Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm,...”[10, tr 127] Căn cứ Nghị quyết 08-N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - -
Đặng Mai Hoa
Địa vị pháp lý của thẩm phán
trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp
Luận văn thạc sỹ luật học
Hà Nội, năm 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - -
Đặng Mai Hoa
Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 3Danh mục từ viết tắt
Từ viết tắt Tiếng Việt
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
Trang 41.1 Đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự và địa vị pháp lý
của những người tiến hành tố tụng
10
1.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mô hình tố tụng kết hợp
xét hỏi và tranh tụng
16
1.2.2 Mối quan hệ pháp luật giữa Thẩm phán với các chức danh tư
pháp khác trong hoạt động xét xử
20
1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự tác động
của chúng đến địa vị pháp lý của Thẩm phán
Chương 2 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
địa vị pháp lý của thẩm phán và thực tiễn áp dụng
39
2.1 Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong tố tụng hình sự của Việt Nam
39
Trang 52.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán theo quy định của Bộ luật
2.2.2 Thẩm phán với việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên
tòa theo tinh thần cải cách tư pháp
58
2.2.3 Thẩm phán với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của bộ luật tố tụng hình sự
62
Chương 3 Những yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với
việc hoàn thiện địa vị pháp lý của thẩm phán và một số kiến nghị
77
3.2 Xác định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp 83
3.3 Yêu cầu cơ bản đối với cải cách Tòa án và Thẩm phán 85
3.4 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về địa
Trang 6Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang thực hiện cải cách tư pháp một cách toàn diện Điều này tạo cho ngành Toà án Việt Nam nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách thức Thêm vào đó, Việt Nam đã và sẽ tham gia hoặc ký kết các công ước, điều ước quốc tế song phương và đa phương Do đó, đòi hỏi hệ thống pháp luật bao gồm cả luật nội dung và luật tố tụng cần được hoàn thiện Thực tiễn trên đây đã đặt ra cho Thẩm phán Việt Nam không những cần phải có kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực luật nội dung mà còn phải hiểu biết và
áp dụng thành thạo luật tố tụng liên quan để giải quyết các loại tranh chấp
Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết xác định Tòa án giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp, hoạt động của Tòa án là trọng tâm của hoạt động tư pháp Đây là bước phát triển mới về nhận thức lý luận trong lĩnh vực tư pháp nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm, ”[10, tr 127]
Căn cứ Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Tòa án đã tiến hành xét xử theo hướng nâng cao vai trò tranh tụng, đảm bảo quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ cải cách tư pháp đến năm 2020 là phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức
và hoạt động của Toà án nhân dân, đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng
Trang 7tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngành Tòa án Việt Nam đang thực sự đổi mới về tổ chức và hoạt động, tăng cường quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm phán để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Gắn liền với hoạt động của Tòa án là Thẩm phán Thẩm phán là một trong số những người tham gia tố tụng giữ vai trò then chốt trong quá trình cải cách tư pháp nói chung, đặc biệt là việc thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết
đã đề ra
Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là một nội dung rất quan trọng, một mắt xích không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là một việc làm cần thiết góp phần thực hiện thành công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn Bởi điều đó không những góp phần vào việc xây dựng một hệ thống lý luận về hoạt động tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của các chức danh tư pháp nói riêng mà còn góp phần xây dựng các văn bản pháp luật về Tòa án, về Thẩm phán cũng như việc hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ của ngành Tòa án Trong tố tụng hình sự, chế định địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ liên quan và ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án mà còn liên quan đến những chế định quan trọng khác Vì thế, có thể nói rằng hiệu quả của thủ tục tố tụng hình
sự phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc xác định đúng đắn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
Trong khoa học pháp lý hiện nay, mô hình lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự vẫn chưa được xây dựng một cách thống nhất, còn nhiều bất cập Nguyên tắc độc lập xét xử chưa được thực hiện đầy
Trang 8đủ, vẫn còn nhiều vướng mắc trong hoạt động tố tụng của Thẩm phán khi giải
quyết các vụ án hình sự, làm cho hiệu quả xét xử của Tòa án chưa cao
Vì vậy, em đã chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của Thẩm pháp trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp” để làm luận văn thạc sỹ Thông qua
đề tài này, em muốn làm rõ thêm vị trí, vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về Thẩm phán trong công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu như luận án tiến sỹ của tác giả Đỗ Gia Thư về cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay hay luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Lương về vai trò của thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự,… Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định của chế định thẩm phán, chủ yếu dưới góc độ tổ chức và quản lý Thẩm phán trong hoạt động tố tụng Hơn nữa, các công trình này chưa phân tích nghiên cứu về địa vị pháp lý, vai trò của Thẩm phán gắn với quá trình cải cách hệ thống tư pháp hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong quá trình xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích các đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự qua đó thấy
rõ được địa vị pháp lý của Thẩm phán tương ứng với từng mô hình tố tụng
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự ở nước ta thời gian vừa qua
Trang 9- Nêu rõ nội dung, yêu cầu cải cách tư pháp đối với Tòa án nói chung
và Thẩm phán nói riêng để từ đó đóng góp hoàn thiện quy định về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay, hoạt động của Thẩm phán trong thực tiễn xét xử Luận văn có tham khảo kinh nghiệm tố tụng hình sự của một số nước
Luận văn chỉ giới hạn việc nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán ở giai đoạn xét xử sơ thẩm về hình sự
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật, các luận điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp Ngoài ra còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch
sử, phân tích, tổng hợp, thống kê
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình
Trang 10Chương 1 Cơ sở lý luận về Địa vị pháp lý của
thẩm phán trong tố tụng hình sự 1.1 Đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự và địa vị pháp lý của những người tiến hành tố tụng
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới các quyền và tự
do cá nhân, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội Do vậy, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm luôn được quan tâm đặc biệt Để thực hiện hiệu quả công tác này, mọi Nhà nước đều thành lập các cơ quan với chức năng là điều tra, truy tố, xét xử nhằm phát hiện xử lý kịp thời người phạm tội Các cơ quan này thường được gọi là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (hay Viện công tố), Toà án Hoạt động của ba cơ quan trên được pháp luật quy định rất chặt chẽ, cụ thể và được tiến hành theo một trình tự nhất định gọi là
tố tụng hình sự Tố tụng hình sự là trình tự các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng và mối quan hệ giữa họ trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự Theo giáo trình luật tố tụng hình sự của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội,
tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.[25, tr 13]
Khoa học luật tố tụng hình sự của một số nước như Việt Nam, các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô trước đây thì quá trình tố tụng hình sự bắt đầu từ thời điểm có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật được thi hành Nếu có dấu hiệu tội phạm, thì cơ quan có thẩm quyền phải khởi tố vụ án để làm căn cứ tiến hành điều tra và truy tố trước Toà án Hàng loạt giai đoạn tố tụng đó được nối tiếp nhau theo một trình tự chặt chẽ do Luật tố tụng hình sự quy định Như vậy, có thể hiểu tố tụng hình sự bao gồm các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét
Trang 11xử (bao gồm cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm) và thi hành án Tương ứng với mỗi giai đoạn này là quyền và nghĩa vụ của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là nhằm tìm ra sự thật khách quan, trừng trị đúng người đúng tội, không làm oan, sai Nhưng phương pháp được
sử dụng để đạt được mục đích đó ở từng quốc gia lại rất khác nhau Sự khác biệt này thể hiện chủ yếu ở vị trí, vai trò của ba cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó nổi bật là vai trò của Toà án Tuy nhiên, căn cứ vào một số đặc điểm chung nhất, có thể phân chia thủ tục tố tụng hình sự của các nước trên thế giới
hiện nay thành hai hệ thống (hay hai mô hình) chủ yếu đó là: Hệ tố tụng thẩm
vấn (hay hệ tố tụng xét hỏi) và hệ tố tụng tranh tụng Ngoài ra, có quan điểm
cho rằng có ba hệ thống tố tụng, ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tố tụng pha trộn [35, tr 30]
Hệ tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ như: Anh, Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia và một số nước là thuộc địa của Anh trước đây Hệ tố tụng thẩm vấn chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật lục địa như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, và các nước XHCN Sự phân chia các hệ thống tố tụng hình sự thành hệ tranh tụng
và hệ thẩm vấn không có nghĩa là sự tranh tụng chỉ có trong hệ tranh tụng còn trong hệ thẩm vấn thì không có tranh tụng và ngược lại Ngày nay, hai hệ thống tố tụng này đang chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau và trong mỗi hệ thống đều chứa đựng một số yếu tố của hệ thống kia
Mô hình tố tụng thẩm vấn "được phổ biến rộng rãi nhất trong thời đại
chế độ chuyên chế." [26, tr 13] "Hệ tố tụng thẩm vấn cho rằng sự thật có thể
và phải tìm ra trong quá trình thẩm vấn điều tra Vì rằng các bên có thể có ý định che dấu sự thật nên nhà nước phải tham gia sớm và liên tục vào việc thẩm vấn điều tra".[35, tr122) Đặc điểm của mô hình tố tụng này là quan toà
Trang 12giữ vai trò trung tâm Người Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ điều tra, buộc tội, xét xử và thi hành án Theo mô hình tố tụng này, Thẩm phán không có quyền sáng tạo ra pháp luật Thẩm phán được nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên toà, chúng ta hay gọi những trường hợp này là án tại hồ sơ Theo TS Nguyễn
Thái Phúc "mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn là mô hình tố tụng hình sự mà
trong đó các chức năng cơ bản như chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử tập trung vào một cơ quan nhà nước Mô hình này có các dấu hiệu đặc trưng như:
- Không có các bên độc lập vì hoạt động tích cực của các bên bị thay thế bởi hoạt động của cơ quan nhà nước trong tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng
- Bị cáo hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng và là đối tượng xem xét của những cơ quan này
- Không có sự tranh chấp pháp lý của các bên, thay vào đó là ý chí của Nhà nước, của pháp luật và ý chí của Nhà nước là động lực của tố tụng hình sự"[21, tr 3]
Những người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác hoàn toàn bị động và chỉ được trả lời những câu hỏi do quan toà đặt ra Trong tất cả quá trình tố tụng xét hỏi Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ động còn luật sư thì
bị động hơn
Mô hình tố tụng tranh tụng dựa trên luận điểm cho rằng tố tụng là sự tranh cãi diễn ra ở Toà án giữa Nhà nước và người phạm tội Trong cuộc tranh cãi đó, hai bên đều có quyền và nghĩa vụ ngang bằng nhau Tranh tụng giữa hai bên bắt đầu ngay từ giai đoạn trước xét xử Thẩm phán đánh giá chứng cứ theo nguyên tắc tự do và theo niềm tin nội tâm của mình Vai trò tích cực của các bên được đề cao, đặc biệt là vai trò của luật sư Bên bào chữa, bên buộc tội có lợi ích đối kháng nhau song bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng Trong đó, bên buộc tội có trách nhiệm chứng minh tội phạm, bên bào chữa có trách nhiệm chứng minh sự vô tội, tình tiết giảm nhẹ
Trang 13trách nhiệm hình sự cho bị cáo Do đó, trong phiên toà, Thẩm phán chỉ giữ vai trò là trọng tài đứng giữa hai bên để phân xử Thay vì giữ quyền độc tôn như trong mô hình tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán, Bồi thẩm đoàn, Công tố viên và
Luật sư có sự chia sẻ quyền hạn Ví dụ, theo pháp luật của Mỹ “việc quyết
định có tội hay không có tội là trách nhiệm của Bồi thẩm đoàn, còn Thẩm phán chỉ trên cơ sở kết luận của Bồi thẩm đoàn mà ra phán quyết về mức hình phạt đối với người tội phạm” [9, tr 80] Như vậy, trong mô hình tố tụng
tranh tụng, vai trò của Luật sư, của Công tố viên được đề cao Qua việc tranh tụng tại phiên toà, sự thật được xác định bằng lý lẽ của bên nào thuyết phục hơn Thẩm phán không cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ từ trước như trong tố tụng xét hỏi
Cả hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tranh tụng có những điểm tương đồng, đó là:
- Về nguyên tắc tố tụng: hai mô hình tố tụng trên đều được xây dựng dựa trên các nguyên tắc tư pháp dân chủ, công bằng Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa
có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án Đây là những nguyên tắc chung nhất để từ đó hình thành nên địa vị pháp lý của từng cơ quan cũng như của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong cả hai mô hình
- Về mục đích chung của cả hai mô hình tố tụng trên là tìm ra sự thật với nguyên tắc người phạm tội phải bị xử lý
- Về phương pháp tiến hành: tố tụng thẩm vấn cũng như tố tụng tranh tụng đều tiến hành từng bước theo các giai đoạn điều tra, truy tố, chuyển sang Toà án để xét xử Và xét xử là khâu cuối cùng để đi đến kết luận có tội hay không có tội Tất cả các giai đoạn trước nhằm phục vụ cho giai đoạn xét xử Đây là một chuỗi giai đoạn tố tụng được tiến hành theo một trình tự luật định
và giữa chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, mật thiết không thể tách rời Khi nhận được tin báo tội phạm, việc điều tra sẽ do Điều tra viên thực hiện
Trang 14với sự giám sát của Công tố viên Khi tìm ra được người phạm tội, xác định được sự thật của vụ án, hồ sơ được chuyển sang Toà án và Thẩm phán sẽ tiến hành các hành vi tố tụng để xét xử Điều tra viên, Công tố viên và Thẩm phán
là những nhân vật trung tâm trong tố tụng hình sự trong đó Thẩm phán giữ vai trò quan trọng đưa ra phán quyết cuối cùng
Bên cạnh những điểm tương đồng đó, hai mô hình tố tụng này có những điểm khác biệt Và đây cũng là yếu tố hình thành sự khác biệt về địa vị pháp lý của những người tiến hành tố tụng nói chung, Thẩm phán nói riêng khi giải quyết vụ án hình sự Sự khác nhau thể hiện ở cách thức tiến hành, về vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng
Đối với mô hình xét hỏi thì hoạt động tố tụng tập trung vào giai đoạn điều tra, nên nếu việc điều tra được tiến hành cẩn thận sẽ đảm bảo xác định chính xác tội phạm Phiên toà trong tố tụng xét hỏi là sự tiếp tục điều tra để tìm ra sự thật Viện công tố là người chỉ đạo và giám sát hoạt động điều tra của cảnh sát Kết quả điều tra được phản ánh trong hồ sơ vụ án Còn trong mô hình tố tụng tranh tụng giai đoạn xét xử được chú ý nhiều nhất, mọi phán quyết đều được căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên toà Vai trò của Viện công tố mờ nhạt vì không có trách nhiệm trong hoạt động điều tra Toàn bộ hoạt động điều tra do cảnh sát tiến hành Không có hồ sơ chính thức của vụ án nên không có hồ sơ chuyển cho Thẩm phán nghiên cứu trước khi mở phiên toà như đối với mô hình tố tụng thẩm vấn
Điểm khác biệt nữa là vai trò, vị trí của Thẩm phán Trong mô hình tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán trực tiếp xét hỏi Ngược lại, Thẩm phán trong mô hình tố tụng tranh tụng rất ít khi hoặc không tham gia xét hỏi mà chỉ là người điều khiển phần thẩm vấn cũng như phần tranh luận tại phiên toà Do Thẩm phán không biết trước hồ sơ nên việc tranh tụng giữa các bên là nội dung chủ yếu của phiên toà và nhiệm vụ của các bên trong quá trình tranh tụng là thuyết phục Thẩm phán chấp nhận lý lẽ của mình
Trang 15Ngoài hai hệ tố tụng nêu trên, còn tồn tại một hệ tố tụng pha trộn có đặc trưng của cả hệ tố tụng thẩm vấn và hệ tố tụng tranh tụng Như trước khi xét xử toàn bộ quá trình điều tra không có tính công khai, việc bào chữa của
bị can trong giai đoạn này bị hạn chế, Thẩm phán có quyền nghiên cứu hồ sơ trước khi vụ án được xét xử Tại phiên toà, Thẩm phán giữ vị trí trung tâm, tiến hành xét hỏi bị cáo, nhân chứng và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án để tìm ra sự thật khách quan Thẩm phán đảm nhiệm từ việc buộc tội, bào chữa và đưa ra phán quyết cho bị cáo Vai trò của Kiểm sát viên và Luật sư bị mờ nhạt Song mô hình này vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của những đặc điểm mô hình tố tụng tranh tụng Bên cạnh vị trí chủ đạo của Thẩm phán trong việc chứng minh tội phạm còn quy định vai trò của những người tham gia tố tụng khác như luật sư, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,…
Mỗi mô hình tố tụng hình sự đều có những ưu thế và những hạn chế của nó Không có mô hình tố tụng hình sự nào là hoàn hảo Theo bà Elisabeth
Pelsez, thẩm phán Toà án phúc thẩm Rouen (Mỹ):Nhược điểm của tố tụng
tranh tụng là làm nảy sinh sự bất bình đẳng giữa các bên trong vụ án hình
sự, vì bên nào có nhiều tiền thuê luật sư thì sẽ có nhiều khả năng giành thắng lợi hơn, trong khi đó thủ tục xét hỏi khắc phục được nhược điểm này vì công tác điều tra do thẩm phán độc lập và khách quan đảm nhiệm Nhược điểm thứ hai của tố tụng tranh tụng là nó rất phức tạp vì khi phiên toà diễn ra chưa có
gì khẳng định là chắc chắn cả nên đôi khi dẫn đến hệ quả nguy hiểm Còn tố tụng xét hỏi bị chỉ trích là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên đương
sự, vì chứng cứ do thẩm phán điều tra nên tố tụng xét hỏi bị coi là đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan, đôi khi Thẩm phán có sẵn trong đầu quyết định xét xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử, dưới góc độ đó việc tranh luận trở nên vô nghĩa.[16, tr 13]
Trang 16Cho đến nay, các quốc gia đều có sự thay đổi hệ thống tố tụng của mình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Tìm mọi cách phát huy những điểm mạnh, hạn chế những nhược điểm trong mô hình tố tụng mà mình đã lựa chọn Có quốc gia thuộc mô hình tố tụng này nhưng lại có xu thế chuyển sang lựa chọn mô hình tố tụng kia hay lại lựa chọn mô hình tố tụng hỗn hợp Điều đáng chú ý là mặc dù các nước cùng thuộc về hệ tố tụng tranh tụng, hệ tố tụng thẩm vấn hay hệ pha trộn nhưng ở mỗi nước việc áp dụng thủ tục đó được thực hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau Thực tế bất kỳ mô hình tố tụng nào cũng là sự pha trộn với những biến đổi theo một trong hai trường phái pha trộn thiên về thẩm vấn hoặc pha trộn thiên về tranh tụng
Việc nghiên cứu đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự là nhằm làm
rõ sự tác động và chi phối của các mô hình tố tụng này đối với địa vị pháp lý của cơ quan cũng như của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là Thẩm phán Từ
đó, giúp cho việc lựa chọn áp dụng mô hình tố tụng thích hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá và truyền thống pháp lý của từng quốc gia và làm cơ sở cho việc pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng nói chung và Thẩm phán nói riêng
1.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong mô hình tố tụng kết hợp xét hỏi
và tranh tụng
1.2.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán
Địa vị pháp lý nói chung theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý
thông dụng là “tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác
định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”
Theo từ điển Luật học xuất bản năm 2006 thì địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Là sự thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị
Trang 17pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [36, tr 244]
Tố tụng hình sự được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau Tương ứng với mỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tiến hành
tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng theo quy định của BLTTHS Và những người đó được gọi
là những người tiến hành tố tụng với địa vị pháp lý rất khác nhau
Những người tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng chính xác và xử
lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Tại Toà án, những người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án Thẩm phán ở Việt Nam bao gồm: Thẩm phán TANDTC, Thẩm phán TAND cấp tỉnh, Thẩm phán TAND cấp huyện và Thẩm phán TAQS các cấp
Công việc xét xử của Thẩm phán được coi là một nghề, nghề xét xử Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1994 đã định
nghĩa: "nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã
hội" Nghề Thẩm phán là nghề đại diện cho quyền lực tư pháp, quyền lực nhà
nước, là "tượng trưng cho khát vọng của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội
về chân, thiện, mỹ về một hệ thống tiêu chí đạo đức: sống làm người" [28, tr
37] Thẩm phán nhân danh nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành
Thẩm phán còn được hiểu theo nghĩa là một chức danh tư pháp Cho đến nay ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào của nhà nước quy định về khái niệm chức danh tư pháp Có quan điểm cho rằng những người nào trực
Trang 18tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp Do vậy chức danh tư pháp bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký toà
án,Hhội thẩm, Thẩm tra viên GS.TS Võ Khánh Vinh thì cho rằng "chức
danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật." [6, tr 43] Trong các chức
danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp
Như vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán
là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ
pháp lý của Thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được phản ánh và thể hiện ở những phương diện:
- Các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
- Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
1.2.1.1 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp hình sự
Kết quả hoạt động của Toà án là sản phẩm của toàn bộ hoạt động tư pháp Toà án thực hiện được chức năng xét xử của mình thông qua hoạt động của những con người cụ thể Trong Toà án có rất nhiều chức danh như Thẩm phán, Thư ký tòa án, Thẩm tra viên, cán bộ văn phòng, Nhưng chỉ có duy nhất Thẩm phán mới được pháp luật trao cho quyền xét xử Cho dù bộ máy của Toà án được tổ chức quy mô đến mấy thì tất cả những yếu tố đó điều chỉ phục vụ cho hoạt động xét xử Trước đây, khi chưa có sự tách biệt giữa ba
Trang 19quyền tư pháp, hành pháp và lập pháp, thì nhà vua chính là quan toà, là người xét xử tối cao Đến khi cách mạng tư sản ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng mới về tư tưởng Chính điều này đã hình thành nên một nhánh quyền lực độc lập, đó là quyền tư pháp và cũng từ đó hình thành nên một đội ngũ quan chức mới trong bộ máy nhà nước Đó là những con người làm công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng
Hoạt động xét xử của Toà án được thực hiện thông qua HĐXX trong
đó Thẩm phán là nhân vật trung tâm Thẩm phán là những người có vai trò chủ yếu trong công tác xét xử Thông qua hoạt động xét xử của mình, Thẩm phán góp phần vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người dân Mỗi một phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới chỗ công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định Đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩm phán dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với người bị kết án Sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta
Khác với các công việc khác, để đưa ra được một phán quyết thấu tình đạt lý, Thẩm phán phải huy động nhiều tố chất trong một con người Đó là sự
am hiểu về pháp luật, sự hiểu biết về thực tế, tích luỹ kiến thức về xã hội, tâm
sinh lý của từng cá thể, lương tâm của Người thẩm phán "Cơ sở của các
phán quyết là pháp luật, nhưng kết quả của các phán quyết có công bằng, vô
tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng"[15 tr 38] Chỉ khi nào có sự kết hợp giữa trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán thì lúc đó mới đảm bảo cho phán quyết của Thẩm phán thấu tình đạt lý Khi xét xử người Thẩm phán phải
Trang 20có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý Bởi vì, cho dù hệ thống pháp luật có hoàn hảo, đầy đủ đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xẩy ra trong thực tế Thậm chí quy định của pháp luật còn chống chéo, không đồng bộ Song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Và đặc biệt là phải đảm bảo công lý Trong con mắt của người dân, Toà án không chỉ
là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội
Khi phải đối mặt với quan toà, với công đường người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt Toà án là người đại diện của công lý và quan toà là cán cân công lý [6, tr 23]
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vai trò trung tâm của Thẩm phán trong hoạt động xét xử cũng như trong hoạt động tư pháp hình sự
1.2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Nhiệm vụ của Thẩm phán được thể hiện như sau:
- Đây là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra đối với chức danh Thẩm phán và được quy định trong Hiến pháp, BLTTHS, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
- Nhiệm vụ của Thẩm phán còn được hiểu là trách nhiệm, là nghĩa vụ pháp lý mà Thẩm phán phải thực hiện trong hoạt động xét xử
Luôn đi đôi song hành với nhiệm vụ là quyền hạn Đây là quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định cho Thẩm phán để thực hiện chức năng xét xử trong tố tụng hình sự
Về nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán phải được xác định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Mặt khác, chúng phải được pháp luật quy định cụ thể rõ ràng và chặt chẽ Có như vậy mới đảm bảo cho Thẩm phán hoàn thành hiệu quả nhiệm vụ xét xử của mình, tránh tình trạng tuỳ tiện hay lạm dụng quyền hạn trong thực tiễn xét xử
Trang 21Trong mỗi một giai đoạn lịch sử phát triển đất nước, nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán cũng có những thay đổi song vẫn dựa trên những nguyên tắc chung của tố tụng hình sự và nhằm mục đích phục vụ chức năng xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
1.2.2 Mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chức danh tư pháp khác trong hoạt động xét xử
Vị trí vai trò của Thẩm phán được thể hiện trong mối quan hệ nội bộ của Toà án (mối quan hệ bên trong) và mối quan hệ với các chức danh tư pháp khác (mối quan hệ bên ngoài)
- Xét về mối quan hệ bên trong: trong nội bộ cơ quan Toà án, Thẩm phán có rất nhiều mối quan hệ như quan hệ với lãnh đạo, quan hệ với Thẩm phán khác, quan hệ với Thư ký và các cán bộ khác của Toà án Tất cả các mối quan hệ này đều thể hiện vị trí trung tâm của Thẩm phán
+ Quan hệ giữa lãnh đạo Toà án với Thẩm phán: xét về bản chất đây là quan hệ quản lý hành chính Một cơ quan đoàn thể nào cũng cần có tổ chức và hoạt động theo một quy chế nhất định Chánh án, Phó Chánh án là những người lãnh đạo, quản lý toàn bộ mọi mặt của cơ quan Toà án sao cho đảm bảo hoạt động của Toà án với vai trò là một cơ quan nhà nước Trong mối quan hệ này, Thẩm phán chỉ với tư cách là nhân viên, cán bộ trong cơ quan Thẩm phán phải chịu sự phân công của lãnh đạo Chánh án, Phó Chánh
án chỉ có thể quản lý về mặt con người còn về lĩnh vực nghiệp vụ thì không thể can thiệp vào công việc xét xử của Thẩm phán
+ Quan hệ giữa Thẩm phán với nhau: mối quan hệ này phát sinh trong hoạt động xét xử của Thẩm phán Và do đó, đây là quan hệ mang tính chất tố tụng. Thẩm phán được hoàn toàn độc lập không bị phụ thuộc vào bất
cứ ai cho dù là lãnh đạo Toà án Bản thân Chánh án, Phó Chánh án cũng là Thẩm phán Khi tham gia hoạt động tố tụng thì các Thẩm phán đều có những quyền và nghĩa vụ giống nhau theo quy định của tố tụng Nếu HĐXX có năm thành viên, trong đó có hai Thẩm phán thì một Thẩm phán là lãnh đạo Toà án
Trang 22thì khi biểu quyết quyết định hình phạt, ý kiến của Thẩm phán lãnh đạo Toà
án cũng chỉ là một lá phiếu và chỉ được biểu quyết với tư cách là Thẩm phán
+ Mối quan hệ với Hội thẩm: Hội thẩm là những người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính dân chủ Hội thẩm là những người được bầu và chịu sự phân công của Chánh án
Họ không phải cán bộ Toà án Công tác Hội thẩm là công tác kiêm nhiệm Hội thẩm cũng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử Khi xét xử
vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Khi giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử cũng như khi quyết định bản án, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, để cùng với Thẩm phán đưa ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập Tính độc lập ở đây thể hiện trên hai phương diện: độc lập với các cá nhân khác và độc lập với chính những thành viên trong HĐXX Mặc dù vậy, trong hoạt động xét xử vị trí của Thẩm phán vẫn là trung tâm Điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ đạo điều khiển phiên toà từ phần thủ tục đến phần tuyên án
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án: theo quy định của BLTTHS thì Thư ký là người tiến hành tố tụng bao gồm những người được xếp vào ngạch công chức "Thư ký Toà án" và những người được xếp ngạch công chức "chuyên viên pháp lý", "thẩm tra viên" được Chánh án phân công tiến hành tố tụng Thư ký Toà án có các chức năng: giúp Thẩm phán trong công tác chuẩn bị phiên toà khi cần thiết, trước khi bắt đầu phiên toà, phổ biến nội quy phiên toà (điều 171 BLTTHS 2003), báo cáo danh sách những người được triện tập hợp lệ, ghi biên bản phiên toà Tất cả các công việc trên của Thư ký đều nhằm mục đích phục vụ cho công tác xét xử của Thẩm phán Mặc dù là người giúp việc cho Thẩm phán để phục vụ phiên toà nhưng Thư
ký tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và theo sự
Trang 23phân công của Chánh án, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chánh án về những hành vi của mình
- Xét về mối quan hệ bên ngoài: hoạt động xét xử của Thẩm phán không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ nội bộ cơ quan Tòa án mà cần phải duy trì mối quan hệ với các chức danh tư pháp khác
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên: Kiểm sát viên tham gia tố tụng với hai chức năng chính là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Kiểm sát viên tham gia tố tụng theo sự phân công và chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát Hiệu quả xét xử của
Toà án phụ thuộc không ít vào hoạt động của Kiểm sát viên "Phán quyết của
Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, " (Nghị quyết 08-NQ/TW) Căn cứ vào kết quả điều tra, Kiểm sát viên
có quyền lập bản cáo trạng, có quyền xét hỏi, tranh luận, rút toàn bộ hay một phần quyết định truy tố tại phiên toà Tại phiên toà, Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh tính có căn cứ của nội dung truy tố bằng cách đưa ra những chứng cứ, căn cứ pháp lý, lập luận để buộc tội bị cáo, đồng thời bác bỏ các chứng cứ, quan điểm lập luận của bị cáo, người bào chữa Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đưa ra kết luận, đề nghị và yêu cầu cụ thể đối với HĐXX Kiểm sát viên không có quyền thay đổi nội dung buộc tội theo hướng tăng nặng đối với bị cáo Việc thay đổi nội dung buộc tội của Kiểm sát viên chỉ được phép nếu điều đó không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và không vi phạm quyền bào chữa của bị cáo Ngoài ra, Kiểm sát viên còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà Đây là hai chức năng gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử hỗ trợ cho chức năng thực hành quyền công tố Các chức năng này của Viện kiểm sát được kiểm sát viên thực hiện thông qua hoạt động tranh tụng tại phiên toà Ngay cả sau khi phiên toà kết thúc, Kiểm sát viên vẫn còn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ
Trang 24của mình, kiểm sát tính hợp pháp và có căn cứ của bản án mà HĐXX đã tuyên và biên bản phiên toà Nếu phát hiện có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu toà án khắc phục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự phúc thẩm
Qua phân tích nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên là mối quan hệ phối hợp nhưng có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Mặc dù BLTTHS không quy định cụ thể sự phối hợp này tuy nhiên đây là hai chức danh tư pháp chủ yếu trong tố tụng hình sự để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Mỗi một khâu làm tốt sẽ tạo tiền đề, điều kiện để khâu sau đạt hiệu quả cao Công tác xét xử của Toà
án đạt hiệu quả phải phụ thuộc vào yếu tố con người Cho dù pháp luật có hoàn hảo mà trình độ, ý thức của những người tiến hành tố tụng không có thì cũng không đạt được hiệu quả mong muốn Sự phối hợp ở đây không có nghĩa là thông đồng để đưa ra phán quyết sai lầm, bỏ lọt tội phạm Sự phối hợp ở đây là tạo điều kiện cho cả Thẩm phán và Kiểm sát viên hoàn thành nhiệm vụ của mình Phối hợp được thể hiện cả về hình thức lẫn nội dung
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và các chức danh bổ trợ tư pháp khác trong hoạt động tố tụng: diễn biến phiên toà được tiến hành theo ba chức năng
cơ bản của tố tụng hình sự là buộc tội (do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện), gỡ tội (do luật sư, người bào chữa đảm nhiệm) và chức năng xét
xử (do HĐXX thực hiện) Trong nhiều vụ án, để đánh giá chính xác, đúng đắn, khách quan các tình tiết, sự kiện phức tạp, các cơ quan điều tra, công tố, xét xử phải huy động sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức chuyên môn có thể cung cấp, xác minh các tài liệu có giá trị chứng cứ (ví dụ như cơ quan công chứng) hoặc có thể cung cấp các kết luận giám định khoa học, chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác nhau (ví dụ như giám định tư pháp) Hoạt động bổ trợ tư pháp là hoạt động hỗ trợ cho cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, quyền hạn của mình Các chức danh bổ trợ tư pháp bao gồm có Giám định viên, Luật sư, Công chứng viên Mỗi một chức danh này đều có vai trò, quyền
Trang 25và nghĩa vụ đặc trưng riêng nhưng có điểm chung là hoạt động của các chức danh này là cần thiết, tạo điều kiện thể hiện sự dân chủ, khách quan trong phán quyết của Thẩm phán Luật sư là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Việc tham gia tố tụng của luật sư là yếu tố ảnh hưởng nâng cao hiệu quả xét xử của Toà án Luật sư giữ vai trò rất quan trọng trong tranh tụng, đại diện cho bên gỡ tội đối đáp với Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà để làm sáng rõ nội dung vụ án Đối với công tác giám định, các giám định viên sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để đưa ra kết luận trong lĩnh vực nào đó Từ những kết luận đó, HĐXX xem xét để áp dụng pháp luật cho đúng và đảm bảo tính khách quan của bản án Nếu công tác giám định không chính xác sẽ làm sai lệch hồ sơ dẫn đến phán quyết của Toà
án không có chất lượng cao, nhiều khi gây ra oan, sai Người giám định, Luật
sư là người tham gia tố tụng Chính với tư cách tố tụng như vậy nên giữa Thẩm phán và Luật sư, Giám định viên có sự độc lập trong hoạt động tố tụng Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên, Điều tra viên khác với mối quan hệ giữa Thẩm phán và Luật sư, Giám định viên Sự khác biệt này xuất phát từ vị trí tố tụng của các chức danh này Đây là sự khác biệt về bản chất Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên là những người tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, tìm ra sự thật khách quan của vụ án Trong khi đó thì Luật sư, Giám định viên không có nghĩa vụ này Họ tham gia tố tụng với quyền là làm sáng rõ vụ án để bảo vệ lợi ích cho thân chủ của mình Đây là quyền chứ không phải là nghĩa vụ Quan hệ giữa Thẩm phán với Luật
sư, Giám định viên chỉ phát sinh trong những vụ án cụ thể Nếu vụ án đó không đòi hỏi phải có kết quả giám định hoặc không có luật sư tham gia thì mối quan hệ này không xuất hiện
1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự chi phối, tác động đến địa vị pháp lý của Thẩm phán
Trang 26Nguyên tắc hoạt động của Thẩm phán là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo chi phối toàn bộ quá trình xét xử của Thẩm phán Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự như nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và trước Toà án, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án, Trong số 12 nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự thì các nguyên tắc về xét xử chi phối rất mạnh đến địa
vị pháp lý của Thẩm phán, đó là: nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử
có Hội thẩm tham gia và nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo
đa số là ba nguyên tắc có tính chất quyết định nhiều nhất đến quyền và nghĩa
vụ của Thẩm phán trong khi thực hiện chức năng xét xử của mình
1.2.3.1 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là một nguyên tắc hiến định không chỉ được quy định trong Hiến pháp nước ta mà còn được quy định trong Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới Việc nghiên cứu về nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa đối với các cơ quan và cán bộ làm công tác tư pháp mà còn cần thiết đối với các cơ quan nhà nước khác Trong hệ thống các cơ quan nhà nước thì chỉ có Toà án mới có quyền xét xử Ngoài Toà án không một cơ quan nhà nước nào khác tự nhận về mình chức năng xét xử và cũng không có quyền can thiệp bằng cách này hay cách khác vào hoạt động xét xử của Toà án Nội dung của nguyên tắc này là đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các quyết định do Toà án đưa ra,
đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm
Nguyên tắc này được thể hiện ở hai khía cạnh độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc vào các quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra (tức là độc lập với hồ sơ vụ án), độc lập với kết luận của Viện kiểm sát (tức là độc lập với bản cáo trạng và
Trang 27quyết định truy tố của Viện kiểm sát) Tại phiên toà, Thẩm phán và Hội thẩm phải trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không phải chỉ căn cứ vào hồ sơ của vụ án hay chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra trong bản cáo trạng Bản án của Toà án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét thẩm định tại phiên toà HĐXX dựa vào kết quả phiên toà, đối chiếu với các quy định của pháp luật để xử lý vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Không một ai, không một cơ quan
tổ chức nào có quyền can thiệp hay dùng áp lực tác động vào hoạt động xét
xử của Thẩm phán và Hội thẩm Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có thể tham khảo lắng nghe ý kiến của bất cứ ai nhưng trong hoạt động nghề nghiệp phải luôn luôn thể hiện bản lĩnh của mình để xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho các ý kiến của bên ngoài làm thay đổi quyết định của mình
Ngoài ra, tính độc lập còn được thể hiện ngay trong mối quan hệ giữa các thành viên trong HĐXX Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, không bị lệ thuộc vào quan điểm chính kiến của các thành viên khác trong HĐXX Theo quy định tại điều 185 và điều 244 của BLTTHS 2003 thì việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trường hợp đặc biệt của xét xử phúc thẩm thành phần HĐXX gồm có Thẩm phán và Hội thẩm Tuy là những người bán chuyên nghiệp nhưng khi thực hiện quyền xét xử, Hội thẩm độc lập với Thẩm phán Để đảm bảo được điều này, pháp luật tố tụng hình sự quy định Thẩm phán phải là người phát biểu sau cùng để không ảnh hưởng đến tính độc lập của Hội thẩm Các vấn đề của vụ án đều được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định theo
đa số Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bầy ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa Toà án cấp trên với Toà án cấp dưới Đây là mối quan hệ
Trang 28tố tụng, Toà án cấp dưới xét xử độc lập không chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo hành chính của Toà án cấp trên Toà án cấp trên không thể ra lệnh hoặc bằng các biện pháp hành chính buộc Toà án cấp dưới xét xử theo ý mình Toà án cấp trên chỉ có quyền quản lý về mặt con người đối với Toà án cấp dưới, còn về chuyên môn đường lối giải quyết từng vụ án cụ thể thì Toà án cấp trên cũng không có quyền can thiệp Toà án cấp trên không được định hướng hoặc gợi ý cho Toà án cấp dưới để xét xử Sự chỉ đạo của cấp trên đối với cấp dưới chỉ là
sự giải thích về mặt pháp luật để đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ khi áp dụng quy định pháp luật vào trong công tác xét xử
Nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm không có mâu thuẫn với nguyên tắc Đảng lãnh đạo Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện bằng việc Đảng đưa ra quan điểm, nguyên tắc định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp nói chung và
cơ quan Toà án nói riêng là lãnh đạo về chính trị, tư tưởng về tổ chức cán bộ
Sự lãnh đạo của Đảng không làm giảm đi tính độc lập của Toà án Đảng không can thiệp vào từng vụ án hay không ra chỉ thị về mức án cụ thể mà chỉ
ra đường lối xét xử trong từng giai đoạn Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: Đảng không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái luật, mọi vi phạm đều đưa ra xử lý theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ, không làm theo kiểu phong kiến, dân thì phải chịu hình phạt, quan thì xử theo lễ Phải nghiêm trị tất cả kẻ phạm tội bất
kỳ ở cương vị nào và phải đảm bảo công bằng về quyền và nghĩa vụ của công dân Đảng ta đã xác định "khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một trong những đảm bảo cần thiết để nâng cao hiệu quả xét xử của Toà án đồng thời nó cũng là trách nhiệm nặng nề của Toà án
Sự độc lập ở đây không có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm được xét
xử tuỳ tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật Nó đòi hỏi “Thẩm phán và
Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha thứ cho bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật
Trang 29nào."[32, tr 48] Điều này có nghĩa khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải
tuân thủ, phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán và Hội thẩm xem xét đối chiếu với sự việc thực tế xảy ra Trên cơ
sở các quy định đó, HĐXX sẽ đưa ra các pháp quyết của mình về hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ
án
Như vậy, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử nhưng độc lập
trong không khổ và tuân theo pháp luật Độc lập là điều kiện để HĐXX tuân
theo pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử Mối quan hệ này là mối quan hệ ràng buộc [32,
tr 49] Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử độc đoán
1.2.3.2 Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Đây là nguyên tắc hiến định và được thể hiện trong điều 15 BLTTHS
2003: "Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của TAQS có
Hội thẩm quân nhân tham gia, theo quy định của bộ luật này Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán."
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử tạo điều kiện để hoạt động xét xử được khách quan vô tư, công bằng, chính xác Kinh nghiệm cuộc sống của Hội thẩm cùng với kiến thức chuyên môn của Thẩm phán kết hợp và bổ sung cho nhau để xác định sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho công tác xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Theo điều 38 Pháp lệnh về Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân năm 2002 thì Hội thẩm Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, Hội thẩm TAQS cấp quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam cử, Hội thẩm TAQS khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử
Trang 30Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Sự ngang quyền này thể hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khâu nghiên cứu hồ sơ đến việc xét xử vụ án tại phiên toà Thẩm phán và Hội thẩm cùng tiến hành trao đổi bàn bạc những vấn đề cần thiết như kế hoạch xét hỏi, dự tính các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà Sự ngang quyền thể hiện rõ nét nhất tại phiên toà Hội thẩm cũng có quyền như Thẩm phán trong việc xét hỏi
để làm rõ nội dung của vụ án, giải quyết tất cả mọi vấn đề phát sinh như thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng, quyết định hoãn phiên toà, quyết định bản án Thẩm phán không thể lấy kinh nghiệm xét xử và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của mình để áp đặt Hội thẩm Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm Sự ngang quyền trong xét xử cũng thể hiện tính độc lập giữa bản thân những thành viên của HĐXX Nếu không có sự độc lập, Hội thẩm rất dễ bị phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của Thẩm phán Do đó, Thẩm phán sẽ có quyền lực tối cao làm cho hoạt động xét xử của Toà án trở nên độc đoán chuyên quyền
1.2.3.3 Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Nguyên tắc này được quy định tại điều 131 Hiến pháp và điều 17 BLTTHS năm 2003 Bản chất của nguyên tắc này là đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ khách quan của việc nghiên cứu, giải quyết vụ án hình sự Đảm bảo cho các phán quyết của Toà án được khách quan, tránh sự tuỳ tiện trong hoạt động xét xử Nguyên tắc này có quan hệ mật thiết với nguyên tắc khi xét xử
có Hội thẩm tham gia Theo nguyên tắc này thì dù ở cấp xét xử nào, sơ thẩm hay phúc thẩm thì việc xét xử đều được tiến hành theo hội đồng chứ không phải do cá nhân Thẩm phán HĐXX sơ thẩm thông thường gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp nghiêm trọng như vụ án liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương, vụ án có nhiều
bị cáo, , thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm
Trang 31Khi xét xử Toà án quyết định theo đa số Những vấn đề như tội danh
và điều khoản của BLHS được áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt, vấn đề bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng
vụ án, án phí và quyền kháng cáo bản án, đều được Thẩm phán và Hội thẩm biểu quyết Về biểu quyết, Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Việc biểu quyết tiến hành bằng giơ tay hoặc phát biểu ý kiến Các vấn đề đưa ra biểu quyết được quyết định theo đa số Nếu thành viên nào có ý kiến thiểu số thì được ghi vào biên bản nghị án hoặc người đó có thể trình bầy
ý kiến của mình bằng văn bản lưu trong hồ sơ HĐXX phải ra bản án theo ý kiến của đa số Cho dù ý kiến đó là của Hội thẩm và Thẩm phán thấy rằng quyết định đó không đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp này sau khi tuyên án, Thẩm phán phải báo cáo với Chánh án và trao đổi với Viện kiểm sát để quyết định kháng nghị Nếu Viện kiểm sát không kháng nghị thì Toà án phải báo cáo lên Toà án cấp trên, Viện kiểm sát cấp trên để kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm
Như vậy, trong quá trình hoạt động của mình Thẩm phán phải tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Những nguyên tắc này
là nền móng để từ đó hình thành địa vị pháp lý của Thẩm phán Do đó, từ việc nghiên cứu nguyên tắc này, chúng ta sẽ có cơ sở để xem xét đến quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong khi thực hiện chức năng xét xử của mình
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán
1.3.1 Sự ảnh hưởng của phương thức tổ chức quyền lực nhà nước
Sự ảnh hưởng của Nhà nước, ý chí giai cấp, pháp luật, đường lối chính sách của Đảng cầm quyền, đều ảnh hưởng tới quá trình hình thành địa vị pháp lý của Thẩm phán Quyền lực nhà nước là một thể thống nhất của ba quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền tư pháp là nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét xử do Toà án thực hiện Do đó vị trí, vai trò của Toà án nói chung
Trang 32cũng như của Thẩm phán nói riêng phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng chỉ đạo của giai cấp cầm quyền Ví dụ như ở Mỹ, ba nhánh quyền lực này luôn đối trọng và kìm chế lẫn nhau, sự phân quyền diễn ra mạnh mẽ Toà án thực sự giữ vai trò kìm chế đối với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Toà
án có quyền kiểm soát tính hợp hiến của luật "Ngay kể cả Tổng thống và
Quốc hội cũng không được hỏi Toà án tối cao về cách giải thích một đạo luật hay một dự án luật nếu như việc này không nằm trong trường hợp của một vụ kiện cụ thể"[9, tr 62] Theo cơ chế đối trọng, Tổng thống Mỹ cũng phải chịu
trách nhiệm trước vành móng ngựa của Toà án Người Mỹ đề cao vai trò của
Toà án trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước của mình “Tiếng nói của
Toà án là tiếng nói cuối cùng, sự giải thích của Toà án về Hiến pháp có giá trị hơn quan điểm của Quốc hội và Tổng thống” [9, tr 68] Chính vì vai trò
quan trọng đó của Toà án nên địa vị của Thẩm phán trong pháp luật Mỹ rất được coi trọng Người ta coi Thẩm phán là một nghề cao quý trong xã hội
"Luật gia được trọng dụng nhất ở Anh là Thẩm phán" [27, tr96) Các Thẩm
phán thường được chỉ định trong số các luật sư nổi tiếng Nói chung các Thẩm phán Toà án tư sản thường được bổ nhiệm với những nhiệm kỳ khá dài, thậm chí có những nước thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời nếu
không phạm tội ở Pháp, Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn.[15, tr 145]
Thẩm phán úc được bổ nhiệm suốt đời, không ai có thể cách chức Thẩm phán trừ khi họ vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp và đạo đức Việc bãi nhiệm Thẩm phán phải được đưa ra Quốc hội tiểu bang hoặc Liên bang với đa số tán thành thì mới được bãi nhiệm.[15, tr 144] ở Pháp, Thẩm phán được bảo vệ trước mọi sự đe doạ và tấn công khi làm nhiệm vụ Nhà nước phải bồi thường thiệt hại trực tiếp cho Thẩm phán nếu có những trường hợp mà pháp luật về bảo vệ không quy định Thẩm phán không bị điều động sang bất kỳ công việc nào khác trừ trường hợp làm nghĩa vụ quân sự.[15, tr 145] Đó là những
quyền lợi mà Thẩm phán tư sản được hưởng tương ứng với vị trí vai trò của Thẩm phán trong xã hội
Trang 33Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước còn ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của Thẩm phán thông qua sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong xét xử Trong hoạt động xét xử của mình, các Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc xét xử được quy định trong luật tố tụng của từng quốc gia Điều này là nhằm bảo về công lý cho xã hội, tránh sự lợi dụng quyền lực của chính các Thẩm phán và cũng như để cho Thẩm phán tránh được mọi áp lực từ phía các quan chức nhà nước Mặc dù nhà nước XHCN áp dụng nguyên tắc thống nhất quyền lực nhưng cũng thừa nhận sự độc lập xét
xử của toà án Sự độc lập của Toà án trong nước XHCN có những điểm khác
so với sự độc lập trong nhà nước tư sản Đối với chế độ phân quyền tư sản, Toà án có thể tài phán về hành vi của Quốc hội Như vậy, Toà án ở một vị thế ngang bằng với Quốc hội thì mới có thể tài phán về hành vi của Quốc hội ở các nước XHCN, quyền lực nhà nước được cấu trúc theo hình chóp Đỉnh trên cùng là Quốc hội, Toà án ở vị thế thấp hơn nên không có quyền tài phán về hành vi của Quốc hội Theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, Quốc hội là cơ quan cao nhất nên không thể có cơ quan nào đứng trên Tương ứng với sự khác biệt đã phân tích ở trên với hai hệ thống Toà án thì vị trí của Thẩm phán
đối với từng hệ thống cũng có sự khác biệt về địa vị pháp lý Việc bổ nhiệm
thẩm phán Tòa án liên bang Mỹ do Tổng thống bổ nhiệm và có sự phê chuẩn của Thượng Nghị viện.[9, tr 74] Quyền bổ nhiệm Thẩm phán được giao cho
cả ngành lập pháp và ngành hành pháp đã tạo ra một sự kiểm soát lẫn nhau trong việc bổ nhiệm Thẩm phán Nếu như giao phó quyền này cho hành pháp hoặc lập pháp thì các ứng cử viên Thẩm phán thậm chí ngay cả các Thẩm phán sẽ phải lệ thuộc một trong hai ngành này Kết quả là tư pháp sẽ phải phụ thuộc một trong hai ngành và khi đó sẽ không còn sự độc lập của tư pháp
Trong tác phẩm "Tinh thần của luật pháp", Mongtexkio viết: sẽ không có tự
do nếu quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền lập pháp thì sẽ không có tự
do Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ
Trang 34trở thành những kẻ áp bức.[17, tr84] Khác với các nước tư sản, Thẩm phán ở
các nước XHCN trước đây thực hiện theo chế độ bầu cử, bởi vì nó gắn liền
với tổ chức bộ máy nhà nước hoạt động theo cơ chế chủ tịch tập thể ra quyết định dưới hình thức nghị quyết"[28, tr 58] ở nước ta, chế độ bầu cử Thẩm
phán được thực hiện từ 1960 - 1992 Pháp luật quy định Hội đồng nhân dân cấp nào thì bầu ra Thẩm phán Toà án nhân dân ở cấp đó Tuy nhiên hiện nay, pháp luật của Việt Nam đã quy định chế độ bổ nhiệm thẩm phán Chủ tịch nước bổ nhiệm thẩm phán TANDTC và TAQS Trung ương, còn Chánh án TANDTC bổ nhiệm Thẩm phán các cấp còn lại
Như vậy, có thể nhận thấy Thẩm phán là vị trí trung tâm trong hoạt động tư pháp nên không thể tách rời nguyên tắc tổ chức quyền lực của mỗi quốc gia Theo chúng tôi đây chính là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của Thẩm phán
1.3.2 Yếu tố truyền thống pháp lý
Lịch sử phát triển của đất nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành hệ thống pháp luật Nguồn gốc thuộc địa để lại dấu ấn sâu sắc trong hệ thống pháp luật của các nước đã từng là thuộc địa Chẳng hạn như hệ thống pháp luật của các nước như Mỹ, Australia chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Anh Các nước này không chỉ kế thừa cắc quy phạm pháp luật cụ thể mà còn cả các quan điểm nền tảng của hệ thống pháp luật Việc nghiên cứu lịch
sử pháp luật cho phép tìm hiểu nguồn gốc của hệ thống pháp luật Hệ thống pháp luật ở đây được hiểu theo hai nghĩa:
- Thứ nhất: đó là hệ thống pháp luật của quốc gia như hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật Mỹ,
- Thứ hai: hệ thống pháp luật được hiểu là tập hợp một số hệ thống pháp luật quốc gia có nhiều điểm tương đồng, theo những tiêu chí nhất định như hệ thống pháp luật Châu âu lục địa, hệ thống pháp luật Anh - Mỹ,…Theo nghĩa này hệ thống pháp luật đôi khi còn được hiểu là truyền thống pháp luật
Trang 35Hiện nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân chia các truyền thống pháp luật Theo tôi có bốn hệ thống pháp luật cơ bản là:
- Hệ thống pháp luật Châu âu lục địa đại diện là hệ thống pháp luật nước Pháp, Đức
- Hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, đại diện là hệ thống pháp luật nước Anh, nước Mỹ
- Hệ thống pháp luật tôn giáo, điển hình là hệ thống pháp luật các nước hồi giáo
- Hệ thống pháp luật XHCN, đại diện là hệ thống pháp luật Liên Xô cũ
và hệ thống pháp luật của các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như Việt Nam, Trung Quốc
Không một hệ thống pháp luật của nước nào lại chỉ thuần nhất các dấu hiệu của một truyền thống pháp luật Những nước đã từng là thuộc địa, đã bị thực dân nước ngoài xâm lược thì hệ thống pháp luật của quốc gia đó có thể
áp dụng nhiều truyền thống pháp luật Tương ứng với mỗi một truyền thống
tư pháp thì địa vị pháp lý của Thẩm phán lại có những điểm khác nhau
Trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, do đặc điểm nguồn luật là luật bất thành văn Các nước theo hệ thống này chấp nhận án lệ là nguồn luật chủ yếu Nên các Thẩm phán được giao quyền sáng tạo luật thông qua hoạt động xét
Trang 36Sự khác biệt chính của các truyền thống pháp luật lại là lĩnh vực tố tụng hình sự Như phân tích ở phần trên, trong quá trình hình thành và phát triển cho đến nay các nhà khoa học pháp lý đã phân ra hai mô hình tố tụng gồm:
mô hình tố tụng xét hỏi thường được áp dụng trong truyền thống pháp luật Châu âu lục địa, mô hình tố tụng tranh tụng thường áp dụng trong truyền thống pháp luật Anh - Mỹ, ngoài ra còn có mô hình tố tụng hỗn hợp (pha trộn) thường được áp dụng trong hệ thống pháp luật tôn giáo và hệ thống pháp luật XHCN Còn về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn mô hình tố tụng đối với các quốc gia Đối với các nước lựa chọn mô hình tố tụng tranh tụng thì quyền và nghĩa
vụ của Thẩm phán được tập trung tại giai đoạn xét xử Trong phiên toà Thẩm phán không có quyền xét hỏi, không có quyền đưa ra quan điểm của mình mà chỉ là người điều khiển bên buộc tội và bên bào chữa sao cho phiên toà diễn
ra theo đúng trình tự luật định Thẩm phán giữ vai trò thụ động hơn luật sư Vai trò chính của Thẩm phán trong khi xét xử là đảm bảo sự tuân thủ các thủ
tục tố tụng ở Anh có câu thành ngữ "Thẩm phán nào mở miệng nói thì không
còn suy nghĩ được"[27, tr96] Còn ở Pháp, Thẩm phán đóng vai trò quyết
định trong quá trình xét xử Thẩm phán có trong tay toàn bộ tài liệu về quá trình điều tra, là người đặt ra câu hỏi cho những người tham gia phiên toà Vị trí của luật sư gỡ tội rất lu mờ Luật sư chỉ được phát biểu khi Thẩm phán chủ toạ phiên toà cho phép
1.3.3 Yếu tố văn hoá pháp lý
Văn hoá pháp lý là một bộ phận cấu thành của nền văn hoá nói chung Văn hoá pháp lý là sự thống nhất của các yếu tố: kiến thức pháp lý, đánh giá
và xử sự phù hợp với pháp luật Là hình thức đặc thù của văn hoá, văn hoá pháp lý liên hệ mật thiết với văn hoá đạo đức, văn hoá chính trị và văn hoá
nói chung “ở các nước phương Tây, tôn trọng pháp luật là một truyền thống
Đối với họ không có khái niệm tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật”[9,tr
190] Bởi vì việc tìm hiểu pháp luật ở phương Tây là quyền của mỗi công dân
Trang 37để nhằm mục đích bảo vệ chính lợi ích của mình tại Toà án Còn ở Việt Nam lại khác Người Việt rất trọng tình cảm Họ cho rằng luật pháp chứa đựng những nguyên tắc cứng nhắc nhiều khi là hà khắc Do vậy tâm lý của người
Việt là sợ pháp luật, "vạn bất đắc dĩ mới phải ra chốn công đường".[9, tr
183] Hơn nữa, chúng ta chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo về đạo đức Con người bị ràng buộc bởi rất nhiều nghĩa vụ như nghĩa vụ làm con, nghĩa vụ làm cha, làm chồng Cái tôi, cái cá nhân không được đề cao Chính điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự và trong xã hội Bởi vì ban hành một đạo luật không khó bằng việc đưa đạo luật đó vào cuộc sống Chúng ta có thể căn
cứ vào yếu tố chính trị, vào truyền thống pháp luật để quy định về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Nhưng nếu không tính đến yếu tố văn hoá thì những quy định đó chỉ là lý thuyết, sách vở mà thôi Bởi vì bản thân Thẩm phán cũng được giáo dục những truyền thống đạo đức chung nhất như mọi người trong xã hội Do đó, không thể tách biệt hẳn họ ra khỏi đời sống xã hội Không thể không tính đến những yếu tố văn hoá đạo đức chi phối cách sống, cách làm việc của họ Các quy tắc xử sự của họ trong xã hội chính là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng pháp luật, xây dựng địa vị pháp lý cho chính bản thân họ
Ngoài các yếu tố trên, để hình thành địa vị của Thẩm phán trong tố tụng hình sự còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới quá trình này Tuy nhiên theo chúng tôi đây là ba yếu tố cơ bản nhất
Tiểu kết chương 1: Thẩm phán là một chức danh tư pháp có vai trò rất
quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự Lao động của thẩm phán là
lao động trí não, đầy khó khăn, phức tạp đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân [15, tr16] Thẩm phán hoạt động trên cơ sở pháp
luật và những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
Trang 38Pháp luật tố tụng bao gồm một tổng thể các quy định về thẩm quyền, chức năng, nghĩa vụ của từng cơ quan tố tụng, các quy định về địa vị, tư cách pháp lý của từng cá nhân, chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng Thẩm phán là một trong các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án Địa vị pháp lý của Thẩm phán là tổng thể các quy định của
pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định
Việc nghiên cứu đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự giúp chúng
ta có cơ sở khoa học để tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Trong mỗi một mô hình tố tụng, vị trí, vai trò, quyền hạn của Thẩm phán khác nhau Tuy nhiên, qua phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy vai trò trung tâm của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Vị trí trung tâm này còn được thể hiện thông qua mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng khác
Để xây dựng địa vị pháp lý của thẩm phán phù hợp với xu thế phát triển hiện nay, chúng ta phải hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của Thẩm phán Ngoài các yếu tố pháp lý thì yếu tố văn hoá, yếu tố con người cũng ảnh hưởng tới quá trình hình thành quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
Trang 39Chương 2 Pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam về địa vị pháp lý của
thẩm phán và thực tiễn áp dụng 2.1 Các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự của Việt Nam
2.1.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1980
Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy chế độ thực dân phong kiến
bị xoá bỏ, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Đó là các Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945
và Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về thành lập các Toà án quân sự; Sắc lệnh ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn luật sư; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và ngạch thẩm phán,
Trong các văn bản pháp luật nêu trên, lần đầu tiên ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; địa vị pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, của người bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác; trình tự và thủ tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Đặc biệt là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách đầy đủ và tương đối hoàn chỉnh về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự Các văn bản pháp luật này là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của nước ta với một nền tư pháp nhân dân của chế độ mới
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã thiết lập hệ thống Toà án gồm: Toà án sơ cấp, Toà án đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm Thẩm phán được chia làm hai ngạch: Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Toà sơ cấp, Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở Toà đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm Các Thẩm phán đệ nhị
Trang 40cấp lại chia thành hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội Thẩm phán xét xử có thể được chuyển sang làm Thẩm phán buộc tội và ngược lại
Theo Sắc lệnh này, Thẩm phán có quyền hạn rất lớn trong xét xử Mặc
dù quy định về sự tham gia của Phụ thẩm "khi xét xử ngoài Chánh án chủ toạ
phiên toà còn có hai phụ thẩm" nhưng quyền hạn của Phụ thẩm còn hạn chế
"ông Chánh án hỏi ý kiến của Phụ thẩm về tội trạng các phạm nhân và về hình phạt rồi tự mình quyết định"(điều 27 sắc lệnh 13).Thẩm phán là người
quyết định sau khi hỏi ý kiến của Phụ thẩm Ngoài ra, Chánh án còn có quyền tuyên phạt đối với hai Phụ thẩm Trong thời kỳ này, nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và biểu quyết mới chỉ manh nha xuất hiện thông qua phiên toà đại
hình Điều 31 Sắc lệnh quy định:"sau khi nghe các bị can, người làm chứng,
cáo trạng của ông biện lý và sau cùng nghe lời bàn cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Thẩm phán và hai Phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị án
để cùng xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội, giảm tội"
Ngoài ra, Sắc lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 còn quy định về quyền và
nghĩa vụ của Thẩm phán như: "ông Chánh án chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ
điều khiển cuộc thẩm vấn và bảo vệ trật tự phiên toà", "ông Chánh án nếu cần có thể mở phiên toà ngoài trụ sở của Toà án, nơi cách xa toà", "mỗi khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải báo cho tội nhân biết rằng hắn có quyền xin ân giảm và hỏi hắn có muốn đệ đơn xin không"
Những quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong thời kỳ đầu của Nhà nước ta là cơ sở ban đầu cho việc hoàn thiện hoạt động xét xử sau này Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946) đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta, trong đó bao gồm cả các nguyên tắc của tố tụng hình sự
Đó là các nguyên tắc: các phiên toà đều phải công khai, trừ những trường hợp