1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la

97 293 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Nhằm đánh giá kết quả học tập của học viên, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm nghiệp tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số gải pháp bảo tồn đa

Trang 1

-

ĐINH VĂN THÁI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ CHIỀNG BÔM,

HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nhằm đánh giá kết quả học tập của học viên, được sự nhất trí của trường Đại

học Lâm nghiệp tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số gải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” do thầy giáo Đồng Thanh Hải hướng dẫn,

với mong muốn tìm ra những giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người dân tại khu rừng đặc dụng Côpia, đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là

cơ sở để huyện Thuận Châu áp dụng triển khai nghiên cứu ở các xã khác để bảo tồn ĐDSH cũng như nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân trong toàn huyện

Trong thời gian thực hiện ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi nhận được sự chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô Khoa đào tạo sau đại học – Trường Đại học lâm nghiệp, các cán bộ BQL rừng đặc dụng Côpia Đặc biệt là thầy giáo Đồng Thanh Hải đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

Nhân đây tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa đào tạo sau đại học, các cán bộ BQL rừng đặc dụng Coopia, đặc biệt là thầy giáo Đồng Thanh Hải

Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu tính toán, các thông tin trích dẫn trên luận văn đều được chỉ dẫn nguồn gốc

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2011

Học viên

Đinh Văn Thái

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số công trình nghiên cứu về Đa dạng sinh học 3

1.2 Phương pháp đánh nhanh nông thôn và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân 7

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 25

3.2 Đối tượng nghiên cứu 25

3.3 Phạm vi nghiên cứu 25

3.4 Nội dung nghiên cứu 25

3.5 Phương pháp nghiên cứu 26

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Hiện trạng đa dạng sinh học tại khu rừng đặc dụng Côpia 32

4.2 Thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học của BQL rừng đặc dụng Côpia 43 4.3 Đánh giá mức độ tham gia, nhận thức và sự phụ thuộc của người dân vào các hoạt động quản lý và bảo tồn tại khu rừng đặc dụng Côpia 55

4.4 Đánh giá cơ hội và thách thức khi người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn 64

4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn có sự tham gia của người dân 76

KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ BIỂU

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Thành phần dân tộc trong khu rừng đặc dụng Côpia 14 2.2 Số bản, số hộ và số nhân khẩu trong khu rừng đặc dụng Côpia 14 2.3 Kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm 2009 21 4.1 Các kiểu thảm thực vật nguyên sinh đặc trưng tại khu rừng đặc dụng

4.16 Kết quả kiểm kê tài nguyên rừng của xã Chiềng Bôm (năm 2009) 65

4.18 Khả năng kết hợp trồng giữa cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp 68

Trang 6

4.22 Kết quả đánh giá hiệu quả sinh thái môi trường của các mô hình sử

dụng đất cây lâm nghiệp

73

4.23 Hiệu quả tổng của các mô hình sử dụng đất cây lâm nghiệp 74 4.24 Quy hoạch sử dụng đất xã Chiềng Bôm giai đoạn 2010 – 2020 82 4.25 Dự toán vốn và lợi nhuận của phương án quy hoạch 84

Trang 7

lý và bảo vệ rừng của BQL rừng đặc dụng Côpia

Trang 8

MỞ ĐẦU

Đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ sự phong phú của tất cả các dạng sống trên quả đất cùng với các quá trình sinh thái, tiến hoá để duy trì chúng Sự biến đổi ĐDSH được thể hiện từ các gen đến các vùng địa lý sinh học, ở các qui mô từ địa phương đến toàn cầu, theo mùa và quá trình tiến hoá

Đa dạng sinh học có giá trị lớn đối với con người: Là nguồn thức ăn quan trọng, nguồn thuốc chữa bệnh quí giá, cung cấp gỗ củi, nhựa cho nhiều ngành kinh

tế, là nguồn giống vô tận cho sản xuất nông lâm nghiệp Đa dạng sinh học duy trì các quá trình sinh thái cơ bản, là nhân tố quan trọng để tạo ra và giữ vững cân bằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con người

Mặc dù giá trị của ĐDSH là rất lớn và không thể thay thế nhưng đã và đang

bị suy thoái trên trái đất Theo Quĩ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) suy thoái ĐDSH trên thế giới diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái ĐDSH Nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm ĐDSH đó là sự gia tăng dân số và đói nghèo Nạn mất rừng, chia cắt rừng thành từng mảnh nhỏ diễn ra trong nhiều thập kỷ qua đã làm cho tính ĐDSH rừng bị suy giảm Nhiều loài động thực vật trở nên khan hiếm hoặc có nguy cơ bị tiêu diệt như Hoàng đàn, Pơ mu, Cẩm lai, Tê giác một sừng, Bò tót, Bò xám, Voi… Sự xoá sổ nhiều khu rừng tự nhiên là những mất mát không thể tính bằng tiền Chúng ta đã đánh mất một kho tàng nguồn gen động thực vật hoang dã quí hiếm, đánh mất lá phổi xanh của nhân loại và đánh mất những cỗ máy giúp điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sống cho tất cả các loài sinh vật trên quả đất

Nhận thức được giá trị to lớn của ĐDSH và đứng trước sự suy thoái nghiêm trọng của nguồn tài nguyên này, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng Các hành động

cụ thể như thành lập các Khu bảo tồn và Vườn Quốc gia, thực hiện các dự án trồng rừng, xúc tiến tái sinh khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên, bảo vệ môi trường quốc gia

Mặc dù đã có rất nhiều các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học được thực hiện, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa thực sự đáp ứng được mong đợi Một trong các vấn đề quan trọng được xác định là thiếu sự hoà hợp giữa con người với thiên nhiên, những xung đột giữa cư dân địa phương với các nhà quản lý là những thách thức lớn nhất hiện nay trong công tác quản lý rừng đặc dụng ở Việt Nam

Trang 9

Khu rừng đặc dụng Côpia huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La là nơi còn lưu giữ nhiều nguồn gen động thực vật quí hiếm (Pơ mu, Thông tre, Gấu chó, Rắn hổ mang )

Mặc dù trong những năm qua, các ngành chức năng cũng đã rất cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao song do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng ở đây vẫn

bị tàn phá nặng nề Hiện tượng chặt rừng, đốt để làm nương rẫy, khai thác và buôn bán gỗ, săn bắn động thực vật vẫn thường xuyên diễn ra, tính ĐDSH ngày càng bị suy giảm Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng tài nguyên ĐDSH của Khu rừng đặc dụng Côpia, đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vào tài nguyên rừng cũng như những khó khăn thuận lợi trong công tác bảo tồn là điều rất cần được quan tâm hiện nay Số liệu thu thập được sẽ là cơ sở giúp cho các nhà quản lý đưa

ra những giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo tồn ĐDSH, bảo tồn những nguồn gen động thực vật và phát triển bền vững tài nguyên rừng trong khu vực

Với mong muốn được đóng góp một phần công sức của mình vào việc bảo

tồn ĐDSH của địa phương, Tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người dân tại xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La"

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số công trình nghiên cứu về Đa dạng sinh học

Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm, vùng tái sinh và vùng lõi của khu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phương đã được Gilmour và Nguyễn văn Sản (1999), Đặng Đình Trân (1997), Mackinnon (1986), Sayer (1991) đề xuất một số hướng dẫn cho các vùng quản lý khác nhau: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồng những loại cây dễ bắt lửa, cấm đưa vào trong vùng đệm các loài động vật và thực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn Cấm bất kỳ một hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong khu bảo tồn Tránh trồng các loài cây dễ khuyến khích động vật hoang dã ra ăn cỏ ngoài khu bảo tồn  26,27

Với nghiên cứu của mình và các đồng sự, Power (2000) đã khẳng định trong tương lai các khu bảo tồn cần tập trung khuyến khích việc sử dụng ít vật tư từ bên ngoài và sản xuất nông nghiệp bền vững Các kỹ thuật canh tác cần tập trung vào việc cải tạo chất lượng đất, tối ưu hoá chất dinh dưỡng sẵn có, quản lý nguồn nước, phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp và khuyến khích đa dạng hoá cộng đồng 29

Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd (1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, Nhà nước cần

Trang 11

xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận, với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng

21

Tại Nepan, Subedi và cộng sự đã dùng phương pháp đánh giá nhanh (RA) để nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở miền đông Terai (vùng thấp) Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và công ăn việc làm thông qua dự án do cơ quan phát triển Quốc tế Thuỵ Điển (SIDA)

và FAO tài trợ Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cộng đồng và quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội đã được thảo luận 33

Ở Canada, trong bài viết của Sherry (1999) về sự hợp tác quản lý tại vườn quốc gia Vutut (vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của người thổ dân vùng Bắc cực), liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng giá trị của vườn quốc gia Hợp tác quản lý đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn Ban quản lý vườn giúp người dân về kỹ thuật xây dựng các mô hình,

về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội Hợp tác quản lý ở đây được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân 32

Poffenberger và McGean (1993), trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia Dong Yai nằm

ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái lan Tại Dong Yai người dân

đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại NamSa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích

và chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát khai thác tài nguyên 28

Gilmour (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa

Trang 12

phương với lợi ích quốc gia, do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng 26

Chương trình hỗ trợ đa dạng sinh học (The Biodiversity Support Program, BSP) (2000) đã thực hiện nhiều dự án với mục tiêu nhằm đạt được tác động thật sự đối với bảo tồn Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra một số điều kiện thành công

của bảo tồn: Một là, mục tiêu bảo tồn phải được thảo luận, đàm phán và nhất trí bởi tất cả các chủ thể hoặc đối tác có liên quan Hai là, các hoạt động bảo tồn phải xác định và hỗ trợ các lợi ích và nhu cầu địa phương Ba là, nhận thức, kiến thức về bảo

tồn đa dạng sinh học sẽ dẫn đến động lực, nhưng động lực không thì chưa đủ Để biến ý tưởng thành hành động thì con người phải có đầy đủ kỹ năng và năng lực cần thiết

Quĩ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), 2001 đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng” 35

1.1.2 Tại Việt Nam

Việt Nam nằm ở Đông Nam bán đảo Đông Dương, có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km2, với bờ bển dài khoảng 3.200 km Việt Nam có đường biên giới đất liền giáp với 3 nước láng giềng dài khoảng 4.630 km, trong đó có 1.463 km với Trung Quốc, 2.067 với Lào và trên 1.100 km với Campuchia Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi, với đỉnh cao nhất là Phansipan 3.143m ở phía Tây Bắc Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Himalaya…Do phạm vi rộng của vĩ độ và độ cao mà khí hậu Việt Nam không đồng nhất, khí hậu thay đổi từ những vùng nhiệt đới ẩm ở các vùng thấp phía Nam đến các điều kiện

ôn hòa ở vùng núi cao phía Bắc Với các điều kiện như vậy dẫn đến tính đa dạng các nhóm sinh vật ở Việt Nam khá lớn: Thực vật có mạch khoảng 10.066 loài, Nấm khoảng 600 loài, Tảo khoảng 1000 loài, rêu 793 loài; cá khoảng 2.472 loài, ếch, nhái khoảng 80 loài, bò sát khoảng 189 loài, chim khoảng 826 loài và thú khoảng

275 loài [18]

Từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp qui, chỉ thị và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng Tuy nhiên do yêu cầu trước mắt ưu tiên

Trang 13

cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trong những năm qua Việt nam chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên sinh học Từ những năm 1980, Chính phủ đã bắt đầu có những quan tâm đặc biệt tới phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Nhiều văn bản pháp qui liên quan đến các khu bảo tồn đã được ban hành, nhiều dự án, chuơng trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để nâng cao nhận thức và các hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt nam Tuy nhiên, sự hiểu biết về BTTN nói chung và KBT nói riêng còn rất nhiều bất cập, nhất là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa Để ngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép TNTN ngày càng gia tăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ của Quốc tế, Chính phủ Việt nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liên quan đến công tác bảo tồn ĐDSH, quản lý khu bảo tồn và quản lý các loài động thực vật hoang dã 24

Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các khu bảo tồn ở Việt nam Nguyễn

Bá Thụ (1997) nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm; chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi và lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh; nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương 13

Báo cáo kết quả dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nông thôn - dự

án khu BTTN ChưmomRay đã kết luận bảo vệ tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên trước hết là làm giảm sự phụ thuộc của người dân lên vùng được bảo vệ, đảm bảo được mức độ cao hơn về an toàn lương thực, gia tăng thu nhập hộ gia đình, xoá nạn mù chữ, cải thiện vấn đề sức khoẻ tạo ra các cơ hội và giúp các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, bản địa phát triển các yếu tố truyền thống văn hoá Bằng việc phát triển phúc lợi xã hội của các cộng đồng sống trong vùng đệm, khuyến khích các hoạt động nông nghịêp bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 14

Việc xây dựng vùng đệm Kỳ Thượng ở khu BTTN Kẻ gỗ được Võ Quí và Đồng Nguyên Thuỵ nghiên cứu trong đề tài KT02-08-1992 Nghiên cứu chỉ ra rằng

để có thể bảo vệ đựơc rừng thì điều cần thiết phải cộng tác với nhân dân địa

Trang 14

phương, động viên họ bảo vệ rừng và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ bằng cách giúp họ nâng cao năng suất lúa với giống mới phù hợp với địa phương, thực hiện nông lâm kết hợp, tổ chức trồng cây ăn quả, nuôi ong, xây dựng thuỷ điện nhỏ cho gia đình… Huấn luyện nhân dân cách xây dựng và quản lý vùng đệm, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, giảm bớt sức ép lên rừng 16

Năm 1998 khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bảo vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về những tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan hệ kinh tế- xã hội trong cộng đồng Họ có khả năng phát triển những loài cây trồng vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương Cộng đồng dân cư địa phương vừa là người thực hiện các chương trình quản lý tài nguyên, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động quản lý tài nguyên, nên những giải pháp quản lý tài nguyên phù hợp với những phong tục, tập quán, những nhận thức, kiến thức của họ sẽ có tính khả thi cao

Báo cáo tại hội thảo quốc gia năm 1999 “Để cuộc sống và môi trường của người dân miền núi được bền vững”, Võ Quý cho rằng để duy trì cuộc sống, nhiều người sinh sống trong các khu bảo tồn buộc phải khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo vệ Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn nói trên phải chú ý đến vấn đề kinh tế xã hội phức tạp mà chủ yếu là tìm các biện pháp hữu hiệu để cải thiện mức sống của người dân, nhất là những người dân nghèo, đồng thời phải nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ thiên nhiên và môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất và rừng mà họ có trách nhiệm bảo vệ và họ được quyền quyết định về cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống của họ và cho cả cộng đồng 17

1.2 Phương pháp đánh nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

Phương pháp RRA được biết đến vào những năm 1930, nhưng nổi bật hơn là sau chiến tranh thế giới thứ II Bởi vì do có một sự khác biệt giữa các cộng đồng ở nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc ít người và các nhóm khu vực, giữa các cộng đồng với những lối sống và hệ giá trị khác nhau Sự khác biệt này chỉ có thể vượt qua bằng chính ảnh hưởng của cộng đồng tới những dịch vụ mà họ được

Trang 15

cung cấp và chính quần chúng phải có vai trò của mình trong hệ thống Đó là một hệ thống tổ chức xã hội phát huy sự hợp tác, tương trợ trong các cộng đồng nhằm huy động một cách có hiệu quả nguồn lực để giải quyết những vấn đề lợi ích về thiên nhiên và môi trường chung [13]

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được đưa ra vào những năm cuối thập niên 70 và được sử dụng để đưa ra các thông tin nhanh và chính xác cho việc nhận dạng và đánh giá các chương trình phát triển nông thôn [4]

Trong RRA, yếu tố liên ngành là rất quan trọng Các vấn đề của người nông dân

là phức tạp bao gồm toàn bộ hệ tài nguyên nông thôn chứ không chỉ riêng cây trồng

Do tính phức tạp của hệ thống địa phương, đối với một chuyên gia của một chuyên môn nhất định khó có thể hiểu đầy đủ mọi yếu tố mà người nông dân đấu tranh với chúng và cũng khó đề xuất ra một gợi ý can thiệp nào mà hoàn toàn phù hợp và có thể tồn tại được ở địa phương

RRA có thể tập trung vào đánh giá tổng thể hệ thống làng, xã, hoặc đánh giá mang tính thời sự, hay mang tính chuyên sâu RRA được thực hiện theo một số yêu cầu chung mà không để ý đến công cụ sử dụng Trong RRA, các nhà nghiên cứu tiến hành đánh giá thông qua các câu hỏi phát sinh trong quá trình phỏng vấn Người nghiên cứu cố tránh hoặc giảm đến mức thấp nhất những định kiến nhỏ của một nhóm nghiên cứu liên ngành, có nam có nữ Người nghiên cứu phải lắng nghe người địa phương, coi họ như những thầy giáo có kiến thức đặc biệt về các điều kiện nông thôn mà ngoài họ ra không có ai khác Cuối cùng các nhóm nghiên cứu cần phải nghiên cứu cùng một vấn đề, cùng một câu hỏi bằng nhiều phương pháp khác nhau, vừa để kiểm tra chéo vừa để hoàn thiện bức phác họa tổng thể

RRA là phương pháp nghiên cứu nông thôn linh hoạt nhanh chóng và chi phí thấp, có khả năng ứng dụng rộng rãi Đây là phương pháp có khả năng dùng được ở bất

kỳ nơi nào cần thông tin kịp thời, tập trung và có hiệu quả Vì nó có tính linh động cao nên nó có thể dùng được ở phạm vi rộng để trả lời những vấn đề nảy sinh Nó cung cấp thông tin nhanh, do đó trong giám định các đề án nó có thể xác định được các vấn đề đúng lúc để can thiệp

Tuy nhiên, sự tham gia của người dân phần nào còn thụ động, và các giải pháp phát triển phần lớn do những nhà nghiên cứu xác lập Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của chúng

Để khắc phục tồn tại trên, người ta đã cố gắng tìm ra những phương pháp đánh giá nông thôn mới bằng những cách nào đó không chỉ lôi cuốn nông dân vào

Trang 16

quá trình thu thập thông tin, đánh giá những vấn đề đang tồn tại trong cộng đồng,

mà cả trong quá trình nghiên cứu ra quyết định về những giải pháp phát triển, lập kế hoạch thực hiện những giải pháp đã đề ra, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh những

kế hoạch đó trong toàn bộ quá trình phát triển của cộng đồng Do đòi hỏi của thực tiễn, từ những năm 80 bắt đầu hình thành phương pháp mới - phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA, hay phương pháp nghiên cứu tham dự).[4,13]

PRA là một trong những phương pháp lôi cuốn sự tham gia tích cực của nông dân vào quá trình thu thập, phân tích thông tin, đề ra những giải pháp để giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong cộng đồng của họ

PRA dựa trên cơ sở phương pháp luận đã được Gordon Conway và Robert Chambers phát triển trong thời gian họ làm việc tại Viện Quốc tế Môi trường và Phát triển Dưới tên gọi là đánh giá nông thôn nhanh (RRA), phương pháp luận cơ sở đã được chuyên môn hoá theo các hướng nhỏ bao gồm các RRA mang tính thời sự, RRA khảo sát và RRA giám sát cũng như các phương pháp đánh giá nông thôn tham

dự (PRA) PRA xuất phát từ niền tin vững chắc vào phương pháp tham dự Trước đây, do thiếu phương pháp luận có kết cấu chặt chẽ, phương pháp tham dự trở nên tốn kém và không hiệu quả đối với các cơ quan phát triển PRA tạo ra một kết cấu quy tụ được các dân cư, các thủ lĩnh của các cộng đồng, các nhân viên kỹ thuật của vùng và các tổ chức phi chính phủ Việc lấp các hố ngăn giữa người hưởng lợi theo

dự kiến và những người quản lý các nguồn lực dẫn đến những hoạt động mà các thiết chế làng xã có thể duy trì Trong RRA và PRA đã phát huy được tối đa những kinh nghiệm của cả những người nghiên cứu cũng như người dân nông thôn.[13]

Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tính cộng đồng và những quan hệ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam là yếu tố tạo nên kết quả đạt được trong công cuộc thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá thì chúng ta cũng không thể bỏ quên vấn đề tham gia của cộng đồng

Người dân địa phương là vốn quý cho công tác bảo tồn, nguồn lực trong công tác bảo tồn và khôi phục đất rừng Tại bất cứ nước nào, khi người dân địa phương mà phần đông trong số này là rất nghèo, có cơ hội, họ đã sẵn lòng đầu tư rất nhiều thời gian và của cải vốn khan hiếm để bảo tồn các khu rừng và khôi phục đất

đã bị thoái hoá

Trang 17

Cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90, Gordon Conway, Robert Chambers và những người khác đã xây dựng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) Phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ và nhiều nước khác

ở Châu á, Châu Phi vào các dự án phát triển nông thôn trên các lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, các chương trình xã hội, xoá đói giảm nghèo, Y

tế, an toàn lương thực PRA vẫn đang tiếp tục phát triển và sử dụng rộng rãi

Từ năm 1994 đến nay chương trình phát triển Nông thôn do SIDA tài trợ tiếp tục sử dụng PRA cho việc lập kế hoạch, thực hiện giám sát, đánh giá dự án các cấp thôn bản Phương pháp PRA ngày càng được hoàn thiện phù hợp với điều kiện nông thôn miền núi Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu rừng đặc dụng Côpia 2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu rừng đặc dụng Côpia

2.1.1.1 Vị trí và ranh giới

Ngày 11/11/2002, UBND tỉnh Sơn La có quyết định: Số 3440/2002 QĐ – UBND về việc thành lập BQL bảo tồn thiên nhiên Côpia thuộc chi cục kiểm lâm Sơn La; và ngày 14/7/2008, UBND tỉnh Sơn La có quyết định: Số 1723/2008 QĐ – UBND về việc đổi tên BQL bảo tồn thiên nhiên Côpia thành BQL rừng đặc dụng Côpia

- Vị trí - Ranh gới:

Khu rừng đặc dụng Côpia nằm phía Tây – Nam Thị trấn Thuận Châu, cách thành phố Sơn La 70 km về phía Tây; gồm các xã Co Mạ, Long Hẹ, Púng Tra, Chiềng Bôm và Nậm Lầu (Thuộc huyện Thuận Châu)

+ Phía Bắc: Giáp tiểu khu 245a, 242 và 234 thuộc xã Long Hẹ và Chiềng Bôm

+ Phía Nam: Giáp 2 xã Chiềng Phung và Nậm Ty của huyện Sông Mã

+ Phía Đông: Giáp tiểu khu 256, 265 và 279 thuộc xã Nậm Lầu

+ Phía Tây: Giáp tiểu khu 246, 259 và 271a thuộc xã Co Mạ

Trang 19

có diện tích nhỏ nằm cạnh đường ô tô phía đông bắc đỉnh Côpia thuộc xã Chiềng Bôm huyện Thuận Châu

Địa hình trong khu nghiên cứu bị chia cắt mạnh do các dông núi phụ, các khe suối chạy từ trên các đỉnh cao xuống và còn do trong khu nghiên cứu có xen kẽ một

số đỉnh núi cao đơn lẻ, khá hiểm trở Do độ chênh cao lớn nên khu nghiên cứu có

độ dốc trung bình 25 - 35o , nhiều nơi có độ đốc >35o rất khó đi lại Nhìn chung địa hình khu nghiên cứu thuộc loại trung địa hình vùng núi cao, có độ chênh cao trên 1000m, càng đi về phía trung tâm khu nghiên cứu càng cao và độ dốc càng lớn, nhiều núi cao, thung lũng sâu, sườn núi dốc

2.1.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng

- Đá mẹ: Trong khu nghiên cứu đá mẹ thuộc 2 nhóm chính: Đá macma axit

và đá biến chất với các loại chính như: Granit, Amphibolit, Đá Diệp Thạch, đôi chỗ còn lẫn cả phiến thạch sét, Sa thạch

- Các loại đất chính trong khu vực:

+ Đất mùn màu xám vàng trên núi cao, thành phần cơ giới nhẹ thường có ở

độ cao 1600 - 1800m Loại đất này trong khu nghiên cứu có diện tích rất nhỏ

+ Đất Feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá Axit hoặc trên đá biến chất núi cao trung bình, thành phần cơ giới Trung bình đến nhẹ thường ở độ cao 700 -1700m

+ Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên đá Axit hoặc đá biến chất, đá Diệp Thạch, Đá phiến lẫn Sa thạch, thành phần cơ giới trung bình ở độ cao 700-1700m

+ Đất Feralit màu xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản và trên các sườn núi có nguồn nước

Nhìn chung đất trong khu vực là đất thịt tới sét nhẹ, tơi, xốp, có độ ẩm cao nơi còn rừng, đất dể bị khô cứng nơi mất rừng, đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, kết cấu viên nhỏ và có độ mùn từ trung bình đến khá, còn tính chất đất rừng rất thuận lợi cho quá trình phát triển và phục hồi rừng nếu ngăn chăn được nạn lửa rừng

2.1.1.4 Khí hậu thuỷ văn

* Khí hậu khu nghiên cứu thuộc kiểu khí hậu á nhiệt đới núi trung bình (ôn đới cận nhiệt đới)

Khí hậu Thuận Châu (Theo trạm khí tượng Thuận Châu) có các đặc trưng chính sau:

- Nhiệt độ

Trang 20

+ Nhiệt độ bình quân năm 190C

+ Nhiệt độ tối cao 370 C, Nhiệt độ tối cao bình quân 320C nhiệt độ tối thấp bình quân 140C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 00C

+ Mùa lạnh nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, trên các đỉnh cao đôi khi nhiệt độ xuống tới gần 0oC

- Độ ẩm

Độ ẩm tương đối bình quân năm cao là 85%, Độ ẩm tương đối tối cao bình quân năm 90%,Độ ẩm tương đối tối thấp bình quân năm 70% Nhiều ngày trong năm có sương mù

- Lượng mưa

+ Lượng mưa bình quân năm 1400 - 1600mm

+ Mùa mưa từ tháng 4 - 9; Mùa khô từ tháng 10 - 3 năm sau Mưa tập trung các tháng 6 đến 8 chiếm 70% tổng lượng mưa năm

- Nắng: Tổng số giờ nắng bình quân năm thấp, Tháng 4 nắng nhiều nhất tháng 10 là tháng nắng ít nhất

- Sương mù: bình quân có 160 ngày có sương mù trong năm

- Sương muối: bình quân 5 - 8 ngày có sương muối trong năm nhưng đôi khi

có đợt kéo dài 3 đến 5 ngày cao nhất tới 11 ngày và thường xuất hiện vào các tháng

12 và1

- Gió: Hướng gió thịnh hành của khu nghiên cứu là Đông Bắc, Tây Nam, gió nhẹ 2,7m/s, Hàng năm vào các tháng 3,4,5 đôi khi có gió tây khô nóng xuất hiện

Trong các tháng 4,5 đôi khi có mưa đá

Nhìn chung khí hậu Khu nghiên cứu là mát vào mùa hè, lạnh về mùa đông, riêng mùa đông có nhiệt độ thấp, lại có sương mù sương muối nên ít nhiều gây cản trở tới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đặc biệt là khâu gieo ươm cây con

* Thuỷ văn: Trong khu nghiên cứu không có sông Đáng chú ý có các suối: Suối Đen, Suối Đá, Hua Nhứ, Suối Nhôp., Nậm Cang, Nậm Ty, Suối Liệp có nước quanh năm Các suối chính trên, lưư lượng nức chảy mạnh về mùa hè, còn mùa đông nước rất cạn Ngoài những con suối chính kể trên, trong khu nghiên cứu còn một số con suối nhỏ có nhiều nước trong những ngày mưa to còn ít ngày sau mưa

là nước cạn chỉ còn là những rãnh nước nhỏ Mật độ suối cao 3.12km/1000Ha nhưng thường gây ra lũ quét, lũ ống nhưng khan hiếm nước vào mùa khô vì các suối có độ dốc cao

Trang 21

2.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội của khu rừng đặc dụng Côpia

Bảng 2.2 Số bản, số hộ và số nhân khẩu trong khu rừng đặc dụng Côpia

2.1.2.2 Tập quán canh tác, sinh hoạt văn hóa và phong tục địa phương

Trang 22

a Tập quán canh tác

- Mặt bằng chung các dân tộc sống tồn tại thông qua lao động truyền thống bằng nông nghiệp, chủ yếu từ chọc lỗ, cuốc hố bỏ hạt cho đến cày, cấy lúa nước Kinh tế lạc hậu, lao động thủ công năng suất thấp, lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên; sản xuất mang tính tự cung, tự cấp Do điều kiện địa lý và sự phân bố các dân tộc đều sống thành cụm bản làng Dân tộc Thái chủ yếu sống tập trung ở các chân núi theo hạ lưu các khe suối nhỏ, sống chủ yếu bằng trồng cấy lúa nước và vừa trồng cấy trên các sườn núi, cuộc sống tương đối ổn định, định cư và luân canh nương rẫy Còn các dân tộc Kháng, H’mông và Khơ Mú lại phân bố trên các sườn cao định

cư nhưng du canh Trước đây còn sống du canh du cư; do cuộc sống khó khăn kéo dài và đó cũng là nguyên nhân cơ bản của việc phá đốt rừng, săn bắn chim thú rừng làm giảm số lượng và chất lượng của chúng dẫn đến sự suy thoái, cá thể các loài động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng

Hiện nay nhờ có Đảng, Chính phủ quan tâm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật đến hướng dẫn sản xuất cho dân, giúp dân phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống giảm bớt khó khăn Nhưng trồng trọt vẫn chiếm một tỷ trọng lớn là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng Ruộng nước ít, hầu như không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ, năng suất lại thấp Còn ngành chăn nuôi chưa thành nguồn chính do chủ yếu chăn nuôi bằng các giống địa phương, số lượng còn ít

- Sản xuất lâm nghiệp: Còn nặng về lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, nên việc khai thác sử dụng lâm sản không có kế hoạch, tự phát, sử dụng vào mục đích làm nhà, chuồng trại chăn nuôi và đồ gia dụng Trong khai thác lâm sản còn lãng phí nhiều do chưa hiểu biết về lợi ích lâu dài và tác dụng đa dạng của rừng nên chưa chú ý trong lợi dụng lâm sản và phát triển rừng, nên làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp, số lượng và chất lượng giảm dần dẫn đến giảm số loài động thực vật trong khu rùng đặc dụng

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước, của tỉnh Sơn

La, UBND huyện Thuận Châu, đặc biệt là hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu, BQL rừng đặc dụng Côpia các hoạt động bảo vệ rừng nói riêng và phát triển lâm nghiệp nói chung đã được thực hiện như khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng

a Sinh hoạt văn hóa và phong tục của địa phương

- Trong khu rừng đặc dụng Côpia có số lượng đông nhất là dân tộc Thái đen

và ít nhất là dân tộc Khơ Mú Nhưng các dân tộc đều có những phong tục tập quán,

Trang 23

hình thức sinh hoạt văn hóa riêng, thể hiện bản sắc dân tộc của mình; dân tộc Thái ở nhà sàn có cấu trúc tương đối bền, kín đáo; còn dân tộc Kháng, Khơ Mú cũng ở nhà sàn nhưng cấu trúc đơn giảm, tạm thời; dân tộc H’mông ở nhà đất trên núi cao, thiết

kế thấp nhưng các dân tộc đều mang cái chung là tập trung thành các bản

- Trong sinh hoạt văn hóa trong các dân tộc đều mang sắc thái riêng biệt; còn nhiều cái lạc hậu gây ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng Những hiện tượng này cần được tuyên truyền hạn chế và tiến tới xóa bỏ, thông qua biện pháp giáo dục để phát huy giữ gìn bản sắc tốt đẹp phù hợp trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay và

sự đổi mới nông thôn miền núi

- Về trồng cây công nghiệp theo chương trình phát triển kinh tế đồi rừng trang trại yếu kém, trồng được vài ha cà phê nhưng do điều kiện thời tiết sương muối, sản phẩm sau thu hái giá cả tiêu thụ khó khăn cho nên diện tích không được

mở rộng

b Những ảnh hưởng bất lợi đến đến khu rừng đặc dụng

- Do điều kiện địa hình phức tạp, độ dốc lớn, lượng nước để sinh hoạt, sản xuất thiếu; diện tích ruộng để canh tác ít, do đó khó khăn nhiều về vấn đề ổn định lương thực, cái ăn của dân sở tại, thức ăn phục vụ cho chăn nuôi, giải quyết thực phẩm cho cộng đồng dân cư Tình trạng du canh du cư ở một vài nơi còn xảy ra đã tác động đến việc phá rừng làm rẫy, tác động đến hệ sinh thái rừng, tới môi trường sinh thái, tới giá trị bảo tồn các nguồn gen động thực vật Đặc biệt hơn là vấn đề nguồn nước dùng cho sinh hoạt, dùng để sản xuất rất khó khăn

- Sự gia tăng dân số là sức ép gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng như hiện tượng khai thác gỗ làm nhà, buôn bán lâm sản, dược liệu, săn bắt các loài động thực vật rừng thường xuyên xảy ra, hiện tượng cháy rừng chưa chấm dứt

Thực trạng nêu trên là các nguyên nhân chính vì đời sống kinh tế của nhân

Trang 24

dân còn nhiều khó khăn

- Do sự hiểu biết của người dân còn thấp, nhận thức về giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và sự cần thiết phải được bảo vệ nuôi dưỡng, giữa lợi ích trước mắt

và lâu dài, giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng còn nhiều hạn chế

2.1.2.4 Y tế, cơ sở kết cấu hạ tầng

a Y tế

Có 5 trung tâm y tế cum xã, mỗi xã có một trung tâm; bình quân có 1 y sỹ, 1

y tá Bình quân mỗi trung tâm có 3 đến 4 giường bệnh Nhưng chủ yếu mới đủ khẳ năng khám và chữa các bệnh thông thường, các bệnh năng phải đưa ra tuyến huyện

để điều trị Việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong vùng đã và đang được quan tâm của cấp trên Tuy nhiên, nhà làm việc, dụng cụ y tế, ánh sáng điện và cơ số thuốc còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu khám và chữa bệnh tại chỗ cho nhân dân trong vùng

b Cơ sở kết cấu hạ tầng

- Có hơn 40 km đường 108 từ huyện vào trung tâm xã Co Mạ đã được rải nhưa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giao lưu và vận chuyển hàng hóa trong khu vực

- Các trụ sở UBND xã, trung tâm y tế xã đã được xây dựng theo kiêu nhà cấp

IV

- Điện lưới đã được thắp sáng trên 50% các hộ dân

- Thủy lợi: toàn bộ khu vực có 13 đập nước, dẫn nước tạm thời phục vụ sản xuất và sinh hoạt Hệ thống nước sạch phục vụ nông thôn có 116 bể

2.2 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội xã Chiềng Bôm huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.2.1.1.Vị trí địa lí, ranh giới hành chín

Xã Chiềng Bôm nằm phía Tây Nam của huyện Thuận Châu, trung tâm xã cách thị trấn huyện 10 km

+ Phía Bắc giáp xã Phỏng Lập, xã Phỏng Lăng

+ Phía Nam giáp xã Cò Mạ, xã Nậm Lầu

+ Phía Đông giáp xã Long Hẹ, xã Cò Mạ

+ Phía Tây giáp xã Chiềng Ly, xã Púng Tra

2.2.1.1 Địa hình

Trang 25

Có địa hình dốc và chia cắt mạnh Điển hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, có nhiều ngọn núi cao trên 1000 m so với mực nước biển, xen

kẽ với các dãy núi là các thung lũng, phiêng bãi, ruộng nước nhỏ có địa hình tương đối bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp của người dân Độ cao trung bình khoảng 650- 700 m so với mặt nước biển

và 1.011,18ha núi đá Do vậy cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu qủa sử dụng đất

từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) chiếm khoảng 20% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 80%, độ ẩm và lượng bốc hơi phụ thuộc vào từng thời điểm khác nhau trong năm Mùa mưa lượng bốc hơi không đáng kể và độ ẩm đất cao, ngược lại mùa khô lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều lần, độ ẩm tầng đất mặt rất thấp

Trang 26

- Có 2 loại gió chính, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và gió mùa Tây Nam xen kẽ từ tháng 1 đến tháng 3

Ngoài ra, hàng năm vào mùa Đông (khoảng tháng 12 đến tháng 1 năm sau) có xuất hiện sương muối gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nhiều khi gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông – lâm nghiệp

2.2.1.5 Thuỷ Văn

Hệ thống thuỷ văn chỉ là các mó nước và suối nhỏ ( bao gồm các con suối nhỏ như suối Nhộp, suối Liệp, suối Bứa, suối Huổi Min, suối Huổi Tát, suối Nậm Bôm) đây là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất của toàn xã

Tuy nhiên do địa hình cao, chia cắt nên hệ thống suối, mó nước phân bố không đều, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân cư vì vậy khả năng khai thác nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân còn hạn chế, đặc biệt vào mùa khô

Vậy, từ những phân tích ở trên cho thấy điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng đến quản lý, sử dụng đất của xã rất nhiều

+ Với những ưu ái về cảnh quan môi trường, khu rừng đặc dụng gồm nhiều chủng loại động vật phong phú, quý hiếm là những tiềm lực phát triển ngành du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

- Khó khăn:

+ Xã nằm cách xa trung tâm huyện Thuận Châu và không có đường liên thông sang các xã khác đã hạn chế lưu thông, buôn bán hàng hoá

+ Đất đai của xã chủ yếu là đồi núi, với khoảng 2/3 diện tích dốc mạnh vì thế

đã ảnh hưởng nhiều đến sử dụng đất, sản xuất của người dân

+ Đất đai chưa sử dụng nhiều, chiếm 48,34% tổng diện tích đất tự nhiên của

xã, trong đó có 3445,26ha đất đồi núi bị thoái hoá, bạc màu mất khả năng sản xuất cần được cải tại, phục hồi để đưa vào sản xuất

Trang 27

+ Hệ thống sông, suối ít, phân bố không đều, có mặt nước thấp hơn so với mặt bằng đất sản xuất nên không dự trữ được nước trong mùa mưa để cung cấp cho mùa khô

+ Lượng mưa phân bố không đều, chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa khô không đủ nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất gây ra hạn hán, đất đai cằn cỗi, cây trồng sinh trưởng kém, năng suất cây trồng giảm Mùa mưa thừa nước gây ra xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng, lũ quét, lũ ống gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất, mất đất sản xuất, làm tắc ngẽn giao thông

2.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.2.2.1 Dân số, dân tộc, lao động

Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 3/2010 xã Chiềng Bôm có 30 bản với thành phần dân tộc, dân số, lao động như sau

- Có 1009 hộ với 5315 nhân khẩu trung bình 5,26người/hộ, trong đó nam

2637 người chiếm 49,61%, nữ là 2678 người chiếm 50,31%

- Số người trong độ tuổi lao động là 3758 người chiếm 70,70% dân số của toàn xã

- Xã có 4 dân tộc sinh sống, bao gồm: Dân tộc Thái sinh sống ở 19 bản với dân số 3144 người chiếm 59,15%, dân tộc Kháng sinh sống ở 8 bản với dân số 1821 người chiếm 34,26%, dân tộc H'mông sinh sống ở 2 bản với 273 người chiếm 5,14%, dân tộc Khơ Mú tập trung sinh sống ở 1 bản với dân số 77 người chiếm 1,45%

Như vậy trong xã chủ yếu dân tộc Thái và Kháng chiếm 93,41%, số người trong độ tuổi lao động tương đối cao chiếm đến 70,70% dân số toàn xã

Trong những năm qua, do nhận thức của người dân về vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình từng bước được nâng cao, nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã

đã giảm nhiều so với trước nhưng vẫn ở mức khá cao là 2,2% Vì vậy trong thời gian tới cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chương trình kế hoạch hoá gia đình đến người dân để họ thực sự hiểu và làm chủ được vấn đề kế hoạch hoá gia đình từ đó dần dần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống mức thấp khoảng 1,5%

2.2.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế

Xã Chiềng Bôm có nền kinh tế truyền thống, chủ yếu sản xuất nông – lâm nghiệp Trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể Cụ thể là

- Trồng trọt

Trang 28

Theo số liệu thống kê, kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm

2009 được thể hiện ở biểu sau

Bảng 2.3: Kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm 2009

TT Loài cây trồng Diện tích (ha) Năng suất

( Nguồn: Ban Địa chính nông - lâm nghiệp xã cung cấp)

Số liệu ở biểu trên cho thấy, năm 2009 dện tích trồng cây nông nghiệp ngắn ngày của toàn xã là 1.112,05ha với tổng sản lượng đạt 8.811,38ha Như vậy đối với đất sản xuất nông nghiệp ngắn ngày, diện tích bình quân 0,21ha/người, sản lượng đạt 1,65tấn/người/năm và thu nhập bình quân đạt 4.590.000đ/người/năm

6 tháng đầu năm 2010 xã Chiềng Bôm đã tiến hành trồng được 1.112,05ha cây nông nghiệp ngắn ngày Trong đó cây Lúa nước 71,31ha, Lúa nương là 23,17ha, Ngô 816,35ha, Sắn 150,67ha, Lạc 5,45ha, Đậu tương 7,50ha, Khoai sọ 15,76ha, Khoai sọ xen đậu tương 11,32ha, Khoai sọ xen Lạc 10,52ha

- Cây công nghiệp, cây ăn quả

Đến năm 2010, tổng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả của xã 153,49ha Trong đó

Trang 29

+ Diện tích cà phê 30ha đang cho thu hoạch với năng suất 10,545tấn/ha/năm

Năm 2009 xã Chiềng Bôm có:

+ Đàn Trâu Bò có 1504 con, chủ yếu để cày kéo và lấy thịt

Diện tích rừng tự nhiên bảo vệ và tận thu các nguồn lâm sản phụ dưới tán rừng

là 3213,53ha Trong đó rừng phòng hộ 1.759,13ha, rừng đặc dụng 1.454,40ha

- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ

Do đặc thù của xã miền núi, người dân sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp nên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gần như chưa phát triển, hiện tại chỉ

có một số cơ sở hoạt động xay xát, dệt thổ cẩm, thủ công nhỏ lẻ phục vụ nhu cầu tại chỗ cho nhân dân địa phương Về hoạt động thương mại dịch vụ, bắt đầu có chiều hướng phát triển với sự xuất hiện của một số điểm thu mua nông sản và hàng quán phục vụ hàng tiêu dùng cho nhân dân trong xã

2.2.2.3 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Hệ thống giao thông của xã nhìn chung còn rất khó khăn Đường từ tỉnh lộ 108 đến trung tâm xã dài 6km rải đá cấp phối mới làm xong năm 2007, còn đường từ trung tâm xã đi tới các bản là đường đất nhỏ, chất lượng mặt đường kém và không được duy tu bảo dưỡng thường xuyên nên vào mùa mưa nhiều tuyến đường trơn trượt, sạt lở gây khó khăn cho việc đi lại

- Thuỷ lợi

Trang 30

Hệ thống thuỷ lợi của xã chưa được đầu tư xây dựng, chỉ có một số phai đập nhỏ do người dân tự xây dựng bằng các vật liệu có sẵn mang tính tạm thời để ngăn nước ở các khe suối cung cấp cho các diện tích ruộng manh mún, bậc thang, đến mùa lũ thường bị hỏng và phải làm lại, hiệu quả kinh tế thấp

- Điện và thông tin liên lạc

Hiện tại 7/30 bản trong xã vẫn chưa có điện lưới quốc gia, đây là một hạn chế không nhỏ đến việc tiếp cận thông tin liên lạc và các tiến bộ khoa học của người dân Hệ thống thông tin liên lạc của xã với một trạm bưu điện văn hoá và 70% diện tích có phủ sóng điện thoại di động đáp ứng tốt nhu cầu liên lạc của người dân

- Giáo dục

Xã Chiềng Bôm có 1 trường trung học cơ sở và 1 Trường tiểu học được xây dựng kiên cố nằm ở trung tâm xã, còn 4 trường tiểu học bán kiên cố nằm ở các điểm bản Đội ngũ giáo viên hầu hết được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn, nhiệt tình Tuy nhiên, xã chưa có trường phổ thông trung học nên học sinh học cấp 3 phải học tại thị trấn huyện do vậy hàng năm số học sinh học cấp 3 của xã ít, chiếm khoảng 10 - 15% tổng số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở

+ Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế còn yếu và chưa đồng

bộ, đặc biệt hệ thống thuỷ lợi chưa được đầu tư xây dựng kiên cố

Trang 31

+ Mặt bằng chung trình độ dân trí còn tương đối thấp vì thế hạn chế trọng việc tiếp thu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào quản lý, sử dụng đất

+ Thành phần dân tộc của xã là Thái, H'mông, Kháng, Khơ Mú sản xuất theo nền nông nghiệp truyền thống, có phong tục, tập quán canh tác còn tương đối lạc hậu làm cho đất ngày càng bị thoái hoá, năng xuất cây trồng càng giảm

+ Đời sống kinh tế của đại bộ phận người dân còn gặp nhiều khó khăn vì thế

họ thiếu vốn đầu tư cho sản xuất (cây giống, phân bón)

+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ chưa phát triển, chưa mang lại nhiều nguồn thu nhập cho người dân vì thế ảnh hưởng gián tiếp đến

sử dụng đất đó là sức ép về đất sản xuất

Trang 32

CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá được những khó khăn thuận lợi trong công tác lý bảo vệ rừng hiện nay tại BQL Rừng đặc dụng Côpia

- Đề xuất những giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên ĐDSH tại BQL Rừng đặc dụng Côpia

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các loài động thực vật tại khu vực nghiên cứu

- Cộng đồng người dân xã Chiềng Bôm với tài nguyên rừng

- Thời gian nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu từ 02/2011 đến 08/2011

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Hiện trạng đa dạng sinh học tại khu rừng đặc dụng Côpia

3.4.2 Nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Côpia

3.4.3 Đánh giá nhận thức, mức độ tham gia và sự phụ thuộc của người dân vào các hoạt động quản lý và bảo tồn ĐDSH tại Côpia

3.4.4 Đánh giá cơ hội và thách thức khi người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn

3.4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn có sự tham gia của người dân

Trang 33

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Công tác chuẩn bị

- Thu thập tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu như: Các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, tình hình dân sinh – kinh tế - xã hội của khu vực Côpia; các báo cáo và tài liệu liên quan đến các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia.; báo cáo liên quan đến các hoạt động của người dân gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên tại khu rừng đặc dụng Côpia,…

- Chuẩn bị các trang thiết bị và dụng cụ cần thiết như bảng câu hỏi phỏng vấn với người dân, với cán bộ BQL rừng đặc dụng, cán bộ địa phương; sổ ghi chép;…

3.5.2 Ngoại nghiệp

* Phương pháp RRA và PRA

Do có sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các dân tộc trong khu vực nghiên cứu nên phải kết hợp phỏng vấn đồng thời quan sát trên đối tượng cụ thể

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được áp dụng để kiểm tra kết quả và xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy hay cản trở, thách thức quá trình phát triển của cộng đồng; lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị để bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng tại địa phương PRA được thực hiện sau nghiên cứu RRA thông qua một số cuộc thảo luận với những nhóm người dân, cán bộ thôn, xã, huyện ở địa bàn nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu đòi hỏi những tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và hệ thống xã hội, vì vậy công tác điều tra cần được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Thu thập các thông tin cơ sở và cập nhật các số liệu thống kê về điều

kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội

Bước 2: Tiến hành khảo sát sơ bộ hiện trường để lựa chọn điểm nghiên cứu

Để các thông tin thu thập được cụ thể và đầy đủ, trước khi nghiên cứu thực địa cần phải tiến hành thiết kế cuộc khảo sát

- Vùng được chọn để khảo sát là vùng còn lưu giữ và vận dụng nhiều kiến thức bản địa cổ truyền trong công tác bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng

- Người dân tham gia vào hoạt động khảo sát phải đại diện cho cộng đồng người dân tại địa phương

Trang 34

- Thời gian khảo sát phù hợp với lịch thời vụ nông nghiệp ở địa phương để có thể xem xét đánh giá các kiến thức bản địa cổ truyền tương ứng

- Các câu hỏi phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ cơ sở đã được chuẩn

bị theo hướng phỏng vấn bán định hướng, chỉ nêu các hướng trao đổi ý kiến, lựa chọn 5 bản thuộc vùng đệm khu rừng đặc dụng Côpia và mỗi bản 30 hộ gia đình để phỏng vấn, cụ thể như sau:

Bộ câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình

I Những thông tin chung:

II Nội dung phỏng vấn:

1 Xin ông (bà) cho biết, rừng có vai trò gì đối với con người?

2 Hiện nay rừng tại xã là do cơ quan nào quản lý? Mức độ quản lý ra sao? Mức

5 Gia đình có được thu và bán lâm sản ra thị trường hay không?

6 Hiện nay mức độ khai thác lâm sản ở xã diễn ra như thế nào?

7 Tình trạng vi phạm lâm luật của người dân trong xã như thế nào? Xử lý ra sao?

8 Hiện nay ông (bà) có biết trong xã có những hình thức quản lý rừng nào?

9 Xin ông (bà) cho biết, trong xã đã có quy ước bảo vệ rừng hay chưa? Nếu có thì xây dựng khi nào? Có phù hợp với hoàn cảnh hiện tại hay không?

10 Theo ông (bà) muốn bảo vệ được rừng thì các cơ quan Nhà nước phải có những giải pháp như thế nào? Và điều mong muốn nhất của ông (bà) là gì?

11 Ông/Bà có biết mục đích thành lập khu rừng đặc dụng Côpia là gì không?

12 Ông/bà có biết ranh ranh giới khu rừng đặc dụng Côpia không?

13 Việc thành lập khu rừng đặc dụng Côpia có ảnh hưởng gì đến thu nhập kinh tế

Trang 35

của gia đình mình không?

14 Ông/ Bà có đồng ý với những qui định của BQL khu rừng đặc dụng Côpia ra không?

15 Ông/Bà có nghĩ rằng người dân phải có trách nhiệm tham gia quản lý bảo vệ rừng không?

- Vấn đề thông tin giữa nhóm khảo sát với cộng đồng cũng đã được sắp xếp để đảm bảo thuận lợi về ngôn ngữ

- Chọn xã nghiên cứu:

Tôi chọn xã Chiềng Bôm - huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La là trung tâm vùng nghiên cứu Khi tiến hành chọn mẫu khảo sát, các tiêu chuẩn chủ yếu cho việc lựa chọn là: Thành phần dân tộc, địa hình và khả năng tiếp cận

Thành phần dân tộc được coi là yếu tố quan trọng với những ảnh hưởng của

nó tới việc lựa chọn chiến lược phát triển đời sống và các hệ thống sản xuất của cộng đồng Dân tộc và phong tục tập quán còn ảnh hưởng đến quá trình đổi mới, việc chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển

Khả năng tiếp cận được xem là yếu tố có ý nghĩa từ khía cạnh tiếp cận các

dịch vụ đầu tư nông nghiệp, khả năng vay tiền ngân hàng, thông tin kỹ thuật, thị trường và các dịch vụ xã hội như trường học và trạm xá

Địa hình ở một mức độ nào đó có liên quan đến khả năng tiếp cận, được coi là

một chỉ tiêu lựa chọn vì ảnh hưởng của nó đến sự lựa chọn của nông dân trong các hoạt động sản xuất, đến điều kiện, cũng như đến các giải pháp quản lý khác

- Chọn cá nhân phỏng vấn:

Chọn người phỏng vấn theo các tiêu chuẩn sau:

+ Cán bộ quản lý chuyên ngành như: Cán bộ BQL rừng đặc dụng Côpia, cán

bộ lâm nghiệp xã

Bộ câu hỏi phỏng vấn cán bộ BQL rừng đặc dụng

I Những thông tin chung

Người được phỏng vấn: Giới tính: Dân tộc: Tuổi:

Cơ quan công tác:

Chức vụ:

Người phỏng vấn: Thời gian phỏng vấn

Trang 36

II Nội dung phỏng vấn

1 Xin ông (bà) cho biết tên tổ chức hiện đang công tác?

2 Tổ chức thành lập khi nào? Số thành viên trong tổ chức? Cơ cấu ra sao?

3 Quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức trong công tác quản lý bảo vệ rừng?

4 Nội dung hoạt động của tổ chức ra sao?

5 Hiện nay mức độ đa dạng sinh học của khu vực Copia như thế nào?

6 Sự tác động của người dân vào rừng tại khu vực ra sao? Cụ thể?

7 Sự hiểu biết của người dân về tác dụng của rừng tại khu vực? Cụ thể?

8 Tại địa phương có những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa nào liên quan đến vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng?

9 Hiện nay trong quá trình quản lý bảo vệ rừng BQL gặp những cản trở và khó khăn gì?

10 Trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng, BQL có được sự hỗ trợ, phối hợp của các tổ chức đoàn thể trong các xã hay không? Mức độ tham gia?

11 Hiện nay BQL có những dụ án gì về bảo tồn tài nguyên rừng?

12 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức khi tham gia các dự án đó?

13 Theo ông (bà) để bảo tồn được tài nguyên rừng thì điều cần quan tâm nhất là gì?

14 Ông (bà) có thể đưa ra những giải pháp bảo tồn tài nguyên rừng tại khu vực?

+ Đại diện cho các tổ chức sử dụng tài nguyên đa sinh học như: Những tổ chức cá nhân chuyên sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực nghiên cứu khai thác gỗ, lâm sản phụ, săn bắn động vật hoang dã

Bước 3: Tiến hành khảo sát trên diện rộng

Để bắt đầu các đợt khảo sát, đầu tiên cần trao đổi nội dung và cách làm với cán bộ nông - lâm nghiệp huyện, cán bộ lãnh đạo địa phương, qua đó nắm bắt được quan điểm của cán bộ lãnh đạo đối với hệ thống kiến thức bản địa và để có sự giúp

đỡ trong tổ chức công việc khảo sát

Công việc khảo sát được tiến hành tại các buổi trao đổi ý kiến với cán bộ lãnh đạo địa phương và cộng đồng người dân, tại hộ gia đình nông dân, trên đồng ruộng, đồi rừng

Thời gian khảo sát được bố trí vào lúc thuận tiện cho công việc của người dân: buổi trưa, buổi tối, ngày lễ hội,

Trang 37

Phạm vi khảo sát chỉ giới hạn trong những kiến thức về bảo vệ, phát triển và

sử dụng tài nguyên rừng trên các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nghề phụ, thú y, cây thuốc,

Trong quá trình điều tra sử dụng phương pháp phỏng vấn linh hoạt, đặt người dân vào quá trình đàm thoại thông qua các câu hỏi đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng Để phỏng vấn có hiệu quả cần chọn thời gian và địa điểm diễn

ra cuộc phỏng vấn; hỏi những câu hỏi thích hợp với từng cá nhân, đưa ra các câu hỏi mở để đạt được sự giải thích và quan điểm của từng người dân; ghi chép một cách cẩn thận vào mẫu biểu; kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp

Một số công cụ PRA được lựa chọn trong quá trình khảo sát:

- Sơ đồ lát cắt thôn bản

- Lược sử thôn bản;

- Ma trận phân loại, xếp hạng cây trồng, vật nuôi cho thang điểm 10

- Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng

Bước 4: Tổng hợp và phân tích dữ liệu

Cùng với hai cán bộ lãnh đạo của thôn nghiên cứu các dữ liệu đã thu thập được và lập danh sách những vấn đề và những cơ hội hành động có thể chấp nhận Các vấn đề được sắp xếp theo lĩnh vực; các cơ hội cũng được thảo luận, đánh giá và trình bày trong một bản danh sách đầy đủ

Bước 5: Xếp hạng các vấn đề Các người dân của làng cùng nhau xếp hạng

các vấn đề đã được liệt kê Kết quả thu được là danh sách các vấn đề được các nhóm cư dân của làng nhất trí xếp hạng ưu tiên theo mức độ hữu ích của chúng

Công cụ phân tích thông tin được sử dụng trong bước này là sơ đồ SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức) và sơ đồ hai mảng (phân tích khó khăn, giải pháp)

3.5.3 Nội nghiệp

Quá trình xử lý và phân tích thông tin được thực hiện bằng máy tính theo các phương pháp thống kê mô tả, so sánh các mẫu quan sát, thống kê phân tích, phân tích logic (kết hợp giữa kiến thức bản địa và kiến thức hiện đại phổ biến để đánh giá) Sơ đồ xử lý số liệu được thể hiện trong sơ đồ sau:

Trang 38

Hình 3.1 Sơ đồ xử lý số liệu

Thông tin về

điều kiện tự nhiên,

hiện trạng đa dạng sinh

sinh học

Phân tích tổng hợp

Đề xuất những giải pháp bảo tồn đa

dạng sinh học

Trang 39

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng đa dạng sinh học tại khu rừng đặc dụng Côpia

4.1.1 Đặc điểm đa dạng của khu hệ thực vật

4.1.1.1 Hiện trạng thảm thực vật khu rừng đặc dụng Côpia

Qua phỏng vấn các bộ BQL có chuyên môn và nghiên cứu một số tài liệu liên quan khu rừng đặc dụng Côpia, thấy rằng trước đây khu vực có các kiểu thảm thực vật nguyên sinh đặc trưng (Bảng 4.1)

Bảng 4.1 Các kiểu thảm thực vật nguyên sinh đặc trưng tại khu rừng đặc

dụng Côpia

độ cao

1 Rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới < 700m

2 Rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp 700 – 1700m

3 Rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm, á nhiệt đới

núi thấp

≥ 1700m

(Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La – 2002)

Tại khu rừng đặc dụng Côpia có những thảm thực vật rất đặc trưng của vùng núi đá vôi phía Bắc, tuy nhiên, các thảm thực vật này đã bị tác động mạnh, diễn ra liên tục, lâu dài từ thế hệ này đến thế hệ khác, chủ yếu do một số nguyên nhân: Canh tác nương rẫy, cháy rừng, khai thác lâm sản gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ, nên thảm thực vật và hệ thực vật khu vực Côpia đã bị thay đổi, dấu hiệu nguyên sinh gần như không còn Thảm thực vật nguyên sinh bị tác động cấu trúc, thành phần thực vật thay đổi, mở ra nhiều khoảng đất trống, những thực vật tiên phong ưu sáng, cây bụi phát triển mạnh Sự tái sinh phát triển mới làm thay đổi về cấu trúc, thành phần của các thảm thực vật nguyên sinh vốn có trước đây

Có thể khẳng định tất cả các kiểu thảm thực vật và hệ thực vật của khu rừng đặc dụng Côpia chịu tác động nặng nề bởi con người Vấn đề gia tăng dân số, nhu

Trang 40

cầu phát triển của con người đòi hỏi đất canh tác, các sản phẩm khai thác từ rừng tăng lên từ đó dẫn đến diện tích đất có rừng, chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng các kiểu thảm thực vật nguyên sinh đã bị tác động tại khu rừng đặc dụng Côpia (Bảng 4.2):

Bảng 4.2 Một số kiểu thảm thực vật nguyên sinh đã bị tác động tại khu rừng

4 Trảng cỏ cây bụi cao

(Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La – 2002)

Vậy, thực vật khu rừng đặc dụng Côpia, đặc trưng của hệ thực vật á nhiệt đới; phân bố từ độ cao 800m trở lên, đã bị tác động mạnh do khai thác, cháy rừng; nhưng thành phần thực vật đặc trưng vẫn còn thể hiện ở các kiểu thảm thực vật khác nhau; Từ độ cao 800 – 1821m dù không còn tính đặc trưng của vùng nguyên sinh vốn có song ta vẫn gặp 2 kiểu rừng kín vùng cao (Rừng kín hỗn giao cây lá rộng và

lá kim ẩm, á nhiệt đới núi thấp; rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp); Thảm thực vật thứ sinh do khai thác kiệt, cháy rừng, canh tác nương rẫy không phân bố thành lô khoảnh liên tục mà đan xen, bị chi phối bởi cháy rừng và hoạt động canh tác nương rẫy, nằm rải rác ở nhiều khu vực, có khi nằm lại trong các kiểu rừng

Mặc dù diện tích khu rừng đặc dụng Côpia không lớn, thảm thực vật ở đây bị tác động mạnh có biến đổi nhiều, nhưng nó vẫn có giá trị rất lớn về môi trường: Bảo

vệ đất, duy trì mực nước của các con suối

4.1.1.2 Thành phần loài thực vật tại khu rừng đặc dụng Côpia

- Thành phần loài thực vật tại khu rừng đặc dụng Côpia

Kết hợp từ các nguồn thông tin khác nhau, số liệu về thành phần loài thực vật tại khu rừng đặc dụng Côpia được trình bày ở bảng 4.3 Cho đến thời điểm hiện tại,

Ngày đăng: 28/09/2017, 14:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1  Sơ đồ xử lý số liệu  31 - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
3.1 Sơ đồ xử lý số liệu 31 (Trang 7)
Bảng 4.2. Một số kiểu thảm thực vật nguyên sinh đã bị tác động tại khu rừng - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.2. Một số kiểu thảm thực vật nguyên sinh đã bị tác động tại khu rừng (Trang 40)
Bảng 4.3. Thành phần loài thực vật rừng tại khu vực Côpia - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.3. Thành phần loài thực vật rừng tại khu vực Côpia (Trang 41)
Bảng 4.7. Số loài thực vật quý hiếm được xếp cho các khu rừng đặc dụng tại - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.7. Số loài thực vật quý hiếm được xếp cho các khu rừng đặc dụng tại (Trang 44)
Hình 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BQL rừng đặc dụng Côpia - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Hình 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BQL rừng đặc dụng Côpia (Trang 51)
Hình 4.2: Sơ đồ mục tiêu của BQL rừng đặc dụng Côpia - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Hình 4.2 Sơ đồ mục tiêu của BQL rừng đặc dụng Côpia (Trang 53)
Hình 4.5. Các trạm bảo vệ của khu rừng đặc dụng Côpia - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Hình 4.5. Các trạm bảo vệ của khu rừng đặc dụng Côpia (Trang 57)
Bảng 4.14. Diện tích phân khu bảo tồn nguyên vẹn của BQL rừng đặc dụng - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.14. Diện tích phân khu bảo tồn nguyên vẹn của BQL rừng đặc dụng (Trang 58)
Bảng 4.15. Diện tích phân khu phục hồi sinh thái của BQL rừng đặc dụng - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.15. Diện tích phân khu phục hồi sinh thái của BQL rừng đặc dụng (Trang 59)
Hình 4.6. Phá rừng làm nương rẫy - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Hình 4.6. Phá rừng làm nương rẫy (Trang 69)
Bảng 4.16. Kết quả kiểm kê tài nguyên rừng của xã Chiềng Bôm (năm 2009) - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.16. Kết quả kiểm kê tài nguyên rừng của xã Chiềng Bôm (năm 2009) (Trang 72)
Bảng 4.18. Khả năng kết hợp trồng giữa cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.18. Khả năng kết hợp trồng giữa cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp (Trang 75)
Bảng 4.21. Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các mô hình sử dụng đất - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.21. Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các mô hình sử dụng đất (Trang 79)
Bảng 4.23. Hiệu quả tổng của các mô hình sử dụng đất cây lâm nghiệp - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Bảng 4.23. Hiệu quả tổng của các mô hình sử dụng đất cây lâm nghiệp (Trang 81)
Hình 4.7. Sơ đồ các nhóm giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người dân - Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la
Hình 4.7. Sơ đồ các nhóm giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người dân (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w