1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

VAI TRÒ của THẨM PHÁN TRONG tố TỤNG HÌNH sự

15 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 37,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những vi

Trang 1

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Theo nghĩa Hán-Việt, “thẩm” là xử, “phán” là xét định Thẩm phán(judge)

là người của Toà án có nhiệm vụ điều tra, hoà giải, truy tố hay xét xử các vụ án Thẩm phán là người chuyên làm công tác xét xử các vụ án Thẩm phán là một nhân viên công quyền được bổ nhiệm để nghe và phân xử tại toà án; Thẩm phán là người được bổ nhiệm để phân xử các tranh chấp

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002 quy định:

“Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án”

Trong tố tụng hình sự có ba chức danh tư pháp chủ yếu, đó là điều tra viên, công tố viên và thẩm phán Những người này quyết định toàn bộ quy trình tố tụng của một vụ án hình sự, pháp luật của các quốc gia đều giao cho họ những quyền độc lập khi giải quyết vụ án Trong số này thì thẩm phán có vai trò quan trọng, vì duy nhất thẩm phán mới có quyền tuyên bố một người là đã phạm tội và ấn định hình phạt cũng như các nghĩa vụ khác cho người đó Khi nói xét xử sơ thẩm là trung tâm của tố tụng hình sự thì thẩm phán chính là trung tâm của giai đoạn xét

xử Về thực chất, Toà án là cơ quan thực thi quyền lực tư pháp, là nơi thể hiện sản phẩm cuối cùng của toàn bộ quá trình điều tra và xét xử Thông qua hoạt động của Toà án - quyền lực tư pháp mà pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội Đây không phải là phương tiện duy nhất nhưng lại là chủ yếu nhất trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp trong xã hội nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định để phát triển

Thẩm phán ngoài việc mang quyền lực nhà nước, khi tiến hành xét xử còn thể hiện ở mức độ nhất định là người trọng tài đứng giữa bên buộc tội là công tố viên, người bị hại và bên gỡ tội là bị cáo và người bào chữa của bị cáo Với vị trí

Trang 2

như vậy nên đòi hỏi thẩm phán phải là những người hiểu biết, trung thực, công bằng, khách quan và phải thực sự vì công lý

Đối với một vụ án hình sự, cho dù là tội phạm nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng, muốn kết tội bị can, bị cáo thì phải thông qua hoạt động xét xử do thẩm phán thực hiện Khi công tố viên đưa một người ra Toà án và yêu cầu buộc tội họ thì thẩm phán phải mở phiên toà để xét xử, với kết cục là đưa ra bản án kết tội hay tuyên bố vô tội Xét xử là hoạt động mang tính nghề nghiệp của thẩm phán

Thẩm phán khi xét xử vụ án phải xem xét một cách khách quan trên cơ sở tranh luận công khai và bình đẳng trước phiên toà để tìm ra sự thật Kết quả xét xử của thẩm phán là ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Hoạt động của thẩm phán ngoài mục đích bảo vệ pháp luật còn phải bảo vệ công lý, lẽ phải trên cơ sở khôi phục tình trạng vi phạm pháp luật bằng chế tài nghiêm khắc Do vậy mà Thẩm phán được đảm bảo tính độc lập cao trong hoạt động nghề nghiệp Mục đích của độc lập là nhằm đến sự công bằng, vô tư, khách quan Nhưng yêu cầu của độc lập là phải tuân theo pháp luật, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Lao động của thẩm phán là lao động trí não, mang tínhsáng tạo cao, chịu sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội và công dân Các bản án, quyết định của thẩm phán khi có hiệu lực thi hành thì mọi cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ tôn trọng và tuyệt đối tuân thủ, nó chỉ bị xem xét lại theo một trình tự tố tụng đặc biệt bằng bản án khác cũng nhân danh Nhà nước

Luật tố tụng của một số nước có quy định về thẩm phán điều tra và thẩm phán xét xử, các thẩm phán làm Chánh án, Phó Chánh án đảm nhiệm thêm công việc quản lý mang tính chất hành chính, nhưng chức năng chủ yếu của thẩm phán vẫn là xét xử Cả bộ máy Toà án cho dù đồ sộ đến mấy cũng nhằm đến phục

vụ cho hoạt động xét xử của thẩm phán Trong Toà án có nhiều chức danh với

Trang 3

những quyền hạn và trách nhiệm khác nhau, bao gồm thẩm phán, thư ký toà án, thẩm tra viên, cán bộ văn phòng, nhân viên phục vụ… Nhưng chỉ có thẩm phán mới có thẩm quyền phán quyết đối với vụ án

Thẩm phán là người quyết định sự tồn tại của Toà án, không có thẩm phán thì không có Toà án Khi giải quyết một vụ án thì bao giờ thẩm phán cũng là người quyết định cuối cùng Trong một Hội đồng xét xử, mặc dù thẩm phán là thiểu số nhưng lại giữ quyền điều hành phiên toà và thường có ý kiến mang tính quyết định đến đường lối xét xử của vụ án

Tuỳ theo từng loại hình tố tụng và pháp luật mỗi quốc gia mà thẩm phán tham gia xét xử các vụ án hình sự sớm hay muộn Có thể phân chia thành hai giai đoạn chính là tiền xét xử và xét xử

Tiền xét xử

Theo pháp luật tố tụng của Việt Nam, giai đoạn xét xử được bắt đầu từ thời điểm Toà án có thẩm quyền nhận được hồ sơ vụ án hình sự kèm theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát Trước khi nhận hồ sơ thì thẩm phán và Toà ánchưa có thẩm quyền gì đối với vụ án, kể cả việc bắt giam, khám xét, thu giữ đồ vật như luật tố tụng của các quốc gia nêu trên Trong quá trình điều tra vụ án, chỉ có Viện kiểm sát mới có thẩm quyền giám sát các hoạt động tố tụng, trực tiếp phê chuẩn hầu hết các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra

Trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, có một số trường hợp Toà án được mời tham gia “đánh giá chứng cứ”, hoặc xác định án trọng điểm Những hoạt động này chỉ mang tính phối hợp công tác chứ hoàn toàn không có ràng buộc gì về mặt

tố tụng Khi hồ sơ vụ án được Toà án chuyển trả lại để điều tra, truy tố thêm hành

vi hay người phạm tội thì Toà án cũng không có thẩm quyền can thiệp hoặc tham

Trang 4

gia vào việc điều tra bổ sung Thậm chí Toà án còn không quan tâm xem vụ án có được truy tố trở lại hay không, vì luật tố tụng không ràng buộc điều đó

Giai đoạn xét xử

Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định Toà án sau khi nhận hồ sơ vụ án

từ Viện kiểm sát phải tiến hành thụ lý và giao cho một thẩm phán thực hiện các hoạt động tố tụng cần thiết, nhƣ việc xác định thẩm quyền xét xử, đề xuất việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; trong một thời hạn nhất định thẩm phán phải ra một trong các quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi vụ án được đưa ra xét

xử thì thẩm phán lập danh sách và báo gọi những người tham gia tố tụng đến phiên toà, giải quyết những trở ngại cho việc tiến hành phiên toà Những người tiến hành tố tụng được ấn định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Chủ toạ phải đảm bảo số lượng và thành phần của Hội đồng xét xử hợp lệ khi xét xử bị cáo là người chưa thành niên, khi áp dụng khung hình phạt có mức án tử hình, chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong một số trường hợp nhất định Tại phiên toà, thẩm phán chủ toạ là người điều hành cao nhất, quyết định toàn bộ các hoạt động tố tụng, có quyền tiến hành xét xử vắng mặt đối với một số người tham gia tố tụng, quyết định dừng phiên toà đến một ngày khác, xử lý những người vi phạm trật tự phiên toà Trong quá trình xét xử, thẩm phán chủ toạ có vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, điều hành các trình tự tố tụng, chuẩn bị bản án và tuyên án theo quyết định của Hội đồng xét xử Sau phiên toà, thẩm phán chủ toạ phải cùng thư ký hoàn tất và ký vào biên bản phiên toà, quyết định việc cho những người tham gia tố tụng xem biên bản phiên toà, sửa chữa và ban hành bản án trong thời hạn luật định, theo dõi việc kháng cáo, kháng nghị đối với bản án

Trang 5

Về nguyên tắc, sau khi tuyên án xong thẩm phán không còn quyền hạn đối với vụ án, nhƣng có trách nhiệm theo dõi đến khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật Về quan hệ hành chính, thẩm phán còn phải báo cáo giải trình về vụ án trong nhiều năm tiếp theo, đặc biệt khi có khiếu nại, tố cáo hoặc khi hết nhiệm kỳ thẩm phán cần làm thủ tục bổ nhiệm lại

NHỮNG YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Tư pháp hình sự vẫn còn cần thiết khi tội phạm còn tồn tại, nhƣng duy trì nó thế nào để đảm bảo có hiệu quả cao nhất là vấn đề các quốc gia và các nhà luật học không ngừng tìm kiếm giải pháp Tố tụng hình sự không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ những người bị tội phạm xâm hại, mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng của chính

kẻ phạm tội do sự lạm dụng của người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự, hạn chế sai sót của cơ quan công quyền khi tiến hành tố tụng gây thiệt hại cho công chúng và xã hội

