1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý rừng bảo tồn trên cơ sở có sự tham gia của người dân tại bản na peeng, huyện bua la pha, tỉnh khăm muôn CHDCND lào

104 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, biện pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng người dân địa phương đã được đưa ra và được nhiều nước đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Nam á quan tâm và đưa vào

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

PHẾT PHU THON SI BUN HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG BẢO TỒN TRÊN CƠ SỞ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI BẢN NA PÊNG, HUYỆN BUA LA PHA,

TỈNH KHĂM MUÔN - CHDCND LÀO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TỈNH KHĂM MUÔN - CHDCND LÀO

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG

MÃ SỐ: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHÙNG VĂN KHOA

Hà Nội, 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bảo tồn trên cơ sở có sự tham gia của người dân tại bản Na Pêng - huyện Bua

La Pha tỉnh Khăm Muôn - CHDCND Lào” được hoàn thành trong chương

trình đào tạo thạc sĩ Lâm nghiệp Việt Nam Trong quá trình thực hiện, tác giả

đã được Ban giám hiệu, khoa Sau đại học tạo mọi điều kiện thuận lợi Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các cán bộ, giáo viên của trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là TS.Phùng Văn Khoa, người trực tiếp hướng dẫn khoa học, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ kiểm lâm, ban quản lý khu bảo tồn Pha Thăm Binh tỉnh Khăm Muôn, quốc gia Lào, ủy ban nhân dân, trưởng bản Na Pêng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu để viết luận văn tốt nghiệp của mình

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn này

Mặc dù đã nỗ lực làm việc, nhưng do trình độ và thời gian hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của nhà khoa học, thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả xử lý tính toán là trung thực

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn ………i

Mục lục ……… ii

Danh mục các từ viết tắt ……… v

Danh mục các hình ……….vii

Danh mục các bảng ……… viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng 3

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng 5

1.1.2 Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng 7

1.1.3 Chiến lược và chính sách BVR trên cơ sở cộng đồng 8

1.1.4 Quan điểm về BVR trên cơ sở cộng đồng 9

1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới 9

1.2.1 BVR trên cơ sở cộng đồng ở một số nước 9

1.3 BVR trên cơ sở cộng đồng ở Lào 14

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 18

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 18

2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu 18

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 18

2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 18

2.3 Đối tượng nghiên cứu 18

Trang 5

2.4 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 19

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 21

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 23

3.1 Đặc điểm tự nhiên Bản Na Pêng, huyện Bua La Pha 23

3.1.1 Vị trí địa lý 23

3.1.2 Địa hình, địa thế 23

3.1.3 Địa chất , thổ nhưỡng 24

3.1.4 khí hậu thuỷ văn 24

3.2 Đặc điểm Kinh tế – Xã hội 25

3.2.1 Lịch sử hình thành thôn Bản, dân số và lao động 25

3.2.2 Văn hóa - Xã hội 26

3.2.3 Cơ sở hạ tầng 26

3.2.4: Hiện trạng sản xuất 27

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng tại bản Na Pêng 33

4.1.1 Trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu 33

4.1.2 Tổ thành và cấu trúc rừng 36

4.1.3 Trữ lượng rừng tại khu vực nghiên cứu 38

4.2: Tình hình biến động tài nguyên rừng tại khu vực 40

4.2.1 Biến động tài nguyên rừng theo chức năng 40

4.2.2 Biến động tài nguyên rừng theo hiện trạng 42

4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến công tác bảo vệ rừng 47

4.3.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên 47

4.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội 48

4.3.3 Những tác động của người dân đối với tài nguyên rừng 49

Trang 6

4.3.4 Cơ cấu tổ chức quản lý bảo vệ rừng của Bản Na Pêng 67

4.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý rừng dựa vào người dân tại khu vực nghiên cứu 75

4.4.1 Giải pháp quy hoạch sử dụng đất 76

4.4.2 Các giải pháp về chính sách 77

4.4.3 Nghiên cứu phát triển các sản phẩm ngoài gỗ 80

4.4.4 Một số đề xuất cụ thể về công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng dựa vào người dân tại khu vực nghiên cứu 81

Chương 5 KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 92

5.1 Kết luận 92

5.2 Tồn tại 93

5.3 Khuyến nghị 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

25 SX Sản xuất

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1: Bản đồ hiện trạng rừng năm 2010 35

4.2: Biểu đồ so sánh tỷ lệ diện tích đất rừng của bản Na Pêng 42

4.3: Bản đồ hiện trạng rừng năm 2000 44

4.4: Biểu đồ tỷ lệ phần trăm diện tích rừng theo các trạng 46

05: Tổ chức quản lý rừng và đất Lâm nghiệp trên địa bàn Huyện Bua La Pha 74

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1: Hiện trạng sử dụng đất trong Bản Na Pêng 28

4.1: Diện tích và trạng thái rừng 33

tại khu vực nghiên cứu năm 2010 33

4.2: Công thức tổ thành trên các OTC điều tra 36

4.3: Tổng hợp trữ lượng gỗ trên các OTC 39

4.4: Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu năm 2000 41

4.5: Diện tích và trạng thái rừng 45

tại khu vực nghiên cứu năm 2000 45

4.6: Mức độ đốt nương làm rẫy của các HGĐ 50

4.7: Tình hình sử dụng đất để canh tác ruộng nước của người dân 52

4.8: Mức độ khai thác gỗ của các HGĐ 55

4.9: Mức độ khai thác và sử dụng củi của các HGĐ 57

4.10: Mức độ khai thác tre nứa của HGĐ 59

4.11: Mức độ khai thác LSNG của người dân Bản Na Pêng 61

4.12: Mức độ khai thác ĐVR của người dân Bản Na pêng 64

4.13: Mức độ săn bắt và tiêu thụ các loại thuỷ sinh của người dân Bản Na Pêng 66

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỂ

Trong những năm đầu của thế kỷ 20, rừng tự nhiên che phủ phần lớn diện tích tự nhiên trên bề mặt trái đất Nhưng do các hoạt động của con người như khai thác lâm sản, khai phá rừng làm nông nghiệp, các công trình xây dựng, cùng với các hoạt động khác không có kế hoạch đúng đắn, hợp lý nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường Cùng với sự giảm đi về diện tích rừng tự nhiên, môi trường sống của nhiều loài động thực vật rừng cũng bị thu hẹp và ngày càng

bị thoái hoá nghiêm trọng Những hoạt động khai thác rừng, đốt rừng làm nương rẫy trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm chính trên quy mô toàn cầu kể cả về phương diện giảm sút đa dạng sinh học, cũng như sức sản xuất của đất đai và hiệu ứng nhà kính

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng từ trước tới nay còn nhiều bất cập, các chương trình trong từng thời kỳ còn mang tính phong trào Việc quy hoạch, lập kế hoạch, xác định các giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng, thường dựa trên hiện trạng sử dụng, chức năng của tài nguyên rừng mà chưa tính đến vai trò của người dân bản địa tại khu vực có rừng Bên cạnh đó việc đi sâu vào phân tích, đánh giá

cơ chế chính sách trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng chưa được quan tâm đúng mức, không phân tích các biện pháp sử dụng tài nguyên rừng trong các

hệ thống canh tác Lâm Nông nghiệp Vì vậy, việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng không những chưa đạt được hiệu quả cao mà còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường Trong những năm gần đây, biện pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng người dân địa phương đã được đưa ra và được nhiều nước (đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Nam á) quan tâm và đưa vào chương trình hoạt động của ngành Lâm nghiệp nước nhà Quản lý rừng cộng đồng thường gắn

Trang 12

chặt với các luật tục tại các cộng đồng Đây là một hình thức của tri thức bản địa liên quan tới cộng đồng bản làng Các cộng đồng đó có nhiều kinh nghiệm

và truyền thống quản lý tài nguyên rừng theo hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và bền vững Trong một thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau, quản lý rừng cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân địa phương về nhiều mặt Tuy nhiên do các biến động về xã hội, các hình thức quản lý tài nguyên, trong đó có tài nguyên rừng trải qua nhiều biến đổi

Tại nước CHDCND Lào vấn đề quản lý rừng dựa trên cơ sở có sự tham gia của người dân địa phương càng trở nên quan trọng hơn khi phần lớn người dân vùng núi phụ thuộc vào tài nguyên rừng và các hệ thống canh tác trên đất dốc Tương lai con người sẽ bị đe dọa khi tình trạng suy thoái tài nguyên rừng vẫn tiếp tục và những người nghèo sẽ phải gánh chịu những ảnh hưởng bất lợi của quá trình này Chính vì vậy, việc quản lý rừng dựa trên cơ sở có sự tham gia của người dân địa phương là cần thiết Tuy nhiên để hoạt động này mang lại hiệu quả tốt cần phải có những nghiên cứu và lựa chọn biện pháp cũng như chính sách cơ chế cho từng địa phương cụ thể

Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi đó thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề

xuất một số giải pháp quản lý rừng bảo tồn trên cơ sở có sự tham gia của người dân tại bản Na Pêng - huyện Bua La Pha tỉnh Khăm Muôn - CHDCND Lào” nhằm đánh giá thực trạng quản lý bảo vệ rừng của cộng

đồng, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng

Trên thế giới trải qua một thời gian dài trong việc nỗ lực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng người ta đã đi tới một nhận định rằng: thành công thường gắn với những mô hình nhỏ và độc đáo chứ không phải là những mô hình và công thức lớn lao; với những hành động phân cấp chứ không phải là

sự kiểm tra của trung ương; với những thiết kế thích hợp với từng địa phương chứ không phải là những mô hình khoa học kỹ thuật phức tạp; với sự tham gia tích cực của người dân chứ không phải là tài trợ cho họ về tài chính Việc quốc hữu hóa rừng hoặc tư nhân hóa rừng công cộng có thể cướp đi những diện tích tài nguyên rừng của người dân nghèo địa phương, nguồn sống và có khi đó chính là nguồn sinh tồn của họ [21]

Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người Tuy nhiên sự thống trị của chế

độ thực dân của người Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế

kỷ 20 đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng

cổ truyền ở nhiều địa phương Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng

từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế giới [21]

Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cư không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng Khi chính phủ của các

Trang 14

quốc gia giao quyền quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng , khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng

Tính đến thời điểm hiện nay lâm nghiệp cộng đồng đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn

đề và đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui, và tất nhiên tính bền vững không đạt được Giai đoạn thứ hai những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn quyết định, nhưng

họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn Giai đoạn thứ ba những người ngoài cuộc chỉ là những người hỗ trợ và thúc đẩy, còn những người trong cộng đồng là những người tích cực xác định vấn đề và đề ra các giải pháp Cách làm này đã mang lại những kết quả đáng khuyến khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc

đề ra các giải pháp mà họ có thể thực hiện được

Vậy cộng đồng là gì? Hiểu như thế nào về rừng cộng đồng, và quản lý rừng dựa vào cộng đồng? Theo FAO, cộng đồng được định nghĩa như là

“những người sống tại một chỗ, trong một tổng thể” hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung” còn lâm nghiệp cộng đồng được định nghĩa là “Là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”

Trang 15

Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn, bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn, bản” Tuy nhiên trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng các dòng họ, công đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản

Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, bản Tại điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đó định nghĩa: “cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình,

cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, bản, phum, súc hoặc đơn vị tương đương”[12]

Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu là cộng đồng thôn, Bản ( kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng )

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng

Cộng đồng tham gia quản lý rừng công có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng(LNCĐ)

Theo FAO 2003, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này

Hiện nay, có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dường như mọi người đều thống nhất ở Lào, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:

- Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng(QLRCĐ)

Trang 16

Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và phân chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý,

sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng

Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đó được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma,…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao)

- Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có liên quan đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…) Hình thức này bao gồm hai đối tượng:

+ Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện

+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước( các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê, thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng [3]

Từ sự phân tích trên cho thấy: LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn

Trang 17

người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế [3]

Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng đồng ( cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng ) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng ( cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này vừa phù hợp với khái niệm của FAO vừa phát huy được nhiều sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21], [37], [38]

BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng như: chống chặt phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và được thực hiện theo quy định của pháp luật

về quản lý lâm sản Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản phù hợp với chính sách pháp luật của nhà nước

1.1.2 Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng

BVR trên cơ sở cộng đồng được xây dựng trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24]

Trang 18

BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước, các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng Trong nhiều trường hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách triệt đề những vấn đề phức tạp của quản lý BVR Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình Vì vậy, các quy định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các quy định của Nhà nước

1.1.3 Chiến lược và chính sách BVR trên cơ sở cộng đồng

Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:

- Những giải pháp chủ yếu để tăng cường quyền quản lý, BVR trên cơ

sở cộng đồng: Phát huy những luật tục, phong tục tập quán và trách nhiệm của toàn cộng đồng đối với công tác QLBV&PTR, xây dựng quy ước, hương ước BVR của thôn, bản, quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân trong cộng đồng

- Kết hợp những giải pháp về chính sách, hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp về đào tạo, tập huấn trong việc BVR trên cơ sở cộng đồng

- Các hình thức BVR: tuần tra BVR, PCCCR trên địa bàn phải được thực hiện theo phương pháp cùng tham gia ở tất cả các giai đoạn tuần tra bảo vệ, xây dựng lực lượng, kế hoạch bảo vệ Đây được xem là phương pháp cho phép phát huy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đồng đối với công tác BVR [29][30][31][32][33][34] [35]

Trang 19

1.1.4 Quan điểm về BVR trên cơ sở cộng đồng

Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng dân cư thôn, bản Công tác BVR phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng vừa là bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng

Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân

cư thôn, bản thì sẽ không thành công Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của các cộng đồng dân cư thôn, Bản trong BVR là rất cần thiết Để công tác BVR đạt hiệu quả cao thì phải có chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư thôn, bản [10], [21]

1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới

Trong giai đoạn hiện nay BVR trên cơ sở cộng đồng được xem như là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có, góp phần giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm Đó có không ít những mô hình quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc….Đây sẽ là những bài học quý bấu cho qúa trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng

Trang 20

được chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đó làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đó ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất [33]

Năm 1957, Nhà nước thực hiện quốc hữu hoá rừng, Nhà nước tập trung quản lý, BVR và đất rừng, người dân ít quan tâm đến BVR của Nhà nước, kết quả là trong vòng 20 năm hàng triệu ha rừng bị tàn phá

Từ năm 1978, chính phủ đã giao quyền quản lý và BVR cho người dân địa phương để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy các đơn vị hành chính này không phù hợp với việc quản lý và BVR do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có nhu cầu, sở thích sử dụng sản phẩm rừng khác nhau

Năm 1989, Nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: rừng tư nhân và rừng Nhà nước cùng với hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu tư nhân và sở hữư Nhà nước Trong quyền sở hữu của Nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng khác nhau như: Rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với các tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân

và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng

Năm 1993, NêPal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm sử dụng rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát về chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn

Trang 21

Năm 2000 QLBVR trên cơ sở cộng đồng thực hiện tại các vùng đồi có diện tích trên 500 nghàn ha rừng suy thoái được giao cho các nhóm sử dụng rừng Hoạt động này đã thu hút sự tham gia của khoảng 800.000 hộ(4 triệu người ) Trọng tâm của chính sách lâm nghiệp cộng đồng tại NêPal là bảo về rừng cộng đồng và cho phép người dân tiếp cận tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cơ bản Lâm nghiệp cộng đồng tại NêPal dựa vào các nhóm sử dụng rừng, trong đó mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích rừng nhất định Nhà nước được lợi từ hoạt động này là diện tích rừng suy thoái được phủ xanh trong khi đó các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận lâm sản [11], [34], [36]

Ở Indonesia

Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm

1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ Lâm nghiệp quản lý Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và BVR với 3 Mục tiêu sau:

- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực đang khai thác gỗ

- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng

- Bảo vệ rừng và môi trường

Năm 1996, Bộ lâm nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các trường Đại học đã xây dựng một chương trình dự án điểm lôi kéo người dân vào bảo vệ

và phát triển rừng Dự án này cho phép người dân quản lý 10.000 ha rừng có khả năng khai thác gỗ [35]

Trang 22

lâu đời của họ Ấn Độ đó coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của Chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất

cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có

sự thay đổi nhiều giữa các Bang Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số giải pháp nhằm tạo ra hoặc tăng thêm các tổ chức địa phương có hiệu lực lâu dài cho quản lý rừng cộng đồng [31], [32]

Từ kết quả thực tế của các nước đã thu được trong công tác BVR trên

cơ sở cộng đồng, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phải giải thích cho cộng đồng rõ những lợi ích do rừng mang lại cho cộng đồng và những chính sách

về kinh tế để hỗ trợ cộng đồng trong công tác và để bảo vệ rừng có hiệu quả phải tuân thủ nguyên tắc công tác BVR với cộng đồng thôn, bản [29], [30]

Ở Việt Nam

Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đó là yêu tố quan trọng tạo nên cơ sở cho những thành quả đó đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền

Trang 23

thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, Phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [21]

Tuy chưa có thống kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia vào quản lý BVR thì công tác quản lý BVR có hiệu quả, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng sinh trưởng phát triển tốt Thực tiễn cho thấy rằng, quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn bản là hình thức quản lý BVR có tính khả thi về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trường và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước

Để trao quyền quản lý BVR cho các cộng đồng Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất khoán rừng Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam Chủ trương giao đất, khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra và thực hiện từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước Việt Nam lại

có những điều chỉnh, bổ xung kịp thời cho phù hợp với thực tế

Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ đều đạt hiệu quả cao, diện tích rừng được giao đều được quản lý tốt, các hiện tượng xâm hại tài nguyên rừng giảm mạnh, ý thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng được nâng cao Thông qua việc

tổ chức BVR, mối quan hệ xã hội trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các

cơ quan liên quan đến quản lý, BVR trên địa bàn cũng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng

Đối với cộng đồng dân cư thôn, bản quản lý BVR cộng đồng đã góp phần nâng cao thu nhập của người dân địa phương, góp phần xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn văn minh, giàu đẹp, đồng thời đáp ứng một phần

Trang 24

nhu cầu về gỗ, củi và các lâm sản khác đối với cuộc sống người dân Nhìn chung lợi ích từ rừng mang lại được chia sẻ công bằng hơn trong các hệ thống hiện tại, do đó ít xảy ra mâu thuẫn, xung đột [15]

Đối với Nhà nước, hình thức quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng đáp ứng được các mục tiêu về chính sách lâm nghiệp của Việt Nam Mặt khác, hình thức này làm giảm chi phí phải trả cho cộng đồng bằng cách chia sẻ lợi ích mang lại và tăng quyền lợi từ rừng để thúc đẩy cộng đồng thôn, bản tham gia quản lý BVR [20]

1.3 BVR trên cơ sở cộng đồng ở Lào

Những chính sách về lâm nghiệp và bảo vệ môi trường ở Lào bao gồm: + Chính sách đầu tiên là Nghị định 74/TT.CP ra ngày 19/1/1979 về việc quản lý và sử dụng tài nguyên rừng; trong nghị định này đã quy định, quyền sở hữu của Nhà nước về tài nguyên rừng, bảo tồn thiên nhiên, khai thác

gỗ, cấm các hành động chặt phá rừng làm nương rẫy các khu vực đầu nguồn,

sử dụng tài nguyên rừng theo phong tục tập quán và việc khuyến khích trồng rừng Sau nghị định đã ban hành và đã được thực hiện trong toàn quốc song trong viêc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn và rất hạn chế do thiếu vốn, thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm và trình độ chuyên môn hạn chế.[41]

+ Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ I của ngành lâm nghiệp (1989) đã đề ra là:

- Tăng cường và phát triển giá trị về môi trường sinh thái của rừng bằng cách hoàn thiện và bổ sung hệ thống quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng hiện có

- Kinh doanh lợi dụng rừng phải đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển của tài nguyên rừng

Trang 25

* Phải tiến hành công tác phục hồi rừng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đi đôi với việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân miền núi vùng sâu vùng xa

* Tháng 10/1989 chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 117/CT.HĐBT Về việc quản lý, sử dụng đất và tài nguyên rừng Nghị định

đã nhận định phải bắt đầu thử nghiệm và tiến hạnh giao đất khoán rừng, với hình thức giao là:

- Giao rừng và đất rừng cho hộ gia đình quản lý, sử dụng và sản xuất lâu dài từ 2 - 5 ha và giao khoán rừng cho cộng đồng (Bản) quản lý, sử dụng

và bảo vệ từ 100 - 500 ha

- Cho phép nhân dân quản lý và sử dụng rừng đã giao vì mục đích kinh

tế nếu trữ lượng và chất lượng rừng đã giao tăng lên

- Cho phép dân có quyền thừa kế, chuyển đổi rừng và đất rừng đã giao

- Chấp nhận quyền quản lý, sử dụng của tập thể, hộ gia đình, cá nhân

đã trồng, phục hồi rừng hoặc sản xuất nông lâm nghiệp khác trên diện tích rừng nghèo, đồi núi trọc, bằng lao động và nguồn vốn của họ

- Trong thực tế nghị định này đã được thử nghiệm đầu tiên ở một số tỉnh miền Bắc và được tiến hạnh thực hiện chính thức năm 1994 [42]

+ Tháng 10/1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 186/ TTG.CP về việc giao đất lâm nghiệp quản lý sử dụng sản xuất lâu dài và khoán rừng cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và sử dụng Nghị định này làm cơ

sở cho việc khuyến khích cho nhân dân trồng rừng, và được phép miễn thuế với hộ gia đình có diện tích rừng trồng từ 1 ha trở lên tương ứng 1.100 cây/ha trở lên và có quyền khai thác, sử dụng, bán và thừa kế Nghị định này đã bảo đảm cho việc đầu tư trồng rừng của các doanh nghiệp trong và ngoài nước + Cùng với sự ra đời của Luật lâm nghiệp số 01/96 ngày 11 tháng 11 năm 1996; Luật đất đai số 01/97, ngày 19 tháng 04 năm 1997 Hai luật này đã

Trang 26

quy định: Rừng và đất rừng là tài sản Quốc gia thuộc quyền sở hữu của Nhà nước do Nhà nước quản lý và giao cho tập thể, hộ gia đình và cá nhân sử dụng hợp lý (điều 5 của luật lâm nghiệp), giao khoán và cho các doanh nghiệp quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác ( Luật lâm nghiệp điều 48, 54), tập thể,

hộ gia đình, cá nhân mà nhà nước đã giao cho quản lý, bảo vệ được hưởng lợi dụng gỗ và lâm sản (Luật lâm nghiệp điều 7); Luật đất đai (điều17) Nhà nước cho phép sử dụng đất nông nghiệp hợp lý theo quy hoạch và đúng mục đích

và lâu dài

Những chính sách trên của Nhà nước đã đảm bảo bình đẳng quyền và nghĩa vụ, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của người được giao Vì vậy đã khuyến khích nông dân nhận đất, nhận rừng để sản xuất kinh tế trong gia đình Công tác giao đất khoán rừng đến nay đã được triển khai thực hiện ở tất cả các tỉnh trong toàn Quốc Kết quả giao đất lâm nghiệp tính đến ngày 20/8/2003 (số liệu lưu trữ của văn phòng định canh, định cư thuộc tổng cục lâm nghiệp) trên địa bản cả Nước như sau:

+ Ngày 21 tháng 03 năm 1997 Bộ trưởng, Bộ Nông nghiệp và lâm nghiệp ra quyết định số 0185/BT.NL về Quy chế bảo vệ và quản lý động vật cấm săn bắn và thu lại các loại vũ khí săn bắn động vật quý hiếm, và quyết định ngày thả cá và cấm săn bắn động vật quốc gia, đó là ngày 13 tháng 7 hạng năm

+ Ngày 13 tháng 10 năm 2000 Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế

số 0221/TTg CP về việc quản lý khai thác rừng và các lâm sản khác

+ Ngày 22 tháng 5 năm 2002 Phó thủ tướng ban hành nghị định số 59 / P.TTg về quản lý rừng sản xuất lâu bền

+ Ngày 03 tháng 10 năm 2003, Bộ trưởng, Bộ Nông nghiệp và lâm nghiệp ra quyết định số 0204/BT NL về quy chế quản lý rừng sản xuất và phân chia lợi nhuận, đồng thời ra quy chế thành lập rừng sản xuất như sau:

Trang 27

- Diện tích rừng phải lớn hơn 5.000 ha trở lên

- Diện tích rừng sản xuất phải có độ che phủ lớn hơn 40 % trở lên và có trữ lượng gỗ lớn hơn 80 mét khối trở lên, cây có đường kính lớn hơn 30 cm trở lên (DBH > 30 cm)

- Diện tích đó không được trùng với diện tích rừng bảo hộ và rừng đặc dụng

- Diện tích rừng sản xuất phải có ranh giới cố định như: Đường, suối,

hồ, núi Phải cách ra biên giới khoảng 5 km Nhưng ranh giới đó có thể thay đổi được khi quy hoạch thực tế

+ Ngày 11, tháng 01, năm 2005 Bộ trưởng bộ Thương mại ra quyết định số 0044/BT.TM về chính sách giá cả các loại gỗ và các hạng gỗ trong năm 2005

+ Ngày 03 tháng 04 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 25/TTg về quản lý khai thác rừng và doanh nghiệp lâm nghiệp trong năm

2007[41]

Trang 28

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Cung cấp cơ sở khoa học, góp phần bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng

và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư địa phương

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng, từ đó

đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn

2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng tại bản Na Pêng, Huyện Bua La pha

- Nghiên cứu tình hình biến động tài nguyên rừng tại khu vực

- Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội và những tác động của người dân đến công tác quản lý bảo vệ rừng

- Đề xuất một số giải pháp quản lý rừng bền vững dựa vào sự tham gia của người dân

2.2.2 Giới hạn nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về thực trạng tài nguyên rừng, tình hình kinh tế

xã hội dân sinh và mức độ tác động của người dân đối với tài nguyên rừng trên Bản Na Pêng

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:

- Cộng đồng dân cư Bản trong mối quan hệ tương quan giữa người dân với tài nguyên rừng

Trang 29

- Trạng thái và mức độ phong phú của tài nguyên rừng

- Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của bản Na Pêng

- Luật pháp và các chính sách của Trung ương, địa phương liên quan đến bảo vệ rừng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Các bản đồ hiện trạng sử dụng đất của Huyện cũng như Bản ở hai giai đoạn khác nhau đó là: trước khi thành lập rừng bảo tồn ( Năm 2004) và thời điểm hiện tại

- Các văn bản chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Các văn bản về phương hướng, đường lối chính sách, chủ trương của tỉnh đối với hoạt động sử dụng đất, hoạt động sản xuất lâm nghiệp

- Các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao đất giao rừng, báo cáo của dự án phát triển lâm nghiệp do chính phủ tài trợ,…

2.4.1.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Sử dụng các công cụ PRA sau đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:

- Phỏng vấn ban quản lý Bản, công cụ này được thực hiện đầu tiên khi tới bản nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của Bản như: Dân

Trang 30

số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình thức

sử dụng tài nguyên rừng…

- Phỏng vấn hộ gia đình: Bảng phỏng vấn bán định hướng được chuẩn

bị trước Trong Bản có 76 hộ, chúng tôi tiến hành phỏng vấn 100% HGĐ trong bản

- Phân tích tổ chức: xác định các tổ chức tồn tại trong cộng đồng, các thể chế cộng đồng và sự ảnh hưởng của chúng tới việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng

- Phỏng vấn cán bộ hạt kiểm lâm rừng bảo tồn Pha Thặm Binh, cán bộ huyện

- Tổ chức cuộc thảo luận nhóm để xác định những phong tục, tập quán , kiến thức và thể chế bản địa liên quan đến việc BVR và tiềm năng BVR của cộng đồng cũng như vai trò của các bên liên quan đến công tác bảo vệ rừng Trong quá trình thảo luận, những người thực hiện đề tài giữ vai trò thúc đẩy và định hướng cuộc thảo luận, không đưa ra những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho các thành viên tham gia thảo luận

2.4.1.3 Phương pháp điều tra hiện trạng rừng

Thông qua phương pháp kế thừa số liệu của đơn vị lâm nghiệp phụ trách quản lý rừng bảo tồn tại khu vực đã cho chúng ta biết được rằng mật độ

và trạng thái rừng khác nhau ở độ cao trên và dưới độ cao 20o vì trong những năm qua tại khu vực nghiên cứu đã từng bị khai thác các loại gỗ ở vị trí trên

và dưới 20o, cho nên đến thời điểm mà khu vực nghiên cứu được thành lập thành rừng bảo tồn của tỉnh đến hiện nay thi mật độ ở hai vị trí đó đã bị thay đổi về trạng thái cũng như mật độ

Thu thập số liệu về trữ lượng rừng, chúng tôi tiến hành điều tra rừng bằng cách lập ô tiêu chuẩn 600 m2 (20m x 30m) theo phương pháp chọn ô điển hình, với tổng số tiêu chuẩn là 13 ô ở hai vi trí khác nhau: 6 ô ở độ dốc

Trang 31

trên 20 % và 7 ô ở độ dốc dưới 20 % để tiến hành điều tra tầng cây cao với các chỉ tiêu:

- Đường kính thân cây (D1.3 cm): được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị

số bình quân

- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m): được

đo bằng thước Blumeleiss với độ chính xác đến dm HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

- Đường kính tán lá (DT, m): được đo bằng thước dây có độ chính xác đến dm, đo hình chiếu tán lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây

và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

- Số liệu thu thập được trên ô tiêu chuẩn được xử lý như sau:

• Tính toàn trữ lượng chung

+ Tính thể tích cây bình quân theo công thức:

f H

Trong đó: f là hình số thân cây, f = 0.5

+ Tính tổng trữ lượng cho ô tiêu chuẩn

n là số lượng cây trong ô tiêu chuẩn thứ i

Trang 32

Vi là thể tích bình quân của cây tiêu chuẩn trong ô

+ Tính trữ lượng bình quân trên 1 ha (theo trạng thái)

M/ha = Mi (bình quân) * 10000/600 (m3/ha) (3-4) Trong quá trình xử lý số liệu, đề tài tiến hành nghiên cứu thống kê lại các thông tin đã phát hiện được trong thời gian ngoại nghiệp, sắp xếp theo thứ

tự ưu tiên, thứ tự quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm để lựa chọn và tìm giải pháp thích hợp

Trang 33

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 3.1 Đặc điểm tự nhiên Bản Na Pêng, huyện Bua La Pha

3.1.1 Vị trí địa lý

3.1.1.1 Vị trí địa lý huyện Bua La Pha

Huyện Bua La Pha là một huyện trong vùng miền núi, nằm ở Đông tỉnh Khăm muôn, cách trung tâm 140 km, có tổng diện tích 3.736 km2, phía Bắc giáp với huyện Na Kai, phía Nam giáp với huyện Say Bua Thoong và huyện

Vi La Bu Ly tỉnh Sa Vân Na Kệt, phía Tây giáp huyện Mạ Ha Say và huyện Nhôm Ma Lát, phía Đông giáp với huyện Minh Hoà, huyện Bò Rạch và huyện Quang Ninh tỉnh Quảng Bình Nước CHXHCN Việt Nam, huyện Bua

La Pha là một trong 2 huyện nghèo nàn nhất của Tỉnh và là một trong 47 huyện nghèo nàn nhất Nước

Hiện tại Huyện Bau La Pha có 11 cụm bản, có 4 vùng trọng yếu.có 77 Bản, có 4.825 ngôi nhà, có 5.426 hộ gia đình, có tổng dân số 28.155 người, trong đó có nữ 14.216 người, Dân tộc Lào Lùm chiếm 49,29% Dân tộc Lào Thâng chiếm 50,71%, nghề nghiệp chính của người dân là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi là chủ yếu

3.1.1.2: Vị trí địa lý Bản Na Pêng

Bản Na Pêng nằm ở phía tây Bắc của huyện Bua La Pha, cách trung tâm huyện 12 km, có địa hình tương đối bằng phẳng và phần lớn được bao quanh bởi đồi núi non

Có tổng diện tích 2443,75 ha

3.1.2 Địa hình, địa thế

Địa hình Bản Na Pêng mang những nét đặc thù riêng, Bản nằm trên vùng đất tương đối phẳng, xen kẽ với sông suối và đồng ruộng, tiến về phía Đông Nam là vùng đồi núi cao, có độ dốc tương đối cao, độ dốc từ 20o – 33o ,

Trang 34

độ cao so với mặt nước biển là 200 – 305(m) và là khu rừng tự nhiên mà chiếm phần lớn diện tích

3.1.3 Địa chất , thổ nhưỡng

Đất trong vùng Bản Na Pêng là đất cát lẫn bùn theo số liệu điều tra từ viện khảo sát và thiết kế đất nông nghiệp Trong vùng này là loại đất Gleysols (GL) nghĩa là đất có nước ngập trong khoảng thời gian dài nửa năm hay là một năm Đất này có nhiều trong vùng tương đối bằng phẳng, có nước ngập trong mùa mưa, đất có màu đen độ dày của tầng đất 50 cm Được chia thành 2 loại đất như sau:

+ Dystric Gleysols (GLD), đất này thích hợp với sản xuất nông nghiệp như làm ruộng lúa nước

+ Eutrie Gleysols (GLE), có độ PH trung bình đất giàu dinh dưỡng cao, đất này thích hợp với trồng cây nông nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp

Ở trên vùng rừng núi của Bản là đất núi đá vôi K2 , đất feralít mùn trên núi thấp, nhìn chung đất có tầng dầy đến trung bình, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, tỉ lệ đá lẫn thấp, chủ yếu đất có màu vàng, vàng đỏ

3.1.4 khí hậu thuỷ văn

3.1.4.1: khí hậu

Khí hậu thời tiết của Bản Na Pêng nói riêng và trong vùng nói chung là thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khu vực nghiên cứu có đặc điểm khí hậu thời tiết như sau:

Nhiệt độ bình quân năm là 25,6oc (2005-2009)

Nhiệt độ bình quân cao nhất tháng 5 là 31,5oC

Nhiệt độ bình quân thấp nhất tháng 1 là 20,1oC

Độ ẩm không khí bình quân cao nhất năm là 95% và thấp nhất là 54%

- Lượng mưa bình quân hàng năm đo được là 2.280mm

Trang 35

Mưa nhiều nhất là tháng 8 đo được 320 mm (1996) Mùa mưa kéo dài

từ tháng 5 đến tháng 11 Mùa khô hạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, cũng là thời kỳ gây trở ngại lớn cho cây trồng sinh trưởng và phát triển Nhìn chung khí hậu ở đây tương đối thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cho các loại cây

3.1.4.2: Thuỷ văn:

Trên địa bàn Bản có một con suối chảy qua đó là suôí Pêng Con suôí này chảy từ trong rừng vùng núi cao của Bản xuống và chảy qua Bản con suối này là nguồn nước chính cung cấp nước phục vụ sản xuất và tiêu dùng, cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, cây trồng vật nuôi có nước cả năm

3.2 Đặc điểm Kinh tế – Xã hội

3.2.1 Lịch sử hình thành bản, dân số và lao động

Bản Na Pêng được thành lập năm 1630, ngày xưa là có người di chuyển từ Bản Ta Long(bản giáp ranh phía bắc của Bản Na Pêng hiện nay) xuống định cư tại vùng này và dần được gọi thành bản Na Pêng lúc đầu là có gia đình của hai anh em sinh sống ở đây, mưu sinh bằng việc phát rừng làm ruộng và làm nương, thời gian dài sau số người dân nhập cư vào sống ở Bản này mới lớn dần lên

Hiện nay, Bản có 76 hộ gia đình, có tổng dân số 448 người, trong đó có

nữ 221 người, có tổng số lao động 209 người trong đó có nữ 108 người Dân toàn Bản là dân tộc Lào Lùm

- Về lao động: 100% dân số trong Bản là làm nghề nông dân sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi là chính

Trang 36

3.2.2 Văn hóa - Xã hội

+ Về giáo dục:

Trong Bản có hai ngôi trường, 1 trường mẫu giáo và 1 trường tiểu học,

có 4 giáo viên trong đó có 1 nữ giáo viên, có tổng học sinh 175 người, trong Bản có người biết chữ 234 người; cấp tiểu học có 213 người, cấp trung học cơ

sở có 13 người, trung học phổ thông 13 người

+ Về văn hoá:

Dân toàn Bản na Pêng là dân tộc Lào Lùm nên hầu hết hướng theo tin

đồ phật giáo trong Bản có một ngôi chùa có 1 ông sư Hàng năm dân trong Bản thường xuyên hay tổ chức lễ hội phật giáo như: Bun Pi May ( tết cổ truyền Lào), Bun koong khẩu, Bun koong hốt, Bun khẩu phăn sa, Bun Oóc phăn sa, Bun hò khẩu

Mỹ, người dân đã sử dụng để làm ống dẫn nước từ vùng đầu nguồn xuống Bản để làm nước sinh hoạt

3.2.3 Cơ sở hạ tầng

+ Về giao thông:

Hệ thống đường giao thông trong huyện là đường đất đỏ việc đi lại nhìn chung còn nhiều khó khăn, mùa khô thì bụi, còn mùa mưa thì bùn và nước ngập kéo dài cả tuần

Trang 37

+ Về thuỷ lợi:

Trong vùng lân cận cũng như Bản Na Pêng chưa có hệ thống thuỷ lợi,

vì vậy người dân chỉ có thể làm ruộng được 1 vụ trong một năm

+ Điện;

Điện có điện lưới quốc gia, nên mọi hoạt động dịch vụ phương tiện thông tin đều thuận lợi như TV, VIDEO , và các xưởng sản xuất thủ công khác đều phát triển

Bản Na pêng có tổng diện tích 2464,75 ha trong đó

- Rừng bảo tồn với diện tích 814 ha, chiếm khoảng 33% tổng diện tích Bản

- Rừng phòng hộ có diện tích 34,7 ha, chiếm khoảng 1.4 %

- Rừng sản xuất có diện tích 1316.92 ha, chiếm khoảng 53,43%

- Đất nghĩa địa có diện tích 10.88 ha, chiếm khoảng 0,44%

- Rừng thiêng có diện tích 6.50 ha, chiếm khoảng 0,26%

- Núi đá vôi có diện tích 66.75 ha, chiếm khoảng 2,7%

- Đất ở có diện tích 36,5 ha, chiếm khoảng 1,48%

- Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích 178,5 ha, chiếm khoảng 7,24% Hiện trạng sử dụng đất của bản Na Pêng được thể hiện tại bảng 3.1:

Trang 38

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất trong Bản Na Pêng

Tổng diện tích 2464.75

Kết qủa từ bảng 3.1 cho thấy rằng:

+ Diện tích đất Lâm nghiệp là chiếm đại đa số với 88,12% của tổng diện tích Bản,

Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng bảo tồn, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất và đất rừng thiêng Trong đó lớn nhất là diện tích rừng sản xuất với 1316.92 ha, chiếm 53,43 % của tổng diện tích Bản, thứ 2 là rừng bảo tồn với diện tích 814 ha, chiếm 33 % tổng diện tích Bản Tất cả diện tích đất lâm nghiệp đều do sở lâm nghiệp của tỉnh quản lý

+ Đất sản xuất nông nghiệp là đất mà đã được điều tra quy hoạch giao cho mỗi hộ gia đình, bao gồm có: đất ruộng, đất vườn, đất chăn nuôi và vân vân kể cả đất mà đã có rồi để quản lý và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, và kể cả đất mà quy hoạch để mở rộng thêm diện tích đất ruộng, đất

Trang 39

trông cây nông nghiệp và công nghiệp và đất trồng cây ăn quả và đất trồng cỏ

để chăn nuôi

Tất cả tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 178,5 ha Trong đó

có 112 ha mà là đất đã được sử dụng rồi, còn lại 66,5 ha là đất đã được quy hoạch nhưng chưa được sử dụng

Phần đất sản xuất nông nghiệp 66.5 ha mà chưa được sử dụng là sẽ đựoc cấp và phân cho hộ gia đình sử dụng trong trường hợp có ai đó lập gia đình và tách ra thành hộ mới và trong trường hợp có gia đình mới nào đó nhập cư vào sinh sống ở Bản hoặc là gia đình nào mà có nhu cầu mở rộng thêm đất nông nghiệp với mục đích sản xuất thành hàng hoá thì sẽ được phân chia và cấp đất nông nghiệp cho gia đình và hộ đó sử dụng

Nhìn chung đất sản xuất nông nghiệp với diện tích 178,5 ha, chiếm 7,24% của tổng diện tích đất của Bản, dù con số này tương đối nhỏ so với tổng diện tích nhưng so với số hộ khẩu bây giờ thì là tương đối rộng, với diện tích đã được sử dụng rồi : 126,3 ha, vậy diện tích đất sản xuất nông nghiệp cho 76 hộ gia đình là mỗi hộ có khoảng 1,66 ha đất sản xuất nông nghiệp Nhìn chung là đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp

+ Đất phi nông nghiệp bao gồm đất ở, đất nghĩa địa và núi đá vôi với tổng diện tích 114,13 trong đó diện tích đất ở là 36,5 ha chiếm 1,48 tổng diện tích của Bản

Đất ở nhìn chung đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt cho các hộ gia đình trong Bản

3.2.4.2: Sản xuất nông nghiệp:

+ Về trồng trọt:

Dân trong Bản chủ yếu là trồng lúa, đây là nghề chính của người dân, tổng diện tích ruộng hiện nay là 112 ha, có sản lượng 144,8 tấn /năm Trong bản còn có vài hộ dân còn làm nương rẫy, tổng diện tích nương rẫy toàn Bản

Trang 40

là 5 ha, cho sản lượng 4,5 tấn Ngoài ra họ còn trồng vài loài cây lương thực như là: ngô, xắn, đậu xanh, dưa và một số loại rau

Về máy móc áp dụng trong việc trồng trọt gồm có:

- Có máy cày 33 chiếc

- Có 4 nhà máy xay gạo

- Có 1 máy tuốt thúc

Với tổng diện tích 126,3 ha của diện tích sảnh xuất nông nghiệp hiện tại bây giờ, vậy diện tích bình quân cho 76 hộ là : 1,66 ha, Nhìn chung diện tích này tương đối rộng và có thể đáp ứng được nhu cầu trồng trọt của các hộ gia đình Tuy nhiên do ngày xưa và đến hiện tại trong vùng chưa có hệ thống thuỷ lợi nên người dân hàng năm chỉ có thể làm ruộng được một vụ thôi Nên một số hộ gia đình có diện tích trồng lúa ít thì vẫn thiếu gạo ăn

Theo kết quả điều tra cho kết quả như sau:

Trong năm 2010, có 11 hộ thiếu gạo ăn , có 30 hộ đủ gạo ăn và có 35

hộ thừa gạo ăn

+ Về chăn nuôi:

Đây là nghề phụ của người dân trong Bản, họ chăn nuôi chủ yếu là để trang trại cho gia đình, nhìn chung là ngừơi dân họ chăn nuôi theo mô hình nhỏ để sử dụng trong gia đình chứ không phải vì mục đích kinh tế

Tổng gia súc gia cầm : bò 100 con , trâu 40 con, lợn 30 con, gia cầm

740 con

Gia súc được nuôi chủ yếu trong Bản là: bò, trâu, lợn , gà và vịt Trong đó trâu là gia súc cho sức kéo và để làm đất Đàn gia súc chủ yếu được nuôi theo kiểu thả rông

Ngày đăng: 13/09/2017, 15:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w