1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện kim bôi, tỉnh hòa bình

115 241 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

còn thấp, gây lãng phí; chi thường xuyên cho các đơn vị sử dụng ngân sách còn vượt dự toán bên cạnh đó lại phải chấp hành những quy định mang nặng tính thủ tục hành chính, gò bó bởi chín

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên

cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận

đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hòa Bình, ngày …tháng 11 năm 2017

Người cam đoan

Bùi Thị Hiền

Trang 2

Qua đây tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo PGS.TS Trần Hữu Dào, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Sau đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục Thuế, Kho Bạc nhà nước huyện Kim Bôi đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bài luận văn này

Hòa Bình, ngày tháng 11 năm 2017

Học viên thực hiện

Bùi Thị Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ THU-CHI NGÂN SÁCH HUYỆN 6

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách cấp huyện 6

1.1.1 Những vấn đề chung về ngân sách nhà nước 6

1.1.2 Quản lý ngân sách huyện: 14

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu-chi ngân sách của cấp huyện 28

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu – chi ngân sách cấp huyện 29

1.2.1 Một số chính sách về quản lý thu – chi ngân sách huyện 29

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý thu – chi ngân sách huyện 31 1.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 37

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Đặc điểm huyện Kim Bôi 39

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 46

Trang 4

2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 46

2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thu – chi ngân sách nhà nước 47 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

3.1 Thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý thu – chi ngân sách trên địa bàn huyện Kim Bôi 50

3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tài chính – Kế hoạch 50

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục thuế huyện Kim Bôi 53

3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc nhà nước huyện Kim Bôi: 56

3.2 Thực trạng công tác quản lý thu - chi NSNN huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014- 2016 59

3.2.1 Tình hình lập dự toán thu – chi ngân sách địa phương 59

3.2.2 Tình hình chấp hành dự toán thu - chi ngân sách địa phương 65

3.2.3 Tình hình thực hiện quyết toán thu - chi NSĐP 71

3.2.4 Tình hình công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thu - chi NSNN tại huyện 74

3.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu- chi NSNN và các nhân tố ảnh hưởng trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 77

3.3.1 Kết quả đạt được 77

3.3.2 Những hạn chế, bất cập 79

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 82

3.3.3.1 Nguyên nhân khách quan: 82

Do nguồn thu được phân cấp, điều tiết nhỏ và chỉ tiêu kế hoạch gia tăng, nhu cầu chi lại lớn, nhất là lĩnh vực quốc phòng, chi sự nghiệp văn hoá, dẫn đến khó khăn trong cân đối NS 82

Là huyện miền núi với nhiều xã thuộc vùng ATK do đó việc phát triển kinh tế du lịch và thương mại thấp dẫn đến nguồn thu NSNN thấp 82

3.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan: 82

Trang 5

3.3.4 Đánh giá công tác thu - chi ngân sách nhà nước của các đối tượng khảo

sát 84

3.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng: 87

3.3.5.1 Tổ chức bộ máy và trình độ của cán bộ 87

3.3.5.2 Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý ngân sách cấp huyện 87

3.3.5.3 Cơ chế quản lý tài chính 88

3.4 Giải pháp Hoàn thiện công tác quản lý thu – chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 89

3.4.1 Hoàn thiện công tác thu NSNN 89

3.4.3 Hoàn thiện công tác chấp hành chi NSĐP 91

3.4.4 Hoàn thiện công tác quyết toán chi NSĐP 92

3.4.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý NSĐP 93

3.4.6 Một số kiến nghị 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Kết quả giao dự toán thu NSNN qua các năm 2014 - 2016 61

3.2 Kết quả phân bổ dự toán chi NSNN qua các năm 2014 - 2016

3.3 Tổng hợp thực hiện thu ngân sách nhà nước qua các năm

3.4 Kết quả TH chi NSNN tại huyện Kim Bôi các năm 2014-

3.5 Kết quả thẩm tra quyết toán ngân sách từ năm 2014- 2016 của

3.6 Kết quả thực hiện báo cáo quyết toán tại huyện Kim Bôi các

năm 2014- 2016 73

3.7 Kết quả đánh giá về cơ sở vật chất kỹ thuật 84

3.8 Đánh giá của đối tượng điều tra về bộ máy quản lý ngân sách

3.1 Sơ đồ tổ chức của phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Kim

Bôi

52

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước, là công cụ điều tiết vĩ

mô nền kinh tế – xã hội, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Vai trò của ngân sách Nhà nước được thay đổi trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định, và hiện nay trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của ngân sách Nhà nước

ngày càng quan trọng hơn, thể hiện: Thứ nhất, ngân sách Nhà nước có vai trò huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thứ hai, ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Thứ ba, ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng phát triển sản xuất Thứ tư, ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập

giữa các tầng lớp dân cư Do đó, cần có sự quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với việc huy động và sử dụng ngân sách Nhà nước nhằm phát huy vai trò của ngân sách Nhà nước trong điều hành kinh tế vĩ mô

Từ năm 2002, sự ra đời của Luật ngân sách Nhà nước đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực quản lý ngân sách Nhà nước ở nước ta: Nền tài chính được quản lý thống nhất trên toàn quốc, nâng cao tính chủ động

và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính

Năm 2015 Luật Ngân sách Nhà nước tiếp tục được hoàn thiện hơn, chi tiết hơn, chặt chẽ hơn bằng việc ra đời Luật ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 quy định việc lập, chấp hành, kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Trang 9

có liên quan trong lĩnh vực ngân sách nhà nước Thay thế Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, lĩnh vực quản lý ngân sách Nhà nước vẫn còn bộc lộ những hạn chế, đó là: Chưa bao quát được hết nguồn thu, còn thất thu và bỏ sót nguồn thu, số thu chưa tập trung kịp thời vào ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước ; tình trạng phân bổ ngân sách, điều hành ngân sách đôi khi vẫn còn tuỳ tiện; việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tài sản công còn lãng phí… Chính vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý ngân sách Nhà nước có vai trò to lớn trong hệ thống tài chính, là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Kim Bôi là một huyện miền núi thuộc diện khó khăn của tỉnh Hòa Bình

và được thành lập năm 1959 Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân huyện đã nỗ lực vượt qua khó khăn dành được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên 7,2%/năm, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm trên 80% tổng giá trị sản xuất Cùng với các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, công tác quản lý ngân sách huyện Kim Bôi đã đạt được nhiều kết quả ghi nhận, góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện: Thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước, quản lý chi ngân sách được thực hiện tương đối chặt chẽ, chi ngân sách cơ bản đáp ứng các nhu cầu về an sinh xã hội tại địa bàn Tuy nhiên, công tác quản lý ngân sách của huyện vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định: Tốc độ tăng thu ngân sách không đồng đều, độ bền vững thấp; phần lớn ngân sách còn phụ thuộc từ nguồn bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên; Thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nguồn thu ngân sách còn hạn chế … Công tác quản lý chi ngân sách đạt hiệu quả chưa cao; chi đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả đầu tư

Trang 10

còn thấp, gây lãng phí; chi thường xuyên cho các đơn vị sử dụng ngân sách còn vượt dự toán bên cạnh đó lại phải chấp hành những quy định mang nặng tính thủ tục hành chính, gò bó bởi chính sách chế độ, tiêu chuẩn; tính năng động và tích cực của đơn vị sử dụng ngân sách chưa được phát huy, tâm lý ỷ lại còn phổ biến; năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn còn bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc… Do đó, để khắc phục các bất cập, hạn chế trên cũng như đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách theo tinh thần Luật ngân sách Nhà nước được sửa đổi, bổ sung 2015, việc tăng cường công tác quản lý thu – chi ngân sách của huyện Kim Bôi là một nhiệm vụ luôn được quan tâm cả về thực tiễn và lý luận, là một yêu cầu cấp thiết

Từ những nội dung đã nêu trên, tôi lựa chọn thực hiện đề tài “ Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu - chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình” làm đề án tốt nghiệp cao học Quản lý kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thu - chi ngân sách nhà

nước, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà

nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

Trang 11

ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác quản lý thu-chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

4- Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước, quản lý thu - chi

ngân sách huyện

- Thực trạng công tác quản lý thu-chi ngân sách nhà nước tại huyện

Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

- Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu-chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

- Giải pháp Hoàn thiện công tác quản lý thu - chi sách nhà nước đối

với huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

Trang 12

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn được chia thành 3 chương (Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục các biểu, các tài liệu nghiên cứu) với nội dung các chương như sau:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và quản lý thu – chi ngân sách huyện

Chương II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương III: Kết quả nghiên cứu

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

VÀ QUẢN LÝ THU-CHI NGÂN SÁCH HUYỆN 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách cấp huyện

1.1.1 Những vấn đề chung về ngân sách nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước

1996, nhưng hoàn toàn khác biệt so với Luật NSNN năm 2002 [15]

Theo đó, thứ nhất, Luật NSNN năm 1996 quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (có cụm từ “dự toán”); [15] Thứ hai, Luật NSNN năm 2002 (thay thế Luật NSNN năm 1996) quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (không có cụm từ “dự toán”); [15]

Thứ ba, Luật NSNN năm 2015 (thay thế Luật NSNN năm 2002) quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm

Trang 14

quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (có cụm từ “dự toán”) [15]

NSNN là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động thu (tạo lập) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là nhà nước với một bên là các chủ thể xã hội (các cá nhân, đơn vị, tổ chức chính trị xã hội,… thụ hưởng NSNN) trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thái giá trị Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, NSNN chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể được hưởng nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

* Đặc điểm chung về NSNN:

NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công

cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn

đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:

- Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một

bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt

và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ

- Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm

Trang 15

mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các

tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư

- Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện Chính

vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước Quốc hội

mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị

- Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia

Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh

tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các

tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

- Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư,

Trang 16

quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có) Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân [14]

* Vai trò của NSNN:

Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Ngân sách nhà nước được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách nhà nước có các vai trò như sau:

- Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây

là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào,

cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện

- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa

Trang 17

phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối Do đó,

để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải

sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời , trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát

- Ngân sách Nhà nước là công cụ định huớng phát triển sản xuất

Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công

cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành

cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước

có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư

Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được

Trang 18

nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp

Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của Ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế [14]

1.1.1.2 Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động bởi nhiều yếu tố

mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức phù hợp với hệ thống hành chính Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổchức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó ngân sách địa phương bao gồm các cấp ngân sách: ngân sách thành phố (hay tỉnh), ngân sách quận (huyện) , ngân sách xã (phường)

Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung và dân chủ, thể hiện:

- Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách

- Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng Ngân sách cấp dưới

Trang 19

chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình

- Tính dân chủ: Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình

Theo Luật NSNN năm 2015 quy định, hệ thống NSNN ở Việt Nam gồm: Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó:

- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị

xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;

- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấn;

- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể

Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm

vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Luật này

Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình

độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn [20]

Trang 20

Trong hệ thống NSNN của nước ta hiện nay thì NSTW chi phối phần lớn các khoản thu và chi quan trọng Còn NSĐP được giao nhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương Trong đó quan hệ giữa các cấp

NS trong hệ thống NSNN tuân thủ các nguyên tắc:

- Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho NSTW và NSĐP Thực hiện

- Phân chia theo tỷ lệ phần trăm các khoản thu giữa các cấp NS Thực hiện bổ sung NS cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng phát triển cân đối giữa các vùng và các địa phương Số bổ sung này là khoản thu NS cấp dưới Tỷ lệ phần trăn phân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấp dưới ổn định trong vòng 5 năm (gọi chung là thời kỳ ổn định NS ) Chính phủ trình Quốc Hội thời kỳ ổn định NS giữa NSTW và NSĐP UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định NS giữa các cấp NSĐP

- Trong thời kỳ ổn định NS các địa phương được phép sự dụng nguồn tăng thu cho NSĐP (phần mà NSĐP được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn quản lý, sau mỗi thời kỳ ổn định NS phải tăng khả năng tự cân đối phát triển NSĐP thực hiện giảm dần số lượng bổ sung của cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên

Trong trường hợp cơ quan quản lý NN cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó

UBND các cấp được sử dụng nguồn NS của mình đề hỗ trợ cho các đơn

vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp: Khi xảy ra thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy động nguồn lực để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế xã hội [20]

Trang 21

1.1.2 Quản lý ngân sách huyện:

1.1.2.1 Khái niệm quản lý thu - chi ngân sách nhà nước

Quản lý NSNN là quá trình tác động của chủ thể quản lý NSNN thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản

lý để tác động và điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được mục tiêu đã

định

Quản lý thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, do đó đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để bắt buộc chủ thể kinh tế phải tuân thủ thực hiện theo pháp luật Quản lý thu NSNN được thực hiện theo pháp luật và dự toán Quá trình thực hiện thu và quản lý thu NSNN là một hệ thống gồm nhiều cơ quan chức năng khác nhau như: cơ quan thuế, cơ quan ban hành chính sách thu, cơ quanquản lý quỹ

Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu

cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân sách Nhà nước

và được tổ chức theo một cơ cấu nhất định.Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân sách Nhà nước được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nước Đối với Việt Nam, trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và luật ngân sách Nhà nước, ngân sách Nhà nước Việt Nam bao gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương Ngân sách Nhà nước là một thể thống nhất gồm nhiều cấp ngân sách, mỗi cấp ngân sách chịu sự ràng buộc bởi các chế độ thể lệ chung vừa có tính độc lập tự chịu trách nhiệm thì phân cấp ngân sách Nhà nước được hiểu là phân định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích của các cấp chính quyền Nhà nước trong quản lý ngân sách Nhà nước

Trang 22

Ngân sách huyện là quỹ tiền tệ tập trung của huyện được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện

Ngân sách cấp huyện là một bộ phận cấu thành của Ngân sách địa phương Việc quản lý NSNN cấp huyện phải tuân thủ theo các nguyên tắc quản lý chung trong quản lý Ngân sách của Nhà nuớc và do các cơ quản quản

lý nhà nuớc thực hiện, trong đó các cơ quan quản lý nhà nuớc cấp huyện đống vai trò chủ đạo Như vậy, có thể đi đến khái niệm chung nhất về quản lý thu NSNN cấp huyện như sau: Quản lý thu NSNN cấp huyện là chuỗi các hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương trợ nhau nhằm làm cho hoạt động quản lý thu NSNN cấp huyện được thực hiện có hiệu quả [16]

1.1.2.2 Quản lý thu ngân sách cấp huyện:

a Khái niệm quản lý thu ngân sách cấp huyện:

Là quá trình tạo lập, hình thành ngân sách huyện, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách huyện Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệu quả, tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằm huy động nguồn thu vào cho ngân sách [16]

b Mục tiêu quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện:

Quản lý thu NSNN là quá trình nhà nước vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng các phương pháp tác động đến các hoạt động thu ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu của ngân sách nhà nước Mục tiêu của quản lý thu NSNN cấp huyện bao gồm hai mục tiêu cơ bản sau:

- Nhằm điều hành ngân sách nhà nước linh hoạt, đảm bảo nguồn thu để phục vụ chi ngân sách cấp huyện

- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện Đảm bảo tính hệ thống, tính đầy đủ, kịp thời, tính chính xác của các khoản thu vào ngân sách nhà nước

Trang 23

- Quản lý thu NSNN nhằm bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cấp huyện, các kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của Nhà nước cấp huyện Bên cạnh đó, việc quản lý thu NSNN còn đảm bảo sự họat động có hiệu quả trong tổ chức thu NSNN, đảm bảo công tác thu NSNN đuợc vận hành theo đúng quy định của Pháp luật, tránh các hiện tượng tiêu cực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tận thu những cũng đem lại lợi ích, sự phát triển cho các đối tượng nộp ngân sách phát triển qua đó nuôi dưỡng nguồn thu

- Thông qua quản lý thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn

- Quản lý Thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội Thông qua công cụ thuế, Nhà nước đánh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng… [25]

c Yêu cầu trong hoạt động quản lý thu ngân sách Nhà nước

Thứ nhất, ban hành hệ thống thể chế về thu NSNN Hoạt động quản lý thu NSNN đầu tiên mà mỗi Nhà nước cần thực hiện là tiến hành xây dựng hệ thống thể chế thu NSNN Thể chế quản lý thu NSNN là những quy định, chuẩn mực làm cơ sở pháp lý cho việc thu NSNN và quản lý thu NSNN Thể chế quản lý thu NSNN bao gồm Hiến pháp, các bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác của Nhà nước về thu NSNN Trong đó, các bộ luật điều chỉnh thu NSNN như Luật NSNN, các luật thuế và các luật khác liên quan tới thu NSNN có ý nghĩa rất quan trọng Trong các thể chế quản lý thu NSNN trước hết là Luật NSNN, các nguồn thu cũng như các

Trang 24

nguyên tắc thu, cơ chế, chính sách thu NSNN được quy định rõ ràng và cụ thể Quốc hội (2002) khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt [25]

d Nội dung quản lý thu NSNN:

(1) Lập dự toán thu NSNN

- Yêu cầu đối với lập dự toán thu NSNN: Phải bám sát tình hình thu thực

tế tại các đơn vị, phân tích, khai thác được tối đa các khoản thu; Phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu; phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định;

- Căn cứ lập dự toán thu NSNN: (i) Nhiệm vụ phát triển KT-XH, thu phấn đấu giao năm sau cao hơn năm trước nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh

tế tại địa phương

HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thucho từng cấp NS sách của chính quyền địa phương theo các nguyên tắc: Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ KT-XH, đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng và trình độ quản lý của địa phương; [22]

(2) Chấp hành dự toán thu NSNN

Sau khi UBND giao dự toán NS, các đơn vị dự toán căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương tiến hành đưa ra các biện pháp để đảm bảo nguồn thu tại đơn vị mình [22]

(3) Báo cáo quyết toán thu NSNN

Nguyên tắc thực hiện báo cáo quyết toán thu NSNN: Số liệu trong báo cáo quyết toán NS phải chính xác, trung thực, đầy đủ; Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp I gửi phòng Tài chính- Kế hoạch huyện; Báo cáo quyết toán năm gửi cấp

có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của KBNN huyện về tổng số và chi tiết; Báo cáo quyết toán NS của các đơn vị dự toán và của cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu; KBNN

Trang 25

huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện để lập báo cáo quyết toán

Trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo thu, chi NSNN năm đối với đơn vị

dự toán theo quy định Trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN năm của NS các cấp chính quyền theo quy định [22]

(4) Kiểm tra, thanh tra thu NSNN

Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý NS và phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình Nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính đối với việc quản lý và

sử dụng NS được quy định trong văn bản riêng của Chính phủ [22]

1.1.2.3 Quản lý chi NSNN cấp huyện (NSĐP)

a Khái niệm quản lý chi NSĐP:

Là quá trình quản lý sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với

quá trình sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước; là quá trình tác động của chủ thể NS ở địa phương lên các đối tượng quản lý là tiền tệ, các công cụ và nguồn lực tài chính, các đơn

vị sử dụng NS ở địa phương để đạt được kết quả về chi NSĐP và hoàn thành các mục tiêu phát triển KT-XH đã đặt ra trong một khoảng thời gian xác định

(năm NS hoặc giai đoạn phát triển KT- XH của địa phương)

Quản lý chi NSĐP là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước địa phương, đã được dự toán bởi Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp

và được thực hiện trong một năm NS để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và địa phương đề ra [16]

b Mục tiêu, nguyên tắc và yêu cầu quản lý chi NSĐP

Trang 26

* Mục tiêu quản lý chi NSĐP: (1) Chi NSĐP phải gắn liền với các nhiệm vụ chính trị, xã hội mà mỗi cấp trong chính quyền địa phương được phân cấp quản lý nhằm duy trì được bộ máy nhà nước ở địa phương đồng thời thực hiện các nhiệm vụ KT- XH của các cấp địa phương; (2) Thực hiện việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa việc động viên nguồn lực cho NSNN với việc đảm bảo tích tụ vốn cho doanh nghiệp, dân cư trong phát triển sản xuất kinh doanh; (3) Phân phối NSNN phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh, trong chi tiêu dùng và tập trung vốn cho đầu tư phát triển; (4) Đảm bảo việc cân đối vững chắc, tích cực cho NSNN trên cơ sở đảm bảo cân đối giữa nhu cầu và khả năng, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tích tụ và tập trung, giữa vốn trong nước và vốn ngoài nước, đồng thời, phải đảm bảo việc

dự trữ, dự phòng NSNN ở mức cần thiết để chủ động thực hiện các nhiệm vụ cấp thiết, đột xuất của Nhà nước [24]

* Nguyên tắc cơ bản trong quản lý chi NSĐP

- Tính trách nhiệm: Trách nhiệm giải trình về các hoạt động NS, lường trước được các tác động có thể xảy ra khi đưa ra các quyết định về NS Tính trách nhiệm được xem xét trên hai khía cạnh cơ bản là trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội Do vậy, cần phải có sự phân định rõ ràng trong quyền hạn, trách nhiệm của từng

cơ quan trong bộ máy Nhà nước địa phương đối với chi NSNN

- Tính minh bạch: Mọi thông tin về chi NS đều phải được công khai hóa, đảm bảo cho mọi tầng lớp dân cư có thể tham gia theo dõi và giám sát các hoạt động chi NS, đồng thời, thông tin về chi NS phải được công bố kịp thời,

dễ hiểu và đáng tin cậy

- Tính tiên niệu: Mọi đạo luật hay quy định về chi NS phải rõ ràng, có báo trước và được thực thi một cách thống nhất, có hiệu lực tạo cơ sở định

Trang 27

hướng chiến lược cho các cơ quan công quyền, khu vực tư nhân,… trong việc giải quyết các hoạt động của mình một cách hiệu quả

- Đảm bảo có sự tham gia của xã hội: Sự tham gia của người dân được thực hiện trong suốt chu trình NS, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý

NS, tạo điều kiện để NS minh bạch hơn, các thông tin NS trung thực, chính xác hơn Đồng thời, việc tăng cường sự tham gia của người dân sẽ tạo điều kiện thực hiện giám sát của người dân, của xã hội đối với các hoạt động của Nhà nước [24]

* Yêu cầu quản lý chi NSĐP:

Thứ nhất, chi NSĐP của mỗi cấp có hiệu quả phù hợp với trình độ quản

lý, đặc điểm KT- XH của mỗi cấp chính quyền địa phương của mỗi nhiệm vụ được phân cấp thực hiện, phải xây dựng được các chỉ tiêu, chỉ số cả định tính

và định lượng để xây dựng được các định mức chi cụ thể cho từng cấp NS, các ngành, các lĩnh vực khác nhau; [20]

Thứ hai, thực hiện chi NSĐP phải đảm bảo đúng dự toán, đúng nội dung

định mức và đúng đối tương, đồng thời, phải thực hành tiết kiệm có hiệu quả [20]

c Nội dung quản lý chi NSĐP

(1) Lập dự toán chi NSĐP

- Yêu cầu đối với lập dự toán NS huyện: Phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển; phải lập theo đúng yêu cầu, nội dung, biểu mẫu và thời gian quy định; phải kèm theo báo cáo thuyết minh; dự toán NS cấp huyện và xã, thị trấn phải cân bằng thu, chi [22]

- Căn cứ lập dự toán NSĐP: (i) Nhiệm vụ phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng an ninh, các chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch; (ii) Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu, định mức phân bổ NS, chế độ, tiêu chuẩn,

Trang 28

định mức chi NS do cấp có thẩm quyền quy định; (iii) Quy định về phân cấp quản lý KT- XH, phân cấp quản lý NS; (iv) Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ NS cấp tỉnh đã được giao Đối với năm đầu thời kỳ ổn định NS, căn cứ vào chế độ phân cấp NS và dự toán thu, chi

NS huyện do UBND tỉnh giao; (v) Sổ kiểm tra về dự toán NS do Sở Tài chính thông báo; (vi) Tình hình thực hiện dự toán NS một số năm trước [22]

Theo Điều 33- Luật NSNN, chi NSĐP gồm: (1) Chi đầu tư phát triển; (2) Chi thường xuyên; (3) Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư xây dựng khi nguồn NS vượt quá khả năng cân đối của NS cấp tỉnh năm dự toán thì được huy động vốn trong nước và phải cân đối hàng năm để trả nợ; (4) Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh; (5) Chi bổ sung cho NS cấp dưới; (6) Chi chuyển nguồn NSĐP năm trước sang NSĐP năm sau [22]

HĐND cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp NS sách của chính quyền địa phương theo các nguyên tắc: Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ KT-XH, quốc phòng- an ninh đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng và trình độ quản lý của địa phương; Phải phân cấp nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông thuộc hệ thống giáo dục- đào tạo quốc dân các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác cho huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào quy hoạch, chương trình dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền, ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, phải căn cứ vào hệ thống chi tiêu, định mức đã được quy định; đối với chi trả nợ thì phải căn cứ vào nghĩa vụ trả nợ của năm dự toán [22]

(2) Chấp hành dự toán chi NSĐP

Trang 29

Sau khi UBND giao dự toán NS, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân

bổ và giao dự toán chi NS cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc Dự toán chi đầu tư phát triển giao cho chủ đầu tư được phân bổ theo nguồn vốn và dự án, công trình

Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển của NS huyện bao gồm: Nguyên tắc quản lý theo dự toán; Nguyên tắc hồ sơ, tài liệu, thủ tục của dự toán; Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả; Nguyên tắc chi trực tiếp kiểm soát qua Kho bạc nhà nước (KBNN) [22]

(3) Báo cáo quyết toán chi NSĐP

Số liệu quyết toán NSNN gồm: Số quyết toán thu, chi NSNN là số liệu thu, chi đã thực hiện hạch toán thu, chi NSNN qua KBNN [24]

Nguyên tắc thực hiện báo cáo quyết toán chi NSĐP: Số liệu trong báo cáo quyết toán NS phải chính xác, trung thực, đầy đủ; Báo cáo quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp I gửi phòng Tài chính- Kế hoạch huyện; Báo cáo quyết toán năm gửi cấp

có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của KBNN huyện về tổng số và chi tiết; Báo cáo quyết toán NS của các đơn vị dự toán và của cấp chính quyền địa phương không được quyết toán chi lớn hơn thu; KBNN huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện để lập báo cáo quyết toán [24]

Trình tự lập, gửi, xét duyệt báo cáo thu, chi NSNN năm đối với đơn vị

dự toán theo quy định Trình tự lập, thẩm định, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN năm của NS các cấp chính quyền theo quy định [24]

(4) Kiểm tra, thanh tra chi NSĐP

Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý NS và phải chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra của mình Nhiệm

Trang 30

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thanh tra tài chính đối với việc quản lý và

sử dụng NS được quy định trong văn bản riêng của Chính phủ [24]

1.1.2.4 Nguyên tắc cơ bản về quản lý thu - chi ngân sách huyện:

a Nguyên tắc công khai minh bạch

NSNN phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm Nguyên tắc công khai của NSNN được thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu trình NSNN [14]

và đảm bảo tính minh bạch của các tài khoản thu, chi Nguyên tắc này là cơ

sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của Chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa phương Nguyên tắc này đòi hỏi: NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống,các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch NS; không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi NSNN; không được phép lập quỹ đen, NS phụ [14]

c Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NS:

Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của NN Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của NN

là thông qua hoạt động thu - chi của NSNN Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN được thể hiện: Mọi khoản thu - chi của NSNN phải tuân thủ

Trang 31

theo những quy định của Luật NSNN và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các khâu trong chu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực

NN Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế, xã hội của Huyện Hoạt động kinh tế, xã hội của Huyện là nền tảng của hoạt động NSNN cấp Huyện Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh

tế, xã hội [14]

d Nguyên tắc cân đối NS:

Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có

đủ các nguồn thu bù đắp UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng [14]

e Nguyên tắc chịu trách nhiệm:

Giải trình về các hoạt động ngân sách, chịu trách nhiệm về các quyết định ngân sách của mình Trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội Quy trách nhiệm yêu cầu phải phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện NSNN theo kết quả công việc đạt được [14]

1.1.2.5 Quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách huyện

a Về nguồn thu, ngân sách huyện bao gồm các loại sau:

* Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:

- Thuế tài nguyên, trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;

- Thuế môn bài;

- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;

Trang 32

- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;

- Tiền sử dụng đất, trừ thu tiền sử dụng đất tại điểm k khoản 1 Điều 35 của Luật này;

- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước;

- Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

- Lệ phí trước bạ;

- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;

- Các khoản thu hồi vốn của ngân sách địa phương đầu tư tại các tổ chức kinh tế; thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu;

- Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương;

- Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu tiền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương quản lý;

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các

cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;

- Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu thì được phép trích lại một phần hoặc toàn bộ, phần còn lại thực hiện nộp ngân sách theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu;

Trang 33

- Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện;

- Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương xử lý;

- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;

- Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;

- Thu kết dư ngân sách địa phương;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

* Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương:

- Thuế giá trị gia tăng, trừ thuế giá trị gia tăng

- Thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ thuế thu nhập doanh nghiệp

- Thuế thu nhập cá nhân;

- Thuế tiêu thụ đặc biệt

- Thuế bảo vệ môi trường

* Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương

* Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang [22]

b Chi ngân sách huyện bao gồm các khoản chi chủ yếu sau:

* Chi đầu tư phát triển:

- Đầu tư cho các dự án do địa phương quản lý theo các lĩnh vực được quy định tại khoản 2 Điều này;

- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của địa phương theo quy định của pháp luật;

Trang 34

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

* Chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị ở địa phương được phân cấp trong các lĩnh vực:

- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề;

- Sự nghiệp khoa học và công nghệ;

- Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa phương quản lý;

- Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình;

- Sự nghiệp văn hóa thông tin;

- Sự nghiệp phát thanh, truyền hình;

- Sự nghiệp thể dục thể thao;

- Sự nghiệp bảo vệ môi trường;

- Các hoạt động kinh tế;

- Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị và các

tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

* Chi trả nợ lãi các khoản do chính quyền địa phương vay

* Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương

* Chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân sách địa phương

* Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới

* Chi hỗ trợ [22]

Trang 35

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thu-chi ngân sách của cấp huyện

1.1.3.1 Tổ chức bộ máy và trình độ của cán bộ

Trình độ và phương pháp quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý có tác động rất lớn đến hiệu quả của công tác quản lý nói chung và quản lý ngân sách nói riêng Nếu trình độ quản lý tốt và phương pháp quản lý khoa học thì hiệu quả quản lý sẽ rất cao và ngược lại

Tổ chức quản lý ngân sách huyện, chính quyền các cấp đều tổ chức bộ máy tham mưu giúp việc phù hợp với thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền quyết định Mỗi cơ quan, đơn vị lại có mô hình

tổ chức bộ máy và cán bộ riêng để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy vậy, hiệu quả hoạt động và chất lượng cán bộ của từng cơ quan, đơn vị có tác động rất lớn tới chất lượng quản lý cả trong lĩnh vực kinh

tế - xã hội và ngân sách Tổ chức bộ máy không khoa học và chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ kéo theo sự trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội đồng thời lãng phí vốn, tiền và tài sản Nhà nước

Các chế độ, chính sách đều do con người trực tiếp triển khai thực hiện, nếu đội ngũ cán bộ không có năng lực, trình độ thấp không nhận thức đúng đắn và đầy đủ dễ dẫn đến sai phạm trong quá trình thực thi công vụ và hiệu quả quản lý ngân sách thấp, thất thoát, lãng phí và dẫn đến sai phạm [17]

1.1.3.2 Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý ngân sách cấp huyện

Theo yêu cầu của hội nhập và phát triển, các phương thức thu thập thông tin thủ công thực sự không còn phù hợp cả về chất lượng và thời gian Trong xu thế phát triển khoa học công nghệ của thời đại mới, việc sử dụng các thành tựu của công nghệ thông tin đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực Vì vậy, việc thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin

và nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách là nhiệm vụ của địa phương và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng ngân

Trang 36

sách Việc phát triển hệ thống thông tin và nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách là nhiệm vụ quan trọng của huyện Nếu hệ thống thông tin và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản

lý ngân sách tốt thì hiệu quả quản lý ngân sách cũng sẽ đạt kết quả cao và ngược lại [24]

1.1.3.3 Cơ chế quản lý tài chính

Cơ chế quản lý tài chính tạo hành lang pháp lý, giúp cho quá trình hình thành, tạo lập sử dụng các nguồn lực tài chính phục vụ tất cả các lĩnh vực ngân sách phải đảm bảo, là công cụ điều phối các nguồn lực, đảm bảo hài hòa, cân đối và công bằng, hợp lý trong công tác quản lý tài chính nói chung

và quản lý ngân sách nói riêng, giúp thực hiện nguyên tắc thu đúng và đầy đủ, chi tiêu tiết kiệm, hạn chế tình trạng sử dụng ngân sách lãng phí, thất thoát, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, cơ chế quản lý tài chính giúp việc tổ chức bộ máy, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho bộ máy đó hoàn thành tốt nhiệm vụ [24]

1.1.3.4 Chính sách khuyến khích khai thác các nguồn lực tài chính

Hệ thống các chính sách trích thưởng thu vượt kế hoạch vào ngân sách các cấp ngân sách địa phương, quyền chi phối kết dư ngân sách cuối năm và

sử dụng quỹ dự phòng đã tạo động lực mạnh mẽ cho các cấp chính quyền địa phương, phát huy tính năng động sáng tạo trong khai thác các nguồn thu hiện hữu và các nguồn thu tiềm năng ở địa phương Đây là động lực rất quan trọng cho mở rộng nguồn thu, tăng thu ngân sách và đảm bảo cân đối bền vững cho ngân sách địa phương [24]

1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu – chi ngân sách cấp huyện

1.2.1 Một số chính sách về quản lý thu – chi ngân sách huyện

Tại Điều 55- Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “NSNN, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước

Trang 37

thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật; NSNN gồm NSTW và NSĐP, trong đó NSTW giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia; Các khoản thu, chi NSNN phải được dự toán và do luật định” [18]

Tại Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng ta đã khẳng định: “Đổi mới chính sách phân phối tài chính và cơ chế kết hợp nguồn nhân lực Nhà nước với các nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xóa bao cấp bất hợp lý từ NSNN; tăng tỷ trọng NS đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực và cho các lĩnh vực văn hóa, xã hội,… Đổi mới cơ chế quản lý NS theo kết quả thực hiện các công việc được NS cấp kinh phí; Xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn để tạo cơ sở nâng cao chất lượng dự toán

NS Tăng cường phân cấp quản lý NS, bảo đảm tính thống nhất về thể chế của NSNN và vai trò chủ đạo của NSTW;…;Nâng cao tính minh bạch, dân chủ và công khai trong quản lý NSNN” [4] Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta nhấn mạnh: “Thực hiện cân đối NS tích cực, bảo đảm tỷ lệ tích lũy hợp lý cho đầu tư phát triển; phấn đấu giảm dần bội chi NS” [18]

- Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước.[11]

- Nghị quyết 11/NQ- CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội [7]

- Chỉ thị 1792/CT- TTg ngày 15/10/2011 về tăng cường quản lý đầu tư

từ vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ, nhằm khắc phục tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án vượt khả năng cân đối vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ, thời gian thi công kéo dài, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra từng năm, hiệu quả đầu tư kém, gây phân tán và lãng phí nguồn nhân lực của Nhà nước dẫn đến nợ đọng XDCB ngày một tăng.[13]

Trang 38

- Luật số 106/2016/QH13 ngày 6/4/2016 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế [21]

- Thông tư số 91/2016/TT-BTC ngày 24/6/2016 của Bộ Tài chính Hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; [4]

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương về quản lý thu – chi ngân sách huyện

1.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý NSNN tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

Tại huyện Ninh Giang, khi UBND giao dự toán các cơ quan tham mưu xác định và quản lý nguồn thu là nhiệm vụ quan trọng giúp cho địa phương đảm bảo nguồn chi Thành lập Hội đồng đấu giá đất ở, xây dựng lực lượng ủy nhiệm thu thuế cho UBND xã, thực hiện công khai quy trình thu tại trụ sở UBND, đài truyền thanh về số hộ kinh doanh, mức thuế để dân biết tham gia giám sát đảm bảo đóng góp công bằng, động viên, nhắc nhở các hộ nộp thuế, coi đó là tiêu chuẩn thi đua nghi nhận khen thưởng danh hiệu đơn vị, thôn xóm và gia đinh văn hóa Nhờ đó Ninh Giang vượt thu hàng năm Cụ thể năm

2013 tổng thu NS huyện là 81.150 triệu đồng đạt 125% dự toán giao và bằng 104,5% so với năm 2012; Năm 2014 tổng thu NS huyện là 87.460 triệu đồng, đạt 128% DT giao và bằng 107,7% so với năm 2013 trong điều hành chi ngân sách, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn kiểm tra, giám sát chi bám sát dự toán, đảm bảo cân đối, tích cực Chi đầu tư phát triển được bảo đảm, chi thường xuyên tiết kiệm, hiệu quả ở huyện và cơ sở, đáp ứng chi đột xuất của huyện,

cơ sở, tạo điều kiện cho các cấp hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao [20]

1.2.2.2 Kinh nghiệm tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

Thực hiện Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn, hàng năm UBND

huyện Tư Nghĩa đã tổ chức quán triệt, chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình việc xây dựng dự toán, phân bổ dự toán, điều

Trang 39

hành dự toán, quyết toán và công khai tài chính ngân sách: Vì vậy việc quản

lý điều hành ngân sách 2011 - 2014 đã được kết quả tích cực như sau:

- Về xây dựng dự toán, phân bổ và giao dự toán ngân sách: Trên cơ sở Nghị quyết của HĐND tỉnh, Quyết định giao dự toán của UBND tỉnh và hướng dẫn của Sở Tài chính, UBND huyện Tư Nghĩa đã phân bổ dự toán trình Ban Thường vụ Huyện uỷ và trình HĐND huyện xem xét thông qua kịp thời, đúng quy định, đồng thời UBND huyện đã ban hành Quyết định giao dự toán, Quyết định ban hành quy chế quản lý điều hành ngân sách làm cơ sở cho các đơn vị triển khai thực hiện Dự toán thu, chi ngân sách cũng như quy chế quản lý điều hành ngân sách từ năm 2011 - 2014 đã tập trung đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tạo nguồn thu và thực hành tiết kiệm chống lãng phí Việc phân bổ và giao dự toán kịp thời, đảm bảo quy định đã tạo sự chủ động cho các đơn vị phấn đấu tăng thu, tiết kiệm kinh phí, hạn chế bổ sung ngoài dự toán Đối với việc phân bổ giao kế hoạch Vốn đầu tư đã thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên trả nợ các dự án hoàn thành được phê duyệt quyết toán, các công trình chuyển tiếp

có hiệu quả và một số công trình dự án bức bách về phòng chống thiên tai, cố gắng không dàn trải nguồn vốn đầu tư

- Về điều hành chi ngân sách:

+ Chi đầu tư XDCB: Đã tập trung chỉ đạo rà soát từng dự án đầu tư, theo từng nguồn vốn, thu hồi hoặc điều chuyển vốn đối với các dự án chưa cấp bách, hoặc chưa triển khai đủ thủ tục theo tinh thần Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 Không phê duyệt các dự án đầu tư khi chưa xác định rõ nguồn vốn đầu tư tránh nợ đọng XDCB theo tinh thần Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 28/6/2013, nhằm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư XDCB Đồng thời thực hiện lồng ghép các nguồn vốn để đẩy nhanh tiến độ các công trình, nhất là xây dựng nông thôn mới

Trang 40

+ Về chi thường xuyên: UBND huyện đã chủ động rà soát, sắp xếp điều hành các nguồn kinh phí, ưu tiên kinh phí thực hiện các cơ chế chính sách phát triển sản xuất, triển khai các mô hình, đề án phát triển kinh tế, giải ngân kinh phí đảm bảo an sinh xã hội Chỉ đạo các đơn vị chấp hành đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ tài chính theo quy định của Nhà nước, chủ động sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được giao, hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán Thực hiện các Văn bản chỉ đạo của cấp trên, đã chỉ đạo rà soát, cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các khoản chi chưa thực sự cấp bách, nhất là các khoản chi mua sắm trang thiết bị, văn phòng phẩm, hội nghị, hội thảo, đi công tác, tham quan học tập kinh nghiệm ; Thực hiện lồng ghép các nội dung, công việc một cách hợp lý để thực hiện, nhằm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí Thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên của năm 2011 và chi thường xuyên 7 tháng còn lại của năm 2013 Không ban hành các cơ chế chính sách khi chưa cân đối được nguồn vốn

- Việc chấp hành các quy định về quyết toán ngân sách; Việc quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đã được chỉ đạo thực hiện theo Thông tư 19/2011/TT-BTC, Thông tư 28/2012/TT-BTC, UBND huyện đã ban hành các Văn bản chỉ đạo quyết toán các dự án hoàn thành, tổ chức họp quán triệt, hướng dẫn thực hiện, nhất là các dự án tồn đọng, vì vậy cơ bản các dự án đã được quyết toán kịp thời đúng quy định, qua thẩm tra, phê duyệt quyết toán

đã thực hiện cắt giảm giá trị khối lượng không đúng chế độ, định mức và đơn giá

- Tất cả các nội dung chi thường xuyên, chi thực hiện các chương trình, đề án và chi mua sắm tài sản đều được chỉ đạo quyết toán kịp thời ngay sau khi hoàn thành, đảm bảo định mức, chế độ và theo dự toán được phê duyệt Việc thẩm tra quyết toán và thông báo kết quả quyết toán ngân sách cho các đơn vị dự toán được thực hiện theo Thông tư 01/2007/TT-BTC

Ngày đăng: 09/05/2018, 19:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 28/11/2008, hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 28/11/2008, hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
3. Bộ Tài chính (2003), Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
4. Bộ Tài chính (2016) Thông tư số 91/2016/TT-BTC ngày 24/6/2016 Hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 91/2016/TT-BTC ngày 24/6/2016 Hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm 2017
5. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
6. Chính phủ (2003), Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 ban hành Quy chế xem x t, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chu n quyết toán ngân sách địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 ban hành Quy chế xem x t, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chu n quyết toán ngân sách địa phương
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
7. Chính phủ (2011), Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
8. Chính phủ (2013), Nghị quyết 01/NQ- CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT- XH và dự toán NSNN năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/NQ- CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT- XH và dự toán NSNN năm 2013
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Chính phủ (2014), Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT- XH và dự toán NSNN năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT- XH và dự toán NSNN năm 2014
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2015), Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH và dự toán NSNN năm 2015,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH và dự toán NSNN năm 2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
11. Chính Phủ (2016), Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2016
12. Chính phủ (2011), Nghị quyết 11/NQ- CP ngày 24/02/2011 của về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 11/NQ- CP ngày 24/02/2011 của về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
14. Trần Văn Giao (2010), iải đáp về quản lý tài chính công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iải đáp về quản lý tài chính công
Tác giả: Trần Văn Giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
15. Trịnh Tiến Hậu (2013), Quản lý NSNN huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý NSNN huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Trịnh Tiến Hậu
Năm: 2013
16. Vũ Văn Hóa (2009), Giáo trình tài chính công, Khoa Tài chính ngân hàng, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính công, Khoa Tài chính ngân hàng, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Tác giả: Vũ Văn Hóa
Năm: 2009
17. Huyện ủy Kim Bôi (2010), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Kim Bôi khoá XXI (nhiệm kỳ 2010-2015), Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Kim Bôi khoá XXI (nhiệm kỳ 2010-2015)
Tác giả: Huyện ủy Kim Bôi
Năm: 2010
18. Huyện ủy Kim Bôi (2015), Báo cáo chính trị trình đại hội Đảng bộ huyện Kim Bôi khoá XXII (nhiệm kỳ 2016- 2020), Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị trình đại hội Đảng bộ huyện Kim Bôi khoá XXII (nhiệm kỳ 2016- 2020)
Tác giả: Huyện ủy Kim Bôi
Năm: 2015
19. Nguyễn Thị Hoa (2011), Quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện của huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện của huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2011
20. Nguyễn Thị Phương Nga (2015), Quản lý NSNN tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý NSNN tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Nga
Năm: 2015
21. Quốc Hội (2016), Luật số 106/2016/QH13 ngày 6/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 106/2016/QH13 ngày 6/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2016
22. Quốc hội (2015), Luật NSNN năm 2015, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật NSNN năm 2015, NXB chính trị quốc gia
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm