1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự việt nam

97 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình dưới dạng luận văn thạc sĩ như: "Địa vị pháp lý của Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA THÈM PH¸N TRONG Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

§ÞA VÞ PH¸P Lý CñA THÈM PH¸N TRONG Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự 7

1.2 Vai trò và mối quan hệ của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự 11

1.2.1 Vai trò của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự 11

1.2.2 Mối quan hệ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự 13

1.3 Một số nguyên tắc cơ bản về địa vị của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự 16

1.3.1 Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” 17

1.3.2 Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” 19

1.3.3 Nguyên tắc “tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” 23

1.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới 24

1.4.1 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 24

1.4.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp 28

Trang 5

1.4.3 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Luật Tố tụng hình sự của

nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 31

Kết luận chương 1 35

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 36

2.1 Quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán 36

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 36

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 có hiệu lực 39

2.1.3 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 43

2.1.4 Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về địa vị pháp lý của Thẩm phán 49

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán 51

2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 51

2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 55

Kết luận chương 2 64

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 65

3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tu ̣ng Hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán 65

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tu ̣ng Hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán 65

3.1.2 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tu ̣ng Hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán 69

Trang 6

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao địa vị pháp lý của thẩm

phán trong Tố tụng hình sự 74

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử của Tòa án là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán 74

3.2.2 Tăng cường giám sát của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, của nhân dân đối với hoạt động xét xử 75

3.2.3 Đổi mới công tác tổ chức cán bộ 76

3.2.4 Nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa Thẩm phán và Hội thẩm trong hoạt động xét xử 79

3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất cho ngành Tòa án 82

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nhà nước pháp quyền, Tòa án được nhắc tới với tư cách là cơ quan thực thi quyền tư pháp Hoạt động của Tòa án luôn luôn được quan tâm

và đổi mới nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, tránh làm oan người

vô tội Điều này đã được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định nhiệm vụ: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm, ” [10, tr.127] Cùng với việc đổi mới toàn diện tổ chức và hoạt động của Tòa án thì việc xây dựng, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán là một nhiệm vụ trọng tâm, Nghị quyết số 08- NQ/TW và Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ chính trị đã yêu cầu: “Rà soát đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán

bộ tư pháp trong sạch vững mạnh” [2], “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ” và “Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực”… Trong những năm qua ngành Tòa án nhân dân đã không ngừng lớn mạnh Song song với việc triển khai thực hiện

Trang 8

tốt các nhiệm vụ chuyên môn, lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân rất chú trọng tới công tác kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũ Thẩm phán, đảm bảo về chất lượng cũng như số lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành và của các địa phương Tuy nhiên, quá trình này diễn ra còn chậm, chưa đồng bộ và toàn diện, hoạt động xét xử của Toà án chưa đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp Chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp vẫn còn thấp, tình trạng xét xử oan sai, án tồn đọng kéo dài vẫn còn chiếm tỷ lệ cao Bên cạnh đội ngũ Thẩm phán vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, nghèo nàn và lạc hậu Những tồn tại trên đã được chỉ rõ trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu cả về phẩm chất và năng lực, quá trình cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ

Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác, án tồn đọng, án bị huỷ, bị sửa còn nhiều” [10]

Đứng trước yêu cầu xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong tình hình hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục có

sự nghiên cứu sâu sắc hơn để có các giải pháp thiết thực Vì vậy, em đã chọn

đề tài: “Địa vị pháp lý của Thẩm pháp trong tố tụng hình sự Việt Nam” để

làm luận văn tốt nghiệp cao học

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài liên quan đến địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam đã thu hút sự chú ý của không ít các ho ̣c giả , nhà nghiên cứu Qua tìm hiểu, hiê ̣n nay có mô ̣t số công trình nghiên cứu về chế định Thẩm phán

dưới đạng sách chuyên khảo: GS.TSKH Lê Cảm (2003) “Nguyên tắc tranh

Trang 9

tụng trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự”, Tạp chí

luật học GS.TSKH Lê Cảm (chủ biên) “Hệ thống tư pháp hình sự trong giai

đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền" Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học

Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội 2009 PGS TS Võ Khánh Vinh (2007) "Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự" Nxb Công an nhân

dân… Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học về hoạt động thực tiễn của Thẩm phán của các nhà

làm công tác thực tiễn: “Tăng cường tính độc lập của các Thẩm phán trong

hoạt động xét xử ở Việt Nam” Cổng thông tin điện tử Đoàn Luật sư thành phố

Hồ Chí Minh; Tiến sĩ Trần Thu Hạnh (2009) “Một số giải pháp nâng cao vị thế

của đội ngũ Thẩm phán trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25-2009; Nguyễn

Quang Lộc - Nguyên Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Kỹ năng viết Bản

án hình sự sơ thẩm” Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số

17, tháng 9/2014… Các công trình dưới dạng luận văn thạc sĩ như: "Địa vị

pháp lý của Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" -

Nguyễn Thị Hằng; Nghiên cứu Mô hình nhân cách Thẩm phán trong hoạt động

xét xử - Luận văn tiến sĩ Bùi Kim Chi; Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ thẩm phán ở Việt Nam hiện nay - Đỗ Gia Thư; Chế định thẩm phán trong

tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Trần Thu Trang; vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam - Hà Duy Hiển……

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, trong số các công trình kể trên, có một số công trình nghiên cứu được tiến hành cách đây khá lâu, dẫn tới hệ quả là giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn sẽ có phần hạn chế Mặt khác, có những công trình nghiên cứu lại chỉ thiên về mặt lý luận như: khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển… của các quy định có liên quan tới đề tài này mà chưa

Trang 10

gắn nó với thực tiễn xét xử, hoặc nghiên cứu đề tài trên cơ sở Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 mà chưa có công trình nào đề cập tới các quy định tương ứng tại Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Là các quy phạm của pháp luật

về địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự được thể hiện ở tất cả các giai đoạn xét xử như: giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Phạm vi nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng ở tất cả các giai đoạn trên có tính chất đa dạng, phức tạp và rộng lớn và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên bản thân tác giả hiện không công tác trong ngành Tòa án vì vậy trong quá trình nghiên cứu viết Luận văn do nhận thức trong công tác nghiên cứu còn có mặt hạn chế, nên tác giả chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam chủ yếu ở giai đoạn xét xử sơ thẩm về các vụ án hình sự

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự đối với ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra, tôi đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin,

Trang 11

dựa trên đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách kinh tế

- xã hội và các nội dung khác có liên quan

Trong những trường hợp cụ thể, tôi kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích… nhằm kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận , pháp lý cơ bản về địa vị

pháp lý của Thẩm phán trong pháp luâ ̣t Tố tu ̣n g hình sự Việt Nam Có sự đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm mới giữa Bộ luật tố tu ̣ng Hình sự năm 2003 và

Bộ luật tố tu ̣ng Hình sự năm 2015 về vấn đề này

Thứ hai: Nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy đi ̣nh về địa vị pháp lý của

