một số địa phương chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của thủy lợi, đặc biệt là coi nhẹ sự tham gia của người dân trong quản lý, dẫn đến tư tưởng trông chờ và ỷ lại vào nhà n
Trang 1PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CẢN TRỞ SỰ THAM GIA
CỦ N ƢỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG THỦY LỢI NAM TH CH HÃN, TỈNH QUẢNG TRỊ
NGUYỄN THỊ HOÀI NHÂN
Trang 2Ọ ƢỜN Ọ N
O N – P ỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ÊN Ề TÀI:
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ CẢN TRỞ SỰ THAM GIA
CỦ N ƢỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG
THỦY LỢI NAM TH CH HÃN, TỈNH QUẢNG TRỊ
GVHD : ThS Trần Hạnh Lợi SVTH : Nguyễn Thị Hoài Nhân Lớp : K46B_KTNN
Trang 3LỜ M O N
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong bài khóa luận là trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc bảo vệ trong bất cứ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đều đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Huế, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hoài Nhân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 4Lời Câm Ơn
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đäi học, ngoài sự cố gắng cûa bân thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình cûa các cá nhån trong và ngoài trường
Trước tiên, tôi xin được bày tô lòng biết ơn såu sắc đến toàn thể quý thæy cô giáo trường Đäi học Kinh tế Huế, các thæy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển, đặc biệt là ThS Træn Hänh Lợi người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin câm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình cûa cán bộ Xí nghiệp thûy nông Nam Thäch Hãn, các cán bộ cûa sở NN&PTNT tỉnh Quâng Trị và người dân khu vực Nam Thäch Hãn đã täo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cüng xin chån thành câm ơn gia đình và bän bè đã ûng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu cûa mình
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trình độ và năng lực bân thân còn hän chế nên trong bài khóa luận cûa tôi cüng còn nhiều sai sót, kính mong quý thæy cô giáo góp ý để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận một cách tốt nhçt
Tôi xin trân trọng câm ơn!
Huế, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giâ khóa luận Nguyễn Thị Hoài Nhân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN : ẶT VẤN Ề 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 3
4.1.1 Số liệu thứ cấp 3
4.1.2 Số liệu sơ cấp 3
4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 5
4.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 5
4.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố 5
4.2.3 Phương pháp kiểm định thống kê 6
5 Tóm tắt nghiên cứu 6
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ K T QUẢ NGHIÊN CỨU 7
ƯƠN 1: ỔNG QUAN VỀ SỰ THAM GIA CỦ N ƯỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG THỦY LỢI VÀ CÁC Y U TỐ CẢN TRỞ SỰ THAM GIA 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.1.1 Khái niệm về sự tham gia 7
1.1.1.2 Một số khái niệm về thủy lợi 8
1.1.1.3 Mô hình PIM 9
1.1.2 Nội dung nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thủy lợi nội đồng 10
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước 15
1.2.2 Kinh nghiệm tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi cấp cơ sở 17
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 61.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân ở một số
nước trên thế giới 17
1.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thủy lợi có sự tham gia trong quản lý thủy lợi ở một số địa phương trong cả nước 19
1.2.3 Các khó khăn trong áp dụng mô hình PIM ở Việt Nam 24
ƯƠN : P ÂN Í N ÂN Ố CẢN TRỞ SỰ THAM GIA CỦA N ƯỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG THỦY LỢI NAM TH CH HÃN 26
2.1 Một số đặc điểm cơ bản của địa bàn và công trình nghiên cứu 26
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
2.1.1.1 Đặc điểm địa hình 26
2.1.1.2 Đặc điểm thủy văn 28
2.1.1.3 Đặc điểm khí hậu 29
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 31
2.1.2.1 Dân số và lao động 31
2.1.2.2 Đặc điểm kinh tế 32
2.1.2.3 Đặc điểm xã hội 33
2.2 Thực trạng quản lý thuỷ lợi ở Nam Thạch Hãn 34
2.2.1 Thực trạng tổ chức quản lý của Xí nghiệp thủy nông Nam Thạch Hãn 34
2.2.1.1 Bộ máy tổ chức hoạt động Xí nghiệp thủy nông 34
2.2.1.2 Các hoạt động của Xí nghiệp thủy nông 36
2.2.2 Thực trạng quản lý của các tổ chức thủy nông cơ sở 38
2.2.2.1 Bộ máy quản lý và hoạt động của HTXDN 38
2.2.2.2 Bộ máy quản lý và hoạt động của mô hình Liên hiệp Hội dùng nước kênh liên thôn/liên xã 40
2.2.3 Mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý hệ thống 41
2.2.4 Đánh giá thực trạng quản lý của hệ thống 42
2.2.4.1 Các mặt mạnh 42
2.2.4.2 Các khó khăn, tồn tại 43
2.3 Sự tham gia của người dân trong hê thống thuỷ lợi ở Nam Thạch Hãn 45
2.3.1 Sự tham gia của người dân trong quản lí hệ thống thuỷ lợi ở Nam Thạch Hãn 45
2.3.1.1 Thông tin chung về các hộ điều tra 45
2.3.1.2 Phân tích sự tham gia của người dân 46
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 72.3.2 Sự tham gia của người dân trong khai thác, sử dụng hệ thống thuỷ lợi ở
Nam Thạch Hãn 47
2.4 Phân tích các nhân tố cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thuỷ lợi Nam Thạch Hãn 49
2.4.1 Các nhân tố cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn 49
2.4.2 Đánh giá mức độ cản trở của các nhân tố đến sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn 55
2.4.2.1 So sánh sự khác nhau về mức độ cản trở của các yếu tố đến sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi phân theo HTX: 56
2.4.2.2 So sánh sự khác nhau về mức độ cản trở của các yếu tố đến sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi phân theo trình độ: 56
2.4.2.3 So sánh sự khác nhau về mức độ cản trở của các yếu tố đến sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi phân theo giới tính 58
ƯƠN : ỊN ƯỚNG, GIẢI PHÁP 59
3.1 Định hướng 59
3.2 Giải pháp 59
PHẦN III: K T LUẬN, KI N NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 68
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 8DANH MỤC TỪ VI T TẮT
ĐBSL : Đồng bằng Sông Cửu Long
HTX : Hợp tác xã
HTXDN : Hợp tác xã dùng nước
KTCTTL : Khai thác công trình thủy lợi
LID : Land Improvement District
( Hiệp hội dùng nước ở Nhật Bản )
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ODA : Official Development Assistant
( Nguồn hỗ trợ và phát triển chính thức )
PIM : Participatory Irrigation Management
(Mô hình quản lý nước tưới có sự tham gia của người dân) PTNT : Phát triển nông thôn
UBNN : Ủy ban nhân dân
WUA : Water Users Association
( Hiệp hội dùng nước ở Trung Quốc
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 9DANH MỤ SƠ Ồ, BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Dân số, lao động vùng Nam Thạch Hãn 31
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp vùng nghiên cứu 32
Bảng 3: Số lượng cán bộ công nhân viên Xí nghiệp thủy nông Nam Thạch Hãn 35
Bảng 4: Thông tin chung về các hộ gia đình điều tra 45
Bảng 5: Mức độ tham gia quản lý thủy lợi Nam Thạch Hãn từ 90 mẫu điều tra năm 2016 46
Bảng 6: Thống kê sự hài lòng của người dân trong sử dụng nước tưới từ 90 mẫu điều tra năm 2016 48
Bảng 7: Hệ số Cronbach’s Alpha cho các nhóm nhân tố 50
Bảng 8: Kiểm định hệ số KMO và Bartlett's Test 52
Bảng 9: Ma trận xoay nhân tố 53
Bảng 10: Số liệu thống kê mô tả giá trị các nhân số theo HTX, giới tính, trình độ 55 Bảng 11 : Kiểm định Oneway Anova – Nơi ở 56
Bảng 12: Kiểm định Oneway Anova – Trình độ 57
Bảng 13: Kiểm định Oneway Anova – Giới tính 58
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức của Xí nghiệp thủy nông Nam Thạch Hãn 35
Sơ đồ 2 : Mô hình quản lý HTXDN 39
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức Liên hiệp dùng nước 41 Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 10Ở Việt Nam, để nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống thủy lợi, từ đầu năm 1990 Chính Phủ đã khởi xướng chuyển giao công trình thủy lợi nhỏ, thực hiện xã hội hóa theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Đến năm 1997, thì mô hình PIM mới được phổ biến ở nước ta Tuy nhiên, việc thành lập và hoạt động của tổ chức quản lý theo hướng PIM còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên các mô hình PIM chưa được mở rộng và phát triển Nhiều mô hình PIM không còn hoạt động hoặc hoạt động thiếu hiệu quả sau khi dự án hỗ trợ kết thúc