Tố tụng hình sự nhằm đến việc giải quyết vụ án một cách công minh, có căn

cứ và đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai đối với người bị kết án Kết quả của quá trình tố tụng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp thực hiện và những người thực hiện các hành vi tố tụng, đòi hỏi người ta phải luôn cải cách các hoạt động tư pháp cho phù hợp với sự biến đổi không ngừng của thế giới khách quan

Cải cách tư pháp được đặt ra như một nhu cầu tất yếu mà cả hai mô hình tố tụng đều tiến hành Các nhà lập pháp và nhà khoa học của các quốc gia đang nghiên cứu để tận dụng trí tuệ chung của nhân loại vào điều kiện cụ thể của nước mình Việt Nam duy trì mô hình tố tụng thẩm vấn nhưng cũng đang hướng đến yếu

tố hợp lý của tranh tụng, với mục đích là đấu tranh có hiệu quả với tội phạm trong điều kiện không làm oan người vô tội Cách duy nhất là phải nâng cao vai trò tranh

Trang 6

tụng tại phiên toà, các chứng cứ của vụ án cho dù được thu thập một cách hợp pháp vẫn phải kiểm tra công khai Các quyết định của bản án phải dựa chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà công khai Như vậy sẽ có cơ hội giảm bớt tiến đến loại trừ tình trạng án “bỏ túi” hay án “điều khiển từ xa”

Điều khiển việc tranh tụng là do thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện tại phiên toà Cho nên nâng cao tranh tụng phải đi đôi với nâng cao vai trò của thẩm phán

Xét xử vụ án hình sự là quyền năng của Nhà nước, do Toà án thực hiện Thẩm phán đại diện cho Toà án thực hiện nhiệm vụ đó Chỉ có Thẩm phán cùng một Hội đồng xét xử hợp pháp mới có thẩm quyền tuyên bố một người có tội và phải chịu hình phạt Để tránh lạm dụng quyền lực, việc xét xử vụ án hình sự bao giờ cũng được giao cho một tập thể (trừ những vụ án đơn giản, rõ ràng, có sự đồng

ý của người bị xét xử) và do hai cấp Toà án thực hiện

Thẩm phán là một chức danh tư pháp, được chọn lọc theo một trình tự chặt chẽ và thông thường do người đứng đầu Nhà nước bổ nhiệm Thẩm phán khi làm nhiệm vụ xét xử nhân danh Nhà nước, bản án được tuyên phải được các cá nhân,

cơ quan, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh

Thẩm phán trong mô hình tố tụng nào cũng phải là những người khách quan, vô tư, trung thực và có tinh thần bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải Trong tố tụng hình sự, Thẩm phán luôn phải đứng giữa hai bên buộc tội và gỡ tội, đòi hỏi

có sự công bằng trong việc tiếp nhận và đánh giá chứng cứ Tố tụng hình sự cho phép nhưng không bắt buộc bị cáo tìm mọi biện pháp chứng minh cho sự vô tội của mình Ngược lại, nếu cơ quan công tố không tìm đủ căn cứ thì Thẩm phán phải tuyên bố bị cáo vô tội

Trang 7

Cải cách tư pháp diễn ra trong lĩnh vực tố tụng hình sự đòi hỏi Nhà nước phải đấu tranh có hiệu quả với tội phạm nhưng không cho phép kết án oan người

vô tội Khi chưa có đủ chứng cứ buộc tội một người thì họ cũng là người vô tội

Tố tụng tại phiên toà cần tạo mọi điều kiện có thể để các bên đưa ra lý lẽ của mình, mục đích cuối cùng là không bỏ lọt và không làm oan, bảo đảm được những quyền cơ bản của con người Trách nhiệm này được giao cho Thẩm phán Thẩm phán cần có bản lĩnh nghề nghiệp, lương tâm và quan trọng hơn cả là năng lực thực hiện nhiệm vụ cao quý của mình

NHIỆM VỤ,QUYỀN HẠN VÀ NHIỆM VỤ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Theo quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

“Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;

b) Tiến hành xét xử vụ án;

c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;

d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;

Trang 8

b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;

đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;

e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;

g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo

sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của Bộ luật này

Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”

VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Thẩm phán với việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

- Nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" Đây là nguyên tắc suy đoán vô tội được quy