Thẩm phán Một số tồn tại, vướng mắc và những nguyên nhân của thực trạng này

Thứ ba: Từ nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật , kiến

nghị hướng sửa đổi , hoàn thiện pháp luật , nâng cao hiệu quả hoạt động của Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một trong những tài liệu tham khảo có thể được sử dụng để nghiên cứu , học tập, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tu ̣ng hình sự Việt Nam liên quan đến vấn đề về địa vị pháp lý của Thẩm phán

Trang 12

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mục lục , mở đầu, kết thúc, kết quả luâ ̣n văn bao gồm các

nô ̣i dung sau đây:

Chương 1: Lý luận và quy định của pháp luật một số nước về địa vị

pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị

pháp lý của Thẩm phán và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng hiệu quả áp

dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Tố tụng Hình sự

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC

VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân tiếp tục được kế thừa trong Hiến pháp mới của nước ta Tư tưởng chủ quyền nhân dân và nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước tiếp tục được phát triển trong bản Hiến pháp mới Nguyên tắc phân công, phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước được thể hiện rõ ràng, rành mạch hơn

Bằng việc quy định "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" (khoản 1 Điều 102), Hiến pháp 2013 xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy cơ quan nhà nước Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quy định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa

án Trong Toà án nhân dân, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi nhiệm vụ tố tụng của Toà án Hoạt động của Thẩm phán là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp

Tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2014 đã đưa ra khái niệm "Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật

để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án" 40, Điều 1]

Trang 14

Theo khái niệm trên thì Thẩm phán phải có tiêu chuẩn và được bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định Tức là chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Tòa án các cấp Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải do người có thẩm quyền bổ nhiệm, tương ứng với 3 cấp Tòa án có 3 ngạch Thẩm phán tương ứng và thẩm quyền bổ nhiệm đối với các ngạch Thẩm phán này cũng khác nhau Và để được bổ nhiệm làm Thẩm phán thì cán bộ Tòa án phải đáp ứng những tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định

Chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động xét xử trong đó Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa tham gia vào việc ra bản án hoặc quyết định nhân danh Nhà nước, thay mặt Hội đồng xét xử tuyên

án hoặc các quyết định tố nhân danh Nhà nước như quyết định đình chỉ xét xử

sơ thẩm, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra các quyết định tố tụng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ, quyết định hoãn phiên tòa

Bên cạnh đó, Thẩm phán còn tham gia giải quyết vụ án với vai trò là Thẩm phán - thành viên của Hội đồng xét xử trong trường hợp xét xử theo trình

tự sơ thẩm khi Hội đồng xét xử gồm 5 người hoặc theo trình tự phúc thẩm

Ngoài nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán còn thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền của Tòa án khi được lãnh đạo phân công Ví dụ: tham gia vào Hội đồng giảm án tha tù

Công việc xét xử của Thẩm phán được coi là một nghề - nghề có tính đặc thù Bởi lẽ, chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1994 đã định nghĩa: "nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội" [43] Nghề Thẩm phán là nghề đại diện cho quyền lực tư pháp, quyền lực nhà nước, là tượng

Trang 15

trưng cho khát vọng của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội về chân, thiện, mỹ

về một hệ thống tiêu chí đạo đức: sống làm người.Thẩm phán nhân danh nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi

cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành

Thẩm phán là một chức danh tư pháp quan trọng không thể thiếu trong

tổ chức Tòa án nói riêng và trong bộ máy nhà nước nói chung và được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp [32] Ở nước ta Thẩm phán được coi là một chức danh từ năm 2002 và được ghi nhận tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002, còn trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán chỉ được coi là

một chức vụ Đây là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự thay đổi về nhận

thức khoa học, muốn xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp thì trước hết phải coi Thẩm phán là một nghề, có vị trí chức danh nhất định trong xã hội có như vậy Thẩm phán mới có cơ sở điều kiện pháp lý để làm việc và yên tâm cống hiến, phấn đấu cho sự nghiệp của mình Ngoài ra, Thẩm phán còn

được coi là công chức nhà nước Theo Pháp lệnh cán bộ công chức hiện hành,

Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung Vậy địa vị pháp lý của Thẩm phán được hiểu như thế nào?

Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật;

là sự thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật

Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì "địa vị"

Trang 16

được hiểu là "vị trí, chỗ xứng đáng với vai trò tác dụng có được hay vị trí chỗ đứng của cá nhân trong xã hội" [43]

Thẩm phán thực hiện nghiệp vụ xét xử và có thẩm quyền ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Đó là việc đưa ra các quyết định mang tính chất bắt buộc chung bằng cách này hay cách khác liên quan đến các quyền và

tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan nhà nước, của các tổ chức xã hội Các nhiệm vụ với những đặc điểm riêng biệt được đội ngũ Thẩm phán đảm nhiệm đã tạo thành địa vị của các Tòa án, của các Thẩm phán có sự khác biệt so với địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước với những người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan đó Những người Thẩm phán có các quyền và nghĩa vụ đặc trưng cho họ Tổng thể các quyền và nghĩa

vụ đó tạo thành cái mà chúng ta gọi là quy chế của Thẩm phán, địa vị pháp lý của Thẩm phán

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành đã quy định quyền

và nghĩa vụ riêng biệt của người Thẩm phán phù hợp với nghề nghiệp của Thẩm phán Đây là những cơ sở pháp lý và cũng là hành lang pháp lý cho người Thẩm phán khi thực thi nhiệm vụ của mình được có căn cứ, đúng pháp luật

Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 15 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân nhân

2002 quy định: Thẩm phán không được: Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật; Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án; Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án

ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền; Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định

Trang 17

Xuất phát từ những đặc thù, sự nhạy cảm của công việc xét xử nên Thẩm phán cũng bị hạn chế bớt quyền hạn của mình khi đương nhiệm như: Thẩm phán đương nhiệm không được làm luật sư đặc biệt tham gia tranh tụng

Có thể nói địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự đã tạo ra một vị thế riêng biệt cho người Thẩm phán khi thực hiện nghiệp vụ xét xử cũng như khi giải quyết các công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án khi được lãnh đạo phân công

Như vậy, có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong

Tố tụng hình sự được hiểu là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, các nghĩa vụ và quyền hạn được pháp luật trao cho họ khi thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự nhân danh Nhà nước và các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Tòa án

1.2 Vai trò và mối quan hệ của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự

1.2.1 Vai trò của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự

Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán là nhân tố cơ bản, có vai trò chủ yếu trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Tòa án Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thì tại phiên toà sơ thẩm hình sự, Chủ tọa phiên toà vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa

Kết quả xét xử của Toà án là sản phẩm cuối cùng của một quá trình tố tụng Chất lượng xét xử có cao hay không phụ thuộc phần lớn vào người Thẩm phán, phụ thuộc vào chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng điều khiển phiên toà, kinh nghiệm tích luỹ trong quá trình công tác Vì sao lại hỏi bị cáo này trước mà không hỏi bị cáo kia trước, vật chứng nào, nhân chứng nào, những tình tiết nào trong vụ án có ý nghĩa quyết định đến việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì được qui định tại điều khoản nào trong Bộ luật Hình sự Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi người Thẩm phán phải có kiến

