1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng Địa lý các châu lục 2 - ĐH Phạm Văn Đồng

112 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Địa lý các châu lục 2 ở trường Cao đẳng Sư phạm là một môn khoa học bắt buộc, với thời lượng là 3 tín chỉ (45 tiết), gồm 3 chương: Châu Nam Cực; Châu Đại Dương; Châu Á. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA SƯ PHẠM TỰ NHIÊN

*************

BÀI GIẢNG ĐỊA LÝ CÁC CHÂU 2

Biên soạn: ThS Trương Thị Thu Hường

Tháng 5 / 2017

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Môn Địa lý các châu lục 2 ở trường Cao đẳng Sư phạm là một môn khoa học

bắt buộc, với thời lượng là 3 tín chỉ (45 tiết), gồm 3 chương:

Chương 1: Châu Nam Cực

Chương 2: Châu Đại Dương

Chương 3: Châu Á

Trong mỗi chương tác giả đều đề cập đến các đặc điểm về tự nhiên, đặc điểm phát triển dân cư, sự phát triển kinh tế - xã hội của các châu lục, các khu vực và một

số quốc gia của từng châu lục

Trong mỗi chương, tác giả cũng cung cấp thêm một số hình ảnh, bảng số liệu

để người đọc có thể tiện theo dõi và trực quan hơn

Tuy nhiên, trong quá trình viết, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết nhất định Rất mong sự đóng góp chân thành của các bạn sinh viên và quý thầy cô Chân thành cảm ơn

Trang 3

MỤC LỤC

Chương I: CHÂU NAM CỰC……… 4

1.1 Khái niệm về lục địa Nam Cực và vùng Nam Cực……… 4

1.2 Sơ lược lịch sử khám phá và nghiên cứu lục địa Nam Cực………….4

1.3 Điều kiện tự nhiên của lục địa………6

1.4 Hiệp ước về châu Nam Cực……… 13

Chương II: CHÂU ĐẠI DƯƠNG………15

A KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CHÂU ĐẠI DƯƠNG 2.1 Phạm vi, vị trí địa lí, hình dạng và kích thước của các lãnh thổ thuộc châu Đại Dương……… 15

2.2 Cấu trúc địa chất, đặc điểm địa hình và khoáng sản Châu Đại Dương……… 16

2.3 Khí hậu……….19

2.4 Sông, hồ và nước ngầm……… …28

2.5 Các đới cảnh quan tự nhiên………30

B Khái quát về dân cư và tình hình phát triển kinh tế - xã hôi……… 34

2.1 Dân số……… 34

2.2 Thành phần chủng tộc………34

2.3 Bản đồ chính trị……… 35

2.4 Đặc điểm dân cư kinh tế - xã hội các quốc gia đảo Châu Đại Dương……… 36

Chương III: CHÂU Á………43

3.1 Vị trí, hình dạng, kích thước và giới hạn của châu lục………43

3.2 Cấu trúc địa chất, đặc điểm địa hình và khoáng sản……… 44

3.3 Khí hậu……….43

3.4 Sông ngòi và hồ………54

3.5 Các đới cảnh quan……… 56

B Khái quát về địa lý nhân văn và đặc điểm phát triển kinh tế xã hội 59

3.1 Dân cư……… 59

Trang 4

3.3 Bản đồ chính trị……… 60

3.4 Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội các nước châu Á………62

C Địa lý các khu vực châu Á………67

3.1 Bắc Á………67

3.2 Tây Á và nội Á………69

3.3 Đông Á……….70

3.4 Nhật Bản……… 72

3.5 Trung Quốc……….79

3.6 Nam Á……….90

3.7 Đông Nam Á……… 101

Trang 5

CHƯƠNG 1 CHÂU NAM CỰC Mục tiêu:

- Hiểu và nắm được những vấn đề cần quan tâm ở châu Nam Cực như: Bảo vệ môi trường và bảo vệ các động vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng

- Phân tích được mối quan hệ giữa châu Nam Cực với các châu lục khác

1.1 Khái niệm về lục địa Nam Cực và vùng Nam Cực

- Lục địa Nam Cực

Lục địa Nam Cực là phần đất nổi rộng lớn nằm ở vùng cực nam của Địa Cầu, đại bộ phận diện tích của lục địa nằm trong phạm vi của đường vòng cực Nam, chỉ

có bán đảo Nam Cực hay gọi là vùng đất Graham kéo xa về phía bắc tới khoảng vĩ

Lục địa Nam Cực nằm cách xa tất cả các lục địa và được bao bọc bởi các đại dương Do lục địa nằm ở vùng cực, việc xác định phương hướng chỉ có thể phân

đó, vùng Nam Cực phù hợp với vòng đai địa lí nam cực Đường ranh giới đó đi qua

1.2 Sơ lược lịch sử khám phá và nghiên cứu lục địa Nam Cực

Lục địa Nam Cực là lục địa có khí hậu lạnh giá khắc nghiệt, lại nằm cách xa các luc địa đông dân cư nên đây là lục địa duy nhất chưa có người ở

Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, nhà thám hiểm người Anh là James Cook đã đi

Trang 6

nhưng chưa tới lục địa Tuy vậy, sau khi trở về ông dự đoán rằng có một lục địa ở cực nam của Trái Đất, bị băng bao phủ

Hình 1.1 Lược đồ vị trí châu Nam Cực

Người đầu tiên phát hiện ra lục địa này là 2 nhà hàng hải người Nga F.F Benlinhauden và M P Ladarep Vào năm 1820, đoàn thám hiểm của họ đã đi trên

trên vùng biển lạnh giá, họ đã tìm ra được nhiều đảo, vịnh và biển, bước đầu lập được bản đồ lục địa Nam Cực

Tiếp đó vào năm 1841, đoàn thám hiểm người Anh là Rose đã đi tới miền biển

chân tới lục địa Nam Cực ở vùng đất Victoria nằm trên bờ biển Rose Năm 1901,

Trang 7

người Anh đã xác định được địa từ cực nam cách địa cực 179km Năm 1911, nhà thám hiểm người Nauy R Amunxen và Scốt đã đến được địa cực Nam

Tuy vậy, việc nghiên cứu lục địa Nam Cực một cách qui mô và toàn diện chỉ mới được tiến hành sau Đại chiến thế giới II và nhất là năm Vật lý địa cầu quốc tế (01/01/1957) Các nhà khoa học của nhiều nước đã tổ chức những đoàn thám hiểm,

đã lập các trạm cố định thường xuyên nghiên cứu các đôí tượng như: Khí tượng, địa

từ, hiện tượng cực quang, tia vũ trụ, địa chất, băng hà… Hiện nay trên lục địa có hàng trăm các nhà nghiên cứu đang tiếp tục làm nhiệm vụ trong mạng lưới các trạm nghiên cứu trên lục địa (Xem hình 1.2 Bản đồ địa chất – khoáng sản châu Nam Cực)

1.3 Điều kiện tự nhiên của lục địa

1.3.1 Vị trí, diện tích, biển và bờ biển

Lục địa Nam Cực nằm cách biệt với lục địa khác và được bao bọc bởi ba đại dương: Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương Đường bờ biển phần lớn bị băng bao phủ do đó nhiều đoạn giới hạn không rõ ràng Có nơi, bờ biển dốc dựng đứng, tạo thành những bức tường băng dài như bờ biển Ross, gây cản trở cho việc xâm nhập vào lục địa

Phía Thái Bình Dương, biển ăn sâu vào lục địa tạo nên những biển phụ như: Biển Ross, biển Amundesen, biển Belingshausen Phía Đại Tây Dương cũng có một biển phụ lớn là biển Weddell Ngăn cách giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương

là dải đất Greyama chạy dài Nó cùng với quần đảo Nam Shetland tạo thành cầu nối giữa Nam Cực với cực nam của Nam Mỹ

xuyên có sóng cao, bão biển và bão tuyết

1.3.2 Cấu tao địa chất, địa hình và khoáng sản

- Về cấu tạo địa chất và đặc điểm địa hình

Lục địa được chia ra thành hai bộ phận: phần đông và phần tây

Phần đông: Là khu vực nền cổ, tầng dưới được cấu tạo bởi đá kết tinh như: granit, gơnai, còn tầng trên phủ trầm tích đá vôi, cuội kết và cát kết với các tuổi

Trang 8

núi cao và có núi lửa hoạt động Điển hình là núi lửa Erebus (3.794m) đang còn hoạt động, núi lửa này nằm trên đảo Ross

Hình 1.2 Bản đồ địa chất khoáng sản Việt Nam

Phan Văn Quýnh, Đặng Duy Lợi, Lê Huỳnh, 2001

Do bị băng phủ nên bề mặt lục địa tại khu vực này tương đối bằng phẳng, có nơi nổi lên những đỉnh riêng lẻ cao trên 4.000m như đỉnh Markham (4.602m) Những đỉnh nhô lên khỏi lớp băng phủ này gọi là các nunataki

Phần tây: Là khu vực thuộc đới uốn nếp Tân sinh, được cấu tạo bởi các trầm tích tuổi từ cổ sinh đến tân sinh và bị uốn nếp tạo thành các dãy núi cao Đới uốn nếp này là sự tiếp tục của đới uốn nếp Andes ở Nam Mỹ Địa hình bề mặt phần tây không được bằng phẳng như phần đông Địa hình bị chia cắt mạnh, có các khối núi

Trang 9

cao xen kẽ với các thung lũng sâu Độ cao của các dãy núi thường trên 3.000m Trong đó cao nhất là dãy Sentinel có đỉnh cao nhất đạt tới 5.140m, cũng là đỉnh cao nhất của lục địa Nam Cực

Tuy bề mặt địa hình như vậy, nhưng do điều kiện khí hậu lạnh giá nên toàn bộ lục địa được phủ bởi các khiên băng Các khiên này hoà với nhau làm một, song vẫn giữ tính độc lập về hình dạng và chuyển động

Hình 1.3 Lược đồ địa hình và Lát cắt địa hình ở lục địa Nam Cực

Trang 10

Nhờ có lớp băng phủ trên mặt mà lục địa Nam Cực có độ cao lớn hơn tất cả các lục địa khác (Dày trung bình 2.300m, trong khi độ cao trung bình của tất cả các

90% toàn bộ băng hà hiện nay trên Trái Đất) Lớp phủ băng ở đây chiếm tới 99,8%

băng bao phủ và người ta gọi đó là những ốc đảo Nam Cực

Các khối băng trên lục địa luôn di chuyển theo sườn dốc ra phía rìa lục địa với tốc độ 100m/năm ở vùng trung tâm, tới 500 - 600m ở vùng rìa Khi di chuyển ra tới

bờ biển, các khối băng bị nứt vỡ tạo thành các núi băng trôi, đồng thời tạo nên ở bờ lục địa các vách băng dài hàng chục, hàng trăm km và cao tới 100m

Ngoài ra ở lục địa Nam Cực có các băng thềm Băng thềm là những lớp phủ băng được hình thành trên thềm lục địa, chủ yếu trong các vịnh biển và các vùng biển nông Chúng có độ dày từ vài chục mét đến 300 – 350m Băng thềm cũng là nguồn cung cấp núi băng cho các đại dương Thường vào mùa xuân các khối băng

vỡ ra, tạo thành nhiều núi băng trôi Các núi băng từ băng thềm vỡ ra thường có kích thước lớn, có khi dài tới170km, cao 100m Những núi băng này có thể gây ra những tai nạn nguy hiểm cho tàu bè qua lại trong vùng biển này (Xem hình 1.3 Lược đồ địa hình và lắt cắt địa hình châu Nam Cực - Phần phụ lục)

- Khoáng sản: Do điều kiện khắc nghiệp của lục địa nên việc thăm dò khoáng sản hết sức khó khăn Từ năm 1908, người ta đã thấy có nhiều than đá ở đây Vùng phía tây có nhiều sắt, đồng, chì… Phía đông có nhiều sắt, mangan, vàng, ngoài ra còn thấy có than đá

1.3.3 Khí hậu

Các yếu tố hình thành khí hậu chủ yếu ở lục địa Nam Cực chính là vị trí gần cực của một lục địa có độ cao lớn, lại được bao phủ bởi một lớp băng dày và xung quanh được các đại dương lớn bao bọc So với Bắc Cực thì khí hậu của lục địa Nam Cực khắc nghiệt hơn nhiều Mặc dù cùng nằm ở độ cao 3.000m so với mực nước biển, nhưng nhiệt độ trung bình năm của các vùng bên trong lục địa như cao nguyên

Trang 11

Về điều kiện bức xạ, lục địa Nam Cực có trị số bức xạ hàng năm khá lớn Về mùa hạ là thời kì ngày địa cực kéo dài, nhờ không khí khô và trong nên lượng bức

xạ nhận được còn lớn gấp 1,5 lần so với lượng bức xạ ở Bắc Cực, thậm chí còn lớn hơn các vùng thuộc vĩ độ ôn đới Bắc Bán Cầu Ví dụ: tại trạm Thiếu Niên phần

trong khi đó ở Carađắc (Thuộc Crum - LBNga) cùng thời kì đó nhận được

không khí trên bề mặt lục địa vẫn rất thấp Lục địa Nam Cực có thể nói là “Cực lạnh” của Địa cầu Chưa có một nơi nào trên Trái Đất lại có khí hậu giá buốt gay gắt, với nhiệt độ thấp và ổn định kéo dài trong suốt năm như lục địa Nam Cực

Do cân bằng bức xạ như vậy, nhiệt độ trên lục địa không bao giờ vượt quá

-87,40C

Về mùa hè, tuy nhiệt độ có tăng lên nhưng khắp nơi trên lục địa, nhiệt độ vẫn

Trên lục địa Nam Cực, do không khí thường xuyên lạnh nên luôn tồn tại một vùng áp cao, còn trên các vùng biển bao quanh ẩm hơn nên tồn tại một vòng đai áp thấp, gradien khí áp dốc rất mạnh về phía biển, làm cho khối không khí lạnh từ cao nguyên trung tâm di chuyển xuống các vùng biển, tạo thành gió hướng nam thổi từ lục địa ra biển Trong nội địa gió tương đối yếu, nhưng càng ra gần bờ biển gió càng mạnh Khu vực có gió mạnh nhất thường cách bờ khoảng từ 200 – 300 km Trong các khu vực đó tốc độ gió trung bình là 12m/s (43km/h), nhưng có nhiều lúc gió rất mạnh, tạo thành các trận bão tuyết lớn Trong các trận bão tuyết đó, tốc độ gió có thể đạt tới 50 – 90 m/s (tức là từ 100 – 320km/h) Có nhưỡng nơi bão tuyết xuất hiện thường xuyên, chiếm tới 310 ngày trong một năm

Ở các tầng không khí trên cao lục địa quanh năm tồn tại một áp thấp, còn phía

Trang 12

tạo thành một vòng đai áp cao trên cao Do sự phân bố khí áp như vậy nên trên các tầng cao của lục địa Nam Cực xuất hiện một dòng không khí tươg đối ấm và ẩm từ đại dương di chuyển vào lục địa Luồng không khí này có tác dụng làm cho vùng nội địa có tuyết rơi, tạo nguồn nuôi dưỡng thường xuyên cho lớp băng phủ trên lục địa

Giữa vùng băng rộng lớn của lục địa Nam Cực thỉnh thoảng xuất hiện các ốc đảo Các ốc đảo Nam Cực là những nới nền đá gốc lộ ra không bị băng bao phủ, do

bề mặt của các khối đá chỉ phản xạ lại 20% bức xạ mặt trời nên về mùa hè chúng bị

cũng nóng lên, nhưng chỉ đến độ cao từ 1,5 – 2m thì nhiệt độ không thể cao hơn nhiệt độ trên bề mặt lớp băng là mấy Do không khí ở các ốc đảo bị đốt nóng bốc lên cao nên không khí khô và lạnh từ các mặt băng xung quanh tràn vào ốc đảo, các luồng gió khô này làm cho ốc đảo khô khan và bốc hơi mạnh Về mùa đông các ốc đảo đều bị tuyết phủ dày

Các đảo quanh lục địa Nam Cực có khí hậu giá buốt và ẩm ướt Do chịu ảnh hưởng của gió tây, trên các bán đảo thường có mưa nhiều Về mùa đông nhiệt độ

km/h), trên mặt biển thường xuyên có sóng lớn (cao từ 10 – 15m), thời tiết u ám và tuyết rơi nhiều Vùng biển phía nam các đại dương là nơi có gió bão thường xuyên nên tàu bè đi lại khó khăn và nguy hiểm nhất so với các đại dương khác trên thế giới

Người ta chỉ thấy ven lục địa có một ít thực vật bậc thấp như rêu, địa, y, tảo, nấm Thực vật bậc cao không thấy có trên lục địa mà chỉ có một ít ở bán đảo Nam

Trang 13

Cực, khoảng từ vĩ tuyến 640N trở về phía bắc Trên các đảo lớp phủ thực vật phong phú hơn, ở nhiều đảo ngoài rêu, địa y còn có khoảng vài chục loài thực vật có hoa, trong đó có loài cải bắp Kerguelen (Pringlea antiscorbutica) là một loại rau ăn rất ngon, bên cạnh đó còn có một vài loài hoà thảo

Tương tự như thực vật, giới động vật trên lục địa rất nghèo và hoàn toàn thiếu các loài có vú, các loại côn trùng bay và cá nước ngọt Các động vật chỉ sống ở vùng ven bờ, tuy nghèo về thành phần loài nhưng phong phú về cá thể Ở đây thường gặp 3 nhóm chính: thú chân vịt, chim cánh cụt, và chim biển Về thú chân vịt có các loài chó biển, đáng chú ý nhất là chó biển Uoetden, báo biển (Hydrunrga leptonyx) chuyên ăn thịt chim cánh cụt và voi biển (Mirounga leonina) Về chim có các loài cánh cụt (hay còn gọi là Panh goanh) và chim biển

Vùng biển quanh Nam Cực có giới động vật phong phú hơn trên lục địa, ở đây ngoài thú chân vịt và chim biển, còn có nhiều cá voi và các loài nhuyễn thể Về mùa

hạ, lớp nước trên mặt của đại dương có rất nhiều tôm và các sinh vật phù du như sứa, khuê tảo, mực… phát triển rất mạnh, tạo thành một lớp dày đặc được gọi là

“lớp hoạt động” Các loài nhuyễn thể là nguồn thức ăn cho chim biển và cá voi, bởi vậy đây là một trong những nơi tập trung nhiều cá voi nhất thế giới Trong số các loài cá vôi, có cá voi xanh (Balaenoptera nusculus) là loài lớn nhất, con lớn dài tới 33m, nặng 160 tấn và cho tới 20 tấn mỡ Do lượng mỡ nhiều như vậy, cá voi trở thành đối tượng săn bắt của nhiều nước, nên số lượng của chúng ngày càng giảm đi

rõ rệt Ngày nay cá voi xanh trở thành đối tượng được bảo vệ

Tóm lại, lục địa Nam Cực là lục địa lạnh nhất và cũng là lục địa phủ băng lớn nhất Địa Cầu Do điều kiện khí hậu lạnh gay gắt, lục địa Nam Cực cũng là nơi có hệ thực vật và động vật nghèo nhất nhưng lại có nguồn dự trữ nước ngọt lớn nhất thế giới

1.3.5 Mục đích của việc nghiên cứu Châu Nam Cực

Trước đây ở Nam Cực không có người cư trú, nhưng gần đây có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, trên lục địa có hàng trăm các nhà bác học, các cán bộ kĩ thuật

và công nhân của nhiều nước làm việc trong các trạm nghiên cứu khoa học

Trang 14

Nam Cực là một châu lục đặc biệt, có điều kiện tự nhiên khác biệt với các châu lục khác Điều kiện tự nhiên vùng Nam Cực, chắc chắn có nhiều mối quan hệ tương tác với các vùng khác, các châu lục khác Nếu hiểu sâu vùng Nam Cực, con người sẽ hiểu nhiều hiện tượng tự nhiên ở các vùng có liên quan một cách rõ rệt hơn

Lục địa Nam Cực là nơi có nguồn tài nguyên khá phong phú, đáng chú ý nhất

là than đá, sắt, vàng, dầu mỏ… Người ta dự đoán Nam Cực có tiềm năng lớn về khoáng sản

Các đại dương bao quanh Nam Cực có nguồn tài nguyên sinh vật rất giàu có Lục địa Nam Cực là nơi có điều kiện tự nhiên mang tính hoang dã nhất Ở đây, tác động của con người vào môi trường còn rất ít, thiên nhiên rất độc đáo… rất hấp dẫn khách du lịch

1.4 Hiệp ước về Châu Nam Cực

Vào khoảng giữa thế kỉ XIX, một số các quốc gia đã tiến hành nghiên cứu châu Nam Cực bao gồm New Zealand, Australia, Nauy, LH Anh, Chilê, Achentina

và một số nước khác tham gia trong năm Vật lí Địa cầu Quốc tế Một số nước đề nghị về quyền lãnh thổ của họ ở Châu Nam Cực Những hoạt động của con người ở vùng Nam Cực ngày càng tăng đang đe doạ đến môi trường ở châu lục này

1958 đã có sự thoả thuận giữa các nước về sự cận thiết phải bảo vệ môi trường vùng Nam Cực Sự thoả thuận đó được thực hiện trong một Hiệp ước về Nam Cực

kí kết vào năm 1959 giữa 39 nước tham gia hội nghị Hiệp định đã thừa nhận Nam Cực phải được sử dụng cho mục đích hoà bình Hiệp định tuyên bố, các đất đai từ

quốc tế Sự gìn giữ và bảo vệ các nguồn tài nguyên sống là một cố gắng của các nước tham gia hiệp ước Nội dung chính của hiệp ước bao gồm:

 Cấm các hoạt động quân sự

 Bảo vệ môi trường vùng Nam Cực

 Khuyến khích việc nghiên cứu khoa học

 Thừa nhận sự cần thiết phải bảo vệ Nam Cực khỏi tác động xấu của con người

Trang 15

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Nêu khái quát về quá trình phát hiện và nghiên cứu châu Nam Cực Những khó khăn trong việc nghiên cứu châu Nam Cực trước đây và hiện nay như thế nào?

2 Trình bày cấu trúc địa chất và đặc điểm địa hình của lục địa Nam Cực Cấu trúc địa chất như vậy ảnh hưởng tới địa hình như thế nào?

3 Nêu đặc điểm chung về điều điện khí hậu và giới sinh vật của châu Nam Cực Việc nghiên cứu châu Nam Cực có ý nghĩa gì?

Trang 16

CHƯƠNG 2 CHÂU ĐẠI DƯƠNG

Mục tiêu:

- Biết cách sử dụng và nắm vững các thao tác sử dụng bản đồ treo tường

- Phân tích được mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với các thành phần kinh tế xã hội khác

A KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU ĐẠI DƯƠNG

2.1 Phạm vi, vị trí địa lí, hình dạng và kích thước của các lãnh thổ thuộc châu Đại Dương

Từ trước đến nay, các tài liệu địa lí trước đây xác định rằng: các lãnh thổ nằm ở phía đông Ấn Độ Dương, vùng Trung tâm và Tây nam Thái Bình Dương được phân biệt thành hai đơn vị, đó là lục địa Australia và các đảo châu Đại Dương Gần đây, các tài liệu của Liên Hiệp Quốc khi phân biệt các châu lục đều gộp hai bộ phận nói trên thành một và gọi chung là châu Đại Dương Với cách phân chia này, châu Đại Dương bao gồm 5 thành phần sau đây

- Lục địa Australia

Có kích thước nhỏ nhất so với các lục địa khác trên thế giới, nhưng đây là bộ phận đất đai rộng lớn nhất của châu Đại Dương Diện tích của lục địa là

Lục địa Australia nằm hoàn toàn ở Nam bán cầu Điểm cực bắc là mũi York

cắt nên lục địa cũng có dạng khối rõ rệt

Lục địa nằm tương đối cách biệt với các lục địa khác, bốn phía đều được bao bọc bởi các đại dương rộng lớn

- Mêlannêdi (theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là các đảo của người da đen) là nhóm

đảo lớn nhất của Châu Đại Dương, nằm về phía bắc và đông bắc lục địa Australia,

Trang 17

giữa các vĩ tuyến 00 và 230N, kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam giữa các kinh

quần đảo chính như New Guinea, Bixmac, Xôlômôn, Xanta Crudơ, Vanuatu, Nuven

- Micrônêdi (theo tiếng Hi Lạp có nghĩa là khu vực các đảo nhỏ) là nhóm đảo

nằm ở phần tây Thái Bình Dương Trong nhóm này có các đảo chính: Marian,

gốc san hô, còn một số là đảo núi lửa

- Pôlinêdi (tiếng Hi Lạp có nghĩa là khu vực nhiều đảo) nằm ở trung tâm Thái Bình Dương Nhóm đảo này có rất nhiều đảo nhỏ, thuộc nguồn gốc San Hô và núi lửa Các đảo nhỏ này tập hợp thành các quần đảo như: Hawai, Tonga, Cook, Samoa,

- New Guinea (Tân Tây Lan) Là nhóm đảo nằm ở phía tây nam Thái Bình

Như vậy, phần lớn các đảo Châu Đại Dương đều nằm trong vòng đai nóng, chỉ

có New Zealand và một số đảo nhỏ phía nam Pôlinêdi thuộc vòng đai ôn đới

Vùng đảo châu Đại Dương là khu vực có vị trí rất quan trọng về quân sự và kinh tế Các đường hàng hải và hàng không giữa các lục địa Á – Âu, Bắc Mĩ, và Australia đều đi qua khu vực này

2.2 Cấu trúc địa chất, đặc điểm địa hình và khoáng sản Châu Đại Dương 2.2.1 Cấu trúc địa chất

- Thời kì tiền Cambri: Một bộ phận lớn đã được hình thành, đó là nền tiền Cambri của lục địa Khối nền này là một bộ phận của lục địa Gonvana cổ, chiếm 2/3 diện tích của toàn lục địa ngày nay, bao gồm sơn nguyên Tây Úc và đồng bằng Trung Úc Nền Australia cấu tạo bởi các đá kết tinh rắn chắc Ngày nay, nền đá kết tinh này chỉ lộ ra ở một vài nơi ở phía tây Còn phần phía đông được phủ bởi các

Trang 18

Hình 2.1 Lược đồ cấu trúc địa chất lục địa Australia

Lớp trầm tích biển và hồ dày Bao quanh khối nền cổ này ở phía đông và phía bắc là địa máng Đông Australia

- Đới uốn nếp cổ sinh: Từ kỉ Silua bắt đầu xảy ra các vận động uốn nếp thuộc

chu kì tạo núi Caledonia Ngày nay, các cấu trúc uốn nếp này không thấy nữa vì phần lớn chúng đã bị trầm tích bao phủ Đến cuối cổ sinh, trong địa máng Australia xảy ra vận động tạo núi thuộc chu kỳ Hecxini bao quanh nền Australia và phát triển rất rộng, chiếm toàn bộ các biển San Hô và Tasmania Chuyển động tạo núi đã gây

ra những đứt gãy lớn và hoạt động mac ma ở nhiều nơi

- Đới uốn nếp trung sinh: Vào đầu trung sinh, miền đồng bằng trung tâm bắt đầu bị võng xuống, biển tiến vào bao phủ cả một vùng rộng lớn khiến cho các nơi

đó được phủ bởi trầm tích đá vôi, cát kết dày Vùng biển này trong một thời gian dài

Trang 19

đã tách miền đất cao phía tây ra khỏi miền núi phía đông Đến cuối kỷ Kreta, toàn

bộ lục địa được nâng lên, biển lùi xa và các lưu vực hồ trong lục địa cạn dần

- Đới uốn nếp tân sinh: Hình thành trong chu kỳ tạo núi tân sinh gồm vòng cung đảo, kéo dài từ đảo New Guinea đến New Zealand

Các đảo thuộc nhóm Micrônêdi và Pôlinêdi phần lớn đều là các đảo san hô hay núi lửa Cấu tạo địa chất của các đảo có liên quan mật thiết với cấu tạo của dãy Thái Bình Dương Những đảo núi lửa thường là đỉnh của các ngọn núi lửa ngầm dưới nước, được tạo thành do sự phun trào dung nham vào cuối Neogen và Đệ Tứ dọc theo các đứt gãy ở đáy Thái Bình Dương Còn các đảo san hô cũng được hình thành chủ yếu vào kỷ Đệ Tứ do liên quan với sự dao động mực nước Thái Bình Dương (Xem hình 2.1 Lược đồ cấu trúc địa chất châu Đại Dương)

2.2.2 Đặc điểm địa hình

- Địa hình lục địa Australia

Độ cao trung bình của toàn lục địa là 300 - 350m so với mực nước biển Trên lục địa Australia địa hình núi chỉ chiếm 5% diện tích lục địa, còn 95% là đồng bằng

và bình sơn nguyên rộng, bằng phẳng Chia làm 3 khu vực hình thái cấu trúc khác nhau: Sơn nguyên Tây Australia, đồng bằng trung tâm, miền núi phía đông

Sơn nguyên Tây Australia: Ứng với bộ phận vồng lên của nền tiền Cambri Bề mặt bị chia cắt yếu, có độ cao trung bình từ 300 – 500m Rìa phía đông là vùng núi

đá kết tinh bị bóc mòn mạnh – đó là dãy Macdonnell và Musgrave Rìa phía tây có những khối núi đỉnh bằng và rộng như dãy Hamersley Phía tây nam là dãy Darling dốc đứng xuống dải đồng bằng hẹp ven biển Phía tây bắc là khối Kimberley

Phần lớn sơn nguyên nằm trong đới khí hậu nhiệt đới khô hạn nên phát triển các hoang mạc đá và hoang mạc cát Nơi đây có 3 hoang mạc lớn: hoang mạc Cát Lớn, hoang mạc Victoria và hoang mạc Gibson

Đồng bằng trung tâm: Được hình thành trên một máng nền rộng, phủ bởi các trầm tích dày Có thể chia thành 3 bộ phận: Ở giữa là bồn địa Trung Tâm, nằm trong khu vực hồ Eyre, thấp hơn mực nước biển 12m Đây là bộ phận thấp nhất lục địa Phần đông nam là đồng bằng được bồi tụ bởi những con sông lớn của lục địa là

Trang 20

Australia) và Darling (dài 1.865km, ở Đông Nam nước Australia, chạy theo hướng Tây Nam và đổ vào sông Murray) Phía bắc là đồng bằng ven vịnh Carpentaria Miền núi Đông Australia: Là những dãy núi uốn nếp cổ (chủ yếu được hình thành trong chu kỳ tạo núi Hecxini) trải qua một quá trình san bằng lâu dài, sau khi được nâng lên thì bị đứt gãy và chia cắt mạnh Độ cao trung bình từ 800 – 1000m Sườn phía đông dốc đứng ra biển, sườn phía tây thoải dần Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Côtxiuxcơ nằm ở phía đông nam lục địa, cao 2234m

- Địa hình các đảo Châu Đại Dương

Các đảo lục địa: Là những đảo lớn, trong đó New Guinea và Tân Tây Lan là hai đảo lớn nhất, chiếm tới 80% diện tích của toàn bộ Châu Đại Dương Các đảo này đều có địa hình núi hiểm trở

Các đảo đại dương: Đều là những đảo nhỏ, thuộc hai nhóm đảo

Micronesia và Polinesia Các đảo núi lửa thường có địa hình cao, còn các đảo san hô là các đảo thấp Hiện nay trên các đảo này vẫn còn một số núi lửa đang hoạt động như: Mauna Loa và Kilauea Các đảo san hô thường có dạng vành khăn, đường kính rộng từ 2 – 150km

2.2.3 Khoáng sản

Trên lục địa Australia, nguồn khoáng sản khá phong phú, các loại có trữ lượng lớn là vàng, sắt, than đá, và uran Vàng tập trung nhiều ở phía tây nam lục địa và vùng núi phía đông Quặng sắt và uran phân bố ở vùng nền phía tây, còn than đá tập trung nhiều ở vùng núi đông nam Ngoài ra, còn có các mỏ hỗn hợp đồng – chì – kẽm phân bố ở phía tây

Vùng đảo Châu Đại Dương chỉ có các đảo lớn thuộc đới tân sinh mới có nhiều khoáng sản Đảo New Guinea có đồng, vàng, bạc, ở đảo Nuven Calêđôni có các mỏ

Trang 21

- Đường bờ biển ít bị cắt xẻ nên lục địa có dạng hình khối rõ rệt, kết hợp với

vị trí như trên tạo điều kiện hình thành các trung tâm khí áp thay đổi theo mùa

- Địa hình: Các dãy núi chạy dài theo duyên hải nên nó ngăn chặn ảnh hưởng của biển vào sâu trong nội địa

Còn các đảo thuộc Châu Đại Dương thì chịu ảnh hưởng lớn của các khối không khí biển nên thường có khí hậu điều hoà hơn Biên độ nhiệt trong ngày cũng như trong năm không đáng kể Lượng mưa nhận được lớn và phân bố theo hướng sườn rõ rệt

- Dòng biển nóng Đông Australia và dòng biển lạnh Tây Australia chỉ ảnh hưởng đến khí hậu của một dải hẹp ven biển

- Hoàn lưu khí quyển

+ Tháng 1

Mùa hạ của bán cầu Nam, lục địa Australia được sưởi nóng mạnh, nhiệt độ

một trung tâm áp thấp, gọi là áp thấp Australia (1006mb) Áp thấp này kết hợp với

áp thấp xích đạo tạo thành một đới áp thấp bao phủ phần lớn lục địa Australia

Trang 22

Hình 2.2 Lược đồ phân bố nhiệt độ trung bình tháng 1

Trang 23

Hình 2.3 Lược đồ phân bố khí áp và hướng gió tháng 1

Phần nam lục địa và bắc Niu Dilân nằm trong đới áp cao cận nhiệt, còn đảo Taxmani và phần nam Niu Dilân nằm trong đới áp cao cận nhiệt, chịu ảnh hưởng của áp thấp ôn đới

Do sự phân bố khí áp như vậy nên vào mùa này phần bắc lục địa Australia và

Trang 24

không khí xích đạo do gió mùa xích đạo thổi đến) Hoạt động của gió mùa làm cho thời tiết nóng, ấm và có mưa nhiều Trên lục địa, gió mùa thổi tới vĩ tuyến 19 –

xuống rất nhanh Ở rìa phía bắc, trên bán đảo Arnhem land và Cape York, lượng

phong đông nam, đem theo khối không khí lục địa khô và nóng nên thời tiết ổn định, không có mưa Ví dụ như ở thành phố Perth (ở phía tây nam lục địa) suốt mùa

hè chỉ có mưa 32mm trong số 850mm của cả năm Riêng miền duyên hải phía đông lục địa chịu ảnh hưởng của các khối không khí từ biển vào, không khí này ẩm, ấm, đem theo mưa Hay như Mackay trong thời gian này có tới 820mm/1910mm, bằng 43% lượng mưa cả năm Ở Sidney, lượng mưa tới 20% lượng mưa cả năm Nhiệt độ

Đảo Taxmani ở phần nam Tân Tây Lan chịu ảnh hưởng của gió tây, thời tiết dịu mát, có mưa điều hoà Các đảo còn lại của Châu Đại Dương nằm trong vòng đai gió mậu dịch đông bắc và đông nam của hai bán cầu Thời tiết trên các đảo dịu mát,

có mưa nhiều trên các sườn đón gió

+ Tháng 7

Vào tháng VII tức là mùa đông của bán cầu, lục địa bị hoá lạnh mạnh Phần

một vùng áp cao được gọi là áp cao Australia (1020mb) Áp cao này phối hợp với

áp cao Nam Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương tạo thành một đới áp cao bao phủ phần lớn lục địa, chỉ có rìa phía bắc chịu ảnh hưởng của áp thấp xích đạo, còn rìa phía nam chịu ảnh hưởng của áp thấp ôn đới bán cầu nam

Trang 25

Hình 2.4 Lược đồ phân bố nhiệt độ tháng 7

Trang 26

Hình 2.5 Lược đồ phân bố khí áp và hướng gió tháng 7

trở về phía bắc) chịu ảnh hưởng của gió mậu dịch, nên thời tiết khắp nơi khô và không có mưa Riêng vùng duyên hải phía đông, khoảng từ chí tuyến nam trở về phía bắc do gió mậu dịch từ biển thổi vào nên có mưa khá nhiều, còn bộ phận từ chí

phía đông áp cao Australia nên thời tiết khô ít khi có mưa), vùng đảo châu Đại

Trang 27

Dương khoảng từ chí tuyến nam trở về phía bắc chịu ảnh hưởng gió mậu dịch đông nam

Phần cực nam của lục địa, đảo Taxmani và New Zealand vào thời kì này có gió tây và hoạt động khí xoáy nên thời tiết thường u ám, có gió lạnh và mưa nhiều Như vậy đại bộ phận lục địa Australia về mùa đông khô ráo và tương đối

Trung và Nam Australia nhiệt độ trung bình thay đổi từ 8 - 10 Các vùng duyên hải tây bắc và nhất là phía đông ấm hơn các vùng nội địa

Về lượng mưa, so với các lục địa ở nam bán cầu, lục địa Australia có mưa rất

ít và phân bố không đồng đều Các vùng duyên hải phía đông, phía bắc và rìa tây nam có mưa từ 1000 mm/năm trở lên, còn các sơn nguyên và đồng bằng nội địa lượng mưa còn dưới 250 mm/năm Vùng bồn địa trung tâm có nơi có mưa ít nhất, trung bình không quá 125 mm/năm Riêng các đảo châu Đại Dương do ảnh hưởng của biển, lượng mưa có tăng lên, nhất là các đảo nằm trong đới xích đạo

2.3.2 Đặc điểm các đới khí hậu

2.3.2.1 Đới khí hậu xích đạo

- Phạm vi: Phần phía bắc đảo Mêlanêdi và vùng đảo Micrônêdi

- Đặc điểm: Ở đây quanh năm thống trị khối khí xích đạo nóng ẩm, lượng mưa trung bình từ 3000 – 4000 mm/năm và phân bố đều trong các tháng Nhiệt độ trung

hình 2.6 Lược đồ các đới khí hậu)

2.3.2.2 Đới khí hậu cận xích đạo (gió mùa xích đạo)

và phần trung các đảo Mêlanêdi

- Đặc điểm: Về mùa hạ, ở đây chịu ảnh hưởng gió mùa tây bắc với thời tiết nóng ấm, có mưa nhiều Mùa đông thì ngược lại, chịu ảnh hưởng gió mậu dịch đông nam, thời tiết trở nên ổn định, khô ráo Lượng mưa trung bình từ 500 – 1500 mm/năm, còn trên các đảo từ 1000 – 2000 mm/năm, nhiệt độ cũng thay đổi nhưng

Trang 28

Hình 2.6 Lược đồ các đới khí hậu Australia

2.3.2.3 Đới khí hậu nhiệt đới

* Kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm

- Phạm vi: Một dải hẹp dọc theo bờ đông lục địa Australia

- Đặc điểm: Mùa hè có gió mậu dịch từ biển thổi vào nên mưa nhiều, còn mùa đông, gió yếu hơn và không khí tương đối khô nên mưa ít Đối với các vùng đảo do

Trang 29

ảnh hưởng của biển nên lượng mưa tương đối lớn, thường từ 2000 – 4000 mm/năm Mưa nhiều và phân bố 2 mùa rõ rệt, mùa hạ mưa nhiều hơn mùa đông

* Kiểu khí hậu nhiệt đới lục địa

- Phạm vi: Sườn tây dãy đông Australia cho đến bờ tây lục địa

- Đặc điểm: Độ ẩm tương đối thấp, thường 30 – 40%, lượng mưa trung bình năm không quá 250 mm/năm

2.3.2.4 Đới khí hậu cận nhiệt đới

Đới khí hậu cận nhiệt đới chiếm phần nam lục địa, nhưng đặc điểm khí hậu

thay đổi từ tây sang đông với 3 kiểu khí hậu khác nhau

* Kiểu khí hậu nhiệt đới Địa Trung Hải chiếm phần tây, có mùa hạ khô nóng

do ảnh hưởng của áp cao, mùa đông có mưa nhiều do ảnh hưởng của gió tây

* Kiểu cận nhiệt lục địa: Chiếm phần giữa của đới, do chịu ảnh hưởng không khí lục địa nên lượng mưa hàng năm không đáng kể

* Kiểu cận nhiệt đới ẩm: Chiếm phần phía đông, có mưa nhiều vào mùa hạ do gió đông và đông bắc từ biển thổi vào, còn mùa đông hơi lạnh và mưa giảm xuống

do gió từ lục địa thổi ra

2.3.2.5 Đới khí hậu ôn đới

- Phạm vi: Chiếm phần nam đảo Taxmania và đảo nam New Guinea

- Đặc điểm: Quanh năm chịu ảnh hưởng của gió tây nên có mưa nhiều và phân

bố đều cả năm

2.4 Sông, hồ và nước ngầm

2.4.1 Đặc điểm chung của sông, hồ

Mạng lưới sông của Australia kém phát triển Toàn bộ lục địa chỉ có 40% diện tích có dòng chảy thường xuyên, còn 60% diện tích thuộc lưu vực nội địa không có dòng chảy hay dòng chảy tạm thời

Nguồn cung cấp nước cho sông chủ yếu do mưa, nên các sông ở đây có chế độ nước thay đổi theo mùa rõ rệt

Trên các đảo châu Đại Dương lớp dòng chảy khá lớn, nhưng do kích thước các đảo nhỏ nên các sông đều rất ngắn Các đảo có sông tương đối lớn là New

Trang 30

Guinea (có lớp dòng chảy trên mặt 1000 mm, vào loại lớn nhất thế giới) và New Zealand

Lục địa Australia khá nhiều hồ, khoảng 800 hồ lớn nhỏ, trong đó gần 40 hồ có

nam và tây nam trong các vùng khô hạn, đều có nguồn gốc tàn tích Do nằm trong vùng khô hạn nên các hồ thường có nước vào mùa mưa, còn mùa khô biến thành các đầm lầy hoặc các sôlônxac Trên các đảo châu Đại Dương thường gặp các hồ núi lửa, còn New Zealand có các hồ băng hà

2.4.2 Các lưu vực sông

Lưu vực Thái Bình Dương chỉ chiếm khoảng 10% diện tích lục địa Các sông

thuộc lưu vực này đều là những sông ngắn chảy từ sườn đông dãy Đông Australia xuống biển Các sông có nhiều nước và có nước lớn vào màu hạ Các sông có giá trị thuỷ điện

Lưu vực Ấn Độ Dương chiếm khoảng 20% diện tích lục địa Đa số các sông

đều ngắn, chảy từ các cao nguyên hoặc sườn núi ven bờ ở phía bắc, tây bắc và tây nam xuống biển, chỉ có hệ thống sông Mơrây – Đaclinh là quan trọng nhất Sông Mơrây bắt nguồn từ sườn tây nam dãy Đông Australia chảy qua vùng đồng bằng đông nam và đổ ra phá Alêchxandri Sông Mơrây dài 2570km và có các phụ lưu quan trọng là Mơrambitgi (1690km) và Đaclinh (2740km) Các sông có thời kì nước lớn nhất vào cuối mùa hạ và cạn nhất vào cuối mùa đông Các sông có giá trị lớn về giao thông, thuỷ điện và tưới ruộng

Lưu vực nội địa phần lớn không có dòng chảy, chỉ có một bộ phận thuộc bồn

địa hồ Âyrơ có các dòng tạm thời đổ vào hồ

Vùng đảo châu Đại Dương đa số là những đảo nhỏ, nên sông ngòi tuy phát

triển nhưng đều là những sông ngắn, diện tích lưu vực sông không đáng kể

2.4.3 Nước ngầm

Mực nước ngầm khá phong phú và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống con người Tập trung chủ yếu ở các miền sụt lún với các lớp trầm tích dày, tạo thành nhiều bồn nước phun, trong đó quan trọng nhất là bồn phun lớn Bồn nước ngầm ở đây nằm ở độ sâu từ 100 – 2100m và rộng tới 1,5 triệu

Trang 31

km2 Ngày nay ở Australia có khoảng 6500 giếng khai thác nước ngầm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống dân cư

2.5 Các đới cảnh quan tự nhiên

2.5.1 Đặc điểm của hệ động, thực vật lục địa Australia

- Thực vật của Australia có đặc điểm:

+ Bảo tồn được nhiều loài của các lục địa phương nam: dẻ phương nam, các loài thuộc họ cơm vàng, các loài lá nhọn…

+ Có nhiều loài di cư: Ficus, dứa dại, họ dừa… (do được nối với quần đảo Mã lai)

+ Có nhiều loài địa phương: chiếm đến 9.000/12.000 (75%) loài của lục địa, điển hình là keo, bạch đàn…

- Động vật Australia nghèo về thành phần loài Mang tính chất cổ xưa, có tính địa phương cao

Một số loài phổ biến: Thú có túi (chó sói túi, gấu túi, chuột nhảy có túi, thú ăn kiến có túi…); Thú đơn huyệt: thú mỏ vịt, thú lông nhím…và các loài chim như: chim đàn lớn, vẹt, kivi, chim moa, đà điểu, chim thiên đường lớn

2.5.2 Các đới cảnh quan tự nhiên trên lục địa Australia

Cảnh quan tự nhiên của Australia biểu hiện tính địa đới khá rõ rệt Có thể phân thành các vòng đai sau:

Trang 32

Hình 2.7 Lược đồ các đới cảnh quan lục địa Australia

Trang 33

+ Thổ nhưỡng: Dưới đới rừng xích đạo ẩm hình thành đất feralit rửa trôi và feralit có mùn núi cao (Xem hình 2.7 Lược đồ các đới cảnh quan lục địa Australia)

2.5.2.2 Vòng đai cận xích đạo

Tạo thành một dải bao gồm phần phía nam đảo New Guinea, phía nam quần

tức là phù hợp với đới khí hậu gió mùa xích đạo Có thể phân biệt các đới sau:

* Đới rừng gió mùa

- Phạm vi: Phân bố thành một dải hẹp ven bờ phía bắc lục địa, kéo dài từ cao nguyên Himbơli đến phía nam bán đảo Iooc

- Đặc điểm: Gồm nhiều loại cây rụng lá về mùa khô, trên các cồn cát ven biển thường gặp các rừng phi lao, còn trên các bãi phù sa ven biển phát triển rừng ngập mặn

* Đới rừng thưa, xavan cây bụi

- Phạm vi: Phân bố trong các vùng nội địa

+ Thổ nhưỡng: Feralit đỏ hoặc nâu đỏ

2.5.2.3 Vòng đai nhiệt đới

Tạo thành một dải rộng nằm phía nam vòng đai cận xích đạo cho tới vĩ tuyến

* Đới rừng nhiệt đới ẩm thường xanh

- Phân bố: Sườn đông của dãy Đông Australia

- Đặc điểm

+ Mưa nhiều và độ ẩm cao đều quanh năm

Trang 34

+ Thực vật: phong phú gồm các loài gỗ quí và cây họ dừa, họ sung vả đến loài

dương xỉ thân gỗ (đặc biệt có cây vạn tuế là đại diện rất cổ của hệ thực vật Australia) và loài dây leo, bạch đàn

+ Thổ nhưỡng: feralit đỏ vàng

* Đới rừng thưa, xavan cây bụi: Phát triển trên các sườn thấp và thung lũng phía tây dãy Đông Australia và phía đông vùng đồng bằng trung tâm Cảnh quan ở đây rất gần với cảnh quan rừng thưa xavan cây bụi của vòng đai cận xích đạo nói trên

* Đới hoang mạc và bán hoang mạc

- Phân bố: Vùng rộng lớn từ đồng bằng trung tâm đến bờ tây lục địa

- Đặc điểm:

+ Khí hậu: Khô nóng, lượng mưa rất thấp

+ Thực vật: Chủ yếu là cây bụi gai, phổ biến là keo gai, ngoài ra ở những vùng khô hạn nhất còn có các loài cỏ cứng

+ Động vật: Phổ biến là loài chuột túi cây, gấu túi, chim…

* Đới thảo nguyên và thảo nguyên rừng: Phát triển trong vùng đồng bằng

Mơrây - Đáclinh

* Đới rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt: Tạo thành một dãy hẹp ở bờ tây nam Trong rừng phổ biến các loài bạch đàn lá cứng, thường xanh, có thân cao, lớn Tầng dưới rừng có nhiều cây bụi và cỏ

Trang 35

* Đới thảo nguyên khô, cây bụi bán hoang mạc phát triển trong nội địa

2.5.3 Cảnh quan tự nhiên vùng đảo châu Đại Dương

2.5.3.1 Các đảo thuộc Mêlanêdi và New Zealand

Phát triển rừng xích đạo và nhiệt đới ẩm thường xanh Tương tự như đới rừng xích đạo Đông Nam Á, song về thành phần loài có nhiều nét gần với lục địa Australia

Ở đảo Niu Dilân phát triển rộng rãi rừng lá rộng và rừng lá kim

2.5.3.2 Các đảo thuộc Micrônêđi và Pôlinêđi

Giới động vật và thực vật rất nghèo về loài Trên các sườn núi lửa đã tắt phát triển cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm, còn trên các đảo san hô thường phát triển các rừng dừa

B KHÁI QUÁT VỀ DÂN CƯ VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

XÃ HỘI

2.1 Dân số

Đây là quốc gia có cư dân ít nhất thế giới Theo thống kê của Tổng cục Thống

các lục địa khác Phân bố dân cư không đồng đều Đại bộ phận dân cư tập trung dọc theo vùng duyên hải phía đông, vùng đông nam và duyên hải tây nam lục địa Tại

Bắc, miền Trung và tây Australia dân cư rất thưa thớt, thậm chí vùng đồng bằng trung tâm hầu như không có người ở

Trên các đảo châu Đại Dương dân số có khoảng gần 14 triệu người, mật độ

2.2 Thành phần chủng tộc

Dân cư trên lục địa Australia cũng như trên các đảo châu Đại Dương gồm có

Trang 36

người châu Âu, con cháu của những người từ Anh, Ailen, Đức, Italia… di cư đến vào cuối thế kỉ Xviii đến đầu thế kỉ XX Người bản địa chính là Ôxtraliêng thuộc đại chủng Ôxtralôit Người Ôxtraliêng có đặc điểm là da màu sẫm, mắt đen, tóc đen uốn làn sóng, lông và râu rất rậm, mắt ngắn, cánh mũi và lỗ mũi to, môi dày… Trên các vùng đảo châu Đại Dương trước khi người châu Âu đến, người bản địa khá đông Tổng số khoảng 3,5 triệu người, dân bản địa sống trên các đảo châu Đại Dương có thể xếp thành 4 nhóm chính:

- Mêlanêdiêng sống trên các đảo Mêlanêdi Họ gần với người Papua nhưng có

trình độ phát triển cao hơn Tuy theo nơi sinh sống người, người Người Papua sống chủ yếu miền tây và miền trung đảo New Zealand

- Người Pôlinediêng sống trên các đảo thuộc Pôlinêdi và New Zealand Họ có đặc điểm giống người Ôxtralôit như tóc quăn, môi dày, da ngâm đen, trán hơi vát… nhưng có đặc điểm khác biệt như sống mũi thẳng và cao, mặt dài và hẹp, tầm vóc cao từ 170 – 173 cm Người Pôlinediêng có lẽ là những người đến châu Âu muộn nhất Họ có nền sản xuất và trình độ văn hoá cao, có khả năng đi biển giỏi và nói gần với tiếng Inđônêxia Người Maori ở New Zealand cũng thuộc nhóm này

- Người Micrônêdiêng có đặc điểm trung gian giữa người Mêlanêdiêng và người Pôlinêdiêng Tổ tiên của họ có lẽ là từ những người Inđônêxia và Philippin

tới

2.3 Bản đồ chính trị

Từ nửa đầu thế kỉ XVI trở về trước, lục địa Australia và hầu hết các vùng đảo châu Đại Dương chưa được ai biết đến Đến khoảng nửa cuối thế kỉ XVI sang đầu thế kỉ thứ XVII, các nhà hàng hải châu Âu lần lượt khám phá ra các đảo châu Đại Dương và lục địa Australia Tuy nhiên, mãi cho đến cuối thế kỉ XVIII, đặc biệt vào giữa thế kỉ XIX trở đi, bọn thực dân châu Âu và chủ yếu là Anh và Pháp, Đức mới đến xâm chiếm, khai thác các khu vực này Quá trình thực dân hoá ở đây diễn ra một cách tàn khốc và dẫn đến sự diệt vong của nhiều bộ lạc người bản địa

Cho đến cuối thế kỉ XX, toàn bộ lục địa Australia và các vùng đảo châu Đại Dương đã trở thành thuộc địa của Anh, Pháp, Đức, Hoa Kì, trong đó Anh chiếm những lãnh thổ rộng lớn nhất và có nguồn tài nguyên giàu có nhất Về sau, khi

Trang 37

Australia và New Zealand giành được độc lập, một số thuộc địa của Anh chuyển thành thuộc địa của hai nước này Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kì bắt đầu bành trướng thế lực và tìm cách xâm chiếm các đất đai có vị trí chiến lược quan trọng của khu vực, đặc biệt là vùng Micrônêdi và sát nhập quần đảo Haoai nằm ở trung tâm Thái Bình Dương vào lãnh thổ của mình

2.4 Đặc điểm dân cư kinh tế xã hội các quốc gia đảo châu Đại Dương

2.4.1 Đặc điểm dân cư

Cư dân trên các đảo châu Đại Dương có khoảng 12,5 triệu người (2004) Bao gồm 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó Papua New Guinea có diện tích và dân

số lớn nhất Trình độ phát triển kinh tế cũng khác nhau Nước phát triển nhất là New Zealand, Tân Caleđôni, Pôlinêxia thuộc Pháp

Đa số các nước vùng đảo Châu Đại Dương là những nước nhỏ bé Tài nguyên khoáng sản có niken, sắt, coban, than đá, dầu mỏ, khí đốt… Nền kinh tế một số nước dựa vào nông nghiệp: trồng trọt và đánh cá

Dân số ngoài dân bản địa, phần lớn là dân nhập cư từ châu Âu, châu Á Nhiều nước và vùng lãnh thổ có nền giáo dục cao, tỉ lệ người biết chữ chiếm 98%: Pôlinêxia thuộc Pháp, New Zealand, Tân Calêđôni…

2.4.2 Đặc điểm kinh tế

Nhiều nước có thu nhập theo đầu người cao Ngành dịch vụ chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu hơn 71% (quần đảo Macsan, Tân Calêđôni, New Zealand, Pôlinêxia thuộc Pháp dịch vụ tới 78% tổng GDP)

Công nghiệp: Các nước đảo phát triển các ngành

Khai thác niken (Tân Calêđôni), dầu mỏ, vàng, bạc, đồng (Papua New Guinea

- là nước giàu tài nguyên nhưng việc khai thác khó khăn và chi phí cao cho việc phát triển cơ sở hạ tầng)

Công nghiệp, sản phẩm gỗ, giấy, hàng dệt len, may mặc, thiết bị vận tải, thực phẩm (sữa, bơ, phomat, thịt bò hộp…) – New Zealand Chế biến đường chiếm 1/3 hoạt động công nghiệp nổi bật của Phitgi – một trong những mặt hàng thu ngoại tệ chính của nước này Sản lượng năm 2000: 340 nghìn tấn và 2001: 370 nghìn tấn

Trang 38

Bình quân đầu người 450 kg/người năm 2001 Ngoài ra có Papu New Guinea sản xuất 44 nghìn tấn

Khai thác dầu: New Zealand: 2,4 triệu tấn, Papua New Guinea 5 triệu tấn (2004)

Khai thác than chủ yếu ở New Guinea: 5,7 triệu tấn (2004) Điện năng: New Zealand: 40 tỉ kwh (2004), Papua New Guinea: 1,5 tỉ kwh (2004)

Nông nghiệp: Giữ vai trò quan trọng ở một số đảo và có nhiều sản phẩm nổi tiếng: lúa mì, lúa mạch, khoai tây, đậu đỗ, rau quả các loại (New Zealand), cà phê,

ca cao, cùi dừa, dầu cọ (Papua New Guinea), vani, dừa, hoa quả (Pôlinêxia, Tônga, Tây Xamoa)

Chăn nuôi bò khá phát triển, nhiều nhất là New Zealand: 9,67 triệu con; Phitgi: 0,34 triệu; Tân Calêđôni: 0,123 triệu; Vanuatu: 0,151 triệu con; Papua Neu Guinea; 0,09 triệu con Lợn nuôi nhiều ở Papua New Guinea 1,7 triệu con, New Zealand 0, 394 triệu con, Phitgi 0,137 triệu con Ngoài ra còn gia cầm, đánh cá là hoạt động của tất cả các nước và vùng đảo ở châu Đại Dương Sản lượng cá khai thác nhiều hơn cả là New Zealand 0,69 triệu tấn; Vanuatu 0,095 triệu…

Du lịch: Ngành mang lại nguồn thu nhập lớn cho nhiều nước đảo: New Zealand hàng năm thu hút hơn hai triệu khách du lịch, thu hơn 5 tỉ USD (2005); Phitgi: 0,5 triệu khách; Pôlinêxia thuộc Pháp: 0,3 triệu du khách, du lịch của vùng đất này chiếm 20% GDP và là nguồn thu ngoại tệ chính

2.4.3 Đặc điểm kinh tế xã hội của liên bang Australia

2.4.3.1 Dân cư và điều kiện xã hội

Australia là quốc gia có số dân tăng nhanh qua các năm Năm 2005 dân số 20,4 triệu người, nhưng chủ yếu là người Anh (74%) và Ailen, thổ dân chỉ chiếm 1% (bị tiêu diệt dần và dồn vào các hoang mạc khô căn) Hiện nay thổ dân có chiều hướng tăng dần Tuy chỉ chiếm 1% nhưng lãnh thổ của họ chiếm tới 12% diện tích đất nước Ngoài ra còn có một số người châu Âu, châu Á, trong đó đông nhất là người Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… đến làm ăn và sinh sống

Trang 39

Australia có mức độ đô thị hoá rất cao, 80% dân số sống ở thành phố, trong đó

có 5 thành phố chiếm 60% dân số cả nước đó là: Xitni (3,5 triệu người), Menbơn (2,9 triệu người), Brixiben (1,2 triệu người), Ađêlai (1 triệu), Pớt (1 triệu người) Dân cư phân bố không đồng đều Vùng trung tâm nội địa rộng lớn nhưng thưa

và Tây Nam lục địa nhỏ hẹp chỉ chiếm 3% diện tích đất đai cả nước nhưng tập trung 90% dân số Tỉ lệ gia tăng dân số khá cao 1,4% chủ yếu do người nhập cư

Ngôn ngữ chính của Australia là tiếng Anh Tuổi thọ trung bình của người dân

Về giáo dục: Tỉ lệ phổ cập giáo dục và tốt nghiệp trung học phổ thông của nước này cao, đứng đầu thế giới (100%) Ngành giáo dục ở Australia đã được đẩy mạnh xuất khẩu và mang lại nguồn ngoại tệ lớn khoảng 3 tỉ đôla (Australia) mỗi năm Australia là nước có chỉ số phát triển con người (HDI) vào loại cao, đứng thứ

3 trên thế giới với chỉ số 0,955 (2004)

2.4.3.2 Sự phát triển kinh tế

a Đặc điểm

Australia là nước có nền kinh tế phát triển cao thuộc nhóm Tổ chức Hợp tác

và phát triển kinh tế (OECD), là một trong các quốc gia giàu có trên thế giới với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 631,3 tỉ USD (2004)

Trước chiến tranh thế giới thứ II, Australia vẫn là một nước nông nghiệp Sau chiến tranh, nước này tiến hành công nghiệp hoá và hiện nay đã đạt được trình độ cao Với cơ cấu GDP năm 2002: nông, lâm, ngư: 3,2%, công nghiệp: 26,1%, dịch vụ: 70,7%, Australia là nước công nghiệp, nông nghiệp phát triển cao, hiện đại nhưng lại xuất khẩu nhiều khoáng sản và nông phẩm Hiện nay các ngành tri thức

Trang 40

Australia là nước giàu tài nguyên, lực lượng lao động có trình độ cao, cơ sở hạ tầng phát triển, quản lí tốt nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục tăng Năm 1990 là 73,6 tỉ USD, năm 1995: 104,7

tỉ USD, năm 2000: 113,3 tỉ USD và 2004: 253,6 tỉ USD

b Các ngành kinh tế

- Công nghiệp

Australia là một trong những nước đứng đầu thế giới về trình độ phát triển công nghiệp nhưng nổi tiếng về xuất khẩu khoáng sản

+ Công nghiệp truyền thống

Khai thác mỏ: chiếm 7% GDP và sử dụng 4% lực lượng lao động, gồm các ngành chính sau:

Quặng sắt: 168 triệu tấn (2002), xuất khẩu 95 triệu tấn: than đá: 373,6 triệu tấn (2004), dầu mỏ: 30 triệu tấn (2002)

Niken: Australia là nước sản xuất niken đứng đầu thế giới

Vàng: lượng khai thác thứ 3 thế giới sau Nam Phi và Hoa Kì

Ngoài ra còn khai thác đồng, chì, kẽm, thiếc, kim cương…

Điện đạt mức phát triển cao: 216 tỉ KWh (2002) chủ yếu nhiệt điện

Luyện kim (sản xuất thép: 7 triệu tấn năm 2004)

Dệt may và giày dép phân bố ở nông thôn và thành phố Menbơn Hoá chất ở Xitni và Menbơn

Công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành nổi tiếng phát triển với trình độ cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, chiếm 20% giá trị xuất khẩu của Australia

Công nghiệp sản xuất giấy khá phát triển Sản lượng 2,6 triệu tấn (2001) Công nghiệp thực phẩm và đồ gỗ tập trung ở các vùng nông thôn nơi có nguyên liệu thô Việc tinh chế, đóng gói hoàn tất các sản phẩm cho tiêu thụ được đặt ở các thành phố lớn

+ Công nghiệp hiện đại

Australia phát triển và áp dụng mạnh công nghệ kĩ thuật cao vào các lĩnh vực sản xuất như: sản xuất thuốc, thiết bị y tế, phần mềm máy tính, viễn thông, năng lượng mặt trời, công nghệ hàng không, hoá dầu

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Phi Hạnh (2007), Địa lí các châu lục, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các châu lục
Tác giả: Nguyễn Phi Hạnh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
[2] Đào Đình Bắc (2006), Địa mạo đại cương, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa mạo đại cương
Tác giả: Đào Đình Bắc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
[3] Tạ Trọng Thắng và nnk, Địa kiến tạo đại cương, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa kiến tạo đại cương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
[5] Nguyễn Thị Kim Chương và nnk, Địa lí tự nhiên đại cương 3, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí tự nhiên đại cương 3
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
[6] X.V. Kalexnik (1978) Những quy luật địa lí chung của Trái đất, (người dịch Đào Trọng Năng), Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy luật địa lí chung của Trái đất, (người dịch Đào Trọng Năng)
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm