NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng cứ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, quy định về thu thập chứng cứ: 1.1.1 Khái Niệm - Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Chứng cứ trong v
Trang 1Nhóm 7 - Kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư
A. Khái Quát Chung
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Để quá trình hội nhập được nhanh chóng và thuận lợi, Nhà nước cần có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là lĩnh vực dân sự Tuy nhiên, sự phát triển ngày càng nhanh của xã hội cũng kéo theo ngày càng nhiều những bất đồng, mâu thuẫn xảy ra trong mối quan hệ giữa các chủ thể với nhau Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì cần có những cơ chế giải quyết tranh chấp công bằng, nhanh chóng
và hiệu quả
- Để góp phần giải quyết thực trạng đó, không thể không nói tới vai trò của Luật
sư, là người tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Với Luật sư tranh tụng kỹ năng từ giai đoạn khởi kiện đến kỹ năng thu thập chứng cứ phân tích, đánh giá, sử dụng chứng cứ, kỹ năng viết bản luận
cứ, kỹ năng chuẩn bị các việc liên quan đến trước khi ra phiên tòa, kỹ năng tại phiên tòa sơ thẩm và kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm thực sự là cần thiết Xuất phát từ mục đích đó, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu sâu một số kỹ năng cơ bản quan trọng nhất của Luật sư trong tranh tụng dân sự là : Kỹ năng thu thập chứng cứ
2 Mục đích của đề tài
- Việc nghiên cứu đề tài với mục đích là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự; nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự đồng thời diện những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của luật sư trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của luật sư
Trang 23.Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là một số vấn đề lý luận về kỹ năng thu thập chứng cứ của luật sư, thực trạng áp dụng kỹ năng nghe và viết của luật sư trong giải quyết
vụ việc dân sự và một số kiến nghị để nâng cao kỹ năng thu thập chứng cứ của luật sư
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Bài nghiên cứu được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp đối chiếu, so sánh và phương pháp phân tích
5 Bố cục bài nghiên cứu
- Nội dung của bài nghiên cứu gồm 2 chương:
dân sự
B NỘI DUNG
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chứng cứ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, quy định về thu thập chứng cứ:
1.1.1 Khái Niệm
- Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”
- Theo quy định này, thì trước hết chứng cứ là những gì có thật, chỉ những thứ có thật mới có thể là chứng cứ và chứng cứ phải được giao nộp cho Tòa án hoặc
do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định thì mới được
Trang 3thừa nhận để làm cơ sở xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự một cách hợp pháp
1.1.2 Đặc điểm của chứng cứ
- Tính khách quan: Chứng cứ trước hết phải là những gì có thật tồn tại khách
quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng bag những người tham gia tố tụng không thể tạo ra chứng cứ theo ý muốn chủ quan của họ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu đánh giá và sử dụng chúng Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là
cơ sở để nhận thức vụ việc dân sự
- Tính liên quan: Chứng cứ là những sự kiện thực tế tồn tại khách quan và liên quan đến vụ, việc mà Tòa án dựa vào đó để giải quyết Nhờ chứng cứ mà Tòa
án có thể công nhận hay phủ nhận được tình tiết, sự kiện này hay tình tiết, sự kiện khác của vụ việc dân sự hoặc đưa ra tin tức về nó
- Tính hợp pháp: Các sự kiện, tình tiết để trở thành chứng cứ trong vụ, việc có giá trị chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu thì chứng cứ phải được rút
ra từ nguồn nhất định do pháp luật quy định và phải được thu thập, bảo quản, củng cố và nghiên cứu, đánh giá theo một thủ tục do luật quy định Đây là trình
tự nhằm bảo đảm giá trị của chứng cứ
1.1.3 Thu thập chứng cứ.
- Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ
sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc chứng minh của đương sự và việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án
- Chủ thể hoạt động thu thập chứng cứ :
• Giai đoạn thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự đương sự có nghĩa vụ chứng minh chủ yếu nên đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là các chủ thể chủ yếu phải tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho tòa Tuy nhiên, đối với thu thập chứng có thể có thêm số chủ thể khác tham gia như Tòa án và Viện kiểm sát
• Theo quy định tại các Điều từ Điều 98 đến Điều 105 Bộ luật tố tụng dân sự đã
có thể thấy Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ trong các trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và đương sự có yêu cầu Tuy nhiên, Tòa án cũng có thể tự mình thu thập chứng cứ khi đương sự không có yêu cầu
Trang 4• Thẩm tra viên,Viện kiểm sát cũng là một chủ thể của hoạt động thu thập chứng
cứ bằng cách yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng (Khoản 4, 6 Điều 97)
1.1.4 Ý nghĩa của chứng cứ
- Chứng cứ với tư cách là linh hồn của tố tụng và là nền tảng cơ bản để giải quyết
vụ việc dân sự Vì vậy chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết các vụ việc dân sự Chứng cứ là cơ sở duy nhất và cũng là phương tiện duy nhất
để chứng minh các sự kiện tình tiết của vụ việc dân sự
- Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn
đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ.;Chứng cứ là phương tiện để người tham gia
tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;Chứng cứ là để Tòa án tái hiện lại đúng các tình tiết và sự thật của vụ việc dân sự, xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự; Chứng cứ là hoạt động mấu chốt của vấn đề chứng minh trong TTDS
1.1.5 Phân loại:
- Trên thực tế chứng cứ thường được phân thành các loại sau:
• Dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ: chứng cứ được phân ra chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật
• Căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ: gồm chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại
• Căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với những sự kiện cân chứng minh: được chia gồm chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
Chương 2: Kỹ năng thu thập chứng cứ của Luật sư trong giải quyết
vụ việc dân sự
2.1 Hoạt dộng thu thập và giao nộp chưng cứ.
2.1.1 Nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ
Về nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ : Đ94, Đ95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
Trang 5- Đối với Tài liệu đọc được:
• Tài liệu đọc được: Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận(Khoản 1 Đ95).Ví dụ : Đối với một vụ tranh chấp hợp đồng mà hợp đồng được lập thành văn bản thì bản hợp đồng đó
là một tài liệu quan trọng trong hồ sơ
Trong tương hợp này luật sư nên hướng dẫn đương sự sao bản hợp đông thành nhiều bản để đề phòng trường hợp mất hoặc thất lạc
• Đối với những tài liệu đọc được được lưu giữ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do cá nhân, tổ chức khác lưu giữ như giấy tờ liên quan đên sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất, các biên bản hiện trường trong một vụ tai nạn giao thông thì luật sư nên giúp đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp Đương sự có thể thu thập chứng cứ theo cách này trước khi quyết định khởi kiện Theo quy định tại Điều 7 BLTTDS 2015, Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ
và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát.Việc yêu cầu này cần được thể hiện bằng đơn Luật sư có thể soạn Đơn yêu cần cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ được là theo mẫu đơn thông thường Trong đơn phải nói rõ đương sự là ai, địa chỉ, yêu cầu cụ thể về yêu cầu của đương sự và mục đích của yêu cầu.Tuy nhiên trên thực tế việc thu thập chứng cứ cũng như tài liệu theo cách này rất khó được
cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
Trong trường hợp này luật sư cần đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức thông báo bằng vắn bản ghi rõ lí do không cung cấp chứng cứ
- Đối với tài liệu nghe được:
Trang 6• Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó (Khoản 2 Đ95)
• Ví dụ: Trong một vụ tai nạn giao thông, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường
vụ tai nạn giao thông, qua đó có thể xác định được biển số xe của người đã gây tai nạn Băng ghi hình này được cung cấp bởi một người đang tham gia giao thông và tình cờ chứng kiến vụ tai nạn Để băng ghi hình có giá trị chứng cứ, người giao nộp phải xuất trình được bản xác nhận của người đã cung cấp băng hình Đây là những quy định bắt buộc mà luật sư phải nắm bắt được khi thu thập loại chứng cứ này
- Đối với thông điệp dữ liệu điện tử:
• Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện
tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương
tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử (Khoản 3 Đ95)
• Giao dịch dân sự bằng dữ liệu điện tử được các bên thực hiện truyền thông tin
từ máy tính đến máy tính nhằm góp phần giản tiện về thời gian, chi phí nhưng vẫn bảo đảm được hiệu quả của công việc Đây là phương tiện hiện nay trong các mối quan hệ về dân sự, kinh doanh, thương mại được sử dụng khá phố biến
và phù hợp với Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 Do đó, việc bổ sung nguồn chứng cứ này là cần thiết nhằm đáp ứng được những yêu cầu thực tế đặt ra
• Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.(Khoản 4 Đ95)
• Trong trường hợp không phải hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc dân sự đó thì không phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó Luật sư cần hỏi
rõ đương sự, nếu khẳng định chắc chắn đó là hiện vật gốc liên quan đến cụ việc dân sự thì mới sự dụng làm chứng cứ
Trang 7• Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.(Khoản 6 Đ95)
• Đối với các loại chứng cứ khác như kết luận giám định, biên bản xem xét tại chỗ, các lời khai của người làm chứng, của đương sự chỉ được thừa nhận nếu chúng được thu thập theo đúng quy định của BLTTDS, đương sự không nên tự mình thu thập các loại tài liệu này Trong một vụ án có thông thường có rất nhiều loại chứng cứ khác nhau Vì vậy nên Luật sư cần hướng dẫn các đương
sự nắm bắt được loại chứng cứ nào là quan trọng đối với việc xem xét và giải quyết vun án và trên cớ sở đó giúp cho đương sự tập hợp các chứng cứ lại theo hướng dẫn của mình Thông thường chứng cứ có thể được sắp xếp theo thứ tự ngày tháng, nội dung, hoặc theo hình thức chứng cứ đó Đới với chứng cứ là bản gốc duy nhất Luật sư cần hướng dẫn các đương sự photo công chứng lại các bản gốc Đới với những tài liệu không phải bằng tiếng Việt cần hướng dẫn cần hướng dẫn đương sự thuê dịch có công chứng Một bản dịch hợp pháp khi
đã có công chứng, chứng thực được gửi kè theo chứng cứ( là bản tài liệu bằng tiếng nước ngoài) sẽ làm tăng giá trị của tài liệu Tất cả chứng cứ mà đương sự
đã thu thập được nhất thiết phải nhân làm hai bản trở lên Một bản nộp cho Toà
án và một bản do đương sự hoặc Luật sư giữ
• Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 7 Đ95)
• Đối với biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ thì phải được tiến hành theo thủ tục do luật định và phải có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định
• Kết quả thẩm định, thẩm định giá tài sản thì phải được tiến hành theo thủ tục luật định hoặc do chuyên gia về giá cung cấp
• Theo Điều 101 BLTTDS 2015:
1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó
2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an
Trang 8xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận
3. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ
4. Thẩm phán có quyền đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng được xem xét, thẩm định tại chỗ hỗ trợ trong trường hợp
có hành vi cản trở việc xem xét, thẩm định tại chỗ
- Đối với kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản:
• Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 8 Đ95)
• Luật sư có quyền giúp thân chủ yêu cầu Tòa án thẩm định giá, thẩm định giá tài sản có liên quan đến vụ kiện Hội đồng định giá do Tòa án quyết định thành lập, gồm chủ tịch hội đồng là đại diện cơ quan tài chính và các thành viên là đại diện cơ quan chuyên môn liên quan Quyết định về giá tài sản phải được quá nửa số thành viên biểu quyết tán thành và phải được lập thành biên bản
- Đối với văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý:
• Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 9 Đ95)
- Đối với văn bản công chứng, chứng thực:
• Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định (Khoản 10 Đ95)
- Đối với các nguồn khác:
• Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định (Khoản 11 Đ95)
2.1.2 Nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án
- Sau khi đã thu thập được các chứng cứ cần thiết của Luật sư cần hướng dẫn các đương sự cung cấp các chứng cứ cho Tòa án Về nguyên tắc tất cả các chứng cứ
mà đương sự có phải được giao nộp cho Tòa án để làm cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự Tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình là
Trang 9những tranh chấp khá phổ biến và thường mang tính chất hết sức phức tạp Mỗi một yêu cầu của đương sự tương ứng với loại quan hệ pháp luật tranh chấp như tranh chấp hợp đồng, thừa kế, tranh chấp quyền sử dụng đất, ly hôn hay quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng lại được điều chỉnh bằng các quy định về pháp luật nội dung mang tính đặc thù và riêng biệt đối với từng loại vụ án và tương ứng với các quy định của pháp luật nội dung ở từng thời điểm xác lập giao dịch Do đó, khi đương sự có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án, việc thu thập chứng cứ và hợp pháp là trách nhiệm và nghĩa vụ của các đương sự
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự ( Luật sư hoặc người khác ) là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của h, trong đó bao gồm cả việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án nhằm chứng minh các tình tiết liên quan đến vụ kiện, cũng như chứng minh các yêu cầu của thân chủ Nguyên tắc chung, việc thu thập chứng cứ của Luật sư phải dựa trên mục đích cơ bản là nhầm chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ
- Xuất phát từ nghĩa vụ chứng minh của đương sự, BLTTDS quy định việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự là quyền và nghĩa vụ của đương sự Nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó Việc hướng dẫn đương sự thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án ngay từ khi khởi kiện và trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án được xác định theo tính chất của yêu cầu kiện và
vị trí tố tụng của thân chủ là nguyên đơn , bị đơn hay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mà Luật sư tham gia bảo vệ Do vậy, tính chất thu thập chứng cứ của Luật sư có thể xác định qua 4 nhóm cơ bản sau:
- Luật sư hướg dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện Tùy từng yêu cầu khởi kiện, quan hệ phap luật tranh chấp mà những giấy tờ cần thiết kèm theo đơn khởi kiện để làm cưn cứ Tòa án thụ lý vụ kiện và giải quyết tranh chấp
- Hướng dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu phân tố
- Hướng dẫn thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ liên quan đến yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Luật su cần căn
cứ vào yêu caafucuj thể của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Luật sư cần căn cứ vào yêu cầu cụ thể của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để thu thập chứng cứ xác định sự thật khách quan của vụ án
và chứng minh yêu cầu có cơ sở pháp lý
Trang 10- Hướng dẫn thân chủ cung cấp chứng cứ liên quan đến các yêu cầu khác Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án thực hiện các biện pháp tố tụng nhầm thu thập cứng cứ thì phải có trách nhiệm đưa ra hứng cứ để chứng minh mình không thể tự mình thu thập chứng cư Đương sự cũng phải chứng minh cho đề nghị của mình thu thập chứng
- Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đương sự cũng phải đưa ra căn cứ chứng minh cho tính cấp thiết phải tiến hành các biện pháp đó
- Khi thực hiện việc giao nộp chứng cứ, Toà án phải lập biên bản về viẹc giao nhận chứng cứ, trong đó ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và con dấu của Toà án, biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, thông thường Tòa án đều có mời các đương sư lên để lấy lời khai Luật sư nên hướng dẫn đương sự tận dụng những cơ hội này để khai báo đầy đủ cho Tòa án, Luật sư cần chuẩn bị cho đương sự các bản tự khai theo yêu cầu của Tòa án Bản tự khai cần trình bày ngắn gọn và đi vào trọng tâm của vấn
đề, giúp Tòa án nhìn đánh giá vấn đề một cách chính xác Nếu biết được các lập luận phản bác trong bản tự khai Các phản bác nên ngắn gọn, sắc bén, có tính thuyết phục và phải luôn luôn được phân tích và nhìn nhận từ góc độ pháp lý
2.1.3 Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ
- Trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ, nếu theo quy định của BLTTDS, dương sự phải làm đơn yêu cầu Thẩm phán tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Việc yêu cầu có thể bằng hình thức :
• Thứ nhất: làm đơn yêu cầu Thẩm phán tiế hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ Kèm theo phải có những tài liệu thể hiện việc đương sự đã tự mình tiến hành biện pháp dó nhưng không thể được
• Thứ hai: ngoài hình thức làm dơn, theo quy định trong Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 01-7-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự cũng có thể đề nghị Tòa án tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ trong các bản khai, trong biên ản ghi lời khai hoặc trong biên bản đối chất