1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự việt nam

13 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 214,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết 08 đưa ra một trong những nhiệm vụ của cơ quan tư pháp là phải nâng cao chất lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kị

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Võ Khánh Vinh

Hµ néi - 2009

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thực hiện đường lối của Đảng nền kinh tế nước nhà tiếp tục tăng trưởng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao Trong thành tựu đó có phần đóng góp tích cực của cơ quan tư pháp, dưới

sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

và sự giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, sự ủng hộ và giám sát của Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các cơ quan tư pháp đã đạt được nhiều kết quả trong việc ngăn ngừa, đấu tranh tội phạm và các tệ nạn xã hội góp phần vào việc giữ vững an ninh đấu tranh và bảo vệ chính sách bình yên cho nhân dân Đó là mặt quan trọng của cuộc sống đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

Bên cạnh những đóng góp to lớn thì công tác của các cơ quan tư pháp vẫn còn không ít những sai phạm Những sai phạm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức, gây bức xúc trong xã hội mà qua đó nó còn thể hiện sự yếu kém của pháp luật Chính vì vậy, công cuộc cải cách tư pháp là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Từ năm 2002 - 2005, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã ban hành một số nghị quyết về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật Trong đó nhấn mạnh đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 "Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng năm 2020" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 48), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49) Trong đó,

Trang 4

Nghị quyết 08 đưa ra một trong những nhiệm vụ của cơ quan tư pháp là phải nâng cao chất lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình

sự, bảo vệ trật tự, kỷ cương, đảm bảo và tôn trọng quyền dân chủ, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân; chủ trương đề cao vai trò tranh tụng tại phiên tòa Nghị quyết 08 cũng đã khẳng định: "Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp" [4]

Trong hệ thống các cơ quan tư pháp bảo vệ pháp luật thì Tòa án được coi là trung tâm, là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp, là tâm điểm của cải cách tư pháp Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là thành viên của Hội đồng xét xử, là người trực tiếp giải quyết vụ án, cùng Hội đồng xét

xử ra các phán quyết của Tòa án liên quan đến quyền lợi của cá nhân, tổ chức Trong cải cách tư pháp Tòa án được coi là trọng tâm với nhiệm vụ "nâng cao tranh tụng tại các phiên tòa" và khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa

án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi ích hợp pháp để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong

thời hạn luật định thì việc lựa chọn đề tài "Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam" làm luận văn Thạc sĩ là điều hết sức cần

thiết và có tính thời sự với mong muốn góp phần vào thực hiện nhiệm vụ chung về cải cách tư pháp

2 Tình hình nghiên cứu

Theo thống kê không đầy đủ thì cũng có một số công trình nghiên cứu

về chế định Thẩm phán cũng như về địa vị pháp lý của Thẩm phán dưới dạng

luận văn cử nhân như: "Chế định Thẩm phán trong tố tụng hình sự - Một số

Trang 5

vấn đề lý luận và thực tiễn", của Trần Thu Trang; "Địa vị pháp lý của Chánh

án, Phó chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam", của Nguyễn Thị Hằng;

"Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam hiện nay", của Đỗ Gia Thư; "Nghiên cứu mô hình nhân cách Thẩm phán trong hoạt động

xét xử", của Bùi Kim Chí dưới dạng luận án ttiến sĩ… Bên cạnh đó, còn có

một số công trình nghiên cứu dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học về hoạt động thực tiễn của Thẩm phán của các nhà làm công tác thực tiễn, các nhà nghiên cứu khoa học Thiết nghĩ hơn bao giờ hết trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước đang chú trọng đến tiến trình cải cách tư pháp mà trọng tâm là Tòa án, với tư cách là học viên cao học, một cán bộ Tòa án làm công tác thực tiễn tác giả nhận thấy việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn

3 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, nội dung các quy định về hoạt động của Thẩm phán theo Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động của Thẩm phán trong

tố tụng hình sự Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán theo hướng cải cách tư pháp, nâng cao yếu tố tranh tụng tại các phiên tòa như Bộ Chính trị đã đề ra trong các nghị quyết 08, 49 và 48

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động của Thẩm phán

Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề tố tụng hình sự liên quan đến địa vị pháp lý của Thẩm phán và thực tiễn áp dụng Bên cạnh

Trang 6

đó luận văn cũng có tìm hiểu, so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống

kê, tổng hợp…

6 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan lập pháp lựa chọn giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán, các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa và các quy định liên quan đến quá trình giải quyết vụ án hình sự để phán quyết của Tòa án được khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm… đảm bảo nguyên tắc hoạt động Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ xét xử

Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn cho những người làm công tác thực tiễn mà cụ thể ở đây là Thẩm phán Giúp cho Thẩm phán có nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của họ được pháp luật quy định để từ đó áp dụng cho thống nhất, chính xác, tránh áp dụng tùy tiện

Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân giám sát hoạt động xét xử của Thẩm phán qua kết quả giải quyết án Giúp cho những người tham gia tố tụng

có những nhận thức hiểu biết đúng đắn về địa vị pháp lý của Thẩm phán để khi ra phiên tòa có sự tôn trọng pháp luật, tôn trọng người tiến hành tố tụng và biết cách để bảo vệ quyền lợi của mình

7 Những đóng góp mới của luận văn

Trang 7

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài "Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố

tụng hình sự Việt Nam" luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị

pháp lý của Thẩm phán; nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động của Thẩm phán theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam; tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về hoạt động của Thẩm phán để thấy được những kết quả đạt được và chưa đạt được, tìm ra những nguyên nhân Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp mà Bộ Chính trị đã đề ra

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán

trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực trạng các quy định về hoạt động của Thẩm phán theo

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật

về hoạt động của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định về địa vị

pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ

CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN

1.1.1 Khái niệm Thẩm phán, địa vị pháp lý của Thẩm phán

Trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân có một vị trí đặc biệt quan trọng - là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính, kinh doanh thương mại và giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật như thi hành án, giải thích pháp luật… Bằng hoạt động của mình, Tòa án bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ của công dân, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, nhân phẩm danh dự của công dân và bảo vệ tài sản của Nhà nước Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân ý thức pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống, tham gia cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác

Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán được coi là nhân tố, hạt nhân rất quan trọng, nhân vật trung tâm Xét xử được hiểu là "hoạt động

do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc chung" [44, tr 45] Xét xử đã có từ rất lâu đời nhưng sự ra đời của Thẩm phán lại khá muộn màng Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quyết định tổ chức thực hiện và là người

có quyền lực cao nhất Đến mãi sau này vào khoảng thế kỷ 17 - 18, giai cấp tư

Trang 9

sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xóa bỏ Nhà nước phong kiến lỗi thời Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu đã đưa ra luận điểm: phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành 3 loại quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một

cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực nhà nước Có thể nói sự tách bạch và

độc lập giữa Tòa án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét

xử từ xưa đến nay chưa có đó là Thẩm phán [28, tr 16] Vậy, Thẩm phán được hiểu như thế nào cho đầy đủ và chính xác?

Cũng có nhiều khái niệm (định nghĩa) về Thẩm phán chẳng hạn như:

- "Thẩm phán là một chức danh Nhà nước trong hệ thống Tòa án các

cấp" [27]

- Theo tác giả Đỗ Gia Thư: "Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước" [28, tr 17]

- Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002

đã đưa ra khái niệm "Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án" [41]

Trải qua sự phát triển của lịch sử cũng như sự phát triển của nền lập pháp từ khi chưa có đội ngũ Thẩm phán đến khi xuất hiện đội ngũ Thẩm phán để từ

đó khái niệm về Thẩm phán dần được xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hơn Chúng tôi đồng tình với khái niệm về Thẩm phán được quy định tại Pháp

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Tư pháp (1957), Tập luật lệ về tư pháp, Hà Nội

2 Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (2004), "Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải

cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp

quyền", Trong sách: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây

dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

3 Nguyễn Ngọc Chí (2007), Nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự,

Bài giảng cho học viên cao học luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01

của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội

5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của

Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội

6 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của

Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội

7 Nguyễn Văn Hiển, Dương Bạch Long (2005), Những điều cần biết về

quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

8 Nguyễn Quốc Hoàn (2008), Giáo trình Luật so sánh, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội

9 Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp

Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

10 "Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" (2007),

Thông tin khoa học Kiểm sát, (3+4)

Ngày đăng: 15/12/2016, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w