Trang 18

thức pháp luật sâu rộng, phải có kinh nghiệm tích luỹ trong quá trình xét

xử các vụ án thì mới làm tốt vị trí, vai trò của mình được "Cơ sở của các phán quyết là pháp luật, nhưng kết quả của các phán quyết có công bằng,

vô tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong

sáng" [15, tr.38] Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào

công lý Bởi vì, trong quá trình xét xử Thẩm phán cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xảy ra trong thực tế Có những quy định của pháp còn xung đột, không thống nhất, song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Mỗi phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới việc công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý nhất định Đặc biệt

là trong lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩm phán dẫn đến hậu quả pháp l

ý vô cùng nghiêm trọng đối với người bị kết án Sai lầm trong hoạt động xét

xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta Với mọi người, Toà án không chỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công

lý, sự công bằng xã hội và trong đó Thẩm phán là trụ cột, là chỗ dựa vững chắc cho công dân, tổ chức, nhà nước trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm Bằng việc xét xử, Thẩm phán cũng góp phần về việc bảo vệ công

lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân Cũng như góp phần to lớn có hiệu quả trong công tác phổ biến tuyên truyền pháp luật đồng thời thông qua công tác áp dụng pháp luật, rút kinh nghiệm kiến nghị sửa đổi bổ sung hoàn thiện pháp luật

Qua những phân tích trên, chúng ta nhận thấy công việc của Thẩm phán hết sức nặng nề và nguy hiểm nhưng cũng không kém phần vinh quang.Từ

Trang 19

những vai trò cơ bản nêu trên của Thẩm phán, có thể thấy rằng địa vị pháp lý của Thẩm phán đã được ghi nhận và khẳng định một cách rõ ràng trong hệ thống pháp luật của nước ta Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của Tòa án và Thẩm phán cùng với việc đề ra các yêu cầu về xây dựng, củng cố đội ngũ Thẩm phán để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho trong tình hình hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay

1.2.2 Mối quan hệ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

Thẩm phán có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống Tòa

án, cũng như trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng Tuy nhiên, nếu chỉ một mình Thẩm phán thì không thể tiến hành tố tụng, mà việc tiến hành

tố tụng của Thẩm phán phải đặt trong mối quan hệ với những người và cơ quan tiến hành tố tụng khác và thông qua các mối quan hệ đó sẽ cho chúng

ta cái nhìn tổng quan hơn về vị trí, vai trò của Thẩm phán Mối quan hệ của Thẩm phán trong công tác có hai dạng đó là: Mối quan hệ hành chính và mối

quan hệ tố tụng

- Mối quan hệ hành chính: Là quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án

nhưng nó được hiểu dưới hai góc độ khác nhau:

tư cách cán bộ cơ quan và thủ trưởng cơ quan Đây là mối quan hệ hành chính Chánh án phân công nhiệm vụ và quản lý Thẩm phán Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao có quyền ký quyết định bổ nhiệm, tái nhiệm, điều động biệt phái Thẩm phán Với tư cách là cán bộ Tòa án, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm, chấp hành nhiệm vụ được giao trước Chánh án

Thẩm phán tham gia giải quyết vụ án hình sự Đây là mối quan hệ tố tụng và chịu sự điều chỉnh của luật tố tụng hình sự, phải độc lập trong xét xử

Trang 20

- Mối quan hệ tố tụng: Mối quan hệ giữa Thẩm phán và người tiến

hành tố tụng, mối quan hệ của Thẩm phán với người tham gia tố tụng

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng (Hội thẩm Tòa án, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên)

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án: Hội thẩm Tòa án đại diện cho quần chúng nhân dân tham gia vào công tác xét xử, giám sát hoạt động của Tòa án góp phần làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng, bảo đảm pháp chế Hội thẩm cũng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử và khi xét xử vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập, thể hiện trên hai phương diện: độc lập với các cá nhân khác và độc lập với chính những thành viên trong Hội đồng xét xử Nhưng trong hoạt động xét xử thì vai trò của Thẩm phán vẫn là trung tâm, được thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử từ phần thủ tục đến phần tuyên án

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Thư ký là người giúp việc cho Thẩm phán để thực hiện những tác nghiệp trong quá trình giải quyết

vụ án: Giúp Thẩm phán trong công tác chuẩn bị phiên toà khi cần thiết, trước khi bắt đầu phiên toà, phổ biến nội quy phiên toà, báo cáo danh sách những người được triệu tập hợp lệ, ghi biên bản phiên toà Mặc dù là người giúp việc cho Thẩm phán nhưng Thư ký tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công của Chánh án, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình Không phải trong mọi trường hợp, Thư

ký đều phải chấp hành theo sự phân công của Thẩm phán, mà Thư ký có quyền từ chối những công việc mà mình cho rằng là vi phạm pháp luật Thẩm phán giao việc cho Thư ký, tuy nhiên cả Thẩm phán và Thư ký đều phải hoạt động tuân theo quy định của pháp luật

Trang 21

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên giữ quyền công tố: Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kiểm sát xét xử, giám sát Hội đồng xét xử trong việc thực hiện các nguyên tắc và trình tự tố tụng theo quy định pháp luật Hiệu quả xét xử của Toà án phụ thuộc không ít vào hoạt động của Kiểm sát viên Kiểm sát viên tham gia vào quá trình thẩm vấn, tranh luận tại phiên tòa phải nghiên cứu, xem xét hỏi vấn đề gì, hỏi ai để làm sáng tỏ vụ án và đưa ra kết luận giải quyết vụ án Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa về mặt trình tự tố tụng

Mối quan hệ của Thẩm phán với Luật sư: Vai trò của luật sư trong hoạt

động tố tụng có vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo, giúp giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật Luật sư có quyền nghiền cứu hồ sơ vụ án, sao chép các tài

liệu cần thiết trong hồ sơ vụ án, được biết về thời gian địa điểm mở phiên tòa

Vì vậy, Thẩm phán phải tạo điều kiện để họ thực hiện những quyền và nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình tác nghiệp tại phiên tòa

Mối quan hệ của Thẩm phán với người giám định, người phiên dịch: Trong nhiều vụ án, để đánh giá chính xác, đúng đắn, khách quan các tình tiết,

sự kiện phức tạp, các cơ quan điều tra, công tố, xét xử phải huy động sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức chuyên môn cung cấp các kết luận giám định khoa học, chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác nhau Thẩm phán phải đưa

ra quyết định trưng cầu giám định, người giám định có quyền tìm hiểu tài liệu

vụ án có liên quan đến đối tượng giám định, yêu cầu Thẩm phán cung cấp tài liệu cần thiết, tham gia vào việc xét hỏi và đặt câu hỏi liên quan đến đối tượng giám định tại phiên tòa

Trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thì Thẩm phán phải mời người phiên dịch cho họ hoặc đương sự là người

Trang 22

câm điếc Thẩm phán có trách nhiệm giải thích thêm về những vấn đề cần phiên dịch khi người phiên dịch yêu cầu Luật tố tụng không quy định người phiên dịch có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án nhưng thực tế khi cần tìm hiểu về những vấn đề chuyên môn, những thuật ngữ pháp lý, hoặc những cử chỉ cần diễn đạt để hiểu về một khái niệm, một từ nào đó thì Thẩm phán có thể cung cấp cho họ những tài liệu cần thiết hoặc có thể cho họ nghiên cứu hồ sơ vụ án trong phạm vi nhất định

Mối quan hệ của Thẩm phán với bị cáo, người bị hại và các đương sự khác: Đây là mối quan hệ tố tụng phát sinh khi giải quyết vụ án hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị cáo, người bị hại và các đương sự khác đã được quy định rất cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự Trước pháp luật họ đều được đối xử một cách bình đẳng, Thẩm phán phải xử sự đúng mức, tôn trọng ý kiến của đương sự, không áp đặt chủ quan những mặc cảm ban đầu có thể dẫn đến định kiến làm sai lệch vụ án Tại phiên tòa các đương sự phải tuân thủ theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa

1.3 Một số nguyên tắc cơ bản về địa vị của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự

Nguyên tắc của tố tụng hình sự có chức năng điều chỉnh hành vi tố tụng Đây cũng là biểu hiện cụ thể chức năng của pháp luật nói chung Tính điều chỉnh của nguyên tắc thể hiện ở hiệu lực của nó đối với các chủ thể tố tụng mà trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Các chủ thể đó có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng giới hạn thẩm quyền, tuân thủ các nguyên tắc đã được pháp luật quy định Không chỉ vi phạm các quy định pháp luật tố tụng cụ thể mà vi phạm các nguyên tắc của tố tụng hình sự cũng phải được xem là căn cứ để hủy các quyết định tố tụng và vô hiệu các hành vi tố tụng vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

Trang 23

hành tố tụng phải thực hiên nghiêm chỉnh các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng Hình sự, mọi biểu hiện không tuân thủ đều có thể dẫn đến sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án [7]

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Thẩm phán phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; xác định sự thật của vụ án;bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật; xét xử tập thể và quyết định theo đa số; việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, trừ trường hợp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định; bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án; Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử; bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, nhân phẩm, quyền lợi của người bị oan; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng; Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất [24]

Trong các nguyên tắc trên thì có ba nguyên tắc được coi là cơ bản nhất đối với người Thẩm phán khi giải quyết vụ án hình sự mà tôi lựa chọn để phân tích dưới đây

1.3.1 Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

Đây là nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân được quy định trong Hiến pháp và Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự nước ta Theo nguyên tắc này thì: Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu

Trang 24

hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ tuy họ đã bị Viện kiểm sát truy tố và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vẫn chưa bị coi là người có tội Họ tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, vì

họ còn đầy đủ các quyền của một công dân Vì vậy, những người tiến hành tố tụng luôn phải có tư duy: Tất cả mọi người đều được coi là chưa có tội khi chưa có một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền kết tội

Hiện nay, còn không ít người quan niệm rằng, một người bị khởi tố, đã

bị bắt tạm giam là có tội nên mọi người đối xử với họ như người phạm tội Bị cáo phải bị hạn chế một số quyền nhất định, kể cả khi ra trước Toà án Trong quá trình xét hỏi, đôi khi có trường hợp Thẩm phán có thái độ lớn tiếng, không cho bị cáo trình bày đầy đủ các tình tiết của vụ án theo ý của bị cáo, mà phải trình bày theo từng câu hỏi có chủ ý của Thẩm phán

Do vậy, nguyên tắc đòi hỏi Thẩm phán phải xét xử công bằng nhằm bảo vệ cá nhân không bị lấy đi, tước đoạt một cách độc đoán những quyền tự

do cơ bản Thông tư số 2225 HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn: Không nên có định kiến rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để Toà án có thái độ hoàn toàn khách quan Đồng thời việc xét xử không được chậm trễ quá mức tại toà, để từ đó nhanh chóng đưa ra bản án kết tội hoặc nhanh chóng đưa người bị buộc tội ra khỏi vòng quay tố tụng hình sự nếu việc buộc tội không thực hiện được

Xét xử là việc Toà án đi tìm lời giải cho một bài toán có sẵn đáp số là một người có tội và bắt họ vào tù Để đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc này,

Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành có nhiều quy định đảm bảo quyền bào chữa - quyền chứng minh sự vô tội của bị cáo: Trong quá trình xét xử, Thẩm phán phải thông báo cho bị cáo bị xét xử về tội gì, cũng như đảm bảo cho họ

Trang 25

thực hiện các quyền của mình như đưa ra các chứng cứ, yêu cầu, đề nghị thay đổi thành viên hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng…

Nguyên tắc “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật”, cho thấy tầm quan trọng của bản án đối với quá trình tố tụng hình sự, ý nghĩa to lớn của nó đối với việc đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội Điều này thể hiện tầm quan trọng của Tòa án, cũng như Thẩm phán trong xã hội Vị trí, vai trò này không phải ngẫu nhiên mà có, mà

nó là sự phân công lao đông trong xã hội, là kết quả của một quá trình lao

động và phát triển lâu dài của xã hội loài người

1.3.2 Nguyên tắc “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Các thành viên hội đồng xét xử hoàn toàn độc lập trong việc xem xét, đánh giá các tình tiết và chứng cứ có liên quan đến vụ án tại phiên Tòa cũng như khi nghị án, từng thành viên được độc lập đưa ra quan điểm của mình, phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và đưa ra quyết định của mình mà không phụ thuộc vào các thành viên khác Thẩm phán không có quyền áp đặt

ý kiến của mình với Hội thẩm và ngược lại Hội thẩm cũng không được áp đặt

ý kiến với Thẩm phán Quyết định của bản án là quyết định của đa số các thành viên trong hội đồng xét xử Việc quyết định theo đa số càng đòi hỏi tính độc lập của từng thành viên hội đồng xé xử, có như vậy mới đảm bảo tính khách quan của Tòa án Quyết định theo đa số vừa bảo đảm tính tập trung dân chủ nó còn thể hiện nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Đây là điều kiện quan trọng để Hội thẩm phát huy vai trò người đại diện của mình cho nhân dân lao động tham gia công tác xét xử của Tòa án, đồng thời bảo đảm cho tiếng nói của nhân dân có tính chất quyết định trong công tác xét xử của Tòa án Sự độc lập không có nghĩa là tách rời đường lối chính sách của Đảng Đảng không chỉ đạo xét xử từng vụ án cụ thể nhưng Đảng đưa

Trang 26

ra đường lối xét xử chung trong từng giai đoạn bằng sự thể chế hóa đường lối chính sách vào pháp luật Chỉ trong một xã hội tiến bộ, quyền độc lập của Tòa

án mới được ghi nhận và thực hiện, mà trong đó Thẩm phán là người được trực tiếp độc lập khi thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn Nguyên tắc này tác động mạnh mẽ đến vị trí và vai trò của Thẩm phán, nâng cao vị thế của Thẩm phán cũng như Tòa án nói chung, thể hiện tầm quan trọng của Thẩm phán trong xã hội cũng như khi thực hiện quyền lực của Nhà nước Thẩm phán được trao quyền và được đảm bảo quyền đó được thực hiện trong thực tiễn thông qua quy định nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc

lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật

Trong hệ thống các cơ quan nhà nước thì chỉ có Toà án mới có quyền xét xử Ngoài Toà án không một cơ quan nhà nước nào khác tự nhận về mình chức năng xét xử và cũng không có quyền can thiệp bằng cách này hay cách khác vào hoạt động xét xử của Toà án Nội dung của nguyên tắc này là đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các quyết định do Toà án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm

Nguyên tắc này được thể hiện ở hai khía cạnh độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc vào các quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra, độc lập với kết luận của Viện kiểm sát Thẩm phán và Hội thẩm phải trực tiếp xem xét các chững cứ của vụ

án chứ không phải chỉ căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc các chứng cứ mà Viện kiểm sát đã đưa ra trong bản cáo trạng Bản án của Tòa chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, đối chiếu với những quy định của pháp luật để xử lí vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Không một ai, không một cơ quan

tổ chức nào có quyền can thiệp hay dùng áp lực tác động vào hoạt động xét

Trang 27

xử của Thẩm phán và Hội thẩm Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có thể tham khảo lắng nghe ý kiến của bất cứ ai nhưng trong hoạt động nghề nghiệp phải luôn luôn thể hiện bản lĩnh của mình để xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho các ý kiến của bên ngoài làm thay đổi quyết định của mình

Ngoài ra, tính độc lập còn được thể hiện ngay trong mối quan hệ giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử Cơ sở pháp lí của việc độc lập xét xử giữa Thẩm phán và Hội thẩm được ghi nhận thành những nguyên tắc của luật tố tụng,

đó là: Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, của tòa

án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia; khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, không bị lệ thuộc vào quan điểm chính kiến của các thành viên khác trong hội đồng xét xử Để đảm bảo cho Thẩm phán

và Hội thẩm xét xử độc lập, Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Thẩm phán biểu quyết sau cùng Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án… [24, Điều 222] Những quy định trên đã loại trừ việc Thẩm phán lạm quyền, tác động đến hoạt động xét xử của Hội thẩm

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa Toà án cấp trên với Toà án cấp dưới Đây là mối quan hệ

tố tụng, Toà án cấp dưới xét xử độc lập không chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo hành chính của Toà án cấp trên Toà án cấp trên không thể ra lệnh hoặc bằng các biện pháp hành chính buộc Toà án cấp dưới xét xử theo ý mình Đồng thời khi

Trang 28

xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm cũng không bị phụ thuộc bởi các nhận định những phán quyết của Tòa án cấp dưới Tính độc lập xét xử còn được bảo đảm bằng những quy định khác của Nhà nước như: Chế độ quản lý Tòa án địa phương, chế độ bổ nhiệm Thẩm phán… [7]

Nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm không có nghĩa là xét

xử tùy tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật không được tách rời sự lãnh đạo của Đảng Đảng lãnh đạo về chủ trương và đường lối đối với hoạt động xét xử, nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội Đảng không can thiệp vào từng vụ án hay không ra chỉ thị về mức án cụ thể mà chỉ ra đường lối xét xử trong từng giai đoạn Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: Đảng không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái luật, mọi

vi phạm đều đưa ra xử lý theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ, không làm theo kiểu phong kiến, dân thì phải chịu hình phạt, quan thì xử theo

lễ Phải nghiêm trị tất cả kẻ phạm tội bất kỳ ở cương vị nào và phải đảm bảo công bằng về quyền và nghĩa vụ của công dân Sự độc lập ở đây không có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm được xét xử tuỳ tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật Nó đòi hỏi “Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha

thứ cho bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào” [28, tr.48] Điều này có nghĩa

khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ, phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình

sự là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán và Hội thẩm xem xét đối chiếu với sự việc thực tế xảy ra Trên cơ sở các quy định đó, hội đồng xét xử sẽ đưa

ra các pháp quyết của mình về hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án

Độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án khi

Trang 29

xét xử chỉ tuân theo pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án độc lập khi xét xử Mối quan hệ này là mối quan hệ ràng buộc Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán [28]

1.3.3 Nguyên tắc “tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số”

Đây là nguyên tắc hiến định, bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu, thẩm vấn, giải quyết các vụ án hình sự và bảo đảm tính đúng đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Toà án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử

Theo nguyên tắc này thì việc xét xử bất cứ một vụ án nào theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được quy định tại các điều tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự như sau:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm: Gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.(Điều 185 Bộ luật

tố tụng hình sự 2003)

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm: Gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm (Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự 2003)

- Thành phần giám đốc thẩm, tái thẩm: Hội đồng giám đốc thẩm Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự trung ương gồm ba Thẩm phán Nếu Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Uỷ ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán tham gia xét xử (Điều 281

Bộ luật tố tụng hình sự 2003)

Trang 30

Điều này cũng có nghĩa rằng pháp luật tố tụng hình sự nước ta chỉ thừa nhận việc xét xử do Hội đồng xét xử thực hiện, mà không thừa nhận việc xét xử do một cá nhân thực hiện Tuyên án theo đa số là cơ chế đương nhiên của việc xét xử tập thể, quyết định được đưa ra là căn cứ trên kết quả thảo luận của tập thể Hội đồng xét xử Các thành viên Hội đồng xét xử xem xét đánh giá về từng vấn đề, rồi biểu quyết lấy ý kiến đa số về quyết định hình phạt, về trách nhiệm dân sự… Tuy việc xét xử là tập thể, nhưng vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là quan trọng nhất Thẩm phán có thể phân tích, giải thích pháp luật, phân tích, đánh giá về chứng cứ để cho các Hội thẩm tham khảo rồi biểu quyết theo đa số Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ, công bằng trong xét xử Mặc dù Thẩm phán có vị trí và vai trò quan trọng, nhưng mọi quyết định của Thẩm phán cần phải được kiểm tra, chế ước bởi nguyên tắc xét xử tập thể Khi thực hiện xét xử mọi vấn đề đều được xem xét và quyết định bởi tập thể Hội đồng xét xử Tuy nguyên tắc này có chế ước quyền của Thẩm phán, nhưng không vì thế mà hạ thấp vai trò của Thẩm phán mà còn nâng cao vị thế của Thẩm phán, bởi lẽ thông quan nguyên tắc xét xử tập thể thì những phán quyết sẽ được đảm bảo tính đúng đắn cao hơn, và thông qua đó tạo được niềm tin lớn hơn ở xã hội, góp phần nâng cao vị thế của Thẩm phán

1.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới

1.4.1 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 của Liên bang Nga có hiệu lực ngày 01/7/2002 thay thế cho Bộ luật tố tụng hình sự năm 1960 thời Xô viết, Bộ luật năm 2001 đã thiết lập một mô hình tư pháp hình sự trên cơ sở các nguyên tắc mang tính dân chủ và pháp quyền không chỉ bảo đảm tính hiệu quả của các cơ

Trang 31

quan thực thi pháp luật mà còn bảo đảm các quyền tự do dân chủ Bộ luật tố tụng hình sự 2001 cho thấy sự chuyển đổi mang tính cách mạng và cơ bản của

mô hình tư pháp hình sự Nga từ một hệ thống tố tụng thẩm vấn có xu hướng thiên về bên công tố sang hệ thống tranh tụng dựa trên cơ sở tính bình đẳng

và công bằng, bảo vệ các quyền cá nhân và trao quyền cho các bồi thẩm viên

là những công dân bình thường có quyền quyết định việc có tội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng Đây là Bộ luật Tố tụng hình sự đồ

sộ gồm 5 phần 18 chương và 473 điều Theo đó, Tòa án không phải là cơ quan truy tố hình sự, không thuộc bên buộc tội hoặc bên gỡ tội Tòa án tạo điều kiện cần thiết để các bên thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình và thực

hiện các quyền được giao cho họ Thẩm phán gồm có ba loại: Thứ nhất,

Thẩm phán xét xử; thứ hai, Thẩm phán hòa giải (xét xử các vụ án tư tố, công

tố); thứ ba, Thẩm phán Tòa án liên bang thẩm quyền chung (xét xử các vụ án

về các tội phạm quy định hình phạt không quá 10 năm)

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có Thẩm phán Tòa án Liên bang thẩm quyền chung và Bồi thẩm đoàn có thẩm quyền xét xử các vụ án về các tội phạm quy định hình phạt không quá 10 năm tù, theo yêu cầu bị cáo Ba Thẩm phán có thẩm quyền xét xử các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc các tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 31 nếu bị cáo yêu cầu Tương đồng với quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam, Bộ luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga trong các phiên tòa sơ thẩm thường có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm nhân dân Các phiên tòa Tòa án cấp phúc thẩm luôn có 3 Thẩm phán và không có Hội thẩm nhân dân Các phiên tòa của Tòa án nhân dân tối cao thường có 5 Thẩm phán Tất cả các Thẩm phán đều có nhiệm kỳ 5 năm và có thể bị cử tri bãi nhiệm trước thời hạn Các Thẩm phán nhân dân cấp quận, huyện do nhân dân trực tiếp bầu ra, các Thẩm phán Tòa án cấp cao Xô viết (cơ quan đại diện của nhân dân các cấp) bầu ra

Trang 32

Địa vị pháp lý của Thẩm phán theo trình tự thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm, thủ tục xét xử đặc biệt, thủ tục xét xử phúc thẩm, thủ tục xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được Bộ luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga quy định

cụ thể như sau:

Thủ tục phiên tòa sơ thẩm: Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và

thông báo vụ án được đưa ra xét xử Việc cách ly người làm chứng được coi

là quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Thẩm phán điều khiển quá trình điều tra, các bên có trách nhiệm đưa ra chứng cứ, Thẩm phán giữ vai trò là người trọng tài nên khác với việc trực tiếp xét hỏi của Thẩm phán Việt Nam, thì việc hỏi của Thẩm phán ở dây mang tính chất bổ sung và hỏi khi thấy cần thiết, đưa ra các câu hỏi khi các bên đã xong Bên cạnh đó, Thẩm phán cũng có quyền trưng cầu giám định, giám định lại hoặc giám định bổ sung, thực nghiệm điều tra, tiến hành nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể Trong phần tranh luận tại phiên tòa về cơ bản cũng giống như quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chỉ khác về trình tự tranh luận và đối đáp Người bào chữa, bị cáo luôn là những người phát biểu ý kiến cuối cùng

Thủ tục xét xử đặc biệt: Trong trường hợp có đủ điều kiện: Bị cáo bị buộc tội về các tội phạm có hình phạt quy định không quá 5 năm tù; bị can đồng ý với nội dung buộc tội và yêu cầu Tòa án ra bản án; công tố viên hoặc

tư tố viên và người bị hại đồng ý; bị can nhận thức được tính chất và hiệu quả của việc họ yêu cầu; yêu cầu của bị cáo là tự nguyện và đã được người bào chữa tư vấn Thì Thẩm phán ra bản án mà không cần thiết tiến hành xét xử

Thẩm phán hòa giải có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về những tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ 2 năm trở xuống, những vụ án được khởi tố theo tư tố (theo yêu cầu của người bị hại)

Thủ tục xét xử có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn, Thẩm phán có quyền thành lập, quyết định số lượng cũng như giải tán Bồi thẩm đoàn Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau:

Trang 33

- Quyết định đình chỉ vụ án nếu có căn cứ quy định tại Điều 254 của Bộ luật Hình sự;

- Ra bản án vô tội nếu các thành viên của Bồi thẩm đoàn đưa ra câu trả lời phủ định dù chỉ 1 trong 3 câu hỏi chính hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm Ra bản án kết tội hoặc quyết định hình phạt;

- Quyết định giải tán Bồi thẩm đoàn và chuyển vụ án để xét xử lại với Hội đồng xét xử mới

Thủ tục xét xử phúc thẩm: Căn cứ kết quả xét xử vụ án theo thủ tục

phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử ra một trong những quyết định sau đây: Giữ nguyên bản án và quyết định của Toà án và bác kháng cáo, kháng nghị; huỷ bản án, quyết định của Toà án và đình chỉ vụ án; huỷ bản án, quyết định của Toà án và trả lại hồ sơ vụ án để xét xử lại ở Toà án cấp sơ thẩm hoặc Toà án cấp chống án từ giai đoạn thẩm tra sơ bộ hoặc giai đoạn xét xử hoặc các hoạt động của Toà án sau khi đưa ra phán quyết của Bồi thẩm đoàn; sửa bản án, quyết định của Toà án

Đối với thủ tục xét xử chống án do một Thẩm phán cấp quận thực hiện

để xét xử sơ thẩm lại các vụ án mà bản án, quyết định của Thẩm phán hòa giải chưa có hiệu lực pháp luật và Thẩm phán có quyền ra bản án mới thay thế bản

án của Thẩm phán hòa giải và bản án này chưa có hiệu lực pháp luật ngay, các bên có quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: Thẩm phán của Tòa án cấp giám đốc

thẩm căn cứ kết quả giải quyết vụ án ra một trong các quyết định sau: Không

chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm và giữ nguyên quyết định của Toà án kháng cáo, kháng nghị; Huỷ bản án, quyết định của Toà án và tất

cả các quyết định tiếp theo của Toà án và đình chỉ tố tụng đối với vụ án đó; Huỷ bản án, quyết định của Toà án và tất cả các quyết định tiếp theo của Toà

án và trả lại vụ án để xét xử lại; Huỷ bản án của Toà án cấp chống án và trả

Trang 34

lại vụ án để xét xử lại theo thủ tục chống án; Huỷ quyết định của Toà án cấp phúc thẩm và tất cả các quyết định tiếp theo và trả lại vụ án để xét xử phúc thẩm lại; Sửa bản án, quyết định của Toà án

1.4.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp

Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà Pháp được Nghị viện Pháp ban hành theo Luật số 57-1426 ngày 31/12/1957 và có hiệu lực thi hành vào năm 1958 Đến nay đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần (Luật ngày 4/1, Luật ngày 10/8 và Luật 24/8/1993, Luật ngày 2/2/1995) Bộ luật có 803 điều chia thành năm quyển

Quyển thứ hai của bộ luật quy định về tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan xét xử hình sự và các thủ tục xét xử hình sự xét xử trọng tội tại Toà đại hình, xét xử khinh tội tại Toà tiểu hình và xét xử vi cảnh tại Toà vi cảnh và ở

đó cũng quy định rõ nét về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình

sự Tại Điều 1 của Bộ luật quy định “Thẩm phán và công chức được pháp luật giao quyền công tố tiến hành khởi tố và thực hiện quyền công tố để áp dụng hình phạt” Cũng có thể khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này Thẩm phán theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà Pháp có quyền: khám xét văn phòng luật

sư hoặc nơi cư trú của luật sư với sự có mặt của Chủ nhiệm đoàn luật sư hoặc đại diện Chủ nhiệm đoàn luật sư; có quyền tiến hành khám xét văn phòng của thầy thuốc, công chứng viên, đại tụng hoặc thừa phát lại với sự có mặt của người phụ trách hoặc người đại diện tổ chức nghề nghiệp của đương

sự (Điều 56-1); có quyền khám xét trụ sở của cơ quan báo chí hoặc cơ quan phát thanh truyền hình (Điều 56-2)

Thiên I của Bộ luật quy định về xét xử trọng tội của Toà đại hình, Toà đại hình bao gồm các Thẩm phán xét xử chuyên nghiệp và đoàn Bồi thẩm

Trang 35

Các Thẩm phán xét xử chuyên nghiệp gồm Chủ toạ phiên toà và hai Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử Nếu phiên toà xét xử quan trọng và thời gian xét xử kéo dài thì có thể bổ sung một hoặc nhiều Thẩm phán Các Thẩm phán bổ sung được tham gia xét xử và chỉ nghị án khi Thẩm phán chính thức không thể tham gia và được Chủ toạ phiên toà đại hình xác nhận bằng một quyết định có viện dẫn lý do Chủ toạ phiên toà đại hình là một Chánh án hoặc một Thẩm phán của toà phúc thẩm Theo quy định tại Điều 253 thì "các Thẩm phán đã thực hiện hành vi truy tố, điều tra hoặc đã tham gia vào quyết định chuyển bị cáo ra Toà đại hình xét xử hay một quyết định về nội dung liên quan đến tội trạng của bị cáo thì không thể tham gia dự phiên toà đại hình với tư cách là Chủ toạ phiên toà hoặc Thẩm phán thành viên của Hội đồng xét xử" Trong các phiên toà đại hình ngoài 3 Thẩm phán, 1 Công tố viên còn có

9 Hội thẩm Giống như quy định của pháp luật Việt Nam, các Thẩm phán và Hội thẩm trong bộ luật Tố tụng hình sự Pháp bình đẳng khi xử án

Trong phần thủ tục, Chánh án có thể uỷ quyền cho một Thẩm phán thành viên của Hội đồng xét xử hỏi cung bị cáo Chủ toạ đọc lời tuyên thệ và đọc tên từng Bồi thẩm để họ tuyên thệ Trong khi xét xử, Chủ toạ có thể ra lệnh dẫn giải bất cứ người nào đến để lấy lời khai hoặc yêu cầu cung cấp tài liệu cần thiết cho việc xác định sự thật và phù hợp với những nhận định đã được đưa ra tại phiên toà Trong phần tranh luận tại phiên toà, Chủ toạ giữ trật

tự tại phiên toà, điều khiển tranh luận, có quyền bác bỏ những gì xâm hại đến

sự trang nghiêm của phiên toà hoặc kéo dài việc xét xử mà không đem lại kết quả gì chắc chắn hơn Có thể nói, Chủ toạ phiên toà luôn giữ vai trò là người trọng tài Chủ toạ có toàn quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để xác định

sự thật của vụ án Khi Chủ toạ cho phép, Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử có thể tham gia xét hỏi bị cáo, người làm chứng Đồng thời, Chủ toạ cũng có quyền cách ly người làm chứng; cũng như áp dụng mọi biện pháp

Trang 36

thích hợp để không cho những người làm chứng bàn với nhau trước khi khai;

có quyền tạm giữ người làm chứng Khi Chủ toạ phiên toà hỏi và nghe lời khai của bị cáo, không được biểu lộ ý kiến của mình về tội trạng của bị cáo (Điều 328) Thẩm phán và Bồi thẩm có thẩm quyền nghị án, bằng hình thức

bỏ phiếu Trong phiên toà đại hình Thẩm phán và Hội thẩm phải bỏ hai loại phiếu kín để giải quyết vụ việc, trước khi bỏ phiếu thứ hai được thực hiện, trong nghị án các Thẩm phán có nghĩa vụ giải thích quy định của điều luật liên quan đến tội phạm tương ứng mà bị cáo phạm phải Sau đó Thẩm phán kiểm tra phiếu và xác nhận kết quả bỏ phiếu Thẩm phán và Bồi thẩm trở lại phòng xử án Chủ toạ cho dẫn giải bị cáo ra trước toà, đọc các câu trả lời của Thẩm phán và Bồi thẩm, tuyên phạt án Nếu xuất hiện bằng chứng buộc tội

bị cáo về các sự việc khác và Viện công tố đã bảo lưu quyền truy tố thì Chủ toạ có quyền ra lệnh cho lực lượng công quyền dẫn giải bị cáo được xử trắng

án đến gặp Viện trưởng Viện công tố để tiến hành điều tra ngay lập tức

Tại Thiên II quy định về xét xử khinh tội tại Toà tiểu hình Toà tiểu hình gồm một Chánh án và hai Thẩm phán Tại phiên toà, Chủ toạ có nhiệm

vụ giữ trật tự phiên toà và điều khiển việc xét hỏi và tranh luận Tại phần xét hỏi, tranh luận Chủ toạ hoặc một trong các Thẩm phán do Chủ toạ chỉ định xác định căn cước của bị cáo, đọc Quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngoài ra, Chủ toạ phiên toà cũng có các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác Người làm chứng mà khai báo gian dối, Chủ toạ có thể yêu cầu người làm chứng đó ở lại

để lấy lời khai lần nữa nếu cần (Điều 457)

Tại Thiên III của Bộ luật quy định xét xử tội vi cảnh của Toà vi cảnh Mọi hành vi phạm tội vi cảnh dù là hành vi tái phạm đều có thể được xét xử theo thủ tục rút ngọn Thẩm phán có quyền ra quyết định hình sự tha bổng hoặc phạt tiền đối với bị cáo mà không cần tiến hành xét hỏi trước, có quyền trả hồ sơ cho Viện công tố để truy tố theo thủ tục thông thường nếu xét thấy

Trang 37

Quyển thứ ba quy định về thủ tục kháng cáo, kháng nghị Có thể thấy rằng trong mọi vụ án về trọng tội, khinh tội hoặc tội vi cảnh, Toà phá án có thể giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị ngay sau khi hết thời hạn 10 ngày

kể từ ngày Toà phá án nhận hồ sơ (Điều 604) Thành phần Hội đồng xét xử gồm có Chủ toạ phiên toà, các Thẩm phán và Thẩm phán báo cáo viên Khi nghị án, Chủ toạ lấy ý kiến của các Thẩm phán, Thẩm phán báo cáo viên phát biểu đầu tiên và sau cùng là Chủ toạ phiên toà Toà phá án sau khi xem xét kháng cáo, kháng nghị có quyền đình chỉ xét xử, bác kháng cáo, kháng nghị hoặc huỷ bản án

1.4.3 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Thủ tục tố tụng hình sự được áp dụng tại Tòa án nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo Luật tố tụng hình sự năm 1979 và Luật sửa đổi Luật tố tụng hình sự năm 1996 Luật tố tụng hình sự gồm bốn phần, 221 điều Hệ thống Tòa án Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm có: Toà án nhân dân sơ cấp

có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự thông thường, trừ những

vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp trên; Toà án nhân

dân trung cấp xử sơ thẩm những vụ án phản cách mạng, xâm phạm an ninh quốc gia; các vụ án hình sự thông thường có hình phạt là tù chung thân hoặc

tử hình; và những vụ án hình sự có người nước ngoài phạm tội Toà án nhân dân cấp cao xử sơ thẩm những vụ án hình sự lớn trên phạm vi toàn tỉnh (thành

phố, khu tự trị trực thuộc Chính quyền Trung ương) Toà án nhân dân tối cao

xử sơ thẩm những vụ án lớn trên phạm vi toàn quốc Khi cần thiết, Toà án nhân dân cấp trên có thể xét xử những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử

sơ thẩm của Toà án nhân dân cấp dưới; nếu Toà án nhân dân cấp dưới nhận thấy vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm có tình tiết nghiêm trọng, phức tạp cần phải được xét xử ở Toà án nhân dân cấp cao hơn thì có thể yêu cầu chuyển vụ án lên xét xử tại Toà án nhân dân cấp trên

Trang 38

Toà án nhân dân sơ cấp và trung cấp xét xử sơ thẩm dưới sự điều hành của Hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán hoặc các thẩm phán và các hội thẩm nhân dân tối đa là ba Tuy nhiên, các vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn tại Toà án nhân dân sơ cấp có thể được xét xử bởi một thẩm phán

Toà án nhân dân cấp cao và Toà án nhân dân tối cao xét xử sơ thẩm dưới sự điều hành của Hội đồng xét xử gồm từ ba đến bảy thẩm phán hoặc các thẩm phán và các hội thẩm nhân dân tối đa là từ ba đến bảy Khi thực hiện chức năng của mình tại Toà án nhân dân, hội thẩm nhân dân có quyền hạn như thẩm phán Đối với những vụ án có kháng cáo và kháng nghị, Toà án nhân dân xét xử bởi Hội đồng gồm từ ba đến năm thẩm phán Thành viên của hội đồng xét xử phải có số lẻ Chánh án Toà án nhân dân hoặc Chánh toà chỉ định một thẩm phán làm chủ toạ phiên toà Chánh án Toà án hoặc Chánh toà chủ toạ phiên toà nếu trực tiếp tham gia xét xử

Những quy định về xét xử của luật tố tụng hình sự Trung Hoa phần nào giống quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán Xét xử sơ thẩm đối với những vụ án thuộc án tư tố hay công tố thì tại phiên tòa, Thẩm phán là người điều khiển suốt quá trình diễn ra phiên tòa nhưng không phải là người đầu tiên tham gia thẩm vấn, không thẩm vấn liên tục Kiểm sát viên là người tham gia xét hỏi đầu tiên với sự cho phép của thẩm phán chủ tọa Khi bắt đầu phiên toà, thẩm phán chủ toạ phiên toà khẳng định chắc chắn sự có mặt của các bên đương sự tại toà và công bố nội dung vụ án; công bố danh sách, họ tên các thành viên trong Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà, kiểm sát viên, người bào chữa, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định và người phiên dịch; thông báo cho các bên đương sự quyền yêu cầu không tham gia tố tụng của các thành viên trong Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà, kiểm sát viên, người giám định và người phiên dịch và quyền bào chữa của bị cáo (Điều 154) Đối với việc

Trang 39

thẩm vấn bị cáo thì kiểm sát viên thẩm vấn trước Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể đặt câu hỏi đối với bị cáo nếu thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho phép Thẩm phán có thể thẩm vấn đối với bị cáo Đối với việc thẩm vấn người làm chứng trước tòa, trước khi người làm chứng khai báo, thẩm phán hướng dẫn người này khai báo đúng sự thật và giải thích cho người này biết nếu cố ý khai báo gian dối hoặc che giấu chứng cứ phạm tội thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Kiểm sát viên, các bên đương sự, người bào chữa và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, với sự đồng ý của thẩm phán chủ toạ phiên toà, có thể hỏi người làm chứng và người giám định Nếu thẩm phán chủ toạ phiên toà thấy câu hỏi không liên quan đến vụ án thì phải yêu cầu dừng lại (Điều 156) Thẩm phán phải lấy ý kiến của Kiểm sát viên, các bên đương sự, người bào chữa, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 157) Thẩm phán xét xử vụ án sau khi “thẩm tra vụ án đề nghị truy tố, Tòa án quyết định mở phiên tòa xét xử nếu cáo trạng đã bao gồm các tình tiết, chứng cứ phạm tội rõ ràng, ngoài ra còn có danh sách chứng cứ và nhân chứng cũng như bản sao hoặc bản ảnh các chứng cứ quan trọng đi kèm" (Điều 150) Mặc dù vậy, trong quá trình xét xử tại tòa, nếu Hội đồng xét xử

có nghi ngờ về chứng cứ thì vẫn có thể tuyên bố hoãn phiên tòa để tiến hành điều tra để kiểm tra chứng cứ bằng cách thẩm tra, kiểm tra, bắt giữ, giám định, cũng như thẩm vấn và phong tỏa (Điều 158) Trong phần tranh luận tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa cũng là người điều khiển để cho các bên tham gia tranh luận Sau khi bị cáo nói lời sau cùng, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố giải lao, Hội đồng xét xử nghị án Bản án phải được tuyên bố công khai tại tòa và phải có chữ ký của các thành viên Hội đồng xét xử Toàn bộ diễn biến phiên tòa phải được thư ký phiên tòa ghi chép lại dưới dạng biên bản phiên tòa được Chủ tọa phiên tòa thẩm tra và cùng ký tên

Trang 40

Đối với xét xử phúc thẩm: Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm phải thành lập một Hội đồng xét xử và mở phiên tòa xét xử vụ án có kháng cáo Tuy nhiên, nếu sau khi xem xét hồ sơ, thẩm vấn bị cáo và hỏi ý kiến các bên, bị cáo và người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án thấy tình tiết phạm tội rõ ràng thì không cần mở phiên tòa (Điều 187) Cấp phúc thẩm không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo, kháng nghị mà phải tiến hành xem xét toàn diện các tình tiết và áp dụng pháp luật trong bản án sơ thẩm; trong vụ án đồng phạm nếu chỉ có một số bị cáo kháng cáo thì vẫn xem xét giải quyết toàn bộ

Tại phiên tòa phúc thẩm địa vị pháp lý của thẩm phán cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Bản án phúc thẩm có hiệu lực chung thẩm

Ngày đăng: 09/03/2018, 09:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w