Hiện nay, ở nhiều nơi nông dân không tham gia vào quản lý thủy lợi nói chung
và thủy lợi nội đồng nói riêng, hoặc là bị tác động theo huy động, áp đặt từ trên xuống Vẫn còn nặng tư tưởng: Công trình thủy lợi là của nhà nước nên việc quản lý và sửa chữa là trách nhiệm của nhà nước Tình trạng người dân sử dụng sai, lãng phí nước, nợ đọng thủy lợi phí…Đó chính là hệ quả của việc không biết phát huy tính cộng đồng trong quản lý thủy lợi
Hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn là công trình thủy lợi quan trọng cung cấp nước phục vụ tưới cho hai huyện Triệu Phong, huyện Hải Lăng và thị xã (TX) Quảng Trị Có vai trò quan trọng trong hoạt động nông nghiệp của 3 địa bàn này Tuy nhiên
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 11một số địa phương chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của thủy lợi, đặc biệt là coi nhẹ sự tham gia của người dân trong quản lý, dẫn đến tư tưởng trông chờ và
ỷ lại vào nhà nước, từ đó không phát huy được hiệu quả sử dụng các công trình thủy lợi, làm giảm năng suất sản xuất trong nông nghiệp
Do đó, để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng công trình thủy lợi Nam Thạch
Hãn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “P â tíc c c â tố cản trở sự tham gia của
ười dân trong quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Đánh giá thực trạng quản lý thủy lợi ở Nam Thạch Hãn, sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi cấp cơ sở, phân tích các yếu tố cản trở sự tham gia của người dân và mức độ cản trở của các yếu tố đó Từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của người dân, nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống thủy lợi cấp cơ sở đối với đời sống của họ
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Đánh giá sự tham gia của người dân trong hê thống thuỷ lợi cấp cơ sở ở Nam Thạch Hãn
- Phân tích các nhân tố cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thuỷ lợi Nam Thạch Hãn
- Đánh giá mức độ cản trở của các yếu tố đến sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn
- Đề xuất một số giải pháp
3 ối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự tham gia của người dân và các nhân tố cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi Nam Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị Do thời gian thực hiện hạn chế nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu một số nông hộ sản xuất trên đồng ruộng và cán bộ các cấp tham gia quản lý thủy nông trên địa bàn Nam Thạch Hãn
Trang 12Đề tài nghiên cứu tại khu vực Nam Thạch Hãn : huyện Triệu Phong, huyện Hải Lăng và TX Quảng Trị
* Phạm vi thời gian:
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2016
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
4.1.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như :
+ Các văn bản và dự án về PIM do xí nghiệp thuỷ nông Nam Thạch Hãn cung cấp
+ Bản thuyết minh chung về công trình do Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn ( NN & PTNT ) tỉnh Quảng Trị cung cấp
+ Các nguồn thông tin về PIM trên các trang web
* Nội dung thảo luận:
Trang 132 Những yếu tố cản trở đến sự tham gia của người dân:
- Nhóm các yếu tố bên ngoài: + Cơ chế quản lý
+ Chất lượng hệ thống
+ Cán bộ quản lý
+ Chính sách quản lý
- Nhóm các yếu tố bên trong: + Nguồn lực gia đình
- Các yếu tố trên ảnh hưởng như thế nào đến sự tham gia của người dân trong việc quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn?
- Ngoài những yếu tố trên còn có yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong việc quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn hay không?
- Trong các yếu tố kể trên thì yếu tố nào là quan trọng nhất?
3 Xếp hạng mức độ quan trọng của các rào cản này
Đây là tiền đề để giúp tôi có thể thiết kế bảng hỏi để điều tra hộ, phục vụ cho việc nghiên cứu định lượng
b Điều tra hộ:
* Chọn địa điểm điều tra:
Địa bàn Nam Thạch Hãn rộng lớn nên tôi chỉ chọn 3 HTX khác nhau để điều tra 1 HTX ở đầu kênh chính, 1 HTX ở giữa kênh chính và 1 HTX ở cuối kênh chính
Vì hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn cung cấp nước tưới cho 2 huyện Triệu Phong, huyện Hải Lăng và TX Quảng Trị nên tôi sẽ chọn ra 3 HTX thuộc 3 khu vực này để điều tra
* Chọn mẫu điều tra:
Tôi đã tham khảo ý kiến của những cán bộ quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn và quá trình đi thực tế, đã lựa chon ra 3 HTX phù hợp để tiến hành điều tra nghiên cứu đó là : HTX Trí Bưu, HTX Triệu Thuận và HTX Lam Thủy Trong 3 HTX
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 14lựa chọn ra 90 nông hộ để điều tra: 30 hộ thuộc Trí Bưu, 30 hộ thuộc Triệu Thuận và
30 hộ thuộc Lam Thủy
* Tiến hành điều tra:
Thông qua thiết kế các phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 90 hộ nông dân được lựa chọn ngẫu nhiên và không lặp lại
4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 kết hợp với Exel Sau khi mã hóa và làm sạch dữ liệu sẽ tiếp tục được đưa vào để phân tích
4.2.1 P ươ p p t ống kê mô tả
Tôi sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả những đặc tính cơ bản của
dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Sau khi thực hiện thống kê mô tả tôi đã biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu Từ đó có thể đưa ra các nhận xét về mức độ tham gia của người dân trong quản lý
và khai thác, sử dụng hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn
4.2.2 P ươ pháp phân tích nhân tố
* Đánh giá độ tin cậy của thang đo:
Trước khi kiểm định lý thuyết khoa học thì cần phải đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo Tôi sử dụng phương pháp Cronbach’s Alpha dùng để đánh giá độ tin cậy của thang đo Loại đi những biến khảo sát không phù hợp để có thể tiến hành phân tích EFA một cách thuận lợi
- 0,8 ≤ Cronbach’s Anpha : Thang đo tốt
- 0,7 ≤ Cronbach’s Anpha < 0,8 : Thang đo sử dụng được
- 0,6 ≤ Cronbach’s Anpha < 0,7: Thang đo chấp nhận được nếu khái niệm đo lường là mới hay mới với người được phỏng vấn
* Phân tích nhân tố EFA:
Sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo tôi tiến hành phân tích nhân tố EFA Điều kiện:
Phân tích yếu tố chỉ được sử dụng khi hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) có giá
trị từ 0,5 trở lên (Othman & Owen, 2002), kiểm định Bartlett’s có giá trị sig < 0.05,
các biến có hệ số tải (factor loading) nhỏ hơn 0,5 sẽ bị loại Điểm dừng Eigenvalue
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 15(đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi yếu tố) lớn hơn 1 và tổng phương sai trích (Cumulative % Extraction Sums of Squared Loadings) lớn hơn 50%
(Gerbing & Anderson, 1988) Phương pháp trích “Principal Axis Factoring” với phép
quay “Varimax” được sử dụng trong phân tích yếu tố thang đo các thành phần độc lập
Tôi sử dụng phương pháp trên để phân tích các biến khảo sát về sự cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn để tìm ra những biến số cản trở có mối tương quan với nhau, rút gọn những biến số đó thành một tập hợp F là những nhóm nhân tố tổng quát, có ý nghĩa hơn Cơ sở của việc rút gọn này dựa vào mối quan hệ tuyến tính của các nhân tố với biến khảo sát
4.2.3 P ươ g pháp kiểm định thống kê
Sau khi tiến hành phương pháp EFA tôi sẽ tìm ra được các nhân tố cản trở chung và xác định các nhân số của các nhân tố nói trên Tôi sử dụng phương pháp kiểm định thống kê để so sánh sự khác nhau về mức độ cản trở sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi phân theo HTX, giới tính và trình độ Đầu tiên, sẽ đưa ra các giả thuyết H0 và đối thuyết H1, sau đó xây dựng một quy tắc hành động dựa vào mẫu đã có đưa ra quyết định lựa chọn giả thuyết H0, hay đối thuyết H1 Từ đó có thể biết được mức độ cản trở của các nhóm nhân số giữa các HTX, giới tính và trình độ khác nhau như thế nào Đây cũng là tiền đề để đưa ra được các biện pháp khắc phục hiệu quả hơn
Chương 2: Phân tích các nhân tố cản trở sự tham gia của người dân trong quản
lý hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn
Trang 16PHẦN II: NỘI DUNG VÀ K T QUẢ NGHIÊN CỨU ƯƠN 1: ỔNG QUAN VỀ SỰ THAM GIA CỦ N ƯỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG THỦY LỢI VÀ CÁC Y U TỐ CẢN TRỞ
SỰ THAM GIA
1.1 ơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về sự tham gia
- Sự tham gia:
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu phát triển, tham gia là một triết lý đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu phát triển cộng đồng Theo Oakley (1989) cho rằng tham gia là một quá trình tạo ra khả năng nhạy cảm của quần chúng và nâng cao năng lực tiếp thu các cái mới và khích kệ các sáng kiến mới ở địa phương Quá trình này hướng tới những nỗ lực có tổ chức nhằm tăng cường kiểm soát các nguồn lực và các tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh xã hội nhất định Tham gia bao gồm việc ra quyết định, thực hiện, phân chia lợi ích và đánh giá các hoạt động phát triển của người dân
- Sự tham gia trong quản lý thủy lợi PIM:
Quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân không hàm ý người dân phải có trách nhiệm đối với tất cả các khía cạnh trong hệ thống nước mà họ đang sử dụng Họ
có thể tham gia vào một, một vài hoặc tất cả các công việc quản lý, vận hành kỹ thuật
và tài chính của một hệ thống cấp nước Mức độ tham gia của người dân là rất đa dạng, từ việc đơn thuần chia sẻ thông tin về lập kế hoạch nước tưới cho đến thảo luận
để đưa ra các ý tưởng, hoặc từ việc tham gia như hình thức “nhân công giá rẻ” hoặc là
“chia sẻ chi phí”, hoặc tham gia để xây dựng quyết định dựa trên sự đồng thuận đến chuyển giao trách nhiệm và quyền để kiểm soát hệ thống tại địa phương Sự tham gia của người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu để hướng tới sự phát triển của công
tác quản lý nước tưới hiệu quả và bền vững nhất ( Oakley, 1989 )
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 17Như vậy, sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi nội đồng địa phương nói riêng và hệ thống thủy lợi nói chung bao gồm trong quản lý, khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi nội đồng ở đây chỉ là một khía cạnh phát triển thủy lợi trong tổng thể sự phát triển chung của cộng đồng, người dân Sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi Nam Thạch Hãn cũng mang đầy đủ những nội dung, tính chất của sự tham gia trong bất kỳ sự phát triển nào
Hệ thống hóa từ các quan điểm khác nhau, qua nghiên cứu cho thấy: Sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi là một quá trình có sự tham gia của người dân, trong đó người dân chính là trung tâm của hệ thống, là đối tượng được hưởng lợi chính từ các công trình thủy lợi Sự tham gia của người dân rất đa dạng và phụ thuộc vào bối cảnh địa phương, quy mô của cộng đồng, luật pháp nhà nước, thể chế và năng lực địa phương, và công nghệ được sử dụng Sự tham gia của người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu để hướng tới sự phát triển thủy lợi địa phương một cách hiệu quả
xuất và đời sống ( Nguyễn Thu Hằng, 2014 )
- Công tác thủy lợi:
Công tác thủy lợi hình thành và phát triển như là một hoạt động không thể thiếu nhằm điều hòa giữa lượng nước đến của tự nhiên với yêu cầu về nguồn nước của con
người ( Nguyễn Thu Hằng, 2014)
Công tác thủy lợi bao gồm tổng hợp các biện pháp như chiến lược, quy hoạch, xây dựng, quản lý và khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi, thực hiện tưới tiêu một cách khoa học nhằm chủ động cho nguồn nước trồng trọt, chăn nuôi và tạo điều kiện mở rộng diện tích canh tác, tăng năng suất, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi
và hạn chế các thiệt hại do nước gây ra như hạn hán, lũ lụt…
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 18Bên cạnh đó công tác thủy lợi trong nông nghiệp cũng có ảnh hưởng đến đời sống xã hội nông thôn như cung cấp nguồn nước trong sinh hoạt và các ngành nghề nông thôn, tạo cảnh quan môi trường sinh thái nông nghiệp nông thôn thuận lợi
- Công trình thủy lợi:
Công trình thủy lợi được coi là công cụ cơ bản để con người thực hiện việc điều tiết nguồn nước theo nhu cầu của mình Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi nêu rõ: Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước, phòng chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: Hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh,
công trình trên kênh và bờ ao các loại ( Ủy ban thường vụ Quốc Hội, 2001)
- Quản lý thủy lợi:
Quản lý thủy lợi là thực hiện các biện pháp : Quy hoạch, xây dựng hệ thống công trình thủy lợi, quản lý nước tưới, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi nhằm đảm bảo chống thất thoát nước, cung cấp nước cho cây trồng đúng theo yêu cầu của
cây, tiết kiệm nước và giúp tăng năng suất ( Nguyễn Thu Hằng, 2014)
Những căn cứ để quản lý thủy lợi: Đặc điểm thời tiết, khí hậu của vùng, địa phương như thế nào: Về lượng mưa, độ ẩm , nhiệt độ….đặc điểm của hệ thống tưới có thuận lợi cho việc lấy nước của các khu đồng, có hay bị thất thoát nước, đặc điểm của cây trồng về loại cây trồng, diện tích, yêu cầu về nước…
1.1.1.3 Mô hình PIM
PIM là từ viết tắt theo tiếng Anh “Participatory Irrigation Management”, nghĩa
là “quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân” Đây là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống tưới tiêu, góp phần vào tiến trình “xã hội hóa” thủy lợi
- Khái niệm về PIM:
Quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân (PIM) là một phương pháp trong
đó nông dân tham gia vào tất cả các giai đoạn phát triển thủy lợi thông qua vận hành,
khai thác, bảo trì hệ thống và được thực hiện ở nhiều nước đang phát triển.( Kuhestani-Raheli-Zarifian, 2015)
Isanezhad-Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 19- Mục tiêu của PIM:
Thực tế cho thấy, việc tham gia quản lý công trình thủy lợi của người dân đã góp phần quan trọng trong duy trì và nâng cao hiệu quả các hệ thống thủy lợi, phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác: Hiệu quả sử dụng nước mặt ruộng được nâng lên, phân phối nước công bằng và kịp thời hơn, làm tăng năng suất nông nghiệp Chi phí vận hành giảm và công trình được duy tu bảo dưỡng tốt hơn Người dân tham gia vào đầu tư, quản lý khai thác công trình thủy lợi cũng làm giảm gánh nặng cho Nhà nước
1.1.2 Nội dung nghiên cứu về sự tham gia của ười dân trong quản lý hệ thống thủy lợi nội đồng
- Sự tham gia của người dân trong quản lý nước tưới trên đồng ruộng:
Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong việc lập kế hoạch tưới – tiêu: Một kế hoạch tưới được lập ra đáp ứng được nhu cầu nước tưới của người dân là cần thiết Vì vậy một bản kế hoạch tưới được lập ra bởi những người không liên quan gì đến sản xuất nông nghiệp trên đồng ruộng có thể sẽ không khả thi và không phù hợp với mong muốn của người dân Người dân có quyền tham gia vào việc ra quyết định vì kết quả của các quyết định lập kế hoạch sẽ ảnh hưởng đến việc cung cấp nước cho sản xuất của họ Người dân được đưa ra ý kiến và quyết định về nội dung và tiến trình thực hiện việc tưới nước trên đồng ruộng Cán bộ kỹ thuật giúp dân lựa chọn được kế hoạch tưới tiêu thích hợp để phục vụ sản xuất nông nghiệp giải quyết vấn đề nước tưới Kế hoạch
và nội dung hoạt động được xác định dựa trên: hiện trạng, mục tiêu và nhu cầu của dân
về nước tưới trên đồng ruộng Dân tham gia lập kế hoạch hoạt động cụ thể về thời gian bơm nước về đồng ruộng, thời gian kéo dài của mỗi đợt bơm nước
Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong điều hành nước tưới trên đồng ruộng: Người dân được thông báo về thời điểm dẫn/bơm nước vào đồng ruộng Dân tham gia giữ nước tránh thất thoát trên đồng ruộng và thường xuyên kiểm tra tình hình nước trên đồng ruộng của gia đình mình và thông tin cho ban quản lý về tình hình nước tưới
Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong quản lý chất lượng nước tưới ở kênh mương đồng ruộng: Chất lượng nước tưới đóng vai trò rất quan trọng trong việc sinh trưởng và phát triển của cây trồng Chất lượng nước tưới tốt thì cây sinh
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 20trưởng và phát triển mạnh đem lại năng suất cao, còn ngược lại, chất lượng nguồn nước tưới bị ô nhiễm không đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cây làm thiệt hại đến năng suất và thu nhập của người dân Người dân sẽ tham gia đánh giá chất lượng nước tưới ở kênh mương đồng ruộng của địa phương mình; tìm hiểu xem chính quyền địa phương và phía các hộ dân đã tham gia những hoạt động nào
để quản lý chất lượng nước tưới ở kênh mương đồng ruộng tránh bị tình trạng ô nhiễm
Tìm hiểu sự tham gia của người dân tu bổ, nạo vét kênh mương bờ vùng: Tu
bổ, nạo vét kênh mương, bờ vùng là một hoạt động quan trọng trong quản lý nước tưới trên đồng ruộng; kênh mương có tốt, thông thoáng thì mới dẫn nước tốt Cần có sự tham gia của người dân để nâng cao trách nhiệm và ý thức của họ trong việc quản lý
và bảo vệ các công trình thủy lợi nội đồng ở địa phương
Tìm hiểu sự tham gia của người dân trong đóng góp kinh phí: Nguồn kinh phí người dân người dân tham gia đóng góp cho việc quản lý và bảo vệ các công trình thủy lợi nội đồng Tìm hiểu những khoản đóng góp của người dân cho hoạt động quản
lý thủy lợi nội đồng, có sự khác nhau nào giữa các khu xứ đồng và các xã, phường trong huyện, TX hay không
- Sự tham gia của người dân trong khai thác, sử dụng hệ thống thuỷ lợi:
Tìm hiểu sự hài lòng, những tranh chấp xảy ra của người dân trong quá trình khai thác và sử dụng các công trình thủy lợi nội đồng tại địa phương, để thấy được những lợi ích đem lại của công trình thủy lợi nội đồng và những hạn chế còn tồn tại để tìm ra hướng khắc phục
1.1.3 Các nhân tố ả ưở đ n sự tham gia của ười dân
Theo báo cáo của Isanezhad-Kuhestani-Raheli-Zarifian (2015) “AMixed Method Study of the Obstacles and Problems involved with Participatory Irrigation Management (PIM) in Iran” :
Quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân (PIM) là một phương pháp trong
đó nông dân tham gia vào tất cả các giai đoạn phát triển thủy lợi để vận hành và bảo trì, nó được thực hiện ở nhiều nước đang phát triển Có nhiều kinh nghiệm thành công
và không thành công của PIM ở các nước đang phát triển trong đó có Iran Về vấn đề này, nghiên cứu đã điều tra các chướng ngại vật, các vấn đề liên quan đến PIM trong
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 21tưới tiêu mạng lưới Kinevars Dam và đưa ra hướng giái quyết Các kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố của việc thiếu kinh phí ở các giai đoạn hành chính, sự thất bại
để đào tạo các thành viên của hợp tác xã dùng nước ( HTXDN ), lỗi kỹ thuật trong hệ thống thủy lợi, và sự chậm trễ trong quản trị dự án là một trong những vấn đề quan trọng nhất và gây trở ngại đối với sự tham gia của người dân trong mạng lưới tưới tiêu tại Kinevars Dam Quản trị thủy lợi và hệ thống thoát nước đã bị trì hoãn do thiếu kinh phí của chính phủ trong quản lý, khiến việc quản lý thủy lợi và hệ thống thoát nước gặp nhiều khó khăn Các thành viên của HTXDN không được đào tạo về mô hình PIM một cách cụ thể Do lỗi kỹ thuật trong hệ thống nên người nông dân không thể sử dụng
hệ thống thủy lợi phục vụ cho tưới tiêu một cách đúng đắn và kịp thời Các chính sách quản lý từ cấp trên đối với các vùng nghiên cứu không phù hợp, thiếu cam kết với lời hứa của mình Điều đó làm cho các đối tượng thụ hưởng dể mất lòng tin vào chính phủ
và không thực hiện đúng nhiệm vụ của mình theo quy định của các HTXDN Nhận thức về những vấn đề này là những trở ngại chính cho PIM trong dự án này có thể buộc các nhà chức trách có thể thay đổi thái độ của họ và có những sửa đổi cần thiết
Theo luận án Thạc sỹ của Nguyễn Thu Hằng (2014) “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi nội đồng tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” Có
5 nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định:
+ Quản lý của chính quyền địa phương:
Quản lý là việc đề ra phương hướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện mọi hoạt động của đơn vị Đối với công tác thủy lợi nói chung và thủy lợi nội đồng nói riêng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 22cũng vậy, vị trí của quản lý rất quan trọng trong điều hành, lãnh đạo và tổ chức thực hiện các công việc của ngành và ảnh hưởng đến việc huy động sự tham gia của người dân vào quản lý thủy lợi nội đồng ở địa phương Trình độ và năng lực của cán
bộ ngành càng cao thì trong quản lý, thực hiện công việc càng đạt hiệu quả, càng huy động được sự tham gia của người dân và ngược lại Sự rõ ràng trong phân bổ vai trò và chức năng của từng cán bộ, cơ quan, phòng ban liên quan đến thủy lợi nội đồng của địa phương thì công việc được thực hiện càng nhanh, hiệu quả, và người dân có tâm lý yên tâm và càng muốn tham gia vào trong quản lý thủy lợi nội đồng Phương thức tuyên truyền, vận động sự tham gia của người dân: Các cơ quan quản lý thủy nông cần tổ chức những buổi tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật cho người dân tham gia xây dựng, quản lý, tham khảo và chưng cầu ý kiến của người dân phù hợp để họ cảm thấy mình có quyền sở hữu, được là chủ thể, được tham khảo ý kiến, được ra quyết định và có trách nhiệm với việc quản lý nước tưới ở địa phương Khi đó người dân mới hiểu rõ và có nhu cầu cao hơn trong việc tham gia quản lý thủy lợi nói chung và quản lý thủy lợi nội đồng nói riêng ở địa phương mình
+ Nguồn lực của hộ gia đình:
Nguồn lực của hộ gia đình là một trong những yếu tố quan trọng và quyết định đến sự tham gia của các thành viên trong gia đình vào quản lý thủy lợi nội đồng ở địa phương Thể hiện ở:
Số lao động của hộ là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ vào thủy lợi nội đồng của địa phương Cụ thể, thể hiện ở nếu hộ có nhiều người trong độ tuổi lao động thì hộ có khả năng tham gia trong góp sức lao động trong xây dựng các công trình thủy lợi nội đồng ở địa phương cao hơn, cũng như sẽ có nhiều người trong gia đình tham gia vào quản lý thủy lợi nội đồng của địa phương mình nhiều hơn những hộ có ít lao động…
Giới tính của chủ hộ cũng có ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào thủy lợi nội đồng: thường chủ hộ là nam giới thì họ sẽ có quyết định mạnh dạn hơn, hướng cho gia đình mình tham gia nhiều hơn là chủ hộ là nữ giới
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 23Khả năng kinh tế hộ của các gia đình cũng đóng một vai trò quyết định trong việc tham gia của các hộ gia đình vào hoạt động thủy lợi Cụ thể, hộ gia đình có khả năng kinh tế càng cao thì khả năng tham gia của họ vào việc xây dựng và quản lý thủy lợi càng cao do họ có khả năng về tài chính, về nguồn lực đóng góp cho các hoạt động quản lý Ngược lại, các hộ nghèo khó có khả năng tham gia vào dự án hơn do họ thiếu các điều kiện về sản xuất, lao động…
Trình độ văn hóa của chủ hộ một phần sẽ ảnh hưởng đến khả năng kinh tế của
hộ và ảnh hưởng lớn đến khả năng ra quyết định ảnh hưởng đến sự tham gia trong quản lý thủy lợi nội đồng Hầu hết các quyết định của hộ nông dân do chủ hộ quyết định hoặc ý kiến của chủ hộ có trọng lượng lớn, vì vậy trình độ văn hóa của chủ hộ có ảnh hưởng đến việc tiếp thu các cơ chế mới, nhanh nhạy với các vấn đề cần giải quyết
và đưa ra được những quyết định phù hợp về việc tham gia vào các chủ trương, phong trào của địa phương nói chung và tham gia vào quản lý thủy lợi trên đồng ruộng nói riêng
Diện tích ruộng của hộ cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của người dân trong việc họ có quyết định tham gia vào quản lý thủy lợi nội đồng hay không Những hộ có diện tích ruộng lúa càng nhiều thì họ càng quan tâm, mạnh dạn đầu tư, càng chú trọng nhiều vào việc làm thế nào tạo ra năng suất sản xuất cao nhất,
họ càng có trách nhiệm hơn trong việc quản lý đồng ruộng của mình, do đó họ có nhu cầu tham gia vào quản lý thủy lợi nội đồng hơn là những hộ có diện tích ruộng ít
+ Hiểu biết của người dân:
Công tác định hướng và lãnh đạo thuộc về các cán bộ quản lý, tuy nhiên việc thực hiện các chủ trương, chính sách là do người dân thực hiện Mặt khác, về vấn đề
sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi nội đồng thì mức độ hiểu biết của người dân cao hay thấp sẽ có ảnh hưởng nhất định tới quyết định có tham gia vào hay không, nên tham gia vào những khâu, hoạt động nào trong quản lý thủy lợi nội đồng
+ Sự hợp tác giữa cơ quan lãnh đạo và người dân:
Để huy động sự tham gia của người dân vào quản lý thủy lợi nội đồng thì không chỉ riêng là công việc của các cấp lãnh đạo, quản lý mà đó còn là cả trách
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 24nhiệm và quyền lợi ở phía những người dân Cần có sự hợp tác của cả hai bên thì hoạt động quản lý thủy lợi nói chung và quản lý thủy lợi nội đồng ở địa phương mới phát triển và đạt được hiệu quả
1.2 ơ sở thực tiễn
1.2.1 Chủ trươ c í s c của Đả và N à ước
Trong quá trình phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung, công tác thủy lợi luôn có vị trí quan trọng và nhận được sự quan tâm đầu tư của nhà nước cùng với sự đóng góp công sức của nhân dân
Về việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến công tác thủy lợi cũng được nhà nước đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, kể từ ngày thành lập nước đến nay, chưa
có một văn bản Luật nào quy định toàn diện các nội dung của công tác thủy lợi, bao gồm từ khâu chiến lược, kế hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Bên cạnh đó, nội hàm công tác thủy lợi cũng được hiểu và phân chia thành một số lĩnh vực khác nhau, thể hiện tính chất, mức độ quan trọng của từng nội dung công việc, dẫn đến việc ban hành chính sách đã được thể hiện ở nhiều Luật khác nhau, trong đó có việc ban hành riêng Luật chỉ quy định một hoặc một số nội dung của công tác thủy lợi (Luật Đê điều) hoặc có những nội dung mà chủ yếu là nội dung công tác quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng thủy lợi lại được ban hành và áp dụng ở nhiều Luật khác nhau, do các cơ quan khác nhau chủ trì soạn thảo (Luật Tài nguyên nước, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu)
Riêng pháp luật về công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (thủy nông trước đây) là thống nhất về văn bản Ngay từ năm 1962, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66-CP ngày 05/6/1962 ban hành điều lệ thu thủy lợi; Năm 1963, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 141-CP ngày 26/9/1963 ban hành bản Điều lệ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy nông, trong đó cũng đã quy định nội dung, tổ chức, công tác bảo vệ và trách nhiệm của chính quyền các cấp hành chính trong lĩnh vực thủy nông Bước phát triển tiếp theo của pháp luật về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi ngày 31/8/1994 Đến năm 2001, Pháp lệnh đã được bổ sung, điều chỉnh và được Ủy ban
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 25thường vụ Quốc hội khóa X đã thông qua tại văn bản số 32/2001/PL-UBTVQH ngày 4/4/2001 Pháp lệnh đã quy định về khai thác, bảo vệ công trinhg thủy lợi, quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Để hướng dẫn thi hành pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 143/2003/NĐCP ngày 28 tháng 11 năm 2003 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Trong đó, quy định chi tiết các nội dung về khai thác, bảo vệ, quản lý nhà nước về công trình thủy lợi như: sử dụng tổng hợp, trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp, tổ chức hợp tác dung nước, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng và khai thác sử dụng các công trình thủy lợi, thủy lợi phí, thay đổi quy mô, nhiệm vụ công trình, phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và các quy định quản lý nhà nước về công trình thủy lợi Qua quá trình triển khai Nghị định số 143/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/NĐ-CP ngày 14/11/2008 và Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 10/9/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 143/2003/NĐ-CP về mức thu thủy lợi phí và miễn thủy lợi phí, chính sách đối với tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi và việc ngân sách nhà nước cấp bù do thực hiện miễn phí thủy lợi
Liên quan đến hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi, Bộ NN & PTNT
đã ban hành các văn bản, như: Thông tư số 65/2009/TTBNNPTNT ngày 12/10/2009 hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Thông tư số 56/2010/TT-BNNPTNT ngày 1/10/2010 quy định một số nội dung trong hoạt động của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Thông tư số 40/2010/TT-BNNPTNT ngày 27/5/2011 quy định năng lực tổ chức, cá nhân tham gia quản lý khai thác công trình thủy lợi; Quyết định số 2891/NĐ-BNN-TL ngày 12/10/2009 hướng dẫn xây dựng mức kinh tế - kỷ thuật trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; Quyết định số 412/QĐ-VKHTL VN ngày 11/4/2014 của Bộ NN & PTNT về việc thành lập Ban điều hành khai thác công trình thủy lợi
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, trong
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 26xã hội, cùng với đổi mới, phát triển của đất nước trong thời kỳ đỏi mới, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
1.2.2 Kinh nghiệm tham gia của ười dân trong quản lý thủy lợi cấp cơ sở:
1.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân ở một số nước trên thế giới:
Sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi nói chung và quản lý thủy lợi nội đồng nói riêng đã và đang là xu thế toàn cầu Tuy nhiên, mỗi quốc gia khác nhau lại có những hình thái, tính chất và mức độ tham gia khác nhau Ví dụ về sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi ở một số nước trên thế giới như sau:
Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Ở Nhật Bản, cơ sở tham gia của người dân trong công tác thủy lợi được thông qua hoạt động của các tổ chức Land Improvement District ( LID ), tổ chức này nhấn mạnh hoạt động cải tạo đất nhưng thực chất đó là các hội dùng nước được hình thành
để xây dựng, quản lý, vận hành các công trình tưới tiêu cũng như khai thác, quản lý
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 27nguồn nước tưới Các tổ chức này phát triển rộng khắp đất nước Nhật Bản LID là tổ chức hợp pháp của những người dùng nước theo luật cải cách ruộng đất năm 1949 trong đó thành viên của tổ chức này là những người nông dân tập hợp lại với nhau trên
cơ sở hợp tác vì lợi ích Họ tự trả những chi phái cần thiết cho việc xây dựng, quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng công trình tưới tiêu
Cơ chế ra quyết định của LID đước thông qua với sự đồng ý của ít nhất 2/3 trên tổng số trong đại hội thành viên Đại hội thành viên tổ chức thường kỳ hoặc bất thường song ít nhất là một năm một lần để ra quyết định về tổ chức, quản lý hay các hoạt động cụ thể Đại hội thành viên cũng bầu ra ban chủ nhiệm, bộ phận kế toán, ban thư ký và cán bộ giúp việc để làm nhiệm vụ điều hành hoạt động thường ngày của LID
(Đoàn Thế Lợi, 2004)
Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Sự tham gia của người dân trong xây dựng, quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi được thông qua hiệp hội những người sử dụng nước Water Users Association ( WUA) WUA có tư cách pháp nhân theo quyết định phê duyệt của chính quyền cấp trên WUA tự chủ về tài chính cũng như các hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thủy lợi thuộc phạm vi quy định WUA có chức năng phân phối nước, bảo
vệ kênh, xác định giá nước trong phạm vi phụ trách, trực tiếp thu phí các hộ dùng nước, ký kết hợp đồng với công ty cấp nước của nhà nước và thực hiện trả phí nước theo hợp đồng WUA được thành lập theo thôn, xã tùy theo quy mô, tổ chức Đảng và Chính quyền không can thiệp trực tiếp vào hiệp hội WUA là tổ chức của người dân,
do người dân tham gia thành lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi (Lê Cao Sơn, 2005)
1.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thủy lợi có sự tham gia trong quản lý thủy lợi ở một số địa phương trong cả nước:
a, Lịch sử áp dụng mô hình PIM ở Việt Nam:
Việt Nam bắt đầu áp dụng phương pháp quản lý thủy lợi có sự tham gia từ đầu những năm 1990 sau khi Chính phủ chính thức quyết định chuyển giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình thông qua chính sách “Khoản 10” Quản lý thủy lợi có sự tham gia là một phương pháp hiệu quả cho quản lý tài nguyên nước có sự
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 28tham của người dân, bởi vì các cộng đồng hưởng lợi sẽ cùng tham gia với tư cách là người sử dụng nước, người quản lý và bảo vệ nguồn nước, nhất là đối với các hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ Mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia đã được áp dụng thử nghiệm ở nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Bình Định Về mặt thể chế tổ chức, các đánh giá gần đây
đã xác định có 3 mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia của cộng đồng, bao gồm: 1)
mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý; 2) mô hình chia sẻ quản lý giữa
tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước; và 3) mô hình tổ chức cộng đồng tự quản lý Đánh giá này đã khẳng định sự tham gia của nông dân ngày càng tăng trongquá trình ra quyết định đã dẫn đến các mô hình quản lý thực hiện ngày
càng tốt hơn (Trần Chí Trung, 2002)
b, Một số mô hình PIM ở Việt Nam:
Trên quan điểm quản lý bởi cộng đồng cho rằng: Tài nguyên nước sẽ được quản lý tốt hơn nếu có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ra quyết định Trong
đó, riêng đối với vấn đề về quản lý thủy lợi, có thể thực hiện dựa trên 3 mô hình có sự tham gia của người dân:
- Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý
- Mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một tổ chức có liên quan đến nhà nước
- Mô hình tổ chức cộng đồng tự quản lý
Mô hình tổ chức nông dân và nhà nước cùng quản lý thủy lợi:
Mô hình này tồn tại ở các xã Bắc Thành, Trung Thành, Xuân Thành và Long Thành của huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Ở những xã này, các tổ chức nông dân như HTX sử dụng nước hay HTX nông nghiệp đã được thành lập để phối hợp với công ty thuỷ nông Bắc Nghệ An ( là công ty dịch vụ của nhà nước) để cung cấp dịch
vụ thuỷ lợi cho các hộ gia đình Ngoài ra, mô hình cũng tồn tại ở một số huyện của tỉnh Quảng Nam
Ở địa bàn tỉnh Nghệ An: Việc quản lý và phân phối nước trong địa bàn được giao cho tận cơ sở theo hướng quản lý phi tập trung Công ty thuỷ lợi có trách nhiệm quản lý các trạm (bơm) đầu mối, các tuyến kênh cấp II và một số tuyến kênh cấp III để
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 29cung cấp nước tưới cánh đồng rộng trên 500 ha, gồm cả việc duy tu định kỳ và bảo vệ các công trình khỏi sự xâm phạm và phá hoại Công ty này có trách nhiệm cấp nước từ trạm đầu mối đến các kênh cấp III và chuyển giao cho các HTX nông nghiệp hoặc HTX sử dụng nước để phân phối và dẫn nước vào đồng ruộng Những HTX này có trách nhiệm quản lý, duy tu, bảo vệ và dẫn nước từ các tuyến kênh cấp III vào hệ thống kênh nội đồng do họ kiểm soát Thông qua hợp đồng với công ty thuỷ nông, mỗi
hộ gia đình có ruộng được tưới sẽ phải trả phí thuỷ lợi dưới sự giám sát của các HTX
Những lợi ích chính của mô hình HTX sử dụng nước ở tỉnh Nghệ An đã được đánh giá như sau: cải thiện quyền làm chủ và tinh thần trách nhiệm; việc lập kế hoạch tưới có sự tham gia một cách cẩn thận và hợp lý; tiết kiệm nước một cách đáng kể, hiệu quả tưới tiêu cao hơn; giảm thiểu được mâu thuần thường xuyên giữa những người sử dụng nước ở đầu và cuối kênh; các tuyến kênh được duy tu tốt hơn, chi phí giảm; thái độ và mối quan tâm của người dân được cải thiện; nguồn nước trong kênh luôn luôn được giữ sạch; hệ thống thu phí sử dụng nước được cải thiện đáng kể; ổn định sản xuất và cải thiện sinh kế giảm bớt nỗi lo về nước như trước đây; tạo cơ hội và cải thiện thu nhập cho người nghèo; cải thiện năng lực quản lý thuỷ lợi; giảm chi phí, khối lượng công việc và công lao động cho các trạm thuỷ lợi
Tuy nhiên, lợi ích từ các mô hình này là chỉ giới hạn cho những người là thành viên của HTX Các trở ngại và hạn chế của mô hình này được chỉ ra là: Chính sách và khung luật pháp hỗ trợ còn yếu và chưa hiệu quả; chính quyền địa phương hỗ trợ chưa đầy đủ và chưa tạo điều kiện thuận lợi; việc thể chế hoá nhằm hỗ trợ tiếp cận có sự tham gia còn bất cập; năng lực quản lý và vận hành của các nhà quản lý còn hạn chế;
cơ sở hạ tầng còn yếu kém; mức độ hiểu biết và nhận thức của nông dân còn hạn chế;
hệ thống sản xuất quy mô nhỏ và phân tán; chiến lược tích hợp vấn đề giới chưa hiệu quả; chức năng quản lý và vận hành bị chồng chéo giữa HTX sử dụng nước và chính quyền địa phương; HTX sử dụng nước còn yếu về cả tầm quản lý và tài chính
Còn ở Quảng Nam, mô hình quản lý thủy lợi có sự tham gia của người dân là
sự phối hợp quản lý giữa công ty quản lý thủy nông và HTX dịch vụ nông nghiệp Một
số dẫn chứng: Ở Tam Thanh – huyện Tam Kỳ có 2 HTX nằm dọc theo tuyến kênh N12 của hệ thống thủy lợi Phú Ninh Mỗi HTX có bộ phận quản lý hành chính và ban
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 30kiểm soát có trách nhiệm cung cấp các dịch vụ nông nghiệp như thủy lợi, nguyên liệu
và vật tư nông nghiệp, hướng dẫn kế hoạch sản xuất và khuyến nông đến từng hộ gia đình – HTX chuyển dần sang chức năng cung cấp dịch vụ, tư vấn cho nông dân; Ở xã Bình Tú – huyện Thanh Bình vai trò của HTX dịch vụ nông nghiệp được thay thế bằng Ban kinh tế xã Thay mặt những người sử dụng nước (nông dân), người đứng đầu HTX hoặc ban kinh tế xã ký hợp đồng với công ty thủy nông để quản lý và phân phối nước từ đầu nguồn kênh cấp III dẫn vào các tuyến kênh nội đồng
Với mô hình này ở Quảng Nam, chính quyền địa phương không trực tiếp tham gia quản lý và cấp dẫn nước UBND xã chỉ tham gia giải quyết các xung đột, tranh cãi trong phạm vi chức năng của mình Mô hình này chỉ phù hợp với các công trình cấp nước nhỏ hoạt động trong một thôn hoặc liên thôn, do đó dễ dàng thích hợp với khả năng thực tế của bà con nông dân trong quản lý và cấp dẫn nước Tuy nhiên, mô hình này cũng lộ rõ những bất cập trong việc thu phí thủy lợi vì người sử dụng nước không
trực tiếp ký các hợp đồng dùng nước với công ty thủy nông (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)
Ở An Giang: được biết đến là một trong những tỉnh có diện tích trồng lúa lớn nhất Việt Nam (hơn 200.000 ha) Để phục vụ tưới tiêu, công tác thủy lợi dựa hoàn toàn vào hệ thống kênh rạch và các trạm bơm động lực trên các khu vực canh tác Các trục kênh chính, cống điều tiết và trạm bơm lớn được giao cho công ty khai thác công trình thủy lợi (KTCTTL) tỉnh quản lý Các kênh rạch và trạm bơm nhỏ được giao cho ủy ban nhân dân (UBND) xã quản lý trên cơ sở hiệp thương khai thác sử dụng đường nước (đấu thầu quản lý) Hiệp thương được tổ chức theo từng địa bàn xã nơi có công trình tưới Các cá nhân, tập thể tham gia hiệp thương phải có đủ cơ sở vật chất về khai thác và quản lý đường nước, có chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý và vận hành công trình Đúng ngày tổ chức hiệp thương, UBND xã mời tất cả các hội dùng nước chung hệ thống và các cá nhân, tổ chức hiệp thương đến dự và xét chọn Các hộ dùng nước nghiên cứu kỹ từng hồ sơ về phương án, kế hoạch quản lý công trình, mức thu thủy lợi phí và sau đó bỏ phiếu kín để lựa chọn Cá nhân, tổ chức có số phiếu cao nhất
sẽ được chọn và ghi vào biên bản hội nghi hiệp thương, được UBND xã ra quyết định
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 31công nhận những cá nhân tổ chức này có nghĩa vụ thường xuyên kiểm ta tu sửa cống, máy bơm, nạo vét đường dẫn nước, tự trang trải mọi chi phí quản lý vận hành hệ thống như năng lượng, nguyên liệu, vật liệu và lao động…cung cấp nước đầy đủ đúng kỳ hạn theo hợp đồng ký kết với người sử dụng, nếu chậm trễ gây thất thu (trừ thiên tai đột xuất) thì phải bồi thường thiệt hại Thực tế thực hiện hiệp thương khai thác sử dụng đường nước đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận: nhà nước gần như không phải cấp bù cho hoạt động quản lý thủy nông, người sử dụng làm chủ tài sản được giao
và có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến quản lý, tu sửa công trình và mức thu thủy lợi phí nên chất lượng tưới tiêu cũng như năng lực công trình luôn được đảm bảo, người nông dân thanh toán thủy lợi phí sòng phẳng Hiệp thương ở An Giang
đã đem lại lợi ích cho cả người quản lý và người sử dụng nước (Đoàn Thế Lợi, 2004)
Mô hình chia sẻ quản lý giữa tổ chức nông dân và một số tổ chức có liên quan đến nhà nước:
Mô hình này đã được thực hiện ở xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tại xã này các đội thủy lợi và tổ chức cộng đồng phối hợp với HTX nông – lâm nghiệp của xã để cung cấp các dịch vụ thủy lợi cho các hộ gia đình có nhu cầu dùng nước HTX sở hữu và trực tiếp quản lý các công trình thủy lợi địa phương, bao gồm các tuyến kênh mương, trạm bơm nước trong xã và cung cấp các dịch vụ thủy lợi HTX này hoạt động tự do và độc lập với công ty thủy nông thông qua cơ chế tự chủ tài chính (tự thu – chi) Khoảng 80% phí thủy lợi thu được được dùng để duy tu kênh mương nội đồng và 20% còn lại chi cho hành chính của HTX Mặc dù HTX chịu trách nhiệm quản lý chung tất cả các công trình tưới tiêu nhưng các hộ gia đình sử dụng nước cũng được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý cụ thể Họ được yêu cầu trông coi và bảo vệ các công trình tưới tiêu nội đồng, dẫn nước vào và ra theo lịch tưới mùa vụ của địa phương Cách làm này đảm bảo các công trình tưới tiêu nội đồng được duy trì, sửa chữa kịp thời, tránh lãng phí nước
Các đội thủy lợi được đào tạo nâng cao hiểu biết về thủy lợi và hệ thống tưới tiêu, quản lý và sử dụng công trình, thiết bị tưới tiêu, do đó năng lực và trách nhiệm của họ được nâng cao, đảm bảo việc bảo vệ và quản lý nguồn nước được cải thiện
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 32đáng kể Hằng năm, những đội thủy lợi này và hộ gia đình sử dụng nước cũng đóng
góp công lao động để duy trì, cải tạo và nạo vét các công trình thủy lợi (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)
Mô hình tổ chức nông dân tự quản lý thủy lợi:
Mô hình Hội những người sử dụng nước đã được áp dụng ở tỉnh Bắc Kạn từ những năm 1990 ở các huyện Bạch Thông, Chợ Mới và Chợ Đồn, và đã thể hiện được
sự tham gia có hiệu quả của các cộng đồng địa phương về quản lý nước cho tưới tiêu Hội những người sử dụng nước ở xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông là một ví dụ cụ thể
Nguyên Phúc là một xã miền núi chuyên sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa với diện tích khoảng 90 ha Hệ thống thuỷ lợi của xã có khoảng 40 công trình (gồm cả trạm bơm đầu mối và kênh mương dẫn nước) nhưng hầu hết các công trình rất tạm bợ Trước khi mô hình Hội những người sử dụng nước được áp dụng, tại địa phương không có một tổ chức hay nhóm nào chịu trách nhiệm quản lý các công trình thuỷ lợi đó Nông dân địa phương tự do sử dụng hệ thống thuỷ lợi để lấy nước vào ruộng của mình Vì thế có nhiều vấn đề đã phát sinh tại địa phương như đến mùa vụ thì hết nước tưới, năng suất mùa vụ thấp, hệ thống kênh mương bị xuống cấp do không được duy tu, thất thoát nước, chi phí lao động tưới tiêu cao, và đặc biệt là mâu thuẫn giữa các hộ gia đình do cạnh tranh dùng nước
Thông qua sự tư vấn của dự án và sự hỗ trợ tích cực của chính quyền xã, các hộ nông dân đã thảo luận và quyết định thành lập 04 Hội những người sử dụng nước tại
xã để điều hành và quản lý hệ thống thuỷ nông Người dân đã tham gia các cuộc họp cộng đồng để bầu ra một Ban quản lý cho mỗi hội những người sử dụng nước và cùng thống nhất về quy chế, quy định và nguyên tắc cho hội Bà con cũng chọn ra những người vận hành công trình có trách nhiệm dẫn nước vào ruộng, sữa chữa nhỏ cho hệ thống thuỷ lợi, và bảo vệ các công trình thuỷ lợi Ban quản lý hội và những người vận hành thường gặp nhau hàng tháng để xem xét lại tiến độ tưới tiêu và lập kế hoạch hoạt động cho tháng tiếp theo Họ đều đã được đào tạo về quản lý thuỷ lợi và tài chính Bà con nông dân tham gia tích cực trong việc xây dựng các quyết định liên quan đến hoạt động của Hội những người sử dụng nước Vào đầu mỗi mùa vụ, ban quản lý Hội
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 33chuẩn bị một kế hoạch tưới tiêu để bà con đóng góp ý kiến và thông qua tại cuộc họp toàn thể nông hộ Kế hoạch này tập trung vào lịch cấp nước dựa vào nhu cầu của mỗi
hộ gia đình và lượng nước có trên kênh đầu mối
Nhờ thành lập hội những người sử dụng nước mà công tác tưới tiêu của xã đã được cải thiện đáng kể như các công trình thủy nông được duy tu và bảo vệ tốt hơn; lượng nước thất thoát giảm rõ ràng; diện tích được tưới 15% và năng suất mùa vụ cũng tăng lên 20% Bây giờ các hộ nông dân được giải phóng khỏi việc lấy nước vào ruộng
vì đã có nhóm vận hành thủy nông đảm nhận Do vậy, bà con có nhiều thời gian hơn
để làm các việc khác tăng thêm thu nhập và cải thiện đời sống Tuy nhiên, hạn chế của
mô hình này là mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân chưa cao (Nguyễn Việt Dũng và Nguyễn Danh Tĩnh, 2006)
1.2.3 C c k ó k ă tro p dụng mô hình PIM ở Việt Nam
- Tuy có sự hỗ trợ ngân sách từ các dự án Official Development Assistant (ODA) nhưng sự hỗ trợ này là ngoại lực nên là không ổn định và không bền vững Hơn nữa, cách tiếp cận và phương pháp thúc đẩy PIM của các nhà tại trợ còn nhiều điểm chưa thống nhất
- Đến nay, hầu hết các tỉnh chưa quy định về phát triển tổ chức dùng nước trên địa bàn tỉnh, có nghĩa là chưa có định hướng về PIM là một trong số nguyên nhân dẫn đến các tổ chức dùng nước chưa phát triển được trên diện rộng
- Một số nội dung của Thông tư 75 của Bộ NN & PTNT (2004) hướng dẫn về mô hình tổ chức hoạt động của tổ chức dùng nước không phù hợp với điều kiện hiện nay
Do tính đa dạng của các tổ chức dùng nước trên các vùng miền khác nhau trên cả nước, nên nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc áp dụng thông tư này, nhất là các địa phương vùng miền núi và vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Các tổ chức dùng nước quản lý công trình thủy lợi độc lập có phạm vi thôn, liên thôn được chủ tịch UBND xã ký quyết định thành lập và phê duyệt điều lệ, quy chế của tổ chức dùng nước chưa đảm bảo tư cách pháp nhân để nhận kinh phí cấp bù thủy lợi phí
- Hầu hết các tổ chức dùng nước có năng lực đội ngũ cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ Thông tư 40 của Bộ NN & PTNT (12/2011) lại chưa quy định về nội dung, quy trình, thủ tục thực hiện đào tạo và cấp phát chứng chỉ cho các tổ chức dùng nước
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 34- Việc tổ chức tuyên truyền về chính sách miễn giảm thủy lợi phí theo Nghị định
67 của Chính phủ chưa rõ ràng nên một bộ phận lớn nông dân có tư tưởng ỷ lại, không nộp thủy lợi phí nội đồng, không có ý thức sử dụng nước tiết kiệm nước
- Việc cấp phát kinh phí trực tiếp cho các công ty khai thác công trình thủy lợi làm cho mối quan hệ giữa người dùng nước (người hưởng dịch vụ) và các công ty (nhà cung cấp dịch vụ) trở nên yếu đi Trong khi việc thực thi Nghị định 67 tập trung chủ yếu vào thủ tục giải ngân, coi nhẹ vai trò của người sử dụng nước thì chiến lược phát triển PIM lại chưa được điều chỉnh và hoàn chỉnh cho phù hợp và đã hạn chế kết quả thực hiện khung chiến lược đã đề ra
- Quy trình thực hiện xây dựng mô hình tổ chức dùng nước, chương trình, tài liệu tập huấn chưa được thực hiện thống nhất trong các dự án Mỗi dự án có mục tiêu và phương pháp tiếp cận riêng, dẫn đến phạm vi, cách thức hoạt động tư vấn PIM có sự khác nhau ở các dự án
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 35ƯƠN : P ÂN Í N ÂN Ố CẢN TRỞ SỰ THAM GIA CỦA
N ƯỜI DÂN TRONG QUẢN LÝ HỆ THỐNG THỦY LỢI NAM TH CH HÃN
2.1 Một số đặc điểm cơ bản của địa bàn và công trình nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Đặc điểm địa hình
Bản đồ hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn
Khu vực Nam Thạch Hãn nằm trong địa phận tỉnh Quảng Trị Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây Bắc - Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Do địa hình phía Tây núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 36- Địa hình núi cao: Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-300m Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh Các khối núi điển hình là Động Voi Mẹp, Động Sa Mui, Động Châu, Động Vàng Địa hình vùng núi có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên phần lớn địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối, đèo dốc nên đi lại khó khăn, làm hạn chế trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, mạng lưới điện cũng như tổ chức đời sống
xã hội và sản xuất Tuy nhiên có tiềm năng thủy điện nhỏ khá phong phú
- Địa hình gò đồi, núi thấp: Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh Có độ cao từ 50m-250m, một vài nơi có độ cao trên
500 m Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình Khối bazan Gio Linh - Cam Lộ có độ cao xấp
xỉ 100m - 250m dạng bán bình nguyên, lượn sóng thoải, vỏ phong hóa dày, khối bazan Vĩnh Linh nằm sát ven biển, có độ cao tuyệt đối từ 50m-100m Địa hình gò đồi, núi thấp thích hợp cho trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm
- Địa hình đồng bằng: Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30m Bao gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu mỡ; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh
- Địa hình ven biển: Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư Một số khu vực có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sản xuất chưa thuận lợi, làm cho đời sống dân cư thiếu ổn định
Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hoá thành các tiểu khu vực, nhiều vùng sinh thái khác nhau tạo cho Quảng Trị nói chung và Nam Thạch Hãn nói riêng có thể phát triển toàn diện các ngành kinh tế, đặc biệt là tạo nên các vùng tiểu khí hậu rất
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 37thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
2.1.1.2 Đặc điểm thủy văn
Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km2 Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh)
- Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao 1.257m, có chiều dài 65 km Lưu lượng trung bình năm 43,4 m3/s Diện tích lưu vực rộng khoảng
809 km2 Sông Bến Hải đổ ra biển ở Cửa Tùng
- Hệ thống sông Thạch Hãn: Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất 2.660 km2 Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ các dãy núi lớn Động Sa Mui, Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán) và động Ba Lê, động Dang (nhánh Đakrông) Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt
- Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh): Được hợp bởi hai nhánh sông chính là
Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc Diện tích lưu vực của hai nhánh sông khoảng 900 km2, chiều dài 65 km Sông đổ ra phá Tam Giang thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngoài ra, ở phía Tây giáp biên giới Việt - Lào có một số sông nhánh chảy theo hướng Tây thuộc hệ thống sông Mê Kông Các nhánh điển hình là sông Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng Cù Bai, Hướng Lập, Hướng Hóa
Hệ thống suối phân bố dày đặc ở vùng thượng nguồn Các thung lũng suối phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp Nhìn chung, hệ thống sông suối của Quảng Trị phân bố đều khắp, điều kiện thủy văn thuận lợi cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và đời sống, đồng thời có tiềm năng thủy điện cho phép xây dựng một số nhà máy thuỷ điện với công suất vừa và nhỏ
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 38Thuỷ triều trên dải bờ biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều, gần
½ số ngày trong hàng tháng có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng Mực nước đỉnh triều tương đối lớn từ tháng 8 đến tháng 12 và nhỏ hơn từ tháng 1 đến tháng 7 Biên độ triều lên lớn nhất hàng tháng trong các năm không lớn, dao động từ 59 - 116cm Biên độ triều xuống lớn nhất cũng chênh lệch không nhiều so với giá trị trên Độ lớn triều vào
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 240C-250C ở vùng đồng bằng, 220C-230C
ở độ cao trên 500 m Mùa lạnh có 3 tháng ( tháng 12 và tháng 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500 m Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 280C, tháng nóng nhất từ tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400C-420C Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm chênh lệch 70C-90C Chế độ nhiệt trên địa bàn tỉnh thuận lợi cho phát triển thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.200-2.500 mm; số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 9,
10, 11 Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung bình nhiều năm Mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng
7, đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành Tính biến động của chế độ mưa ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cũng như thi công các công trình xây dựng Mùa mưa, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt Vào mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài thường gây nên thiếu nước, khô hạn
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 39- Độ ẩm: Có độ ẩm tương đối, trung bình năm khoảng 83-88% Giữa hai miền Đông
và Tây Trường Sơn chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời gian Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến 22%; trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên 85%, có khi lên đến 88-90%
- Nắng: Có số giờ nắng khá cao, trung bình 5-6 giờ/ ngày, có sự phân hóa theo thời gian và không gian rõ rệt: miền Đông có tổng số giờ nắng lên tới 1.910 giờ, miền Tây chỉ đạt 1.840 giờ Các tháng có số giờ nắng cao thường vào tháng 5, 6, 7, 8, đạt trên 200 giờ Nắng nhiều là điều kiện rất thuận lợi cho quang hợp, tăng năng suất sinh học cây trồng Tuy nhiên, nắng nhiều và kéo dài, nhiệt độ cao dẫn đến hạn hán ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư
- Gió: Tỉnh Quảng Trị nói chung và khu vực Nam Thạch Hãn nói riêng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở khu vực này là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta Trung bình mỗi năm có khoảng 45 ngày Trong các đợt gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 400C-420C Gió Tây Nam khô nóng làm ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Vùng này nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10 Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư
Nhìn chung điều kiện tự nhiên của Quảng Trị nói chung và khu vực Nam Thạch Hãn nói riêng có những thuận lợi khá cơ bản: do sự phân hóa đa dạng của độ cao địa hình tạo nên các vùng tiểu khí hậu thích hợp cho sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt và cận ôn đới, có giá trị kinh tế cao Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh trong phát triển nông nghiệp hàng hóa Tiểu vùng khí hậu đỉnh Trường Sơn với tính ôn hoà là tài nguyên quý mang lại sức hấp dẫn cho sự phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch, tạo không gian mát mẻ cho tham quan, nghỉ dưỡng, đặc biệt là trong mùa hè nóng gay gắt của vùng Bắc Trung Bộ Đây là điểm độc đáo của khí hậu của khu vực này
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 40Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cơ bản, điều kiện khí hậu, thời tiết của ở đây cũng như ở các tỉnh miền Trung mang tính chất khắc nghiệt: thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa Do đó việc khắc phục thiên tai, xây dựng các công trình thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn để giữ nước chống lũ lụt nhằm ổn định sản xuất
và đời sống có ý nghĩa to lớn cần được quan tâm
2.1.2 Đặc điểm kinh t xã hội
NN khác
Tổng
số
Nông nghiệp
NN khác
(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị 2014)
Qua đây ta thấy rõ số lao động và các hộ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp của khu vực Nam Thạch Hãn nói chung là khá cao Số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là 34.770 hộ chiếm 80,5% trên tổng số hộ của khu vực Số lao động trong nông nghiệp 80.699 người chiếm 72,9% trên tổng số lao động của khu vực Tỷ lệ chênh lệch giữa nữ giới/nam giới 1,07 là tương đối ổn định Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển và huy động sự tham gia của người dân trong quản lý thủy lợi nội đồng để phục vụ cho công tác sản xuất nông nghiệp của họ tốt hơn
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế