Hòa chung nhịp đập của cả nước trong việc thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tới 2020, Kim Bôi phấn đấu sẽ có một đội ngũ cán bộ công chức giỏi về chuyên môn nghiệp vụ,
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ TÂN
Hà Nội, 2022
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, tất cả nguồn số liệu được sử dụng trong phạm
vi nội dung nghiên cứu của luận văn này là trung thực và chưa hề được dùng
để bảo vệ một học vị khoa học nào
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho luận văn đã được gửi lời cảm ơn
Kim Bôi, ngày tháng năm 2022
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Đức Thuận
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành bày
tỏ lòng biết ơn của mình tới TS Phạm Thị Tân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã chỉ bảo, giảng dạy trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Kim Bôi, lãnh đạo, công chức phòng Nội vụ, Chi cục Thống kê Kim Bôi - Lạc Thuỷ Lãnh đạo, công chức Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã cung cấp thông tin, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù luận văn đã hoàn thiện với tất cả sự cố gắng cũng như năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, đó chính là sự giúp đỡ quý báu mà tôi mong muốn nhất để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu và công tác
Xin chân thành cảm ơn./
Kim Bôi, ngày tháng năm 2022
TÁC GIẢ
Nguyễn Đức Thuận
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 5
1.1 Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 5
1.1.1 Cán bộ, công chức cấp xã 5
1.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 11
1.1.3 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã 18
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 26
1.2 Cơ sở thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã 30
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã 30
1.2.2 Bài học rút ra cho huyện Kim Bôi 34
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35 2.1 Tổng quan về huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 38
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp: 44
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 44
Trang 52.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 45
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả 45
2.2.5 Phương pháp so sánh 46
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu 46
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh số lượng cán bộ, công chức 46
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng; 46
2.3.3 Nhóm chỉ tiêu thể hiện nhu cầu đào tạo của cán bộ công chức xã 46 2.3.4 Nhóm chỉ tiêu thể hiện kết quả đào tạo của cán bộ công chức xã 47 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã tại Huyện Kim Bôi 48
3.1.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 48
3.2 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Kim Bôi 58
3.2.1 Xây dựng quy trình, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBCC 58
3.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của CBCC 63
3.2.3 Xây dựng chương trình và hình thức đào tạo, bồi dưỡng 67
3.2.4 Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng 73
3.2.5 Kiểm tra đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã 76
3.2.6 Bố trí và sử dụng sau bồi dưỡng 80
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi 80
3.3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế xã hội 82
3.3.2 Chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước 83
3.3.3 Nhận thức của cán bộ, công chức cấp xã 84
3.3.4 Bài giảng và phương pháp giảng dạy 85
3.3.5 Hội nhập và toàn cầu hóa 86
3.4 Đánh giá chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi 87
Trang 63.4.1 Ưu điểm 87 3.4.2 Hạn chế 88 3.4.3 Nguyên nhân hạn chế: 90
3.5 Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Kim Bôi 94
3.5.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã của Huyện Kim Bôi 94 3.5.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBCC Cán bộ công chức
2 UBMTTQ Uỷ ban mặt trận tổ quốc
3 UBND Uỷ ban nhân dân
4 HĐND Hội đồng nhân dân
6 CCB Cựu chiến binh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Kim Bôi năm 2021 37
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Kim Bôi 39
Bảng 2.3 Dân số huyện Kim Bôi theo đơn vị hành chính 2021 40
Bảng 2.4 Lao động và cơ cấu lao động của huyện Kim Bôi 41
Bảng 3.1 Số cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Kim Bôi 48
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ công chức cấp xã tại huyện Kim Bôi, giai đoạn 2019-2021 53
Bảng 3.3 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Kim Bôi qua 3 năm 2019 - 2021 55
Bảng 3.4 Trình độ quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Kim Bôi qua 3 năm 2019 - 2021 57
Bảng 3.5 Sơ đồ quy trình bồi dưỡng cán bộ công chức 60
Bảng 3.6 Kiến thức, kỹ năng CBCC xã cho rằng mình đang bị thiếu hụt - % 64
Bảng 3.7 Nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng trong ngắn hạn 65
Bảng 3.8 Kế hoạch tổ chức thực hiện ĐTBD CBCC năm 2021, 2022 69
Bảng 3.9 Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC (2017-2021) 72
Bảng 3.10.Tình hình các lớp đào tạo, bồi dưỡng CBCC huyện Kim Bôi 74
Bảng 3.11 Tình hình đào tạo, bồi dưỡng Chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC huyện 2019-2020 75
Bảng 3.12 Bảng kết quả khảo sát đánh giá chất lượng ĐTBD 77
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khái quát vai trò của công tác ĐTBD CB, CC 15Biểu đồ 3.1 Cơ cấu giới tính, độ tuổi CBCC huyện Kim Bôi 50Biểu đồ 3.2 Kết quả đánh giá xây dựng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của CBCC cấp xã huyện Kim Bôi 67Biểu đồ 3.3 Yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã -% 82
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung và cán bộ, công chức nói riêng sớm đã trở thành chủ đề được Đảng và Chính phủ ta rất quan tâm chú trọng Đặc biệt là đối với khối xã, trong vai trò là những người đại diện của cơ quan quản lý cấp Nhà nước ở địa phương, cán bộ, công chức cấp xã là lực lượng gần dân nhất, nắm được tâm tư, tình cảm của nhân dân đồng thời cũng
là cây cầu nối giữa “ý Đảng” và “lòng dân” Bởi vậy có một đội ngũ cán bộ công chức cấp xã giỏi sẽ là động lực lớn cho việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất nước nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng
Để nâng cao được hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cần phải tiến hành đồng thời nhiều bước trong đó việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
là khâu tiên quyết Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng là việc chúng ta đi tìm hiểu đối tượng người học, xem để làm tốt công việc của mình họ cần phải có những kiến thức, kỹ năng gì? mức độ các kiến thức, kỹ năng đó hiện nay họ đang nắm vững như thế nào? cần học gì?… để từ đó thiết kế chương trình sao cho phù hợp và qua đó đáp ứng đúng nhu cầu của họ Nghiên cứu và xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là một chủ đề đã và đang thu hút được khá nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà khoa học và đặc biệt là các nhà nghiên cứu trong các trường đại học Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào nhu cầu cá nhân chủ quan của bản thân cán bộ là chưa đủ, cần có sự tham gia đánh giá của cả cộng đồng
Kim Bôi là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hòa Bình Phía Bắc giáp huyện Lương Sơn và thành phố Hoà Bình; Phía Tây giáp thành phố Hòa Bình và huyện Cao Phong; Phía Nam giáp huyện Lạc Sơn, Yên Thủy và Lạc Thủy; Phía Đông giáp huyện Lương Sơn Huyện gồm 16 xã và
01 thị trấn, trung tâm huyện cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 30 km về phía Đông và phía Đông Nam Trên địa bàn huyện Kim Bôi có nhiều dân tộc cùng
Trang 11sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Mường chiếm trên 80%, còn lại dân tộc như: Kinh, Dao, Thái
Trong 05 năm qua tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của huyện đã có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tích cực Có được những kết quả trên là
do sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân và không thể không kể tới
sự đóng góp của các cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Hòa chung nhịp đập của cả nước trong việc thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tới 2020, Kim Bôi phấn đấu sẽ có một đội ngũ cán bộ công chức giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc Chính vì vậy công tác xác định nhu cầu trước khi đào tạo, bồi dưỡng cần được Kim Bôi chú trọng hơn bao giờ hết Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, với cách thức xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng dựa trên cơ
sở xác định sự thiếu hụt các kiến thức kỹ năng mà bản thân các cán bộ, công chức đang có và những kiến thức kỹ năng mà họ cần phải có để làm tốt công việc thông qua việc khảo sát các nhóm đối tượng có liên quan và có căn cứ theo tiêu chuẩn nhiệm vụ thực tế công việc của các cán bộ công chức Với những lý do nêu trên nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình”
vụ trong tình hình mới hiện nay
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã
Trang 12- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
- Phân tích các yếu tố ảnh đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Công tác đào tạo CBCC cấp xã của huyện huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình CBCC cấp xã được giới hạn nghiên cứu gồm:
- Cán bộ cấp xã được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội (Bí thư đoàn Thanh niên; chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc (UBMTTQ), Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch hội Nông dân; chủ tịch hội Cựu chiến binh)
- Công chức được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp
vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Các chức danh: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; Tài chính - Kế toán;
Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - xã hội)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Những nội dung nghiên cứu tập trung vào đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, những mặt ưu điểm, tồn tại, nguyên nhân Trên cơ sở đánh giá, phân tích đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi
Trang 133.2.2 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
3.2.3 Phạm vi về thời gian
- Số liệu sơ cấp được khảo sát thu thập trong năm 2020-2021
- Số liệu thứ cấp được thực hiện trong năm 2019-2021
4 Nội dung nghiên cứu
- Lý luận và thực tiễn về đào tạo cán bộ công chức cấp xã
- Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
- Yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
- Giải pháp hoàn thiện công các đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Kim Bôi
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương
từ ngân sách nhà nước (trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã) Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hình thành Theo Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008; Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CBCC
có những quy định về cán bộ, công chức như sau:
“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Trang 15Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định
là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước
và nhân dân
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Cán bộ cấp xã
có các chức vụ sau đây: Bí thư, phó Bí thư Đảng Uỷ; Chủ tịch, phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch Uỷ Ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam Chủ tịch HND Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội nông dân VN); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng và môi trường (đối với phường hoặc thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - xã hội (Luật CBCC, 2019)
Trang 16UBND cấp xã ở địa phương là một chủ thể hoạt động theo nguyên tắc thẩm quyền chung Trong trường hợp này, từng thành viên của UBND cấp xã khi hoạt động theo nguyên tắc tập thể và ra quyết nghị mang tính tập thể thì
có quyền ngang nhau trong quyết nghị các vấn đề mà tập thể UBND phải ra quyết định Đồng thời, UBND là tổ chức thẩm quyền chung gắn với cơ chế thủ trưởng và quyết định của tổ chức là quyết định của người đứng đầu hay nhân danh người đứng đầu Hơn nữa, mỗi một thành viên UBND thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao, gắn liền với các chức danh lãnh đạo quản lý trong chính quyền địa phương cấp xã
1.1.1.2 Vai trò, đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Chính quyền cấp xã là nền tảng của hệ thống chính trị Để hệ thống chính trị vững vàng và hoạt động có hiệu quả, hiệu lực thì đội ngũ CBCC có
vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện qua một số điểm cơ bản sau đây:
Một là, CBCC là đội ngũ trực tiếp với dân nhất Vì vậy mà chất lượng
của đội ngũ này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu lực hoạt động của
cả hệ thống chính quyền cấp xã (Lê Đình Lý, 2012)
Hai là, CBCC là những người thực thi quyền hành pháp, điều hành và
quản lý mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của chính quyền cấp
xã trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra Do đó, họ phải là những người có chuyên môn phù hợp, có năng lực trình độ để tham mưu, tổ chức thực hiện giúp cho UBND xã hoàn thành nhiệm vụ, đảm bảo có hiệu quả và hiệu lực (Hà Thị Nhung, 2015)
Ba là, CBCC giữ vai trò quan trọng trong việc giữ gìn trật tự, kỷ cương
xã hội, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
và tội phạm, bảo vệ lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động
Bốn là, CBCC là nền tảng của chính quyền cấp xã, thực thi nhiệm vụ
công vụ, gần gũi với nhân dân Công chức là người đưa chính sách, pháp luật
Trang 17của Nhà nước đến với nhân dân thông qua việc xử lý, giải quyết các tình huống liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của mình
Tóm lại, vai trò của người cán bộ, công chức nói chung, CBCC cấp xã nói riêng trong thời kì mới đặc biệt quan trọng như Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Do vậy, công tác xây dựng đội ngũ công chức
là một trong những nhân tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và của cả dân tộc Sự nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo được sự chuyển biến tích cực từ cơ sở, mà
sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc rất quan trọng ở chất lượng đội ngũ công chức, đặc biệt là đội ngũ CBCC, những người trực tiếp triển khai các hoạt động nhằm hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước
Đội ngũ CBCC hiện nay có một số đặc điểm như sau:
CBCC là những người gần dân nhất, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, làm cầu nối giữa dân với Đảng và Nhà nước, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Họ chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân Hầu hết đội ngũ CBCC hiện nay là người địa phương, cư trú sinh sống tại địa phương, có quan hệ dòng tộc và quan hệ gắn bó với dân làng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, tình cảm và đời sống sinh hoạt hằng ngày Trong bản thân mỗi CBCC đều chứa đựng các yếu tố: là người dân, người cùng làng, người đại diện cộng đồng, người đại diện Nhà nước, các yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, xung đột nhau, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vẫn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - nhà nước (Trần Thanh Sang, 2010)
CBCC được tuyển dụng bố trí các chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã tuy nhiên phải thường xuyên chuyển đổi vị trí công tác
để đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cơ sở Điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng lực hoạt động của công chức
Trang 18Do nhiều nguyên nhân, đội ngũ CBCC ít được đào tạo (nhất là đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo), thường xuyên có sự biến động, không ổn định, và tuổi đời bình quân cao Đây là cấp trực tiếp giải quyết những vấn đề phát sinh của cuộc sống nên cần phải có những công chức
có đủ trình độ và năng lực Chất lượng hiệu quả công việc của mỗi CBCC đều
có ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc chung của tập thể, của đội ngũ CBCC, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội tại địa phương (Nguyễn Huy Thám, 2014)
1.1.1.3 Yêu cầu đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ
* Yêu cầu về năng lực của cán bộ, công chức: Năng lực là khả năng
của một người để làm một việc gì đó, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định Nói cách khác năng lực
là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện xác định Thông thường người ta chia năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ (Trần Hậu Thành, 2004)
Năng lực của cán bộ công chức không phải là năng lực bất biến, được
sử dụng trong mọi hoàn cảnh, môi trường Ở thời điểm hay môi trường này, năng lực được thể hiện, phát huy tác dụng, nhưng ở thời điểm khác thì cần phải có loại năng lực khác Mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau Người có năng lực tổ chức trong kháng chiến không có nghĩa là có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch
vụ giỏi trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường, cũng không có nghĩa là người đó cũng có khả năng trở thành một giáo viên ngay được Năng lực của CB, CC luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của
tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ Yêu cầu năng lực sẽ thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay
Trang 19đổi Năng lực không phải là bằng cấp, trình độ được đào tạo chính quy Trong một tổ chức có năng lực tồn tại những cá nhân chưa có năng lực công tác và ngược lại, có những cá nhân có năng lực công tác tồn tại trong tổ chức hoạt động kém hiệu quả Thông thường năng lực được phân thành 4 mức độ: Có thể thực hiện công việc khi được hướng dẫn, kèm cặp cụ thể thường xuyên; Thực hiện được công việc, nhưng thỉnh thoảng vẫn cần sự hướng dẫn; Có thể thực hiện tốt công việc một cách thành thạo, độc lập; Thực hiện công việc một cách thành thạo và có khả năng hướng dẫn được cho người khác
* Yêu cầu về phẩm chất đạo đức: Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối
với CB, CC, họ phải là người hết lòng trong công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư cách đúng đắn trong thực thi công vụ người CB, CC trước tiên phải có một lịch sử bản thân
rõ ràng, có một lý lịch phản ánh rõ ràng mối quan hệ gia đình và xã hội Nếu không xem xét kỹ điều đó sẽ dẫn đến việc tuyển dụng những con người thiếu
tư cách vào trong thực thi công vụ họ sẽ lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân
Trong công tác giáo dục con người nói chung cũng như CB, CC nói riêng Hồ Chí Minh coi trọng việc giáo dục cả tài và đức Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, công chức, bởi theo người đạo đức là cái “gốc” của con người, đức là cái gốc là rất quan trọng Khi một người đã là cán bộ thì tư cách đạo đức của họ không chỉ ảnh hưởng riêng đến bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến Đảng và nhân dân, nhất là những tính xấu, tính xấu của một người thường có hại cho người đó, tính xấu của cán bộ sẽ có hại cho Đảng, cho nhân dân người đã xác định “các
cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là đều gánh vác công việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền của Pháp, Nhật” cán bộ phải biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, lấy quyền lợi cuả nhân dân
Trang 20làm mục tiêu quan trọng nhất trong công việc: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” Điều quan trọng để CB,CC được dân tin yêu, ủng hộ không đơn thuần vì danh nghĩa mà chính là
ở chỗ CB,CC phải có đạo đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống của dân Tinh thần phục vụ nhân dân của CB,CC phải được thể hiện trong tác phong làm việc, muốn làm tốt việc lãnh đạo, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước CB,CC phải có tác phong gần dân, trọng dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân Ý thức phục vụ tận tụy nhân dân và đạo đức trong sáng là phẩm chất quan trọng nhất để CB,CC xứng đáng là công bộc - người đầy tớ của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm tới việc
ĐT, BD để hình thành những tư chất đặc thù cho cán bộ, người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo, khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn Cán bộ phải chí công vô tư, không được lợi dụng chức quyền để mưu lợi riêng, hoặc chia bè kéo cánh, làm việc vì ân oán cá nhân “mình là người làm việc công phải có công tâm, công đức, chớ đem của công dùng vào việc tư, chớ đem người tư làm việc công Việc gì cũng phải công bằng, chính trực, không nên
vì tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc Chớ vì bà con bầu bạn mà kéo vào chức nọ, chức kia Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình”
1.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã chủ trương: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ, công chức với chương trình, nội dung sát hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường Có chương trình kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cán bộ, cán bộ, công chức nhà
Trang 21nước” (Trần Xuân Bảo, 2015) Đảng ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán
bộ, công chức là việc làm thường xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi
mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trên cơ sở định hướng của các Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết Trung ương, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và chỉ đạo, triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc Từ những quy định về cán bộ, công chức, Nhà nước ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng
là nghĩa vụ, quyền lợi của cán bộ, công chức cần được thể chế hoá trong Pháp lệnh Cán bộ, cán bộ, công chức: “Cán bộ, cán bộ, công chức phải thường xuyên học tập để nâng cao trình độ… được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền nghiên cứu khoa học, sáng tác” (Chính Phủ, 2010) Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, Pháp lệnh còn quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với việc đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức: “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, cán bộ, công chức có trách nhiệm xây dựng quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao trình độ, năng lực cán bộ, cán
bộ, công chức”
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một phương tiện để đạt tới mục đích cuối cùng chứ bản thân nó không phải là mục đích cuối cùng Công tác đào tạo, bồi dưỡng theo như thường hiểu, bao hàm nhiều hoạt động giáo dục và phát triển chứ không chỉ là một phần của chương trình học tập kiến thức, kỹ năng Công tác đào tạo, bồi dưỡng là một bộ phận của chiến lược tổng thể quản lý nguồn nhân lực bao gồm lập kế hoạch và công tác quản lý cán bộ; các quy định nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, lương bổng, các sáng kiến quản
lý công việc và năng suất công tác; các mối quan hệ lao động trong cơ quan,
tổ chức v.v Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người cán bộ, công chức có đủ năng lực đáp ứng
Trang 22hoạt động quản lý, điều hành Đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục tiêu là truyền kiến thức cho người cán bộ, công chức Tuy vậy, hai thuật ngữ này có những tính chất, nội dung, phạm vi tồn tại và quy trình khác nhau
Đào tạo cán bộ cán bộ, công chức là quá trình truyền thụ khối lượng
kiến thức mới một cách có hệ thống để người cán bộ, công chức thông qua đó trở thành người có trình độ cao hơn trước đó Như đào tạo để cấp bằng lý luận chính trị cao cấp, đào tạo cử nhân hành chính và các chuyên gia đầu ngành Chương trình của đào tạo gắn liền với một trình độ học vấn ở một cấp độ nhất định, vì vậy sau một quá trình đào tạo mỗi người học được cấp bằng Đào tạo
là một quá trình thay đổi dạng hoạt động nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề nghiệp (bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với công việc phản ánh thông qua năng lực…) để phù hợp với những thay đổi môi trường Đào tạo phải gắn với những thay đổi môi trường, đáp ứng đòi hỏi của môi trường Ví như sự thay đổi cơ chế kinh tế, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế thời bao cấp phải được đào tạo lại theo chương trình phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Thông thường, đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới hoặc ở trình độ cao hơn
Bồi dưỡng cán bộ cán bộ, công chức là quá trình hoạt động làm tăng
thêm kiến thức mới cho những người đang giữ chức vụ, đang thực thi công việc của một ngạch, bậc nhất định để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao Khối lượng kiến thức, kỹ năng được quy định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối tượng cán bộ, cán bộ, công chức Kết quả của các khoá bồi dưỡng, người học sẽ nhận được chứng chỉ ghi nhận kết quả như: bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên hoặc bồi dưỡng chuyên đề, công tác chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ (Trần Xuân Bảo, 2015)
Trang 23Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được Nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực hiện
Hiện nay công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được triển khai theo kế hoạch, dưới sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan quản lý cán bộ, công chức ở Trung ương và địa phương Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được lấy từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác Ngoài những quy định chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của cơ quan có thẩm quyền, các cán bộ, công chức còn chủ động tự đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu cá nhân
1.1.2.2 Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Công tác ĐTBD CB, CC nhà nước là một yêu cầu khách quan, là đòi hỏi thường xuyên và liên tục của bất kỳ quốc gia nào muốn phát triển bền vững Có thể nói ĐTBD CB, CC nhà nước giữ vai trò trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính nhà nước Bởi hiệu lực hiêu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hành chính nói riêng suy cho cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và kết quả công tác của đội ngũ CB, CC, phẩm chất của đội ngũ CB, CC ngoài khả năng
và tinh thần tự học tập lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác ĐTBD thường xuyên kiến thức và kỹ năng thực hành cho họ Trong điều kiện đội ngũ CB,
CC nước ta hiện nay đa số được đào tạo trong thời kỳ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chưa được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn chức danh, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,
mở cửa hội nhập với khu vực và Thế giới, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, việc ứng dụng những thành tưu KHCN, nhất
là công nghệ tin học và hiện đại hóa nền hành chính công tác ĐTBD CB, CC
Trang 24trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Có thể khái quát vai trò của công tác ĐTBD
CB, CC qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Khái quát vai trò của công tác ĐTBD CB, CC
ĐTBD có vai trò quan trọng trong công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ CB, CC chuyên nghiệp, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, trung thành với nhà nước, tận tụy với công việc Kết quả mà mỗi công chức thu được sau mỗi khóa học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân họ mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị họ công tác
Như vậy khẳng định rằng quá trình đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bộ máy quản lý hành chính Nhàn nước, thể hiện khách quan những lợi ích mà nó đem lại:
- Duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước
- Nâng cao kết quả thực hiện công việc vì cán bộ quản lý qua đào tạo
sẽ quản lý và điều hành tổ chức các hoạt động hợp lý hơn
- Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức bộ máy công quyền của nhà nước
Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng
Trang 25- Tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào cơ quan Nhà nước
- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức
- Tạo dựng đội ngũ cán bộ, công chức giỏi, có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao
- Tham mưu, đề xuất, đưa ra các giải pháp hữu hiệu, góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương
và của chính cơ quan, đơn vị mình Đối với đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng:
- Tạo ra được sự gắn bó giữa đội ngũ cán bộ, công chức và cơ quan quản lý hành chính nhà nước
- Tạo ra tính chuyên nghiệp của mỗi cán bộ, công chức;
- Tạo ra sự thích ứng giữa mỗi cán bộ, công chức và công việc hiện tại cũng như tương lai; đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng phát triển của cán
bộ, công chức
- Tạo cho cán bộ, công chức có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của mỗi cán bộ, công chức trong công việc
1.1.2.3 Đặc điểm, nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
Với ý nghĩa là quá trình nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý,
bổ sung kiến thức, kỹ năng cho CBCC của UBND cấp xã, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã có những đặc điểm như sau:
Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là những cán bộ, công chức lãnh đạo được hình thành do bầu cử, tuyển dụng giữ vai trò lãnh đạo, quản lý, trực tếp làm việc đối với UBND cấp xã Do đó, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã với nhiều cương vị, trí trí công tác với những đặc thù khác nhau nên năng lực yêu cầu và thực tế khác nhau
Trang 26Đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã là quá trình mang tính chất thường xuyên, liên tục Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng đòi hỏi CBCC cấp xã luôn phải cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp quản lý, nên quá trình đào tạo, bồi dưỡng và bồi dưỡng không dừng lại ở một cấp độ (học hàm, học vị, chứng chỉ) mà việc đào tạo, bồi dưỡng phải liên tục, đáp ứng sự thay đổi trong chính sách, thời cuộc
Đội ngũ CBCC cấp xã có nhiệm vụ và quyền hạn tương ứng với từng loại xã, phường, thị trấn khác nhau, công việc giải quyết thực tiễn nhiều, phức tạp, do vậy, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng gặp khó khăn về địa điểm, thời gian, chương trình,…
Nguyên tắc của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: Công tác đào
tạo của bất cứ tổ chức nào cũng cần tuân theo những nguyên tắc nhất định Đối với mỗi tổ chức công thì việc đào tạo cán bộ, công chức phải tuân theo các quy định của Nhà nước Nghị định 101/2017/NĐ - CP (có hiệu lực ngày 21/10/2017) về đào tạo cán bộ, cán bộ, công chức đưa ra các nguyên tắc đào tạo cán bộ, công chức Trong đó:
- Đào tạo cán bộ, công chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và tiêu chuẩn ngạch công chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị
- Đề cao ý thức tự học và việc lựa chọn chương trình bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm của cán bộ, công chức
- Bên cạnh các nguyên tắc được đề cập trên, việc đào tạo cán bộ, công chức cũng cần tuân thủ các nguyên tắc:
- Hữu ích và kế thừa Nghĩa là đào tạo cán bộ, công chức phải phục vụ dài lâu cho công việc, khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa hình thức đào tạo, tăng cường tính tự giác của người học
Trang 27- Công khai, công bằng, cạnh tranh, chọn được người giỏi Việc lên kế hoạch và tổ chức đào tạo phải được lấy ý kiến, thông báo rộng rãi đến toàn thể cán bộ, công chức và tạo cơ hội để những công chức ở cùng vị trí việc làm
có thể tham gia đào tạo và việc đánh giá kết quả đào tạo phải chính xác, chi tiết giúp cho người giỏi được nhìn nhận đúng đắn
- Lý luận gắn với thực tế, học tập gắn liền với ứng dụng, coi trọng hiệu quả thiết thực; chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của cán bộ, công chức trong thực tiễn
- Đào tạo gắn với nhu cầu Nguyên tắc này thể hiện tính chủ động của
cơ quan, đơn vị trong quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong nhiều khâu, trong đó thể hiện cụ thể trong đào tạo và bồi dưỡng Đào tạo phải gắn với nhu cầu đơn vị và nhu cầu cá nhân cán bộ, công chức
1.1.3 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
Nội dung đào tạo CBCC được xác định dựa trên cơ những quy định về tiêu chuẩn CBCC theo từng ngạch bậc công chức, từng chức danh của công chức, nhằm xây dựng đội ngũ CBCC vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trên cơ nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của đào tạo CBCC, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng định hướng nội dung đào tạo CBCC Việc xác định nội dung đào tạo bao gồm các giai đoạn chính như sau:
1.1.3.1 Xây dựng kế hoạch và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp xã là bộ phận then chốt trong kế hoạch phát triển chất lượng đội ngũ CBCC địa phương Kế hoạch giúp định hướng hoạt động phát triển đội ngũ CBCC cấp xã trong dài hạn ở những vấn đề trọng điểm, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ở cấp độ thấp hơn, các kế hoạch phát triển lãnh đạo, quản lý cấp xã trung và ngắn hạn là sự phân kỳ hay chia
Trang 28nhỏ các mục tiêu, với các dự án chi tiết để chuyển hoá những mục tiêu đó thành hiện thực
Nội dung cơ bản đầu tiên trong công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp
xã là xây dựng kế hoạch Căn cứ vào các định hướng và mục tiêu trong chiến lược chung của tổ chức ở cùng kỳ, kết quả đánh giá chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội địa phương, cùng phân tích môi trường trong và ngoài nước liên quan tới đội ngũ CBCC cấp xã, là cơ sở để đề xuất các lựa chọn về kế hoạch thực hiện
Theo từng giai đoạn trung và ngắn hạn, các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã thực hiện các mục tiêu nhỏ và nối tiếp nhau để đi đến hoàn thành mục tiêu đã đề ra Muốn xây dựng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thì đơn vị cần xây dựng bản kế hoạch hoá nguồn nhân lực và lấy đó làm căn cứ thiết kế hệ thống các chương trình cho công tác đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp xã
Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã cũng cần lên được dự trù về kinh phí, các cam kết về thời hạn, cũng như định hình được các cách thức đo lường giúp đánh giá và kiểm soát quá trình đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo, quản
lý cấp xã Sau cùng, mọi kế hoạch trước khi được triển khai vào thực tế luôn cần sự phê chuẩn của tổ chức cũng như lãnh đạo
Việc xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là bước quan trọng trong nội dung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Xác định được mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cấp quản lý cán bộ, công chức cấp xã mới thiết lập được các hoạt động để nhằm đúng mục tiêu thực hiện Ngoài ra, có được mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng rõ ràng là cơ sở cho công tác đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng càng được định lượng, hợp lý bao nhiêu thì việc đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng sẽ chính xác tương ứng
Các mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã cũng giống các mục tiêu khác: Mục tiêu phải cụ thể (Ví dụ như hiệu quả công tác đào tạo,
Trang 29bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tăng lên thì cụ thể phải tăng lên bao nhiêu? So sánh với thời điểm nào? Cần bao nhiêu lâu, ngày, tháng, năm nào kết thúc? Bằng cách nào? ); mục tiêu đưa ra phải đo đếm được (Chẳng hạn như %; giờ, ngày, tháng;…) để đến khi kết thúc năm, kết thúc chương trình,
kế hoạch có thể xác định được ngay là đạt hay không đạt mục tiêu đề ra; mục tiêu đặt ra cần phải vừa đủ cao để có thể khai thác hết tiềm năng nhưng cũng phải thực tế ở mức độ có thể đạt được; mục tiêu đặt ra phải sát với năng lực
và phải thực tế, phù hợp với nguồn lực hiện có của cấp quản lý cả về vật lực
và nhân lực; mục tiêu đặt ra phải có hạn mức thời gian
Tóm lại: Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là nhằm xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, có phẩm chất và đạo đức cách mạng trong sáng, tác phong làm việc khoa học, hiệu quả Đảm bảo có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và có kiến thức phù hợp với nhiệm vụ công tác
1.1.3.2 Xác định nhu cầu và lựa chọn đối tượng đào tạo
Để thực hiện đào tạo trong một tổ chức được hiệu quả thì việc xác định nhu cầu đào tạo là hoạt động cần được thực hiện đầu tiên Nhu cầu đào tạo là
sự thiếu hụt khả năng thực hiện công việc của người lao động so với yêu cầu công việc của tổ chức
Việc xác định nhu cầu đào tạo là xác định khi nào, ở bộ phận nào; số lượng cán bộ, công chức cần phải đào tạo; đào tạo những kiến thức, kỹ năng chuyên môn nào; đánh giá, rút kinh nghiệm, góp ý cho những chương trình đào tạo lỗi thời, không còn phù hợp với tình hình mới
Theo đó, xác định nhu cầu đào tạo là một phần của quá trình đào tạo, là bước đầu tiên và quan trọng cần được quan tâm để làm cơ cho việc xây dựng
kế hoạch đào tạo Nếu ngay từ đầu xác định nhu cầu đào tạo đã không được thực hiện hoặc thực hiện một cách không chính xác thì các bước tiếp theo của đào tạo sẽ không thể nào thực hiện được mục tiêu đã đề ra
Trang 30Để xác định nhu cầu đào tạo, cần phải tiến hành phân tích tổ chức, phân tích con người và phân tích nhiệm vụ
Phân tích tổ chức: Phân tích tổ chức xem xét sự hợp lý của hoạt động
đào tạo trong mối liên hệ với kế hoạch phát triển của đơn vị, nguồn lực sẵn có (thời gian, tài chính, chuyên gia) của tổ chức, cũng như sự ủng hộ của những người lãnh đạo đối với hoạt động đào tạo trong tổ chức Trên căn cứ vào cơ cấu tổ chức, căn cứ vào các kế hoạch nhân lực tổ chức sẽ xác định số lượng, loại lao đông và loại kiến thức kỹ năng cần đào tạo Đó chính là việc xác định nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của tổ chức
Phân tích công việc và nhiệm vụ: Phân tích nhiệm vụ bao gồm việc xác
định các nhiệm vụ quan trọng và kiến thức, kỹ năng và hành vi cần phải được chú trọng để đào tạo cho cán bộ, công chức nhằm giúp họ hoàn thành công việc tốt hơn
Phân tích con người (phân tích cá nhân cán bộ, công chức): để xác định mức độ yếu kém về kết quả thực hiện do thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng, do thiếu động lực hay do thiết kế công việc chưa hợp lý, xác định những tiềm năng phát triển; xác định ai cần đào tạo, ai có thể phát triển; xác định mức độ sẵn sàng của cán bộ, công chức cho các hoạt động đào tạo
Như vậy, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là xác định sự khác nhau, sự chênh lệch giữa năng lực cần có trong tương lai và cái hiện có (hiệu
số của 2 mức độ này là sự thiếu hụt năng lực mà đào tạo cần đáp ứng) của mỗi vị trí công việc nhằm đưa ra những nội dung và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cần thiết cung cấp cho người được đào tạo, bồi dưỡng
Để hoàn thành được công việc và nâng cao năng suất lao động với hiệu quả lao động cao, thì tổ chức phải thường xuyên xem xét, phân tích kết quả thực hiện công việc hiện tại của viên chức thông qua hệ thống đánh giá công việc Để tìm ra những yếu kém, những thiếu hụt về khả năng thực hiện công việc của CBCC so với yêu cầu của công việc đang đảm nhận, với mục tiêu dự
Trang 31kiến đã định trước để tìm ra nguyên nhân dẫn đến những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng của viên chức so với yêu cầu của công việc, đó là cơ sở xác định nhu cầu đào tạo
Để xác định được đối tượng cán bộ, công chức cấp xã thực sự cần đào tạo, bồi dưỡng phải dựa vào các tiêu chuẩn như: kết quả đánh giá thực hiện công việc, phân tích công việc và kết quả kiểm tra giám sát tình hình thực hiện đào tạo, bồi dưỡng hàng năm để xác định nên đào tạo, bồi dưỡng đối tượng nào thuộc bộ phận gì và hình thức đào tạo, bồi dưỡng là gì: đào tạo, bồi dưỡng mới, đào tạo, bồi dưỡng lại và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ hoặc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng gì?
Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng dựa vào tình hình của kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và thực trạng trình
độ của bản thân CBCC cấp xã để quyết định nên đào tạo, bồi dưỡng với số lượng bao nhiêu và cơ cấu ra sao
1.1.3.3 Xây dựng chương trình và hình thức đào tạo, bồi dưỡng
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng là hệ thống các môn học và bài học được dạy, cho thấy những kiến thức nào, kỹ năng nào cần được dạy và dạy trong bao lâu Trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp đào phù hợp
Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung, cán bộ, công chức cấp
xã nói riêng diễn ra thường xuyên và có tính chất liên tục Thông thường, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã bao gồm các nội dung chính:
- Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị: Chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị, trung cấp lý luận chính trị trang bị cho công chức những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về lý luận chính trị thông qua các học phần trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng Người học được tiếp cận hệ thống các quan điểm khác nhau giúp xây dựng bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vận dụng lý luận chính trị vào điều hành, quản lý, giải quyết các
Trang 32vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công vụ Các nội dung đào tạo, bồi dưỡng được cụ thể hóa trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng như học viện chính trị, các trường chính trị trong hệ thống
- Đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước: chương trình đào tạo, bồi dưỡng QLNN
- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý gắn với tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý Đối với chức danh lãnh đạo quản lý nên tập trung vào việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng Thông thường các kỹ năng lãnh đạo quản lý dành cho nhóm đối tượng chức danh Bí thư, Chủ tịch, xã nên tập trung vào các nhóm: Tổng quan về cấp xã và lãnh đạo quản lý cấp xã; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở cấp xã; kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định của cán bộ, công chức cấp xã; kỹ năng chủ trì, điều hành cuộc họp của lãnh đạo quản lý cấp xã; kỹ năng xử lý tình huống khẩn cấp của cán bộ, công chức cấp xã; kỹ năng kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo quản lý cấp xã; kỹ năng tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo của lãnh đạo quản lý cấp xã; kỹ năng thuyết trình và trả lời chất vấn của lãnh đạo quản
lý cấp xã
Tùy theo đối tượng, nhu cầu thực tế mà nội dung đào tạo, bồi dưỡng
sẽ được cụ thể đối với từng loại cán bộ, công chức cấp xã, với chương trình
cụ thể, nhằm trang bị những kiến thức phù hợp vị trí, chức năng, nhiệm vụ công tác của cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo tính thiết thực, phù hợp Chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng do UBND tỉnh quyết định phê duyệt trên cơ sở kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã hàng năm
Các chương trình, tài liệu bồi dưỡng cập nhật kiến thức theo vị trí công việc được xây dựng chung cho tất cả các đối tượng cán bộ, công chức cấp xã Hàng năm, căn cứ vào định hướng và thực tế trên địa bàn xã, chế độ trong lĩnh vực QLNN, pháp luật, các đơn vị trên địa bàn xã để đề xuất biên soạn nội
Trang 33dung những vấn đề cần cập nhật về chính sách, chế độ để phổ biến cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng: Đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng ở trong nước: Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng trong nước bao gồm tập trung và bán tập trung Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng loại chương trình đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng và từng đối tượng để áp dụng hình thức thích hợp, từng bước áp dụng hình thức đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng qua mạng internet để tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng Địa điểm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thường là trường Cao đẳng cộng đồng, trường Chính trị các tỉnh, thành phố tùy theo chương trình
Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng khác Các hình thức này bao gồm: Tự học tập, bồi dưỡng hoặc đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng tại chỗ theo cách người đi trước hướng dẫn cho người đi sau; người có chuyên môn cao hướng dẫn kèm cho người có chuyên môn chưa cao; công chức có quá trình công tác lâu năm kèm cặp giúp đỡ cho công chức mới đi làm, coi đây là phương thức đào tạo, bồi dưỡng, bồi dưỡng quan trọng được đưa vào kế hoạch công tác hàng năm của đơn vị Đồng thời, các đơn vị còn thường xuyên
tổ chức các hội thảo chuyên đề mà chủ đề hội thảo bao hàm tất cả các vấn đề
từ lý thuyết đến trao đổi kinh nghiệm tại đơn vị và trong toàn ngành, từ kiến thức tổng hợp đến các kỹ năng, thao tác nghiệp vụ chuyên sâu
1.1.3.4 Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng
Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã cần trả lời các câu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp
để kết quả cao?
Do đó, để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã, cần phân tích kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã thành các công việc cụ thể: Từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệu tập học viên, in
Trang 34ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán
1.1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đào tạo, bồi dưỡng
Đánh giá hiệu quả đào tạo là hoạt động vô cùng quan trọng trong chuỗi quá trình đào tạo khép kín Đánh giá hiệu quả đào tạo là để xem các khóa đào tạo có đạt mục tiêu đề ra không, nội dung, chương trình có phù hợp hay không và học viên áp dụng được gì sau đào tạo Việc đánh giá hiệu quả đào tạo cũng nhằm phát hiện những lỗ hổng, sự bất hợp lý, phi thực tế của quá trình đào tạo, để từ đó nâng cao chất lượng đào tạo Theo Kirk Patrick: Đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua 4 cấp độ như sau:
1 Đánh giá phản ứng của người học: Họ đánh giá như thế nào về khóa đào tạo vào các thời điểm trước, trong, cuối khoá và vào những thời điểm sau đào tạo
2 Đánh giá kết quả học tập: Xem xem học viên đã tiếp thu những gì từ khóa học Kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ và đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra
3 Đánh giá những thay đổi trong công việc: xem người học áp dụng những điều đã học vào công việc như thế nào Những thay đổi đối với việc thực hiện công việc Kết quả thực hiện công việc và thái độ, hành vi có thay đổi theo hướng tích cực hay không
4 Đánh giá tác động, hiệu quả của đơn vị: Việc đào tạo có tác động, ảnh hưởng tới việc thay đổi kết quả hoạt động của đơn vị
Đây là mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo đang được sử dụng rộng rãi trong các cơ quan, tổ chức hiện nay Đối với hoạt động đào tạo cán bộ, công chức, việc sử dụng mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo của Kirk Partrick cần được vận dụng phù hợp để phản ánh chính xác hiệu quả đào tạo cán bộ, công chức
Trang 351.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
1.1.4.1 Cơ chế, chính sách về đào tạo và bồi dưỡng CBCC cấp xã
Chế độ, chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý
xã hội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của mỗi con người Vì vậy, chế độ chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cán
bộ chính quyền cấp xã Có thể nói trong tình hình hiện nay việc đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách đối với cán bộ, công chức nói chung, cán bộ chính quyền cấp xã nói riêng là khâu có tính đột phá Chế độ, chính sách đảm bảo lợi ích vật chất đối với đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã bao gồm: tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là một trong những yếu tố thúc đẩy sự tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân cũng là động lực, điều kiện đảm bảo để họ phấn đấu nâng cao trình độ, năng lực trong việc hoàn thành tốt công việc được giao
Hiện nay, các chính sách đào tạo, bồi dưỡng của nhà nước đối với cán
bộ chính quyền cấp xã có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao năng lực của
họ Đào tạo, bồi dưỡng là con đường để nâng cao kiến thức, trình độ cho đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã Ở đâu cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức đầy đủ, bài bản thì ở đó đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có kiến thức chuyên môn vững vàng và có năng lực trong giải quyết công việc Tuy nhiên, chất lượng của các khóa đào tạo còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: hệ thống các cơ sở đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên, chế độ chính sách cho người đi học, việc bố trí sắp xếp sau đào tạo
Thực tế trong thời gian qua, công tác này tuy có nhiều cố gắng nhưng chưa thực sự có hiệu quả Đào tạo, bồi dưỡng còn tràn lan, không theo quy hoạch, kế hoạch, chạy theo số lượng mà không quan tâm đến chất lượng, chưa
Trang 36cân đối giữa đào tạo và sử dụng, chưa quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ dự nguồn sau đào tạo Nội dung và chất lượng đào tạo (nhất là hệ tại chức) chưa cao; một số cán bộ, công chức cấp xã có hiện tượng học nhằm hợp thức hóa bằng cấp Việc đào tạo lại đội ngũ cán bộ cấp xã chưa được thực hiện đồng bộ
về mọi mặt, mới chỉ đào tạo về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý bồi dưỡng về kỹ năng quản lý điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là
xử lý những tình huống khó khăn ở cơ sở; phương thức đào tạo chưa đa dạng hóa, chưa tạo được động cơ học tập đúng đắn cho đội ngũ cán bộ (do cơ chế coi trọng bằng cấp) điều đó làm cho năng lực chỉ đạo, điều hành, nhất là việc
cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào tình hình cụ thể ở địa phương còn lúng túng, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề nảy sinh phức tạp theo thẩm quyền, tính tự chủ trong công việc còn hạn chế
Có thể nói rằng, cho đến nay chúng ta vẫn đang thiếu một chiến lược đào tạo
cơ bản cho đội ngũ cán bộ cấp xã
1.1.4.2 Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy
Đây là công cụ cơ bản có ảnh hưởng đến chất lượng bồi dưỡng Cơ sở vật chất tốt là điều kiện thuận lợi cho bồi dưỡng và ngược lại nếu trường, lớp không tốt, hoặc không có thì hạn chế rất lớn đối với hoạt động bồi dưỡng Thậm chí có thể không thực hiện được các hoạt động bồi dưỡng
Hiện nay, nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã tại các cơ sở bồi dưỡng đã quan tâm nhiều hơn đến trang thiết bị các phương tiện giảng dạy hiện đại như các phương tiện nghe nhìn, trang thiết bị phục vụ như máy chiếu, máy quay video, bảng lật, bàn ghế, các thiết bị âm thanh phục vụ việc thực hành các giáo án điện tử cũng như áp dụng các phương pháp sư phạm hành chính khác như phân nhóm, đóng vai thuyết trình, thảo luận
Nguồn tài chính là một trong những nhân tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả bồi dưỡng Trong những năm qua, các cơ sở bồi dưỡng đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc đầu tư kinh phí, trang thiết bị cơ sở vật
Trang 37chất, phương tiện dạy và học Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa việc đầu tư thích đáng có hiệu quả cho bồi dưỡng về nâng cấp trường lớp, tạo điều kiện nghiên cứu của giảng viên, học viên, thiết bị dạy và học hiện đại nhằm nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu thiết thực của dạy và học
Ngoài ra, việc tăng kinh phí hỗ trợ cho giảng viên, học viên trong quá trình bồi dưỡng cũng là vấn đề cần giải quyết Cần có cơ chế động viên kịp thời cho đội ngũ giảng viên, học viên thông qua các quy chế, chính sách nhằm phát huy cao độ tính tích cự của người học và dạy
1.1.4.3 Nhận thức của cán bộ, công chức về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Chất lượng bồi dưỡng phụ thuộc phần lớn vào nhận thức của đội ngũ công chức cấp xã, với trình độ nhận thức, động cơ, nhu cầu học tập đúng đắn
sẽ nâng cao chất lượng thực sự cho các khóa bồi dưỡng công chức Đây là yếu tố cơ bản, yếu tố nội tại bên trong mỗi con người, nhận thức đúng là tiền
đề là kim chỉ nam cho những hành động, việc làm đúng đắn và ngược lại
Nhận thức của đội ngũ CBCC đối với đào tạo là yếu tố cơ bản và quyết định tới các kết quả của hoạt động đào tạo Nếu mỗi CBCC đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc đào tạo, nó có tác dụng nâng cao trình
độ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của bản thân, học tập là để phục vụ chính họ trong việc nâng cao chất lượng thực hiện công việc; họ sẽ
có ý thức trong việc rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo một cách tích cực, ham mê và có hiệu quả hơn
Để hoàn thành tốt được nhiệm vụ thì CBCC phải có đủ trình độ, năng lực và vận dụng vào công việc Mặt khác, yêu cầu của công việc luôn đòi hỏi phải hoàn thành tốt hơn; từ đó đòi hỏi họ phải không ngừng học tập nhằm có những năng lực mới, kỹ năng mới Nếu CBCC xác định nhiệm vụ học tập là
để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kịp thời cập nhật những kiến thức mới nhằm hoàn thành một cách tốt nhất nhiệm vụ trong thời gian tới Như vậy, họ sẽ có thái độ tích cực khi tham gia các khóa đào tạo Hoạt động
Trang 38đào tạo CBCC cũng đạt được kết quả tốt Nếu đội ngũ CBCC cho rằng việc
đi đào tạo chủ yếu là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh hoặc để được đề bạt, bổ nhiệm, được chuyển ngạch cao hơn chứ chưa thực sự có mục đích học để nâng cao trình độ, phục
vụ cho công việc chuyên môn Họ sẽ có thái độ thờ ơ khi tham gia các khóa đào tạo Như vậy sẽ gây nên tình trạng lãng phí do đào tạo Tốn nhiều thời gian, kinh phí để cử CBCC tham gia đào tạo nhưng kết quả là sau khóa học
họ chẳng biết gì, năng lực làm việc không được cải thiện Mục tiêu và kết quả của hoạt động đào tạo sẽ không đạt được
1.1.4.4 Chất lượng chương trình, tài liệu bồi dưỡng
Xây dựng chương trình tài liệu bồi dưỡng là một công việc khó khăn và quan trọng trong hoạt động bồi dưỡng công chức cấp xã Nội dung, chương trình bồi dưỡng công chức cấp xã phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của từng
cơ quan, đơn vị, phục vụ cho quá trình thực thi công vụ cho công chức, do đó phải thiết thực, phù hợp với các đối tượng vùng miền, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành phải hợp lý
Chương trình, tài liệu bồi dưỡng cần tập trung giải quyết các vấn đề sau: Xây dựng cho công chức cấp xã trong lĩnh vực họ làm việc; Giúp công chức cấp xã thực thi công vụ đảm bảo nguyên tắc và đạt hiệu quả cao nhất; Giúp công chức quản lý các công việc một cách khoa học và hiệu quả; Giao tiếp hiệu quả bằng văn bản với cấp trên và cấp dưới; Phân tích các chính sách và các quá trình tác nghiệp và sử dụng những thông tin này vào việc xem làm thế nào tổ chức có thể thực hiện được mục tiêu đề ra và hành động như thế nào khi tổ chức gặp khó khăn; Quản lý các công việc thuộc nhiệm vụ chính thức và không chính thức mà công chức cấp xã phải thực hiện trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Do vậy, các chương trình, tài liệu bồi dưỡng cập nhập kiến thức cho công chức cấp xã cần căn cứ vào định hướng và thực tế trên địa bàn xã, chế
Trang 39độ trong lĩnh vực quản lý nhà nước, pháp luật, các đơn vị trên địa bàn xã đề xuất biên soạn nội dung phù hợp với địa phương, đối tượng cần bồi dưỡng
1.2 Cơ sở thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương về đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã
1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Yên Thế, Bắc Giang
Huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang trong những năm qua để từng bước
nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, huyện đã triển khai rất nhiều biện pháp:
Cụ thể hóa Nghị quyết, chỉ đạo của cấp trên về quá trình thực hiện các công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, điều động luân chuyển, đào tạo công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã; đảm bảo tuân thủ triệt để nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, khách quan
Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ công chức cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần giác ngộ cách mạng cao, có ý thức phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Quan tâm triển khai đồng bộ công tác quy hoạch từ xã, thị trấn đến huyện theo nguyên tắc phương án quy hoạch cán bộ phải đáp ứng được mục đích yêu cầu của cán bộ quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tế và yêu cầu phát triển của địa phương Mỗi chức danh quy hoạch từ 2-3 người Thường xuyên rà soát quy hoạch để kịp thời điều chỉnh bổ sung quy hoạch Trên cơ sở đánh giá đúng trình độ năng lực của đội ngũ công chức cấp xã làm tốt công tác bổ nhiệm, điều động công chức
Quan tâm tới việc nâng cao trình độ văn hóa chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho đội ngũ công chức cấp xã Xây dựng kế hoạch đào tạo cho
cả nhiệm kỳ 5 năm theo hướng lĩnh vực nào, bồi dưỡng lĩnh vực đó Hàng
Trang 40năm huyện chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài tỉnh tiến hành công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận cho đội ngũ công chức cấp huyện và xã
Huyện Yên Thế đã có giải pháp mới, yêu cầu các xã cử cán bộ công chức tham gia học việc ba tháng tại các phòng, ban, cơ quan của huyện Mỗi tuần học việc ba ngày, các ngày còn lại, cán bộ công chức xã thực hành ứng dụng ngay kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng theo phân công công tác Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có công chức xã lên học việc cử cán bộ công chức
có năng lực trực tiếp hướng dân, truyền đạt kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn Cán bộ hướng dẫn thực hiện chế độ nhận xét, đánh giá hàng tháng đối với cán bộ đến bồi dưỡng Với chương trình này, đã có gần 200 cán
bộ công chức xã được học việc Thực tế khẳng định hầu hết số cán bộ được tập huấn, bồi dưỡng đều áp dụng được các kiến thức, kỹ năng học vào công việc hàng ngày
Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là trụ sở làm việc của các xã; ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các xã, trong đó quan tâm các địa bàn vùng cao, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
Làm tốt công tác đánh giá cán bộ công chức cấp xã hàng năm trên cơ
sở tự phê bình và phê bình, quá trình thực hiện đảm bảo tính công bằng, khách quan xác định chính xác kết quả làm việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cán bộ công chức cấp xã Chú trọng việc lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ công chức cấp xã
1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI)
về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn nói riêng của tỉnh Nghệ An đã được củng cố, kiện toàn, chất lượng được nâng lên rõ rệt