trên nền, võng trước
và giữa núi Than có trữ lượng lớn nằm ở một số vùng ở Anh, vùng Ruhr (Đức) và Ukraine Ngoài ra, than cũng được tìm thấy ở Ba Lan, Bỉ, Séc, Slovakia, Pháp và Tây Ban Nha Ngoài ra, còn tìm thấy than nâu ở Séc, Đức Hai vùng chính khai thác dầu mỏ
và khí thiên nhiên của châu Âu là biển Bắc (trong đó Anh, Hà Lan, Đức, Na Uy sở hữu nhiều nhất) và ven hồ Caspian (Nga)
Trang 302.1.3 ĐỊA HÌNH
Châu Âu chịu tác động bào mòn mạnh mẽ, riêng phần Bắc Âu bị bào mòn bởi băng hà kỷ Neogen nên địa hình bị cắt xẻ rất nhiều Độ cao trung bình của châu Âu là 300m, thấp hơn nhiều so với độ cao trung bình châu Á (940m), châu Phi (750m)
Châu Âu tuy có diện tích nhỏ nhưng địa hình rất đa dạng và phức tạp, gồm ba dạng địa hình chính: đồng bằng rộng lớn ở phía đông và phía bắc khu vực trung tâm; miền núi già ở phía tây, tây bắc và phía nam khu vực trung tâm; miền núi trẻ ở phía nam
2.1.3.1 Đồng bằng Âu
Đồng bằng Âu trải dài từ sườn bắc dãy núi Pyrenees ven Đại Tây Dương ở phía tây đến dãy núi Ural ở phía đông Đây là vành đai trầm tích nằm giáp biển Bắc và biển Baltic, uốn thành một vòng cung từ tây nam Pháp chạy về phía bắc và đông qua các nước Bỉ, Đức, Ba Lan và phía tây Nga Do thường được bao phủ bởi trầm tích băng hà nên đồng bằng khá bằng phẳng Đặc biệt, dọc rìa phía nam của đồng bằng là nơi có lớp trầm tích hoàng thổ màu mỡ rất tốt cho nông nghiệp Đây là vùng cảnh quan đồng bằng lớn nhất tại châu Âu, nhưng vẫn có một số cao nguyên, bồn địa (như bồn địa London, bồn địa Paris) nằm trên đồng bằng
Đồng bằng Âu bao gồm đồng bằng Bắc Âu và đồng bằng Đông Âu Sự phân chia này là xét về mặt lịch sử chứ không phải là theo địa mạo: đồng bằng Đông Âu là những phần của đồng bằng Âu từng thuộc đế quốc Nga và do đó từng được gọi là đồng bằng Nga Đồng bằng Bắc Âu tương đối hẹp ở phần phía tây (phần lớn rộng khoảng 320km) nhưng lại mở rộng đáng kể về phần phía đông
2.1.3.2 Các miền núi già
* Miền núi già phía tây và tây bắc
Bao gồm bán đảo Scandinavia, phần bắc và trung tâm đảo Anh, đảo Ireland Các khu vực này hình thành vào giai đoạn tạo núi Caledonia, tương phản sâu sắc với dãy núi Alps còn khá trẻ, động đất vẫn còn xảy ra thường xuyên Khiên Scandinavia, hình thành
từ thời Tiền Cambri nằm bên dưới Phần Lan và phần lớn các vùng còn lại của bán đảo Scandinavia Độ nghiêng của khiên này hướng về phía đông, hình thành cả vùng núi phía tây Thụy Điển và vùng cao nguyên thấp hơn của Phần Lan Băng hà đã đục khoét
bờ biển Na Uy thành các fiord sâu và cọ vào bề mặt của cao nguyên Phần Lan Sự chuyển dịch các mảng của vỏ Trái Đất đã đập vào khiên vững chắc này trong suốt thời
kỳ tạo núi Caledonia (cách đây khoảng 395 – 500 triệu năm) và đã nâng các dãy núi của đảo Anh (Ireland, Wales, Scotland) và phía tây Na Uy lên Quá trình xói mòn diễn ra sau đó đã bào mòn các dãy núi ở Anh, nhưng các đỉnh núi của Na Uy vẫn đạt độ cao trên 2.500m
* Miền núi già trung tâm
Phía nam đồng bằng châu Âu là một dải hẹp có cấu trúc địa chất khác nhau, tạo thành các dạng địa hình phức tạp nhất lục địa Các khu vực này được hình thành trong giai đoạn tạo núi Hercynia (cách đây khoảng 250 – 400 triệu năm) Vùng này chịu các tác động khác nhau như: uốn nếp (dãy Jura), đứt gãy (dãy Vosges và núi Rừng Đen), núi lửa (khối núi Trung Tâm Pháp) và phay nghịch (cao nguyên Meseta Tây Ban Nha)
đã tác động nhau tạo thành các dãy núi Giữa các khối núi này là các cao nguyên và thung lũng Các khối núi này có đỉnh tròn hoặc bằng phẳng, sườn dốc, không cao quá 1.800m
2.1.3.3 Hệ thống núi trẻ
Phía nam của miền núi già trung tâm là khu vực núi uốn nếp trẻ cao nhất châu Âu Vào giữa kỷ Paleogen (cách nay 40 triệu năm), mảng nền Phi – Ả Rập đã va vào mảng
Trang 31nền Á – Âu, gây nên vận động tạo núi Alpide Lực nén tạo nên bởi sự va chạm của các mảng nền đã đẩy lớp trầm tích Trung sinh dày lên, tạo nên các dãy Pyrenees, Alps, Apennines, Carpathians và Caucasus, là những dãy núi cao nhất châu Âu với sườn rất dốc Các trận động đất thường xảy ra ở vùng này đã cho thấy vận động kiến tạo vẫn còn tiếp diễn
2.1.4 KHÍ HẬU
2.1.4.1 Yếu tố hình thành khí hậu
Khí hậu châu Âu chủ yếu là khí hậu ôn hòa hoặc cận nhiệt; chỉ có miền bờ biển và các đảo phía cực Bắc có khí hậu lạnh giá, đó là vùng khí hậu hàn đới (chiếm khoảng 6% diện tích toàn châu) Đồng thời, khí hậu có sự khác biệt giữa phía bắc với phía nam, giữa phía tây ven biển với phía đông nằm sâu trong nội địa Đặc điểm này là do nhiều yếu tố tác động đến
* Vị trí địa lý
Châu Âu nằm từ 36o00’ đến 71o08’Bắc, như vậy đây là châu lục duy nhất trên Trái Đất nằm gần như hoàn toàn trong vành đai ôn đới Với vị trí này, hàng năm châu Âu nhận được một lượng bức xạ Mặt Trời ít hơn so với các châu lục khác (châu Phi, châu Á) Tuy nhiên, do châu Âu kéo dài từ gần cực Bắc cho đến chí tuyến Bắc nên lượng bức
xạ Mặt Trời phân bố không đều, giảm dần từ nam lên bắc Ở các vĩ độ phía nam, tổng lượng bức xạ hằng năm cao (Nam Âu: 160kcalo/cm2/năm) Ở Tây và Trung Âu (Paris: 100kcalo/cm2/năm), còn các vùng thuộc Bắc Âu (Stockhom: 80kcalo/cm2
/năm) lên các đảo vùng cực Bắc: 60kcalo/cm2/năm Cân bằng bức xạ dương, nhưng có sự thay đổi theo hướng bắc – nam Ở Nam Âu: +80kcalo/cm2/năm, nhưng đến Tây và Trung Âu (Paris) còn lại +40kcalo/cm2/năm và thấp nhất ở Bắc Âu (Stockhom): +30kcalo/cm2/năm Lượng bức xạ phân bố không đồng đều là nguyên nhân chủ yếu làm cho điều kiện nhiệt nói riêng và khí hậu nói chung thay đổi từ nam lên bắc
Với vị trí đó, châu Âu nằm trong vùng hoạt động của khối khí đại dương do gió Tây ôn đới từ Đại Tây Dương mang tới Do đó, tuy có sự khác biệt giữa các miền nhưng khí hậu châu Âu nhìn chung là điều hòa hơn bất cứ châu lục nào
* Hình dạng, kích thước
Trên bản đồ ta thấy ba mặt của châu Âu đều có biển và đại dương bao bọc Bờ biển phía tây mở rộng ra Đại Tây Dương do đó ảnh hưởng của đại dương qua tác động của gió Tây ôn đới càng thêm sâu sắc: gió từ đại dương có thể ảnh hưởng thường xuyên tới trung tâm châu Âu và nhiều khi có thể lan tới miền đông của châu lục Tuy nhiên, do
vị trí, hình dạng địa hình giữa Đông Âu và Tây Âu có nhiều nét khác biệt nên mức độ ảnh hưởng của Đại Tây Dương cũng khác nhau Bờ biển Tây Âu bị cắt xẻ mạnh, có nhiều biển phụ ăn sâu vào nội địa; nơi xa biển nhất chỉ có 700km Ngược lại Đông Âu nằm sâu trong nội địa, bờ biển lại ít bị chia cắt; nơi xa bờ biển nhất tới 1.600km, gấp hơn hai lần Tây Âu Phía đông và nam giáp châu Á nên thường chịu ảnh hưởng của khối khí lục địa từ châu lục này lan tới
* Dòng biển
Trang 32Các dòng biển cũng có ảnh hưởng quan trọng đến khí hậu các vùng tiếp cận Trong
số các dòng biển gần bờ, quan trọng nhất là dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương chảy
từ phía nam lên làm cho miền ven biển Tây Âu thêm ấm áp, lượng mưa phong phú Bên cạnh đó còn có dòng biển lạnh Greenland chảy từ cực Bắc xuống, đi ngang qua Tây Âu, mang theo nhiều băng trôi làm cho khí hậu khắc nghiệt hơn
Tóm lại, do vị trí địa lý, châu Âu nói chung có khí hậu ôn đới Do ảnh hưởng của yếu tố hình dạng, kích thước, địa hình và dòng biển, khí hậu châu Âu có sự chuyển tiếp
từ khí hậu đại dương ở phía tây sang khí hậu lục địa ở phía đông Tuy nhiên, so với các châu lục khác thì khí hậu lục địa của châu Âu nhìn chung vẫn ít khắt nghiệt
2.1.4.2 Đặc điểm khí hậu
* Nhiệt độ
Vào tháng 1, các đường đẳng nhiệt chạy gần như song song với hướng kinh tuyến (bắc – nam) Đường đẳng nhiệt +5oC chạy dọc theo bờ biển các nước Anh, Pháp và tận cùng ở phía đông là –15oC Như vậy, càng đi về phía đông thì nhiệt độ càng thấp Nếu lấy đường đẳng nhiệt –5oC làm ranh giới cho khu vực có mùa đông lạnh lẽo thì hầu hết khu vực Đông Âu nằm trong vùng lạnh lẽo này Trong khi đó thì Tây Âu lại có nhiệt độ trên –5o
C, với khoảng 1/2 diện tích với nhiệt độ trên 0oC Đây là nhiệt độ của miền khí hậu ôn đới đại dương điển hình vì khu vực này chịu ảnh hưởng của gió Tây ôn đới và dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương
Vào tháng 7, các đường đẳng nhiệt lại chạy theo hướng vĩ tuyến (đông – tây), trái ngược hẳn với sự phân bố các đường đẳng nhiệt tháng 1 Đường đẳng nhiệt +10o
C chạy men theo bờ Bắc Băng Dương, gần trùng với vòng cực Bắc Hầu hết lục địa châu Âu có nhiệt độ trên 10oC, nhiệt độ giảm dần từ nam lên bắc, phù hợp với quy luật phân bố nhiệt độ trên Trái Đất Nếu lấy đường đẳng nhiệt +20oC làm ranh giới cho khu vực có mùa hạ nóng thì nửa phía nam và đông nam có mùa hạ nóng và kéo dài hơn, càng đi về phía đông nam nhiệt độ càng tăng
Sự phân bố nhiệt độ cho thấy phần nào về đặc điểm khí hậu của châu Âu
Sự phân bố nhiệt độ ở một số thành phố cho thấy ở Tây Âu mùa đông khá ấm, mùa hạ lại khá mát, biên độ nhiệt nhỏ Trong khi đó, khu vực Đông Âu thì mùa đông lạnh, mùa hạ nóng hơn, biên độ nhiệt cao hơn
* Khí áp và gió
Vào tháng 1, mùa đông ở bán cầu Bắc, không khí vùng Trung Á, Đông Siberi bị hóa lạnh mạnh, nhiệt độ trung bình tháng 1 vùng Trung Á thay đổi từ –10 đến –40°C, còn ở vùng Đông Siberi xuống –40 đến –50°C Do sự hóa lạnh đó, trên lục địa hình thành một áp cao được gọi là áp cao Siberi Áp cao Siberia từ châu Á đâm qua châu Âu thành một lưỡi khí áp kéo dài từ đông – đông bắc xuống tây – tây nam chạy dọc vĩ tuyến 60°Bắc, bao phủ miền đông và nam châu Âu và dính liền với áp cao Azores (áp cao Bắc Đại Tây Dương) ở ngoài Đại Tây Dương Đồng thời, áp thấp Iceland hình thành ở giữa Iceland và miền Nam Greenland cũng phát triển và trải rộng toàn bộ miền tây bắc châu Âu, lan rộng tới khu vực biển Barents Giữa hai khu khí áp cao và áp thấp này hình thành nên front ôn đới rất rõ rệt Giữa front này hình thành nhiều khí xoáy chuyển dịch theo hướng tây nam – đông bắc Đồng thời trong thời gian này, khu vực Địa Trung Hải do nhiệt độ nước biển tương đối ấm nên hình thành áp thấp tương đối Địa Trung Hải
Thời gian này, gió chủ yếu ở châu Âu là gió Tây ôn đới Gió này thổi từ Đại Tây Dương vào lục địa châu Âu mang theo nhiều hơi nước nên bầu trời luôn u ám, có khi mang theo sương mù và mưa lạnh Miền đông nam có gió nam và đông nam khô và lạnh từ lục địa châu Á thổi qua
Trang 33Vào tháng 7, mùa hạ ở bán cầu Bắc, nhiệt độ khu vực Siberia không còn quá lạnh như mùa đông nên diện tích khu áp cao Siberia giảm xuống, lưỡi khí áp do áp cao Siberia tạo ra bao lấy phía đông châu Âu cũng bị mất đi Trong thời gian này, vùng trung tâm châu Âu hình thành một áp thấp Ngoài đại dương, vùng áp thấp Iceland cũng
bị suy yếu đi và chia ra thành hai trung tâm, một gần eo biển Davis và một gần miền tây Iceland Áp cao Azores di chuyển về phía bắc (bán đảo Iberia), gây ra chỏm áp cao ngang qua Pháp, miền Bắc Đức và Đông Nam Anh gây nóng và khô với nhiệt độ có thể lên tới trên 30°C
Thời gian này chủ yếu cũng là gió Tây ôn đới Gió này thổi theo hướng tây nam từ Đại Tây Dương vào lục địa châu Âu mang theo nhiều mây và mưa, nhưng càng vào sâu trong nội địa, độ ẩm càng giảm, gió càng trở nên khô khan Miền Nam Âu về mùa hạ chủ yếu lại là gió đông và đông bắc
* Mưa
Do khí hậu châu Âu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió tây từ Đại Tây Dương thổi vào nên lượng mưa ở châu Âu phong phú Phần lớn châu Âu có lượng mưa từ 500 – 1.500mm/năm Trong đó, có hơn 1/2 diện tích châu Âu có lượng mưa trên dưới 1.000mm/năm Tuy nhiên, lượng mưa cũng giảm dần từ tây sang đông tùy thuộc vào sự biến tính của gió Tây ôn đới
Mưa nhiều nhất là miền ven Đại Tây Dương, phía Tây Na Uy, Anh cũng như trên các sườn núi phía Tây dãy Pyrenees, Alps, Dinaric Alps, lượng mưa trung bình 2.000mm/năm Một số miền núi tương đối xa biển như Carpathians, Balkan, khối núi Trung Tâm (Pháp) lượng mưa cũng khá cao, thường khoảng 1.000mm/năm, phân bố đều cả năm
Sang đến đồng bằng Đông Âu thì lượng mưa trung bình năm chỉ còn khoảng 500 – 600mm/năm, mưa rơi chủ yếu là vào mùa hạ Ở miền Đông Nam đồng bằng Âu và miền đất thấp cận Caspian lượng mưa trung bình chỉ còn từ 100 – 250mm/năm Miền này nằm ở phía Nam áp cao Á – Âu và là nơi hoạt động chủ yếu của gió nam và đông nam khô khan từ lục địa châu Á thổi qua
Ngoài ra, những nơi khuất gió như phía đông bán đảo Scandinavia, Pyrenees hoặc miền cực Bắc châu Âu cũng là nơi có mưa ít, lượng mưa từ 300 – 500mm/năm
2.1.4.3 Các vành đai khí hậu
Châu Âu có thể chia làm bốn vành đai khí hậu: vành đai cực, vành đai cận cực, vành đai ôn đới và vành đai cận nhiệt đới Trong đó, vành đai ôn đới chiếm một diện tích rộng lớn hơn cả
* Vành đai khí hậu cực đới
Vùng ven biển xa nhất về phía đông bắc của bán đảo Scandinavia, Bắc Iceland và
các đảo phía bắc thuộc Bắc Băng Dương có khí hậu cực, thuộc kiểu khí hậu lãnh nguyên
(hay khí hậu Tundra) được đặc trưng bằng sự thiếu vắng mùa hạ ấm áp, nghĩa là không
có các tháng với nhiệt độ trung bình là 10°C hay cao hơn (chỉ có 1 – 2 tháng với nhiệt
độ trên điểm đóng băng 0°C) Mùa đông ở đây kéo dài khoảng 10 – 11 tháng, lạnh lẽo, nhiệt độ rất thấp (nhiệt độ tháng nóng nhất không lớn hơn 50C), hay có bão tuyết Lượng mưa năm là 200 – 250mm, có đông kết vĩnh cửu
* Vành đai khí hậu cận cực đới
Miền bờ biển Bắc Băng Dương có khí hậu cận cực Mùa đông ở đây lạnh, kéo dài
từ tháng 7 đến tháng 10 Mùa hạ ngắn và mát, trời luôn có mây và mưa nhỏ Nhiệt độ
ấm hơn vành đai cực một chút nhưng vẫn thấp (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là
5oC đến 12oC) Lượng mưa khoảng 1000mm ở phía tây, khoảng 400mm ở phía đông
Trang 34Lượng bốc hơi nhỏ hơn mưa nên phần lớn đất đai trở nên ẩm thấp, nhiều nơi biến thành đầm lầy
* Vành đai khí hậu ôn đới
– Kiểu khí hậu ôn đới đại dương: Các nước vùng ven biển Tây Âu có khí hậu ôn
đới đại dương Song tùy theo vị trí từng miền so với đại dương, tính chất khí hậu có khác nhau: miền quần đảo Anh, miền bờ biển phía tây bán đảo Scandinavia, bán đảo Jutland, Pháp, … có khí hậu ôn đới đại dương điển hình Mùa đông ấm, mùa hạ mát mẻ Nhiệt độ trung bình tháng 1 thường trên 0oC Nhiệt độ dao động không lớn, từ 8 – 18oC Mưa nhiều và mưa quanh năm, lượng mưa trên 2.000mm/năm, tập trung nhiều hơn vào mùa thu, đông Còn vào sâu trong nội địa như miền Đông Pháp, Đức, Áo, Séc, Slovakia, Ba Lan, … và một phần phía Nam Thụy Điển, khí hậu ôn đới đại dương giảm dần và tính chất khí hậu ôn đới lục địa bắt đầu tăng lên Đó là miền khí hậu trung gian,
mùa đông không lạnh lắm nhưng cũng không ôn hoà mát mẻ như bờ biển Tây Âu
– Kiểu khí hậu ôn đới lục địa: Phần lớn khu vực Đông Âu có khí hậu ôn đới lục
địa với đặc điểm là mùa đông lạnh, mùa hạ nóng Càng sang phía đông tính chất khắc nghiệt của khí hậu lục địa càng biểu hiện rõ rệt Nhiệt độ giao động tới 30 – 35oC Mùa đông lạnh và kéo dài Thỉnh thoảng có những đợt khí lạnh từ phương bắc tràn xuống, đôi khi xuống tận miền nam, thời tiết lạnh dữ dội Ban đêm nhiệt độ xuống –20, –30o
C,
có khi còn thấp hơn nữa Mùa hạ nóng, mưa nhiều song không nhiều bằng kiểu khí hậu
ôn đới đại dương
* Vành đai khí hậu cận nhiệt đới
Nam Âu nằm ven bờ Địa Trung Hải có khí hậu cận nhiệt đới khô với đặc điểm là mùa hạ nóng gay gắt, khô khan, mùa đông mát dịu và mưa nhiều với lượng mưa khoảng 1.000mm/năm
Trong mùa đông, các khối khí lạnh từ phương bắc tràn xuống bị hệ thống núi Alps
và Carpathians ngăn lại nên Nam Âu không lạnh bằng các miền khác ở châu Âu Nhiệt
độ trung bình tháng 1 từ 5 đến 10o
C Đôi khi gió lạnh cũng có thể tràn xuống làm cho nhiệt độ giảm nhanh Trong thời gian này, áp cao Siberia mở rộng và nối liền với áp cao Azores ở phía tây Dải áp cao này phân cách với áp cao Bắc Phi bởi khu áp thấp tương đối trên Địa Trung Hải Nhờ có áp thấp này cùng với front ôn đới chạy qua trên biển nên thời tiết khu vực Địa Trung Hải bị thay đổi và có mưa nhiều
Ngược lại, mùa hạ có các đợt gió nóng từ phương nam tràn lên, khí hậu rất khô bầu trời luôn trong xanh Nhiệt độ trung bình tháng 7 khoảng 25oC Vùng Địa Trung Hải do nằm dưới vùng áp cao Azores, không khí thường xuyên đi xuống nên thời tiết rất
ổn định, khô nóng và hầu như không mưa và sinh hạn hán
2.1.5 SÔNG NGÒI – HỒ
2.1.5.1 Sông ngòi
* Đặc điểm sông ngòi châu Âu
Sự hình thành và phát triển của mạng lưới sông ngòi có mối quan hệ mật thiết với điều kiện khí hậu, địa hình, vị trí địa lý Các điều kiện này tạo ra các đặc trưng cho hệ thống sông ngòi của châu Âu:
– Sông ngòi tương đối nhiều, phân bố khắp trên bề mặt lãnh thổ
– Đường phân thủy các lưu vực sông thấp nên dễ dàng xây dựng các kênh đào nối
liền các sông với nhau Hệ thống kênh đào ở châu Âu rất phát triển, vì vậy giao thông đường sông từ Đông Âu sang Tây Âu, từ Bắc Âu xuống Nam Âu khá thuận lợi
– Chủ yếu là các sông ngắn (chỉ có 17 sông dài trên 1.000km), diện tích lưu vực nhỏ Các sông quan trọng ở châu Âu, với chiều dài ước tính:
1 Volga – 3.690 km 2 Danube – 2.860 km
Trang 35– Đa số các sông của châu Âu có giá trị kinh tế rất lớn trong giao thông vận tải
(sông Rhine, sông Danube và sông Volga) do lượng nước khá dồi dào Tuy nhiên, các
sông chảy vào Bắc Băng Dương thường đóng băng vào mùa đông nhất là ở các cửa
sông
* Các sông lớn ở châu Âu
– Sông Volga nằm ở miền Tây Nga là con sông dài nhất châu Âu (3.690km), bắt
nguồn từ vùng đồi Valdai cách Sankt – Peterburg 320km về phía đông nam Sông Volga chảy theo hướng đông, rồi chuyển hướng về phía nam, đổ vào hồ Caspian ở phía dưới Astrakhan (–28m) Sông Volga bị đóng băng trong khoảng 3 tháng mỗi năm trên gần như toàn bộ chiều dài của nó Vùng châu thổ sông Volga có chiều dài khoảng 160km và bao gồm tới 500 kênh và sông nhỏ Châu thổ sông Volga và biển Caspian là nguồn cung cấp thủy sản quan trọng (cá) Thành phố Astrakhan, nằm ở vùng châu thổ này, là trung tâm cung cấp trứng cá muối
Sông Volga có tầm quan trọng lớn trong giao thông, vận tải nội thủy ở Nga: tất cả các đập nước trên sông đều có các âu thuyền lớn nên tàu bè với kích thước có thể di chuyển từ biển Caspian tới thượng nguồn con sông này Hệ thống các kênh đào Moskva – Volga, kênh đào Volga – Don và kênh đào Mariinsk tạo thành một tuyến đường thủy nối liền Moskva với Bạch Hải, biển Baltic, biển Caspian, biển Azov và biển Đen Hệ thống sông Volga còn đảm bảo tưới tiêu cho một khu vực có diện tích khoảng 1,35 triệu
km2 Vùng thung lũng sông Volga được tưới tiêu bởi con sông này cung cấp một lượng lớn lúa mì Các hồ chứa này cung cấp nước cho thủy lợi và phát điện
– Sông Donau dài 2.850km, là sông dài thứ hai ở châu Âu, bắt nguồn từ vùng
Rừng Đen của Đức, là hợp lưu của hai dòng sông Brigach và Breg Sông chảy qua nhiều nước Trung và Đông Âu theo thứ tự: Đức, Áo, Slovakia, Hungary, Croatia, Serbia, Bulgaria, România, Moldova và Ukraina và đổ vào Biển Đen Châu thổ sông Danube có diện tích khoảng 4.152km², là châu thổ sông lớn thứ 2 ở châu Âu sau châu thổ sông Volga Các vùng đất ngập nước (Ramsar) là nơi cư trú và dừng chân của nhiều loài chim di cư (hơn 300 loài chim cũng như 45 loài cá nước ngọt)
– Sông Ural dài 2.428km, bắt nguồn từ phía nam dãy núi Ural, chảy qua Nga và
Kazakhstan rồi đổ vào biển Caspian, tạo thành một phần của ranh giới truyền thống giữa châu Âu và châu Á
2.1.5.2 Hồ
Các hồ của châu Âu có nguồn gốc khác nhau, bao gồm các hồ có nguồn gốc băng
hà và các hồ có nguồn gốc miệng núi lửa Các hồ băng hà nằm trên các vùng đồng bằng như Nga, Thụy Điển, Ba Lan, Phần Lan Trong khi đó, các hồ miệng núi lửa lại phân bố
ở miền núi như Thụy Sĩ, Italy và Áo Châu Âu có nhiều hồ, trong đó, hồ nước ngọt lớn nhất là hồ Ladoga
– Hồ Ladoga là một hồ nước ngọt trong nước CH Karelia ở tây bắc Nga, gần
Sankt Peterburg Đây là hồ lớn nhất châu Âu và là hồ lớn thứ 15 trên Trái Đất Diện tích
Trang 36của hồ là 17.891km² (không tính các đảo), độ sâu tối đa khoảng 230m Tính trung bình Ladoga ở trên mực nước biển 5m Hồ này chảy vào vịnh Phần Lan thông qua sông Neva Tàu thuyền có thể đi lại trên hồ Ladoga Sự thoái lui sông băng sau kỷ băng hà cuối cùng xảy ra ở lưu vực hồ Ladoga từ khoảng 12.000 năm trước
– Hồ Onega nằm ở miền tây bắc Nga thuộc lãnh thổ nước CH Karelia, là hồ lớn
thứ nhì ở châu Âu sau hồ Ladoga, lớn thứ 18 trên Trái Đất (diện tích là 9.700 km² – không kể các đảo) và dung tích là 280km³ Hồ này là vết tích còn lại của một khối nước lớn đã tồn tại ở khu vực này trong kỷ băng hà cuối cùng, khoảng 12.000 năm trước đây
– Hồ Vänern là hồ lớn thứ ba châu Âu, và là hồ lớn nhất Thụy Điển Hồ này nằm
ở vùng tây nam Thụy Điển, có diện tích là 5.655 km2 Nó nằm ở độ cao 44m trên mực nước biển và có độ sâu trung bình 27m, tối đa là 106 m Hồ này được tạo thành sau kỷ băng hà cuối cùng, khoảng 10.000 năm trước khi băng tan ra
– Hồ Saimaa là một hồ ở đông nam Phần Lan, sâu tối đa là 82m Với diện tích
khoảng 4.400 km2, đây là hồ lớn nhất ở Phần Lan, và là hồ lớn thứ tư ở châu Âu Nó được hình thành bởi việc tan băng ở cuối kỷ băng hà cuối
2.1.6 THỰC – ĐỘNG VẬT
2.1.6.1 Giới thiệu khái quát
* Thực vật chủ yếu ở châu Âu là rừng Điều kiện ở châu Âu rất thuận lợi cho rừng
phát triển Về phía bắc, dòng biển nóng Gulf Stream (Bắc Đại Tây Dương) sưởi ấm châu lục Nam Âu thì có khí hậu ấm và ôn hòa Vùng này thường có mưa rào mùa hạ Các dãy núi cũng ảnh hưởng tới các điều kiện phát triển sinh vật Một số dãy (Alps, Pyrene) có hướng đông–tây nên tạo điều kiện cho gió mang một lượng nước rất lớn từ biển vào trong đất liền Các dãy khác thì hướng nam–bắc (các dãy Scandinavia, Dinarides, Carpat, Apennin) làm cho rừng chủ yếu phát triển bên sườn đón gió, trong khi phía bên kia thì điều kiện kém thuận lợi hơn
Hiện nay, rừng nguyên sinh ở châu Âu chiếm khoảng 25% diện tích rừng thế giới, gồm: rừng vân sam (Scandinavia), rừng thông (Nga), rừng dẻ (Caucasus) và rừng sồi bần (Địa Trung Hải) Chỉ duy nhất ở các miền núi về phía bắc và trung tâm châu Âu rừng vẫn còn bao phủ và ít chịu ảnh hưởng của hoạt động con người Rừng nguyên sinh
ở Tây Âu chỉ còn 2 – 3% tổng số rừng Nước có tỷ lệ rừng bao phủ thấp nhất là Ireland (8%), trong khi nước có nhiều rừng bao phủ nhất là Phần Lan (70%) Gần đây việc phá rừng bị hạn chế và việc tái trồng rừng ngày càng nhiều Cây họ thông được trồng nhiều hơn các loài rụng lá vì thông mọc nhanh hơn Các trang trại và đồn điền chăn nuôi thiên
về một loài trên một diện tích rộng lớn đã không tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh vật khác nhau trong rừng châu Âu sinh trưởng
* Động vật: Việc đóng băng trong thời kỳ Băng hà gần đây nhất và sự hiện diện
của con người đã ảnh hưởng tới sự phân bố của hệ động vật châu Âu Trong nhiều khu vực của châu Âu, đa phần các loài động vật lớn và các loài thú ăn thịt hàng đầu đã bị
săn tới tuyệt chủng
Hiện nay, các loài thú quan trọng ở châu Âu là gấu nâu, chó sói, gấu Bắc cực tuần lộc, mèo rừng, mèo hoang, thỏ rừng, cáo (đặc biệt là cáo đỏ), sóc, chồn, nhím, hươu, nai, nai sừng tấm, hoẵng, lợn rừng, marmot, dê rừng, sơn dương, proteus và dơi Trong
đó, ngày nay gấu nâu sống chủ yếu trong bán đảo Balkans, ở Bắc Âu và Nga, một số nhỏ cũng còn ở một số nước châu Âu (Áo, Pyrene) Chó sói là loài phổ biến thứ hai ở châu Âu sau gấu nâu cũng được tìm thấy chủ yếu tại Đông Âu và vùng Balkans Ở cực bắc châu Âu, có thể thấy gấu Bắc cực Tuần lộc được nuôi bởi người Saami ở phía bắc Sơn dương được tìm thấy ở vùng núi cao Pyrenees và núi Alps Nai, nai sừng tấm, chó sói và gấu ở những vùng hoang vu ở bắc Scandinavia, Nga và ở bán đảo Balkan
Trang 37Bên cạnh đó các loài thú, động vật châu Âu còn có các loài chim quan trọng như:
cú, diều hâu, đại bàng, ưng, sẻ, sơn ca, bồ câu, hét, cò, thiên nga và các loài bò sát: các loại rắn (rắn viper, rắn cỏ), ốc sên, Động vật dưới nước đóng vai trò quan trọng trong
hệ động châu Âu với các loài quan trọng: giáp xác trôi nổi, thân mềm, da gai, các loài tôm, mực ống, bạch tuộc, cá (cá tuyết, cá thu, cá trích, cá ngừ, cá heo, cá mập, )
2.1.6.2 Các vành đai sinh vật
Nhìn chung, các vành đai sinh vật của châu Âu thay đổi từ tây sang đông và từ nam lên bắc theo sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa Vùng Địa Trung Hải với khí hậu bán khô cằn thì có nhiều rừng rậm, olive, bách Khu vực trung tâm châu Âu rừng cây rụng lá sớm chiếm ưu thế với các loài quan trọng: sồi, birch Một dải lưỡi hẹp đông–tây của thảo nguyên Âu Á, trải dài về phía đông tại Ukraina và về phía nam tại Nga và kết thúc ở Hungary và đi qua rừng taiga ở phía bắc Ở các vùng cao hay khi lên phía bắc (Nga và Scandinavia) rừng lá kim chiếm ưu thế Đến vùng gần cực Bắc thì đồng rêu lại thay thế
* Miền Địa Trung Hải
Miền này chiếm khoảng 11% diện tích châu lục, bao gồm dải đất ven bờ biển Iberia, Appenine, Balkan và một số đảo trong Địa Trung Hải Khí hậu với đặc trưng mưa nhiều về mùa đông, khô khan về mùa hạ Đất phổ biến ở miền này là đất nâu rừng cận nhiệt đới khô Thực vật gồm các loại cây lá xanh quanh năm và rụng lá mùa đông như sồi thường xanh, dẻ, thông Ngoài ra là các loại cây có vỏ dày, lá cứng như dẻ gai, sồi lie, cọ, xương rồng Nhiều khu vực đã được khai phá thành các vườn nho, oliu, cam, chanh, hoa nổi tiếng châu Âu
Động vật ở đây khá phong phú: trong rừng có hoẵng, chó sói, nhím, lừa, thỏ rừng
và các loài gặm nhấm Miền nam bán đảo Iberia có nhiều khỉ Bắc Phi Chim chóc và các loài bò sát rất nhiều
* Miền rừng thảo nguyên và thảo nguyên
Miền nằm ở phía nam của Đông Âu, phía nam miền rừng hỗn hợp, là miền rừng thảo nguyên và thảo nguyên Miền này có khí hậu lục địa khô khan, ít mưa mà bốc hơi lại nhiều Miền này có loại đất đen phì nhiêu Thực vật chủ yếu là cỏ và rừng cây thưa Phía bắc ẩm hơn, cỏ mọc dày và cao, cây mọc thành rừng Phía nam khí hậu khô khan hơn, cỏ mọc rất thưa thớt
Động vật sinh sống ở đây gồm có các loài ăn cỏ và lá cây: bidong châu Âu, dê rừng, hươu, các loài gặm nhấm như thỏ rừng, chuột nhảy và nhiều loài chim (cò, sếu, đa
đa, sáo, ó và đại bàng, )
* Miền hoang mạc và bán hoang mạc
Miền này phát triển ở cực đông nam của Đông Âu, trong miền đất thấp ven biển Caspian Miền này có địa hình rất bằng phẳng, đất đai chứa nhiều muối và có các hồ nước mặn Khí hậu rất khô khan, lượng mưa khoảng 300mm/năm, sông ngòi hầu như không có Thực vật thưa thớt, có nhiều cây bụi và cây gai mọc như cây ngải đắng, xương rồng
Động vật có nhiều động vật thảo nguyên, gồm các loài gặm nhấm như thỏ rừng, chuột, các loại bò sát như thằn lằn, rùa, rắn,
Miền này cũng có một số ốc đảo trù phú như miền hạ lưu sông Volgar Dân cư đông đúc, chuyên về trồng trọt và chăn nuôi
* Miền rừng hỗn hợp và rừng cây lá rộng
Chiếm diện tích lớn nhất trong các miền sinh vật của châu Âu, nó bao gồm phần lớn Tây Âu và một phần khu vực Đông Âu, kéo dài từ Đai Tây Dương ở phía tây sang phía đông đến tận phía nam dãy núi Ural (Nga) Giới hạn phía bắc đến vĩ tuyến 60º Bắc,
Trang 38phía nam xuống tới dãy Carpart và Địa Trung Hải Miền này có khí hậu ôn đới đại dương Đất đai là đất rừng nâu bị glei hóa hoặc đất potzon nhưng có nhiều mùn hơn Khu vực ven Đại Tây Dương có mưa nhiều nên thực vật phổ biến là cây rụng lá (sồi, dẻ) và các loại cây lá rộng xanh quanh năm Càng đi dần về phía đông vào sâu trong lục địa, lượng mưa giảm dần, vành đai hỗn hợp giữa cây rụng lá (sồi, thích/phong, du) và cây lá kim (thông, linh sam) phát triển Tuy nhiên, càng sang phía đông khí hậu thích hợp hơn cho sự phát triển liên tục của rừng cây lá kim (chủ yếu là vân sam, thông) mặc
dù birch, dương rụng lá cũng hiện diện Càng sang phía đông vành đai này càng thu hẹp lại
Động vật trong miền này có lợn rừng, cáo, chồn, chó sói, gấu xám, hươu, nai, sóc Loài chim cũng khá phong phú: sếu, đa đa, vịt trời, sơn ca, Đây là miền hiện nay đã được khai thác triệt để nhất, đã biến thành các cánh đồng nông nghiệp và các đô thị Rừng chỉ còn trên các sườn núi của những miền núi cao Dã thú hầu như đã tuyệt chủng, chỉ còn lại một số loài như gấu, chó sói, hươu ở miền rừng núi
* Miền rừng cây lá kim
Miền này phát triển trên một diện tích lớn, kéo dài từ bán đảo Scandinavia ở phía tây đến tận mạch Ural ở phía đông Miền này nằm ở phía nam miền đài nguyên và có giới hạn về phía nam đến vĩ tuyến 55º Bắc Miền này có mùa đông rất lạnh, nhiệt độ, lượng mưa cao hơn so với miền đài nguyên Đất đai miền này cấu tạo từ lớp vỏ phong hóa của đá hoa cương nên có nhiều hạt thạch anh lẫn sét Đất ẩm thường xuyên, phát triển trong môi trường yếm khí nên hình thành đất potzon nghèo mùn, độ chua khá cao Cây lá kim phát triển mạnh, điển hình là thông, tùng, bách Về phía đông, miền rừng lá kim mở rộng và hoà vào với rừng lá kim của Siberia Phía nam miền rừng này bắt đầu xuất hiện các cây lá rộng như thích/phong, bồ đề
Do đặc điểm về khí hậu và thực vật, miền này có động vật phong phú hơn miền đài nguyên ở phía bắc Đông vật với các loài có lông dày và đẹp: gấu nâu, các loại cáo, chồn, hải ly, thỏ tuyết Động vật ăn thịt còn có chó sói Ngoài ra còn có những động vật
ăn lá và trái cây như: sóc, chuột compachon, một số loài hươu, nai ôn đới Trong có đầm lầy còn có nhiều loài chim Miền này đã được khai quá, trở thành miền khai thác
gỗ và chế biến gỗ quan trọng của châu Âu
* Miền đài nguyên
Miền đài nguyên chiếm khoảng 3% diện tích châu Âu, bao gồm các đảo ở phía bắc
và vùng ven Bắc Băng Dương, nẳm ở phía bắc miền rừng lá kim Với điều kiện khí hậu lạnh lẽo, mùa đông kéo dài, mùa hạ ngắn, nhiệt độ trung bình tháng 7 không quá 10oC, băng tuyết phủ dày, có nơi tới 1,5m, đất đai biến thành đầm lầy nên chỉ mọc được rêu, địa y Ở phía nam có các cây bạch dương lùn, liễu lùn miền cực Mùa hạ tuy ngắn ngủi, nhưng khi băng tuyết tan đi thì cỏ mọc rất nhanh, điểm một số loại hoa sặc sỡ, đài nguyên như sống lại
Động vật ở đây hầu hết là các loài chồn, cáo miền cực, tuần lộc, Ven biển có báo biển, voi biển, gấu trắng, chó biển Dưới biển có những cá lớn như cá voi, cá mập,
đô phanh Về mùa hạ có nhiều loài chim di cư tới sinh sống như ngỗng trời, vịt trời, hải
âu
Hiện nay, miền này đã được khai phá, nhiều làng mạc, thành phố mới mọc lên, dân cư ngày càng đông Cảnh quan đài nguyên ngày càng thay đổi
* Miền núi cao
Tại các miền núi cao, thực vật thay đổi theo độ cao Dưới chân núi là miền cận nhiêt đới với những vườn nho, vườn hoa tươi tốt Từ 800 – 1.800m là miền rừng cây lá rộng, miền rừng cây hỗn hợp rồi đến miền rừng cây lá kim Từ 1.800 – 2.300m, khí hậu
Trang 39giá buốt cây cối thưa dần, miền đồng cỏ thay thế cho rừng Miền đồng cỏ cũng có nhiều hoa màu sắc đẹp Từ 2.300 – 2.500m là miền đất trống Từ 2.500m trở lên là miền băng tuyết vĩnh viễn
Động vật có nhiều loài động vât núi cao, phần lớn đến từ các miền núi cao Trung
Á và Tây Á như nai, dê núi, thằn lằn, đại bàng Đai lá kim có gấu xám, gà rừng, đa đa, chim gõ kiến
2.2 ĐỊA LÝ KINH TẾ – XÃ HỘI CHÂU ÂU
2.2.1 BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ
2.2.1.1 Tình hình chính trị châu Âu
Hai cuộc chiến tranh thế giới lần I (1914 – 1918) và lần II (1939 – 1940) đều khởi đầu từ châu Âu Và hậu quả của chiến tranh là sự đổ vỡ lớn lao cho châu lục về mặt kinh tế và xã hội Nó cũng làm thay đổi các thể chế chính trị và khai sinh thêm nhiều quốc gia mới Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia xã hội chủ nghĩa được thành lập ở nhiều nước châu Âu Và lục địa này bị chia thành hai nhóm nước, các quốc gia xã hội chủ nghĩa ở phía Đông gọi là khối Đông Âu Và các quốc gia tư bản ở phía Tây gọi
là khối Tây Âu Từ cuối thập niên 1940, đến thập niên 1960, sự kình địch giữa hai khối Đông Âu và Tây Âu trở thành trung tâm “Chiến tranh Lạn”h của thế giới
Cuối thập niên 1960, mối quan hệ giữa hai khối “Đông - Tây” được cải thiện Gorbachev, từng là lãnh đạo Liên bang Soviet từ năm 1985 tới 1991 đã nỗ lực thực hiện cải cách giúp chấm dứt “Chiến tranh Lạnh” với chương trình “cải tổ và đổi mới”, nhưng cũng góp phần kết thúc quyền uy tối cao của Đảng Cộng sản Liên xô và giải thể Liên bang Soviet Năm 1990, Đông Đức và Tây Đức thống nhất thành Cộng hòa Liên bang Đức dưới hình thức tư bản chủ nghĩa Năm 1991, Estonia, Latvia và Lithuania, ba thành viên của Liên bang Soviet từ năm 1940 tuyên bố ly khai khỏi Liên bang Soviet Cuối năm 1991, các Cộng hoà Soviet khác cũng tuyên bố độc lập Và ngày 25/12/1991, Liên bang Soviet chấm dứt sự tồn tại
Đầu năm 1992, Liên bang Nam Tư cũng tan rã và các nước Croatia, Macedonia, Slovenia, Bosnia – Herzegovina tuyên bố độc lập Serbia và Montenegro kết hợp thành Liên bang Nam Tư nhỏ hơn Liên bang Nam Tư tồn tại đến 2003 thì trở thành Liên minh chính trị (2003 - 2006) Sau một cuộc trưng cầu dân ý vào cuối tháng 05/2006, Montenegro tuyên bố độc lập vào ngày 03/06/2006 2 ngày sau đó, Serbia cũng tuyên
bố độc lập Liên minh Serbia và Montenegro tan rã từ đó Sau đó, vào 17/02/2008, Kosovo (một tỉnh tự trị thuộc Serbia) tuyên bố độc lập Tình hình Kosovo vốn đã bất ổn
về mặt chính trị từ 1990 và Kosovo đã từng tự tuyên bố là một quốc gia độc lập vào 22/09/1991 Năm 2000, sau chiến tranh, Kosovo đặt dưới sự kiểm soát của Liên hiệp quốc đến 2008 thì tuyên bố độc lập Tính đến tháng 02/2014, 108/193 thành viên Liên hiệp quốc, 23/28 thành viên Liên minh châu Âu, 24/28 thành viên NATO, 35/61 thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo đã công nhận Kosovo là quốc gia độc lập
Gần đây là vấn đề chiến tranh Crimea Thời thuộc Liên bang Soviet, Crimea là một phần của Nga Ngày 19/02/1954, Đoàn chủ tịch Tối cao ban hành sắc lệnh cắt tỉnh Crimea chuyển cho Ukraina Gần đây đã xảy ra xung đột tại Crimea Ngày 16/03/2014, dân cư Crimea thông qua cuộc trưng cầu dân ý đã cho thấy nguyện vọng sáp nhập vào Nga với 96,77% phiếu Ngày 18/03/2014, Tổng thống Nga, Thủ tướng Crimea và Thị trưởng Sevastopol cùng nhau ký thỏa thuận sáp nhập Crimea và thành phố Sevastopol vào Nga Phía Ukraina vẫn xem Crimea là nước cộng hòa tự trị của mình còn phía Nga thì xem Crimea là một liên bang thuộc Nga Nga đã thiết lập Vùng liên bang Crimea gồm CH Crimea và thành phố Sevastopol
Trang 40Mặc dù châu Âu đã từng có nhiều chia rẽ trong thế kỷ XX nhưng châu Âu vẫn luôn có những nỗ lực từng bước tiến đến thống nhất Chẳng hạn, một số nước đã thành lập được một tổ chức bề thế gọi là “Liên hiệp châu Âu” Thông qua Liên hiệp Châu Âu,
họ hợp tác với các quốc gia khác trong lục địa về chính trị, kinh tế, xã hội và đang tiến đến việc hợp nhất các nguồn tài lực thành một nền kinh tế duy nhất
2.2.1.2 Các quốc gia độc lập có chủ quyền ở châu Âu
Tính đến 2014, châu Âu có lãnh thổ của 49 quốc gia độc lập, gồm cả quốc gia lớn nhất thế giới là Nga và quốc gia nhỏ nhất là Vatican
Trong số đó có 5 quốc gia vừa có lãnh thổ nằm ở châu Âu và châu Á: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Georgia và Kazakhstan Nga thường được tính vào châu Âu, còn 4 nước còn lại được tính vào châu Á Do đó, châu Âu được xem là có 45 quốc gia Nga là quốc gia có diện tích lớn nhất châu Âu Ba nước sau Nga, có từ 500.000 - 600.000km2
là Ukraina, Pháp, Tây Ban Nha Sáu nước nhỏ dưới 500km2
là Andorra, Malta, Liechtenstein, Sant Marino, Monaco và Vatican, trong đó Monaco chỉ 1,95km2 và Vatican: 0,44km2
2.2.1.3 Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Âu
Các lãnh thổ phụ thuộc ở châu Âu rất đa dạng về hình thức và mức độ phụ thuộc Trong đó có các lãnh thổ hải ngoại của một quốc gia (vừa được xem là bộ phận chính thức của chính quốc, lại vừa được hưởng một mức độ tự trị cao hơn các khu vực khác của chính quốc), các thuộc địa của Hoàng gia Anh (được quản lý bởi Hoàng gia Anh và không phải là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), các lãnh thổ tự trị Hiện nay, châu Âu khoảng 6 lãnh thổ phụ thuộc đáng kể như bảng
2.2.2 DÂN SỐ VÀ SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ
2.2.2.1 Đặc điểm dân số
Dân số của châu Âu theo thống kê khoảng 716,1 triệu người (2014), chiếm vào khoảng 9,32% dân số thế giới Xét về dân số thì đây là châu lục xếp thứ tư sau châu Á, châu Mỹ và châu Phi Quốc gia có dân số cao nhất là Nga (104 triệu người) Kế đến là Đức (81 triệu người) Ba nước có trên 50 triệu người là Anh, Pháp, và Italia Và 5 nước
có dân số chỉ trên dưới 50 nghìn người là Andorra, Liechtenstein, Monaco, San Marino
và Vatican, trong đó Vatican chỉ có gần 1.000 người
Về sự gia tăng dân số tự nhiên, châu Âu có thể xếp vào loại thấp nhất thế giới Nếu như tỷ lệ chung thế giới là 1,06% thì châu Âu chỉ là 0,16% (2014) Nhiều quốc gia ở Đông Âu, một số quốc gia ở Bắc Âu, Tây và Trung Âu có tỷ lệ tăng tự nhiên âm, trong
đó thấp nhất là Moldova (-1,02%), Bulgari (-0,83%) Quốc gia tăng cao nhất châu Âu là Ireland (1,20%)
Về cơ cấu độ tuổi, châu Âu có dân số già do tỷ lệ sinh thấp, tuổi thọ cao, tỷ lệ tử thấp làm cho tỷ lệ người già trong dân số chiếm tỷ lệ cao Tình hình này dẫn đến dân số phụ thuộc cao, là gánh nặng trong các phúc lợi xã hội cho người cao tuổi
2.2.2.2 Sự phân bố dân cư
Mật độ dân số trung bình của châu Âu là 32 người/km2, tuy nhiên sự phân bố dân
cư trên toàn châu lục là không đồng đều, phụ thuộc vào sự phân hóa về các điều kiện tự nhiên như khí hậu, địa hình Dân cư phân bố đông ở khu vực Tây Âu, kế đến là các khu vực ven Địa Trung Hải Trong khi đó, dân cư thưa thớt ở phía bắc
Tây Âu có mật độ dân số cao nhất châu Âu (167 người/km2) Trong đó có Hà Lan (397 người/km2
), Bỉ (341 người/km2) có mật độ dân số cao nhất châu Âu
Nam Âu có mật độ trung bình: 111 người/km2
, trong đó các nước có mật độ dân số cao như: Italia (190 người/km2
)