định tại Hiến pháp, đòi hỏi trong quá trình giải quyết vụ án hình sự những người tiến hành tố tụng luôn phải có tư duy “Tất cả mọi người đều được coi là vô tội khi chưa có một bản án của Toà án có thẩm quyền kết tội”

Trang 9

Thực tế trong lịch sử tố tụng của Việt Nam, khi một người bị bắt giữ hình

sự hoặc từ khi có quyết định khởi tố bị can thì thường đã bị coi là tội phạm và thực

sự bị đối xử như một phạm nhân Bị cáo khi ra trước toà bị xem như là người đã có tội, phải bắt buộc mặc áo tù, bị xích tay (thậm chí cả cùm chân) Trong quá trình thẩm vấn có Thẩm phán luôn có thái độ quát nạt, không cho bị cáo trình bày đầy

đủ các tình tiết của vụ án theo lô-gíc mà họ muốn, đòi hỏi chỉ trả lời là “có” hoặc

“không”, thường đặt câu hỏi “bị cáo hãy trình bày về hành vi phạm tội của mình”,

“bị cáo đã nhận thức được tội lỗi của mình chưa” Thẩm phán khi thẩm vấn luôn

có những câu giáo huấn đối với bị cáo Bản án thường dùng ngôn từ mang tính miệt thị như “y, thị, kẻ, tên…” Chính vì có quan niệm không đúng đắn như vậy

mà Thẩm phán không muốn nghe lời trình bày của bị cáo Khi họ thực hiện quyền tự bào chữa có thể bị “chụp mũ” cho rằng có thái độ chống đối, chối tội Có không ít phiên toà thấy Thẩm phán và Kiểm sát viên đập bàn, vung tay, cắt ngang lời trình bày hoặc không cho bị cáo nói theo ý họ, nhất là những khi bị cáo bào chữa cho sự vô tội của mình

- Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây là nguyên tắc chủ đạo trong xét xử của Toà án,

không những đối với vụ án hình sự mà còn đối với các loại án khác Ngày nay hầu như tất cả các quốc gia thực hiện nguyên tắc việc xét xử được giao cho các thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.Tuy nhiên trong Hiến pháp quy định: “… Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Trong điều kiện Toà án phải báo cáo công tác và chịu sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương thì tính độc lập của Toà án rõ ràng bị hạn chế, kéo theo đó là tính độc lập của Thẩm phán Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải tăng cường tính độc lập của Toà án hơn nữa

Trang 10

- Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số Xét xử tập thể là đòi

hỏi của nền tư pháp dân chủ và trong thực tiễn chưa bao giờ bị vi phạm Nhưng việc quyết định theo đa số còn có vấn đề bất cập Hội thẩm khi tham gia xét xử vì nhận thức sai lầm, hay do bị tác động mà biểu quyết không đúng về vấn đề được quyết định, Hội thẩm lại chiếm đa số nên bản án được tuyên theo hướng đó Cũng

có trường hợp Thẩm phán vì muốn áp dụng tội danh hay hình phạt nhẹ hơn nhưng lại thuyết phục hội thẩm biểu quyết đa số theo hướng đó, còn bản thân Thẩm phán thì biểu quyết ngược lại (nhằm trốn tránh trách nhiệm sau này) để rồi tuyên bản án

rõ ràng là không hợp lý

Tuyên án theo đa số là cơ chế đương nhiên của việc xét xử tập thể, nói chung là đưa ra kết quả đúng nếu không có sự tác động trái chiều Quyết định theo

đa số cũng có thể dẫn đến kết quả chưa đúng, điều này sẽ được khắc phục bằng cấp xét xử cao hơn, do chính Thẩm phán chủ toạ hay Toà án cấp trên phát hiện khi kiểm tra giám đốc thẩm Quan điểm chính thức của Chánh án Toà án nhân dân tối cao là bắt buộc Thẩm phán phải tuyên án theo đa số vì đó là quy định của Luật Nếu Thẩm phán thấy rõ ràng quyết định như vậy là sai lầm thì có thể đề nghị Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hay báo cáo Toà án cấp trên khắc phục sai lầm

TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN TRONG TRƯỜNG HỢP OAN SAI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰT

Oan và sai là hai khái niệm khác nhau Oan trong tố tụng hình sự là việc một người không có hành vi vi phạm pháp luật hình sự mà bị các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào Bộ luật hình sự và Bộ luật TTHS bắt giam, khởi tố, truy tố, xét

xử Sai trong tố tụng hình sự là việc bắt giam, khởi tố, truy tố, xét xử đúng người

Ngày đăng: 07/11/2017, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w