Luận văn có lấy một phần số liệu của dự án: “Nghiên cứu hợp nhất phương pháp đo đếm và theo dõi các bon cộng đồng với hệ thống Viễn thám và GIS trong hệ thống Đo tính, Báo cáo và Kiểm
Trang 1NGUYỄN XUÂN GIÁP
NGHIÊN CỨU PHỐI HỢP SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG ĐO ĐẾM VÀ THEO DÕI CÁC BON VỚI KỸ THUẬT VIỄN THÁM VÀ GIS CỦA CHƯƠNG TRÌNH REDD+ TẠI THÔN TO DOOC, XÃ LẠNG SAN VÀ THÔN NÀ MỰC, XÃ VĂN MINH HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHÙNG VĂN KHOA
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Người cam đoan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khóa 18B Lâm học, giai đoạn 2010 -2012
Luận văn có lấy một phần số liệu của dự án: “Nghiên cứu hợp nhất phương pháp
đo đếm và theo dõi các bon cộng đồng với hệ thống Viễn thám và GIS trong hệ thống
Đo tính, Báo cáo và Kiểm định (MRV) của chương trình REDD+”, được thực hiện tại 3
nước Việt Nam, Lào, Thái Lan với sự hỗ trợ tài chính của Khoa Lâm nghiệp Đại học bang Michigan và Đại học Lâm nghiệp Việt Nam Tác giả xin chân thành cảm ơn Dự án đã hỗ trợ tài chính cho tác giả hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp
đỡ, quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất của Khoa Sau đại học và cũng như các thầy, cô giảng viên của Trường đại học Lâm nghiệp, cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt của Trung tâm nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng và sự giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng cao Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn TS Phùng Văn Khoa người hướng dẫn khoa học, trực tiếp truyền đạt, góp ý và chỉnh sửa báo cáo khoa học rất chi tiết và tỷ mỷ trong suốt quá trình thực tập cũng như viết luận văn
Tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộn nhân viên khoa sau đại học đặc biệt PGs
TS Nguyễn Văn Thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Từ đáy lòng mình tác giả biết ơn sâu sắc về sự động viên kịp thời của người Mẹ, người Cha và em trai của mình, bạn Nguyễn Thu Trang, cô Nguyễn Thị Hoàn, anh Trần Lâm Đồng trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu
Cuối cùng tác giả dành lời cảm ơn sâu sắc tới các đồng nghiệp, bạn bè và tất cả người dân tại địa điểm nghiên cứu đã hết lòng tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2012
Trang 4Tác giả MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh lục các từ, kí hiệu viết tắt vi
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan chương trình UN-REDD+ thế giới 3
1.1.1 Các khái niệm chung 3
1.1.2 Tổng quan về tiến trình thực hiện UN-REDD+ hiện tại 4
1.2 Tổng quan chương trình UN-REDD+ Việt Nam 5
1.2.1 Hiện trạng rừng và những nguyên nhân mất rừng chủ yếu ở Việt Nam 5
1.2.2 Cam kết của Việt Nam nhằm ứng phó với Biến đổi khí hậu 6
1.2.3 Tiến trình thực hiện Chương trình UN-REDD của Việt Nam 7
1.3 Cơ chế MRV 9
1.3.1 Bối cảnh ra đời của MRV theo UN FCCC 9
1.3.2 Bối cảnh MRV tại Việt Nam 13
1.3.3 Những kết quả nổi bật, các vấn đề tồn tại và cấp thiết chưa được giải quyết 15
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu chung 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 17
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 19
2.4.2 Phương pháp khoa học cụ thể 20
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu 20
2.4.2.2 Phương pháp đánh giá nông thôn PRA 21
2.4.2.3 Phương pháp đo đếm bể các bon rừng trên mặt đất có sự tham gia 22 2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 22
2.4.3.1 Tính trữ lượng các bon rừng 22
2.4.3.2 So sánh kết quả 24
2.4.3.3 Phân tích số liệu phiếu điều tra (PRA) 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm hiện trạng rừng khu vực nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm hiện trạng rừng xã nghiên cứu 25
3.1.1.1 Đặc điểm hiện trạng rừng xã Lạng San 25
3.1.1.2 Đặc điểm hiện trạng rừng xã Văn Minh 27
3.1.2 Lập bản đồ hiện trạng có sự tham gia tại hai thôn nghiên cứu 30
3.1.2.1 Lập bản đồ hiện trạng có sự tham gia 30
3.1.2.2 Hiện trạng rừng tại hai thôn nghiên cứu 32
3.2 Hiện trạng quản lý rừng, kiến thức và phong tục truyền thống của dân tộc thiểu số liên quan đến rừng tại thôn nghiên cứu 33
3.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội 33
3.2.2 Hiện trạng quản lý rừng 34
3.2.3 Kiến thức và phong tục bản địa liên quan đến rừng 36
3.3 Nội dung nâng cao nhận thức và năng lực đo đếm các bon có sự tham gia, đánh giá năng lực của cộng đồng trong lập và đo đếm trong ÔTC tạm thời 40
3.3.1 Đánh giá nhu cầu đào tạo của thôn 40
3.3.2 Nội dung nâng cao nhận thức 44
3.3.3 Nội dung nâng cao năng lực về đo đếm các bon 46
Trang 63.3.4 Đánh giá năng lực của cộng đồng trong lập và đo đếm trong ô tiêu chuẩn
tạm thời 50
3.4 Dự đoán trữ lượng các bon rừng bể cây gỗ trên mặt đất bằng ảnh vê ̣ tinh và phương pháp đo đếm mặt đất của cộng đồng 55
3.4.1 Phương pháp sử dụng ảnh vệ tinh 55
3.4.1.1 Phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh 55
3.4.1.2 Kết quả giải đoán từ ảnh vệ tinh 56
3.4.2 Phương pháp điều tra rừng cộng đồng 60
3.4.2.1 Điều tra thực địa 60
4.4.2.2 Kết quả dự đoán 61
3.4.3 So sánh kết quả giải đoán ảnh vệ tinh và điều tra các bon rừng cộng đồng trên mặt đất 63
3.5 Nghiên cứu các giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy sự tham gia bền vững của người dân trong hệ thống MRV 64
3.5.1 Những tiêu chí căn bản của hệ thống MRV cấp cộng đồng 64
3.5.2 Các giải pháp về chính sách 66
3.5.2.1 Giải pháp kỹ thuật 66
3.5.2.2 Giải pháp về kinh tế 67
3.5.2.3 Vận dụng kiến thức bản địa và phong tục bản địa trong xây dựng khung thể chế MRV cấp cộng đồng 68
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Tồn tại 71
3 Khuyến nghị 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
A/R CDM Trồng rừng/Tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch
ABG Sinh khối trên mặt đất
BĐKH Biến đổi khí hậu
BDS Cơ chế chia sẻ lợi ích
CBD Công ước về Đa dạng sinh học của Liên Hợp Quốc
CBO Nhóm quản lý rừng dựa vào cộng đồng
CEDAW Công ước về loại trừ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc
đối với phụ nữ
D1.3 Đường kính cây tại vị trí 1.3m
FAO Tổ chức nông lương thế giới
FPIC F tự do tham gia, P được biết trước, I được thông báo đầy đủ thông
tin,C đồng thuận
ILO169 Luật lao độ quốc tế
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MONRE Bộ tài Nguyên và Môi trường
MRV Đo lường, Báo cáo và Thẩm định
NFIMAP Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá tài nguyên rừng toàn
quốc PCM Đo tính các bon có sự tham gia
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLRBV Quản lý rừng bền vững
Trang 8R Hệ số tương quan
REDD+ Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng
RELs Mức phát thải tham chiếu
RRA Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
UNCAC Công ước Liên Hợp Quốc về chống lại tham nhũng
UNCERD Công ước liên hợp quốc về loại trừ tất cả các dạng thức phân biệt
chủng tộc UNDRIP Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền của người bản địa
UNFCCC Công ước về Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc
VNFOREST Tổng cục Lâm nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Phân bổ rừng và đất rừng theo chủ thể quản lý xã Lạng
San
27
3.4 Diện tích rừng phân theo chủ thể quản lý xã Văn Minh 29
3.5 Chi tiết cá nhân tham gia phỏng vấn – thảo luận nhóm 33
3.8 Số lượng cán bộ/người dân được phỏng vấn, thảo luận
nhóm
41
3.9 Thống kê hiểu biết của người dân và cán bộ địa phương
vềBiến đổi khí hậu, REDD+ và thị trường các bon
42
3.10 Tổng hợp hiểu biết của người dân/cán bộ địa phương về
lập và đo đếm các chỉ tiêu trong ô tiêu chuẩn
43
3.11 Tỷ lệ sai số của nhóm điều tra rừng trong điều tra thực địa 50
3.12 So sánh giá trị đường kính (D1.3)được đo bởi nghiên cứu
viên và người bản địa
55
3.14 Tổng hợp trữ lượng các bon rừng tích lũy của thôn To
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
3.5 Ô tiêu chuẩn đo đếm bể các bon thảm mụcthảm tươi cây bụi
3.15 Bản đồ giải đoán hiện trạng theo trạng thái rừng thôn To
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội nghị của các Bên (COP) tham gia Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) tổ chức tại Bali, Indonesia năm 2007 và cộng đồng quốc tế đã thừa nhận phá rừng và suy thoái rừng là một trong những nhân tố chi phối mạnh nhất đến biến đổi khí hậu toàn cầu Từ năm 2009, UNFCCC mở rộng khái niệm REDD1 thành REDD+ Tiếp đến tháng 12/2010 tại Can Cun, Mexico đã hình thành khái niệm REDD+ bao gồm 5 hoạt động [29]:
Giảm phát thải khí nhà kính từ giảm mất rừng;
Giảm phát thải khí nhà kính từ giảm suy thoái rừng;
Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã xây dựng được chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu Cùng với nó chương trình REDD+ Việt Nam cũng đang nhận được sự hỗ trợ về tài chính của UNDP, FAO, WB3, ADB, Chính phủ Na Uy và các
tổ chức Phi chính phủ khác như SNV, GTZ, AUSAID etc Việt Nam đã đệ trình
Trang 13
được Chương trình UN-REDD Pha 2 (R-PP) đến UN FCCC, xây dựng khung dự thảo của FPIC2, MRV3, BDS4, SES5 và quản trị[15]
Vào tháng 9 năm 2011, khung dự thảo khung của MRV Việt Nam được hoàn thành với các nội dung về hệ thống hoạt động của MRV có tính đến các tiêu chí SES và phương pháp tiếp cận cho REDD+ Cùng với đó chương trình số hóa bản đồ
và điều tra thực địa đang tiếp tục được thực hiện phục vụ cho hệ thống MRV của Việt Nam, chương trình xây dựng năng lực cho các thể chế và các bên liên quan cũng tạo nền tảng cho thực hiện MRV của Việt Nam từ cấp Trung ương tới cấp địa phương Đối với cấp địa phương, SNV và UN-REDD Việt Nam cùng đối tác thực
hiện là Đại học Tây Nguyên đã phối hợp thực hiện chương trình “Đo tính carbon có
sự tham gia” (Viết tắt PCM) thực hiện thí điểm tại hai huyện Lâm Hà, Bảo Lộc tỉnh
Lâm Đồng Chương trình đã được báo cáo tham vấn tại UNFCCC tổ chức tại Oslo năm 2011[34] Tuy nhiên, với đặc thù riêng của Việt Nam là sự khác biệt rõ rệt của địa hình, cảnh quan rừng giữa phía bắc và vùng Tây Nguyên, cũng như là sự khác biệt rõ về bản sắc văn hóa, trình độ dân trí, thành phần dân tộc cần phải có những thử nghiệm rõ ràng hơn về năng lực của người bản địa trong việc tham gia vào đo đếm, theo dõi trữ lượng các bon trên mặt đất
Bên cạnh đó, Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu đã thừa nhận Quyền của người dân tộc thiểu số (UNDRIP), khẳng định họ là những người chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và là người được hưởng lợi trực tiếp từ REDD+ Hơn nữa để nâng cao năng lực và chứng minh được tiềm năng của
người dân tộc thiểu số trong đo đếm và giám sát các bon rừng, đề tài “Nghiên cứu phối hợp sự tham gia của người dân trong đo đếm và theo dõi các bon với kỹ thuật viễn thám và GIS của chương trình REDD+tại thôn To Dooc, xã Lạng San và thôn
Nà Mực, xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện với mong muốn
đưa ra những luận chứng cụ thể cho một mô hình MRV cấp cộng đồng với những
2 F (free) tự do tham gia, P (priority) được báo trước, I (informed) được biết đầy đủ thông tin, C (consent) đồng thuận
3 M (measurement or monitoring) đo đếm hoặc giám sát, R (reporting) báo cáo, V (verifying) kiểm chứng
4 BDS (benefit distribution system) cơ chế chia sẻ lợi ích
5 Social and environmental safeguard các tiêu chí an toàn về chính sách xã hội và môi trường
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan chương trình UN-REDD+ thế giới
1.1.1 Các khái niệm chung
Rừng(Quan điểm FAO) là một khu đất liền khoảnh lớn hơn 0,5 ha với chiều
cao cây lớn hơn 5 m và độ tàn che lớn hơn 10%, hoặc cây rừng có thể đạt được chiều cao và độ tàn theo tiêu chí này trong điều kiện nguyên sản Nó không bao gồm đất sử dụng cho nông nghiệp và đô thị[21], hiện tại trong REDD+ Việt Nam phổ biến sử dụng định nghĩa này
Quản lý rừng bền vững6 (SFM) là duy trì và làm tăng giá trị môi trường, xã hội và kinh tế của tất cả các kiểu rừng, cho cả các giá trị hiện thời và các giá trị tái sinh trong tương lai SFM được xem xét dưới các góc độ (I) phạm vi/qui mô của nguồn tài nguyên rừng; (II) đa dạng sinh học; (III) sức sống và năng lực phục hồi; (IV) chức năng sản xuất; (V) chức năng bảo vệ; (VI) chức năng kinh tế - xã hội; và (VII) khung thể chế và chính sách, pháp lý [32]
Sinh khối rừng: Sinh khối rừng được định nghĩa là tổng lượng vật chất hữu
cơ sống trên mặt đất trong rừng, được tính bằng tấn khô trên một đơn vị diện tích (rừng, ha, vùng, hoặc quốc gia) Sinh khối rừng được phân loại thành sinh khối trên mặt đất và sinh khối dưới mặt đất.Sinh khối trên mặt đất là sinh khối sống trên mặt đất bao gồm: thân cây, gốc cây, cành nhánh, vỏ, hạt và lá.Sinh khối dưới mặt đất là tất cả sinh khối sống của rễ Những rễ cây có đường kính nhỏ hơn 2 mm (được khuyến nghị) bỏ qua bởi vì chúng thường rất khó để phân với vật chất hữu cơ trong
đất hoặc vật rơi dụng khác [31]
Bể chứa các bon: Bể chứa các bon là bể chứa lưu giữ các bon Đối với rừng,
có 5 loại bể chứa các bon được xem xét để ước tính, đó là: Các bon trong cây gỗ sống (sinh khối trên và dưới mặt đất); các bon trong gỗ cây chết (cây đứng và cây đổ); trữ lượng các bon trong tầng thảm tươi, cây bụi (cây tái sinh, cây bụi, cỏ); trữ
Trang 15lượng các bon trong thảm mục (mảnh gỗ mục, vật rơi rụng, mùn) và các bon hữu cơ trong đất [31]
Trữ lượng các bon: Trữ lượng các bon là khối lượng của các bon trong một
bể chứa các bon [31]
REDD+ (Reduction emission from deforestation and forest degradation) là
từ viết tắt của giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng
Suy thoái rừng (forest degradation): Theo UNEP rừng bị suy thoái là những
khu rừng thứ sinh, thông qua các hoạt động của con người, đã bị phá vỡ cấu trúc, chức năng, tổ thành loài hoặc năng suất [18] Theo định nghĩa của IPCC, suy thoái rừng là các hoạt động trực tiếp của con người làm thiệt hại đi giá trị của rừng (đặc biệt các bon), được đặc trung bởi giảm độ che phủ rừng [31]
Phá rừng là chuyển đổi đất rừng thành đất không có rừng [35]
1.1.2 Tổng quan về tiến trình thực hiện UN-REDD+ hiện tại
Vấn đề “Giảm phát thải thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng” (REDD) đã được Papua New Guinea và Costa Rica đưa vào chương trình
nghị sự UNFCCC trong Hội nghị các bên lần thứ 11 (COP) năm 2005 Lý do đáng chú ý nhất để đạt được sự đồng thuận về REDD là 17,4% tổng lượng phát thải khí nhà kính, và khoảng 20% lượng phát thải CO2 toàn cầu là từ mất rừng [11] Do đó, mặc dù có những thách thức lớn, các bên đã đạt được sự đồng thuận lớn về việc UNFCCC nên xem nguồn phát thải này là mối quan tâm của tất cả các thành viên công ước và biến REDD thành một công cụ để giảm thiểu biến đổi khí hậu Kể từ
đó, REDD đã được đưa vào lộ trình đàm phán tại Bali, Indonesia (COP-13) và tiến trình tiếp theo của UNFCCC “REDD” đã chính thức được mở rộng thành
“REDD+” tại những cuộc họp sau đó REDD+ có nghĩa là giảm phát thải thông qua việc giảm mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng và tăng cường bể chứa các bon của rừng REDD+ đã được đưa vào trong Hiệp ước Copenhagen tại UNFCCC COP-15 năm 2009[14] Năm 2008, chương trình UN-REDD thành lập quĩ đa phương đầu tiên cung cấp hỗ trợ khởi đầu và củng cố
Trang 16vai trò dân tộc bản địa và cộng đồng địa phương cùng những cộng đồng phụ thuộc vào rừng khác trong các hoạt động của REDD+ và phát triển hệ thống MRV [14],
1.2 Tổng quan chương trình UN-REDD+ Việt Nam
1.2.1 Hiện trạng rừng và những nguyên nhân mất rừng chủ yếu ở Việt Nam
Đối với các trạng thái rừng tự nhiên, phần lớn độ che phủ rừng Việt Nam đã suy giảm trong giai đoạn 1943 – 1993 từ ít nhất 43% xuống còn 20% [17] Kể từ đó trở đi, với những chính sách tích cực của Chính phủ và và sự giúp đỡ của các tổ chức Phi chính phủ quốc tế, một số chương trình phục hồi rừng lớn tập trung vào trồng rừng, cải tạo rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi bảo vệ
đã được triển khai như PAM, 327, 661 diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên đáng kể
ở mức 13.564 nghìn héc ta tương đương với độ che phủ rừng 39% [4] Tuy nhiên, thực tế dễ nhận thấy, chất lượng rừng trồng còn kém chủ yếu tập trung và trồng thuần loài (Keo, Bạch đàn, Thông) cho gỗ nguyên liệu; với rừng tự nhiên chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo, nghèo kiệt với mức độ đang dạng sinh học tự nhiên và các loài cây có giá trị hầu như đã bị khai thác chọn kiệt Đặc biệt, với sự sụt giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 1943 – 1999, diện tích rừng ngập mặn toàn quốc
đã giảm từ 409.000 ha xuống còn 155.000 ha (giảm 62%) [20]
Mất rừng và suy thoái rừng ở Việt Nam bắt nguồn từ yếu tố dân tộc, địa hình, chính sách và nhiều yếu tố phức tạp Tuy nhiên, phải thừa nhận động lực chính phá rừng là từ con người dù trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến mất rừng Tóm lại hiện tượng này gồm các yếu tố chính sau:
Chuyển đổi rừng sang đất canh tác: Với sự phát triển mạnh vẽ của các loài
cây công nghiệp và chính sách thúc đẩy từ Chính phủ như chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng cây cây công nghiệp (Cao su, cà phê, chè, điều, Ca cao, Mít …) Bên cạnh đó tình hình di cư cơ giới và tình trạng đói nghèo vẫn là một vấn đề dai dẳng ở Việt Nam nhất là đối với các dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi[11];
Trang 17Chính sách và nạn khai thác gỗ trái phép: Khai thác gỗ không bền vững là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy thoái rừng ở Việt Nam và hệ lụy của phương thức quản lý yếu kém và các hoạt động trái phép cũng như khai thác gỗ của các hộ nông thôn để sử dụng và làm củi đốt [11] [6]
Phát triển cơ sở hạ tầng: Nguyên nhân mất rừng cơ bản ở đây là xây đập
thủy điện, một diện tích lớn dành cho qui hoạch các hồ, đập chứa nước cho nông nghiệp cũng làm giảm đáng kể diện tích rừng ở Việt Nam và xây mới và cải tạo hệ thống giao thông đường bộ tại các tuyến dọc dãy Trường Sơn, Tây Nguyên xuyên qua các khu bảo tồn, Vườn quốc gia cũng làm tăng nguy cơ mất rừng ở Việt Nam hiện tại [1] [11]
Cháy rừng: Trong giai đoạn 1992 – 2002, diện tích bình quân hàng năm bị mất
do cháy rừng là 6.000ha Giai đoạn 2004 – 2008, theo báo cáo đã xảy ra 3.659 vụ cháy rừng, thiêu hủy 15.479 ha (tương đương với diện tích rừng bình quân 3.096ha/năm)[4]
1.2.2 Cam kết của Việt Nam nhằm ứng phó với Biến đổi khí hậu
Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 13 (COP13) của UN FCCC đã khẳng định Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới bị tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu Trước đó, báo cáo của Ngân hàng thế giới cũng cảnh báo những nguy cơ thiệt hại nặng nề do mực nước biển dâng cao đối với Việt Nam
Việt Nam tham gia UN FCCC từ tháng 11/1994 và đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào tháng 9/2002 Trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu Ngày 02/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ban hành Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu (NTP-RCC) Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KNCN ngày 05/09/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về khung Chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2008 – 2020, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp Ngày 12/06/2009, Chính phủ đã có Nghị quyết số 27/NQ-CP về một
số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường, trong đó Chính phủ yêu cầu các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong
Trang 18phạm vi trách nhiệm của mình tích cực, chủ động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Năm 2011 Thủ tướng chỉnh phủ ban hành quyết định về thực hiện chương trình Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính thong qua các nỗ lực hạnh chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn trữ lượng các bon; quản lý rừng bền vững và tăng trữ lượng các bon rừng giai đoạn 2011 – 2020 ở Việt Nam Ngày 13/01/2011 Văn phòng Chính phủ đưa ra hướng dẫn 282/VPCP-QHQT về Hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ trong báo kết quả của COP16 và CMP6 tại Cancun, Mexico Trước đó 07/01/2011 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành quyết định 39/QĐ-BNN-TCCB về thành lập Ban điều hành chương trình REDD+ quốc gia với nhiệm vụ hỗ trợ Bộ Nông nghiệp trong việc điều phối và thực hiện chương trình REDD+ ở Việt Nam, xây dựng khung thể chế, chính sách, tiếp cận và các vấn đề khác liên quan đến chương trình Tiếp sau đó ngày 19/01/2011, Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quyết định số 18/QĐ-TCLN-VP về việc thành lập Văn phòng REDD+ văn phòng có nhiệm vụ giám sát, tổng hợp, hợp tác, điều phối với tất cả các bên liên quan trong việc thực hiện chương trình ở VIệt Nam Tháng 11/2011 Việt Nam hoàn thành đề xuất chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ (R-PP) đến quỹ Đối tác Các bon Lâm nghiệp FCPF, kết quả của đệ trình chính là REDD+ pha II sẽ được thực hiện tại Việt Nam giai đoạn kế tiếp
1.2.3 Tiến trình thực hiện Chương trình UN-REDD của Việt Nam
Việt Nam là một trong các nước đi đầu trong việc thực hiện REDD+ cần có
sự phối hợp của rất nhiều bên liên quan để phù hợp với các tiến trình đàm phán Quốc tế và theo định hướng chiến lược của các mục tiêu quốc gia, bản thân khung REDD+ được thực thi lại đòi hỏi nhiều hợp phần khác nhau như:1) rõ ràng chiến lược quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp; 2) thúc đẩy tiến trình giao quyền sử dụng rừng, rõ ràng chủ thể quản lý rừng/các bon; 3) hệ thống hóa, cải cách chính sách lâm nghiệp và các thủ tục hành chính liên quan; 4) thực hiện qui hoạch và các quy định về môi trường; 5) Thúc đẩy các giải pháp thay thế, chuyển đổi rừng và suy
Trang 19nút thắt cuối cùng cũng là chìa khóa thành công của REDD+ tại Việt Nam Tiếp đó, thực hiện các bước phân quyền hóa và thí điểm ở từng địa phương, vùng rồi hoàn thiện đến cấp quốc gia [11], [15]
Trong quá trình thực hiện REDD+ sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của các bên liên quan (full and effective participant, hoặc FPIC – pree, priority, informed
and consent), đề cập tới vai trò của cá nhân, cộng đồng liên quan tới rừng tại địa phương FPIC Việt Nam gồm 8 bước đã được thực hiện thí điểm tại Lâm Hà, Lâm Đồng và được đánh giá bởi Nguyễn Quang Tấn, Lương Thị Trường [27]
Đảm bảo bảo an toàn các chính sách về môi trường và xã hội (social and
environmental safeguard-SES đặt ra trong COP17 Đến tháng 9/2011 Việt Nam đệ trình các nguyên tắc và tiêu chí SES gồm 7 nguyên tắc và 25 tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí về xã hội và 3 tiêu chí về môi trường [13]
Xây dựng kịch bản tham chiếu (reference level – RL, reference emission level – REL) cho cả 5 hoạt động của REDD+ (như đã thống nhất tại COP16) vẫn chưa được hoàn thành Các hoạt động thảo luận ở Việt Nam về thiết lập đường cơ
sở cho cơ chế REDD+ đến nay tập trung vào mức tham chiếu (RL), bao gồm mức tham chiếu rừng và mức phát thải tham chiếu (REL), đến nay các hoạt đang triển khai và hoạt động đã hoàn thành, gồm:
Số hóa tất cả các bản đồ rừng và số liệu đo đếm hiện trường của các chu kỳ điều tra rừng toàn quốc trước đây – với hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của JICA
và Phần Lan Tất cả các số liệu lâm nghiệp số hóa cho năm 1990, 1995, 2000
và 2010 sẽ được chuẩn hóa và lưu vào cơ sở dữ liệu ngành lâm nghiệp
Rà soát và đánh giá chất lượng số liệu của bốn chu kỳ điều tra rừng từ Chương trình Tổng điều tra rừng toàn quốc từ năm 1990 Số liệu lâm nghiệp năm 1990, 2000 và 2010 sẽ được kiểm tra và công nhận
Rà soát và đánh giá phương pháp xây dựng REL/RL – với sự hỗ trợ của JICA, Phần Lan và Chương trình UN-REDD Việt Nam Một mức phát thải tham chiếu tạm thời được xây dựng
Trang 20 Huy động các bên liên quan trong nước và quốc tế tham gia thảo luận phương pháp xây dựng REL/RL cho Việt Nam, thông quan Tiểu nhóm công tác kỹ thuật về MRV và hỗ trợ kỹ thuật từ Chương trình UN-REDD Việt Nam
Cơ chế chia sẻ lợi ích: (benefit distribution system – BDS) dưới sự hỗ trợ tài
chính, nguồn lực từ FAO và các tổ chứ phi chính phủ trong nước và quốc tế khác, tháng 6/2011 bản thảo đầu tiên của cơ chế chia sẻ lợi ích được hoàn thành và tham vấn với các nội dung chính gồm 1) các nguyên tắc và quản trị quỹ từ cấp quốc tế đến cấp địa phương; 2) cơ cấu tổ chức, các bên được chi trả và hình thức chi trả cấp địa phương; 3) qui trình phối hợp và giám sát giảm rủi ro
Tiến trình thực hiện REDD+ còn có những hợp phần khác như quản trị trong REDD+, đa dạng sinh học, chí phí cơ hội … Tuy nhiên các kết quả của các tiểu nhóm làm việc này hiện chưa cụ thể Do đó trong tổng quan này nghiên cứu không
đề cập tới
1.3 Cơ chế MRV
1.3.1 Bối cảnh ra đời của MRV theo UN FCCC
Hội nghị các Bên lần thứ 15 (COP15) của Công ước khung Liên Hiệp Quốc
về Biến đổi khí hậu năm 2009 đã thông qua quyết định “Hướng dẫn về mặt phương pháp luận cho các hoạt động liên quan đến việc phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng và vai trò của bảo tồn, quản lý rừng bền vững cũng như tăng cường trữ lượng các bon của rừng ở các nước đang phát triển” (REDD+) COP16 vào năm tiếp theo
đã thông qua các quyết định bổ sung, bao gồm cả các quyết định về “Các phương pháp chính sách và khuyến khích tích cực về những vấn đề có liên quan tới giảm thiểu phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển; và vai trò bảo tồn, quản lý rừng bền vững cũng như nâng cao trữ lượng các bon rừng ở các nước đang phát triển”
Quyết định được thông qua bởi các Bên tại COP16 vào năm 2010 gồm 5 hoạt động liên quan đến rừng thuộc về REDD+ Phạm vi lớn này đã được nhất trí để
Trang 21phản ánh nhiều bối cảnh quốc gia khác nhau (ví dụ như độ che phủ rừng cao và tỷ lệ phá rừng cao/ độ che phủ rừng cao và tỷ lệ phá rừng thấp/gia tăng diện tích rừng và trữ lượng các bon) Mục tiêu của MRV là cho phép đánh giá lượng phát thải và hấp thụ khí nhà kính quốc gia trong lĩnh vực lâm nghiệp và báo cáo cho UN FCCC theo một cách thức có thể thẩm định được [10]
Trong khi các thảo luận từ COP 16 yêu cầu Cơ quan Chi nhánh về Tư vấn Khoa học và Công nghệ (SBSTA) phát triển các phương thức cho MRV (Phụ lục II (c), Quyết định 1/CP.16), văn bản này không cung cấp một định nghĩa rõ ràng về MRV Tuy nhiên, các nỗ lực để phát triển MRV cần được khuyến khích, nhằm khởi xướng và thông báo với quá trình đàm phán của UN FCCC [1]
Khoản 1, Quyết định 4/CP.15 của UN FCCC, yêu cầu các Bên là các nước đang phát triển, trên cơ sở nhiệm vụ được tiến hành về các vấn đề mang tính phương pháp được đặt ra trong các khoản 7 và 11 của quyết định 2/CP.13, xem xét các chỉ dẫn sau cho các hoạt động có liên quan đến quyết định 2/CP.13, và không xét đoán sớm bất kỳ quyết định liên quan bổ sung nào của Hội nghị các Bên, đặc biệt là những cái có liên quan đến đo đếm và báo cáo [27]: (….)
(c) Sử dụng những hướng dẫn/chỉ dẫn gần đây nhất của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, như được thông qua hoặc được khuyến khích bởi Hội nghị các Bên, nếu thích hợp, như là một cơ sở cho việc ước tính lượng khí nhà kính nhân tạo phát thải từ các nguồn và hấp thụ bởi các bể liên quan đến rừng, trữ lượng các bon của rừng và thay đổi diện tích rừng;
(d) Thiết lập, theo khả năng và hoàn cảnh quốc gia, một hệ thống giám sát rừng quốc gia tin cậy và, nếu thích hợp, các hệ thống cấp cận quốc gia như là một phần của hệ thống giám sát quốc gia mà:
(i) Sử dụng kết hợp các phương pháp viễn thám và kiểm kê các bon rừng trên mặt đất để ước tính, một cách thích hợp, lượng khí nhà kính nhân tạo phát thải từ các nguồn và hấp thụ bởi các bể có liên quan tới rừng, trữ lượng các bon của rừng
và thay đổi diện tích rừng;
Trang 22(ii) Cung cấp các ước tính có tính minh bạch, nhất quán, chính xác đến mức
có thể, và giảm thiểu độ bất định, có tính đến các khả năng và năng lực của quốc gia;
(iii) Có tính minh bạch và các kết được công bố và dễ dàng kiểm tra như đã thống nhất bởi Hội nghị các Bên;
Các nước đang phát triển cũng cần đáp ứng những yêu cầu về cung cấp thông tin vè các Biện pháp an toàn thông quan một Hệ thống Thông tin về các Biện pháp an toàn
Khoản 71, Quyết định 01/CP.16 của UN FCCC, yêu cầu các Bên là các nước
đang phát triển có hướng đến thực hiện các hoạt động nêu trong khoản 70 ở trên (….), phát triển các thành phần sau [27]: (…)
(c) Một hệ thống để cung cấp thông tin về các biện pháp an toàn được đề cập trong phụ lục I của quyết định này là được giải quyết và tôn trọng trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động được nêu trong khoản 70 ở trên, trong khi tôn trọng vấn đề chủ quyền;
Hiệu quả thực thi quốc gia về giảm thiểu phát thải và tăng cường hấp thụ khí nhà kính của REDD+ cần được liên kết với việc thực hiện các PaM ở cấp quốc gia
và cấp cận quốc gia Điều này được hoàn thành thông qua một hệ thống giám sát sự thực thi các PaM mà nó sẽ cho phép một quốc gia giám sts sự thành công của các Pam và điều chỉnh chúng cho phù hợp khi cần thiết Hệ thống giám sát này cũng sẽ
là yếu tố mấu chốt để hỗ trợ và vận hành cơ chế phân phối chi trả hay trợ cấp quốc gia
Khoản 76, Quyết định 01/CP.16 của UN FCCC: Thúc giục các Bên, đặc biệt
là các Bên là các nước phát triển, hỗ trợ, thông qua các kênh song phương và đa phương, việc xây dựng các chiến lược hay các kế hoạch hành động quốc gia, các chính sách và giải pháp và tăng cường năng lực, theo sau bởi việc thực hiện các chính sách và giải pháp quốc gia và ác chiến lược hay kế hoạch hành động quốc gia
mà có thể đòi hỏi tăng cường năng lực bổ sinh, phát triển và chuyển giao công nghệ
và các hoạt động trình diễn dựa trên kết quả, bao gồm cả việc cân nhắc đến các biện
Trang 23pháp an toàn được nêu trong khoản 2, phụ lục I của quyết định này, có tính đến các điều kiện liên quan về mặt tài chính bao gồm cả những điều kiện liên quan đến báo cáo vê sự hỗ trợ [27]
Tại COP 16 năm 2010, các Bên cũng đã thống nhất về một loạt các nguyên tắc để cấu thành REDD+, bao gồm một quyết định về việc thực hiện REDD+ theo các pha:
Khoản 73, quyết định 1/CP.16 của UN FCCC, Quyết định rằng các hoạt
động được thực hiện bởi các Bên nêu trong khoản 70 ở trên cần phải được thực hiện theo các pha, bắt đầu bằng việc xây dựng các chiến lược hay kế hoạch hành động quốc gia, các chính sách và giải pháp, và tăng cường nưng lực, theo sau là việc thực hiện các chính sách và giải pháp toàn quốc gia và các chiến lược hay kế hoạch hành động quốc gia mà có thể liên quan đến việc tăng cường năng lực, phát triển và chuyển giao công nghệ, và các hoạt động trình diễn dựa trên kết quả, và cuối cùng phát triển thành các hành động dựa trên kết quả mà cần phải được đo lường, báo cáo
và thẩm định một cách đầy đủ [27]
Điều này quan trọng vì nó cho phép các nước đang phát triển thực hiện một phương pháp vừa học vừa làm, đồng thời cho phép tất cả các quốc gia REDD+ tiềm năng có thể tham gia bất kể hoàn cảnh hiện tại của quốc gia đó Khoản 73 cũng cung cấp một dấu hiệu về ba pha của REDD+:
Pha I: “Xây dựng các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia, các chính sách và giải pháp và tăng cường năng lực”’
Pha II: “Thực hiện các chính sách và giải pháp quốc gia và các chiến lược hay kế hoạch hành động quốc gia mà nó có thể liên quan đến việc tăng cường năng lực bổ sung, phát triển và chuyển giao công nghệ, và hoạt động trình diễn dựa trên kết quả” của REDD+;
Pha III là sự phát triển tất cả các hoạt động của REDD+ “ thành các hành động dựa trên kết quả mà cần phải được đo lường, báo cáo và thẩm định một cách đầy đủ” Đây là giai đoạn mà REDD+ sẽ được lồng ghép một cách toàn diện với các cơ chế giảm thiểu khác của UN FCCC
Trang 24Hiệp định Cancun cũng đặt ra một số yêu tố là các Bên là các nước đang phát triển hướng tới thực hiện các hoạt động REDD+ của Công ước là được yêu cầu phát triển:
Khoản 71, Quyết định 01/CP.16 của UN FCCC, yêu cầu các Bên là các nước
đang phát triển hướng tới thực hiện các hoạt động nêu trong khoản 70 ở trên, trong hoàn cảnh cung cấp hỗ trợ đầy đủ và dự đoán được, bao gồm cả các nguồn tài chính
và các hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cho các Bên là các nước đang phát triển, phù hợp với hoàn cảnh quốc gia và các năng lực tương ứng, phát triển các thành phần sau:
(a) Một chiến lược hay kế hoạch hành động quốc gia;
(b) Một mức phát thải tham chiếu và/hoặc mức tham chiếu rừng cấp quốc gia hoặc, nếu thích hợp, như là một giải pháp tạm thời, các mức phát thải tham chiếu và/hoặc các mức tham chiếu rừng cấp cận quốc gia, phù hợp với hoàn cảnh quốc gia, và với những điều khoản đề cập trong quyết định 4/CP.15, và với bất kỳ mô tả chi tiết bổ sung nào của các điều khoản này được Hội nghị các Bên thông qua;
1.3.2 Bối cảnh MRV tại Việt Nam
Đối với Việt Nam, trong Chương trình REDD+, khái niệm MRV là một khái niệm mới được giới thiệu Tuy nhiên, việc vận hành MRV tại bối cảnh hiện tại sẽ vừa được phát triển mới cũng vừa tận dụng khung thể chế sẵn có hiện tại như việc giám sát và sử dụng đất đã được qui định trong Luật Đất đai (2003) và Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng (2004) Tổng Cục quản lý Đất đai thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm giám sát tất cả các loại hình sử dụng đất, bao gồm cả đất lâm nghiệp Tổng cục quản lý đất đai có chức năng tiến hành các kiểm kê đất đai theo chu kỳ 5 năm một lần, đồng thời thực hiện thống kê sử dụng đất hàng năm dựa trên các báo cáo gửi từ cấp xã lên cấp tỉnh và cấp quốc gia Tuy nhiên, những số liệu kiểm kê và thống kê này là chưa đủ để sử dụng cho việc tính lượng phát thải/hấp thụ khí nhà kính do sử dụng hệ thống phân
Trang 25loại chưa phù hợp, ví dụ như đất lâm nghiệp mới chỉ được phân thành 3 loại (rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) chứ không phải theo loại rừng
Về quản lý rừng bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, năm 1995 Bộ Lâm nghiệp và được sát nhập với Bộ Nông Nghiệp và Bộ Thủy Lợi thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, với cơ cấu tổ chức quản lý:
- Cấp trung ương: Dưới bộ NN&PTNT có Tổng cục Lâm nghiệp;
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chi cục Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm Lâm trực thuộc Sở NN&PTNT theo quyết định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính Phủ về hoạt đồng của Kiểm Lâm;
- Cấp huyện có các Hạt kiểm Lâm và Phòng Nông nghiệp;
- Cấp xã có các Phó Chủ tịch Phụ trách Nông Lâm và Cán bộ Nông Lâm của xã;
- Cấp thôn bản rừng sản xuất được giao trực tiếp cho Hộ gia đình, cá nhân hoặc cồng đồng thôn bản quản lý, đối với rừng Phòng hộ hoặc vùng đệm rừng Đặc dụng, Vườn Quốc gia được giao khoán hưởng lợi theo 178
Tổng cục lâm nghiệp (VNFOREST) của MARD chịu trách nhiệm giám sát đất lâm nghiệp và giao nhiệm vụ này cho FIPI và FPD Từ năm 1990, FIPI đã thực hiện một trương trình có tên là Chương trình điều tra, theo dõi và đánh giá Tài nguyên Rừng Toàn quốc (NFIMAP) Chương trình này nhằm mục đích theo dõi các diễn biến của rừng và được tiến hành theo các chu kỳ 5 năm Cho đến nay, 4 chu kỳ
đã được hoàn tất và chu kỳ thứ 5 đang được chuẩn bị triển khai Chương trình này có
2 nhiệm vụ chính: theo dõi diện tích rừng và điều tra chất lượng rừng Đối với nhiệm
vụ đầu tiên, FIPI áp dụng công nghệ viễn thám trong khi đó cũng sử dụng một hệ thống ô sơ cấp được thiết kế cố định và có hệ thống cho nhiệm vụ thứ 2
Đối với việc Dự báo sinh khối một số trạng thái rừng ở Việt Nam, dưới sự tài
trợ của FAO thông qua Tổng cục Lâm nghiệp, thực hiện dự án “Dự đoán sinh khối rừng tự nhiên bằng phương pháp chặt hạ” với sự phối hợp thực hiện của Trung tâm
Sinh thái và Môi trường rừng, Đại học Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên, Viện điều tra Qui hoạch rừng, Phân viện điều tra qui hoạch rừng Bắc Trung Bộ, với
Trang 26các trạng thái rừng lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng khộp, rừng tre nứa, rừng lồ ô, rừng núi đá ở một số vùng sinh thái trên cả nước, kết quả nghiên cứu và thảo luận dự kiến sẽ hoàn thành khoảng tháng 11/2012 Kết quả này có thể dự đoán tương đối chính xác sinh khối khô của cây gỗ tại một số trạng thái rừng ở Việt Nam,
là cơ sở chắc chắn cho việc chi trả trong REDD+
Đối với việc điều tra và đo đếm các bon dựa vào cộng đồng tháng 5/2011 Đại học Tây Nguyên phối hợp với Chương trình UN-REDD+ Việt Nam, trước đó
đã thực hiện thí điểm tại Lâm Hà và Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng bởi SNV Việt Nam, đưa ra hướng dẫn kỹ thuật giám sát các bon rừng có sự tham gia (the participatory carbon monitoring – PCM) [34] Phương pháp này sử dụng hệ thống ô tròn lồng ghép (bán kính khác nhau) để đo tính các bon rừng tự nhiên ở 5 bể cây gỗ tươi, cây
gỗ mục, thảm mục, thảm tươi và đất Tuy nhiên, phương pháp này còn một số hạn chế như 1) chú trọng nhiều đến vấn đề kỹ thuật 2) hệ thống ô định vị phức tạp thích hợp cho điều tra rừng ở cấp độ vùng, quốc gia nếu áp dụng với qui mô hộ gia đình hoặc chủ rừng nhỏ lẻ như điều kiện ở các tỉnh phía Bắc thì còn chưa phù hợp
Đối với các tỉnh phía Bắc PCM cũng được thực hiện thí điểm bởi ICRAF
trong dự án “Giảm phát thải từ các loại hình sử dụng đất”, tài trợ bởi Tổ chức hợp
tác Phát triển Na Uy (The Norwegian Development Cooperation - NORAD) địa điểm thực hiện tại xã Quảng Khê, huyện Ba Bể và xã Lạng San, huyện Na Rì Trong thí điểm này, phương pháp sử dụng theo hệ thống ô vuông lồng ghép (RaCSA), diện tích ô đo đếm là 2.500 m2, với các ô thứ cấp lồng ghép nhỏ, cũng có
5 bể các bon được đo đếm trong phương pháp này
1.3.3 Những kết quả nổi bật, các vấn đề tồn tại và cấp thiết chưa được giải quyết
Trước hết,nghiên cứu này thừa nhận rằng, được sự giúp đỡ tận tình cả về mặt tài chính và chuyên gia của UN-REDD+, FAO, UNEP; tổ chức phi chính phủ quốc
tế (SNV, GTZ, ICRAFT, RECOPTC, WWF, WINROCK …); và các tổ chức phi chính phủ trong nước, từ đây khung REDD+ đã dần được hình thành Đặc biệt trong khung thể chế của MRV, khi Việt nam là nước tiên phong trong thực hiện sáng kiến
Trang 27REDD+, công lao đóng góp của FAO và một số tổ chức, chuyên gia khác đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc, cụ thể gồm:
1 Đệ trình bản thảo lần 1 tháng 3/2012 về Khung Đo lường, Báo cáo và Kiểm định (MRV) tại Việt Nam;
2 Hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện, hệ thống hóa số liệu điều tra/kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 1990 – 2005;
3 Xây dựng Phương trình dự đoán sinh khối cho một số kiểu rừng ở Việt Nam;
4 Bước đầu thử nghiệm điểu tra/kiểm kê rừng qui mô cấp hộ gia đình tại hai tỉnh Bắc Kạn và Hà Tĩnh;
5 Bước đầu thảo luận để xây dựng hệ thống giảm sát và quản lý rừng/các bon cấp cơ sở
Rất nhiều kết quả và thành công bước đầu tại cấp quốc gia và cơ sở đã có được Tuy nhiên ởcấp cơ sở khi thực hiện REDD+ vẫn còn một số vấn đề cấp thiết đặt ra cần được nghiên cứu và thử nghiệm ở hệ thống MRV cấp địa phương không chỉ ở Việt Nam mà cũng ở tất cả các nước đang thử nghiệm REDD+ khác, như:
Phương pháp luận/mô hình MRV cấp địa phương hoặc cộng đồng như thế nào là phù hợp?;
Các giải pháp cụ thể về vấn đề kỹ thuật, kinh tế, xã hội khi cộng đồng/người bản địa thực hiện đo đếm và theo dõi các bon là gì, họ nên tham gia tới mức
nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn, trực tiếp phục vụ cho Chương trình UN – REDD+ Việt Nam và các hoạch định chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng
Trang 28Chương 2.MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Xây dựng mô hình phối hợp sự tham gia của người dân trong đo đếm và theo dõi các bon với kỹ thuật viễn thám và GIS nhằm tăng cường hiê ̣u quả tổng hợp trong quá trình trình thực hiện REDD+ ở cấp độ cộng đồng
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Các chủ hộ gia đình và cộng đồngcủa hai thôn nghiên cứu là thôn To Đooc
xã Lạng Sang và thôn Nà Mực, xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn;
- Rừng tự nhiên phục hồi lá rộng thường xanh và rừng trồng có trữ lượng tại hai thôn nghiên cứu
* Giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tiến hành đánh giá nhanh (RRA)
tại hai thôn nghiên cứu, đánh giá nhu cầu đào tạo, xây dựng mô hình MRV cấp cộng đồng Trong khuôn khổ luận văn này đề tài không đi sâu vào các phương pháp tính toán và xây dựng các biểu sinh khối/các bon cho rừng tự nhiên cũng như rừng trồng tại hai thôn nghiên cứu
Trang 29- Giới hạn về địa điểm nghiên cứu:Thực hiện tại hai thôn là thôn To Đooc,
xã Lạng San, đa phần dân tộc Nùng và thôn Nà Mực, xã Văn Minh, đa phần dân tộc Tày, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Cả hai thôn đều có diện tích rừng cộng đồng được cấp sổ đỏ
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Nội dung Tiểu nội dung Phương pháp 7
Hiện trạng rừng khu vực
nghiên cứu
- Hiện trạng rừng xã nghiên cứu;
- Thu thập tài liệu thứ cấp
- Phỏng vấn
- Xây dựng bản đồ hiện trạng có sự tham gia thôn nghiên cứu
truyền thống của dân tộc
thiểu số liên quan đến
rừng tại thông nghiên cứu
- Thảo luận nhóm mục tiêu
- Phỏng vấn và phỏng vấn sâu cá nhân chủ chốt Đánh giá nhu cầu đào tạo
và đề xuất nội dung để
thực hiện nâng cao năng
- Thảo luận nhóm
-Đề xuất nội dung - Tham vấn cộng đồng
Dự đoán sinh khối các - Giải đoán ảnh - Giải đoán ảnh SPOT 5
7 Cụ thể nêu trong phần phương pháp
Trang 30- Tham vấn cộng đồng
- Thảo luận nhóm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
Đề tài gắn liềnkhoa học lâm nghiệp với thực tiễnvà yếu tố thử nghiệm lại là nhân tố con người trong quản lý rừng Người bản địa ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nên quan điểm tiếp cận cần:
- Tôn trọng và gắn kiến thức truyền thống cũng như văn hóa tốt đẹp của người dân bản địa về rừng trong cơ chế MRV và REDD+
- Đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người dân trong thôn/bản (full and effective participant hay FPIC), gồm có F tự do tham gia, P được biết trước, I được biết đầy đủ thông tin, C đồng thuận tham gia
- Tiếp cận dựa trên quyền tôn trọng và tuân theo kế hoạch khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu UNFCCC và các luật quốc tế liên quan khác (Luật lao động, Luật nhân quyền, bình đẳng giới, Công ước khung
về đa dạng sinh học, CITES, UNDRIP ) cũng như hệ thống luật pháp của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Tiếp cận trên kết quả và bằng chứng (evidence-based and result based approach) để đưa ra những luận chứng cụ thể đến các nhà hoạch định chính sách cấp địa phương cũng như cấp quốc gia
Trang 31Các bước tiến hành cụ thể được sơ đồ hóa như sau:
Hình 2.1 Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề của đề tài
2.4.2 Phương pháp khoa học cụ thể
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Thu thập số liệu cấp tỉnh gồm: 1) sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; 2) hiện trạng rừng; 3) diễn biến tài nguyên rừng; 4) và kế hoạch phát triển rừng của tỉnh giai đoạn 2012-2020 cấp tỉnh tại Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn;
- Thu thập số liệu địa phương gồm: 1) sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; 2) hiện trạng rừng; 3)diễn biến tài nguyên rừng tại; 4) bản đồ hiện trạng, hành chính khu vực nghiên cứu cấp địa phương tại UBND huyện Na Rì và các phòng liên quan và tại UBND hai xã Văn Minh và Lạng San
Điều kiện
tự nhiên
Nâng cao nhận thức
Đo đếm trên mặt đất
Giải đoán ảnh vệ tinh
Đề xuất Chính sách
Đánh giá nhu
cầu đào tạo
Đánh giá điều kiện kinh tế, xã hội
Nghiên cứu Kiến thức bản địa
Tập huấn
Đo đếm
Trang 322.4.2.2 Phương pháp đánh giá nông thôn PRA
Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, phương pháp đánh giá nông thôn (PRA) được sử dụng rộng rãi trong các chương trình, dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn PRA sử dụng các công cụ điều tra xã hội học để thu thập và phân tích thông tin từ cộng đồng
Đối với hai thôn nghiên cứu các công cụ PRA được sử dụng:
- Dùng bảng hỏi bán cấu trúc:
1) Đánh giá nhanh thôn nghiên cứu;
2) Đánh giá nhu cầu đào tạo đo đếm và theo dõi các bon;
3) Đánh giá hiệu quả tập huấn và mức độ tham gia của cộng đồng trong đo đếm và theo dõi các bon
-Thảo luận nhóm mục tiêu (Focus Group Discussion -FGD): nhóm khoảng 6-8 người được hướng dẫn bởi một thúc đẩy viên, trong quá trình thảo luận các thành viên được tự do thảo luận về những chủ đề định hướng bởi thúc đẩy viên, 03 nhóm thảo luận được thành lập/một thôn, đại diện mỗi hộ gia đình một thành viên, tiêu chí chọn nhóm thảo luận gồm 1) 01 nhóm đại diện chung về mức độ thu nhập, kinh tế khá giả, nghèo và cận nghèo; 01 nhóm là nữ; 01 nhóm là các thành viên tham gia tuần tra và bảo vệ rừng cộng đồng; 2) đại diện các nhóm trình độ, đại diện
độ tuổi, đại diện ngành nghề, đa dạng thu nhập Nội dung đánh giá nhanh: 1) điều
kiện kinh tế và xã hội của thôn/bản: phân tích lịch sử thôn bản (hình thành, thành phần dân tộc); nhân khẩu và lao động; nguồn thu nhập và thu nhập; phân loại kinh
tế hộ, tình hình sản xuất nông nghiệp …; 2) về rừng: hiện trạng rừng, đất rừng, quản
lý bảo vệ rừng, mức độ sử dụng/phụ thuộc vào rừng, phong tục và tập quán liên quan tới rừng ….3) đánh giá nhu cầu đào tạo: hiểu biết của họ về biến đổi khí hậu, REDD+ và đo đếm các bon có sự tham gia
- Phỏng vấn các nhân chủ chốt mục đích thẩm vấn sâu về kiến thức bản địa, thay đổi trong quản lý bảo vệ rừng, chính sách tại địa điểm nghiên cứu Cá nhân chủ chốt là cán bộ chuyên trách, người hiểu biết trong thôn bản, Trưởng thôn, Già làng, chi hội trưởng Chi hội phụ nữ thôn;
Trang 33- Tham vấn cộng đồng: các nội dung chính sách, tập huấn kỹ thuật, nâng cao nhận thức đều cần thử nghiệm và tham vấn cộng đồng về mức độ phù hợp với khả năng và nhận thức của họ
2.4.2.3.Phương pháp đo đếm bể các bon rừng trên mặt đất có sự tham gia
Đối với rừng tự nhiên dung lượng mẫu được tính bằng 2% diện tích cần tính
toán, với diện tích ô 2.000m2
- Phân bố ô tiêu chuẩn ô tiêu chuẩn phân bố trên bản đồ hiện trạng thôn/bản tỷ lệ 1:5.00 hoặc 1:1.000;
- Ô tiêu chuẩn được phân bố ngẫu nhiên trên bản đồ hiện trạng
Đối với rừng trồng: Do diện tích rừng trồng trong hai thôn điều tra nhỏ/lẻ và
phân tán vì vậy sử dụng phương pháp lập ô hình tròn ngẫu nhiên với kích cỡ từ 60
m2 – 200 m2 sao cho số cây đo đếm đảm bảo > 30 cây/ô Số ô tiêu chuẩn đo đếm
được phân bổ theo diện tích trồng của từng loài, theo loài cây trồng và theo cấp tuổi Trong ô đo đếm tiến hành đo đếm tất cả các cây gỗ có đường kính > 5 cm tại
vị trí 1.3 m Trong rừng trồng không tiến hành đo đếm bể các bon cây gỗ mục, thảm tươi cây bụi, cây gỗ chết và các bon trong đất vì các bể này ít biến động và cũng ít
có ý nghĩa đối với rừng trồng
Đối với rừng tự nhiên lấy bể các bon trên mặt đất tầng cây gỗ để thử nghiệm
Ô sử dụng trong đo đếm có diện tích 2.000 m2, với hệ thống ô vuông lồng ghép, ô
có kích thước 20x100m đo đường kính D1.3 của tất các các cây >30 cm, ô phụ 5x40
m2 để đo tất cả các cây gỗ có đường kính từ 5 – 30 cm làm cơ sở để tính trữ lượng
bể các bon cây đứng trên mặt đất thông qua phương trình đã có sẵn
2.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.4.3.1 Tính trữ lượng các bon rừng
2.4.3.1.1 Tính trữ lượng bằng phương pháp đo đếm mặt đất
Đề tài sử dụng một số công thức tính sinh khối rừng đã được công bố ở Việt Nam làm cơ sở để tính trữ lượng các bon:
Trang 34Để dự đoán trữ lượng các bon rừng trước hết nghiên cứu tính toán khối lượng sinh khối khô, sau đó qui đổi ra trữ lượng các bon theo hệ số 0,5 (IPCC 2006) Đối với rừng tự nhiên, để tính khối lượng sinh khối khô nghiên cứu sử dụng phương trình [7]:
Với R = 0,98, F = 0.0000 và AIC = -231.09
ABG: Sinh khối khô trên mặt đất (kg/cây)
D1.3 Đường kính 1.3 của cây rừng, đơn vị Cm
Đối với rừng trồng Mỡ Đề tài sử dụng phương trình tính lượng các bon hấp thụ cho cây cá lẻ [5]:
Ln(C)= 0,699 + D1.30,626 (3.2)
Với R = 0,90, S = 0,069, Sig = 0,000
Tổng khối lượng các bon cây cá lẻ được hấp thụ (kg/cây)
Sau đó Đề tài tính trữ lượng các bon trên mặt đất bằng cách trừ đi tỷ lệ các bon dưới mặt đất chiếm tỷ lệ trung bình [5] 20,5% (nghiên cứu của Võ Đại Hải và
CS – 2008)
Đối với rừng trồng Keo tai tượng để tính sinh khối khô trên mặt đất, Đề tài
sử dụng phương trình, được áp dụng cho Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang [8]:
ABG= 0,0478*D1.32.7041 (2.3)
Với R = 0,95, phạm vi đường kính 5.5 – 24 cm
ABG: Sinh khối trên mặ đất (kg/cây)
D1.3 đường kính cây Keo tai tượng tại vị trí 1.3m, đơn vị Cm
Từ số liệu điều tra OTC, sử dụng phương trình đã cho ở trên Đề tài tính ra sinh khối khô của cho từng OTC, từ sinh khối khô nghiên cứu qui đổi trữ lượng các bon trong OTC (kg), từ trữ lượng các bon được tích lũy trong cây của một hộ gia đình hoặc diện tích rừng cộng đồng (trên mặt đất) thông qua diện tích, độ dốc và trữ lượng các bon trên ô tiêu chuẩn và diện tích OTC điều tra
Trang 35Từ kế sinh biểu sinh khối thu được đề tài chuyển đổi ra trữ lượng các bon dự trữ trong cây theo hệ số qui đổi 0,5 (IPCC) và lượng CO2 hấp thụ tương đương bằng
hệ số 3,67
2.4.3.1.2 Tính trữ lượng bằng phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh
Đề tài dùng ảnh vệ tinh SPOT5, chụp năm 11/2010 để giải đoán khu vực điều tra với các bước như sau: 1) chỉnh lại hệ trục tọa độ, giải đoán hiện trạng rừng qua ảnh vệ tinh, lên bản đồ hiện trạng; 2) kiểm tra hiện trường bằng các khóa giải đoán (các điểm tọa độ ngẫu nhiên giải đều trên hiện trường giải đoán), hoàn chỉnh bản đồ giải đoán ảnh; 3) từ bản đồ hiện trạng giải đoán và trữ lượng rừng theo hướng dẫn phân loại trạng thái rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn qui ra trữ lượng rừng; 4) từ trữ lượng gỗ của rừng bằng các hệ số tính ra sinh khối khô trên mặt đất và trữ lượng các bon dự đoán
2.4.3.2 So sánh kết quả
So sánh hai phương thức đo đường kính của cán bộ kỹ thuật và của người dân Đề tài coi cán bộ kỹ thuật đo đường kính là chính xác, bởi vì dung lượng mẫu lớn (n>30) có phân bố chuẩn sử dụng tiêu chuẩn T để so sánh với hai mẫu liên hệ với giả thiết:
Ho: µ1 = µ2
H1: µ1 # µ2
Giả thuyết H0 bị bác bỏ nếu:
Cùng tiêu chuẩn này nghiên cứu sử dụng đánh giá mức độ chính xác giữa đo đếm các bon bể cây gỗ trên mặt đất bằng phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh và phương pháp điều tra thực địa bằng ô tiêu chuẩn
2.4.3.3 Phân tích số liệu phiếu điều tra (PRA)
- Mã hóa các yếu tố trong phiếu điều tra
- Tính tổng điểm hoặc tính giá trị trung bình, phương sai, sai số và độ lệch
Trang 36Chương 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm hiện trạng rừng khu vực nghiên cứu
3.1.1.Đặc điểm hiện trạng rừng xã nghiên cứu
3.1.1.1 Đặc điểm hiện trạng rừng xã Lạng San
Xã Lạng San là xã miền núi, cách trung tâm huyện Na Rì 20 km về phía Tây
– Tây Bắc Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 3.487,7 ha gồm 11 xóm với dân số
là 1.741 người Nơi có địa hình khá phức tạp chủ yếu là đồi núi xen kẽ các đồng bằng và ruộng bậc thang độ cao tương đối bình quân 230-930 m Về điều kiện khí hậuxã có khí hậu nhiệt đời gió mùa miền núi phía Bắc rõ rệt với nhiệt độ bình quân năm 21,10 C, lượng mưa dao động 1.253 – 2.038 mm, độ ẩm bình quân năm dao
động từ 80 – 85%(theo Báo cáo Qui hoạch xã Lạng San 2011 – 2015)
Bảng 3.1 Hiện trạng rừng tài nguyên rừng xã Lạng San
TT Loại đất/loại rừng Tổng Dự đoán
TL 8
Rừng Đặc dụng
Rừng Phòng hộ
Rừng Sản xuất
Trang 371.1.3 Rừng hỗn giao gỗ + Tre nứa 0
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng rừng – tài nguyên rừng năm tháng 3/2012 hạt Kiểm lâm Na Rì)
Xã Lạng San là một xã có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn chiếm 87% diện tích xã Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp lại chủ yếu là diện tích rừng tự nhiên phục hồi chiếm 60,5% diện tích rừng toàn xã Địa bàn xã cũng nằm trong vùng đệm của vườn quốc gia Kim Hỷ với diện tích rừng núi đá nằm trong vùng đệm là 340 ha (chiếm 11% diện tích đất lâm nghiệp), Trên địa bàn xã không có diện tích rừng phòng hộ Diện tích rừng trồng không đáng kể chỉ chiếm 6% tổng diện tích đất lâm nghiệp Trái lại, diện tích đất chưa có rừng còn khá lớn 998 ha (33% diện tích đất lâm nghiệp toàn xã) chủ yếu là rừng có cây gỗ tái sinh rất tiềm năng để phục hồi thành rừng có trữ lượng (tiềm năng cho REDD+) Về trữ lượng rừng, theo dự đoán của Hạt Kiểm lâm Na Rì tổng trữ lượng gỗ ước tỉnh khoảng 57.698 m3, tổng số cây tre/nứa 197.000 cây – đây chính là hai bể dự trữ các bon lớn nhất trên mặt đất của toàn xã
Trang 38Bảng 3.2.Phân bổ rừng và đất rừng theo chủ thể quản lý xã Lạng San
Đơn vị: Ha
đình
Cộng đồng
UBND
xã
Ban QL rừng
(Nguồn: Hạt Kiểm lâm Na Rì – 3/2012)
Trên địa bàn xã Lạng San có 4 chủ thể quản lý rừng chủ yếu là Hộ gia đình, Cộng đồng, UBND xã và Ban Quản lý khu Bảo tồn Kim Hỷ, trong đó diện tích đất chưa giao – do UBND xã quản lý chiếm tỷ lệ lớn nhất chiếm 61% Tuy nhiên đa phần diện tích này hiện vẫn được quản lý và sử dụng ổn định bởi người dân địa phương Diện tích rừng được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) chưa cao gồm 452 ha trong đó 217 ha diện tích rừng của hộ gia đình và 235 ha rừng Cộng đồng của thôn Bản Sảng và thôn To Dooc năm 2007 dưới sự hỗ trợ của dự án CARD và tư vấn của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
3.1.1.2.Đặc điểm hiện trạng rừng xã Văn Minh
Xã Văn Minh là một xã nằm cách trung tâm của huyện Na Rì 10 km về phía
Nam, cách trục đường quốc lộ 3B 2 km có tổng diện tích tự nhiên là 3.808,6 ha Địa hình của xã chia làm hai dạng chính, vùng đồi núi đá phía Tây Nam và Đông Nam
có độ cao Trung Bình là 700 m Đây là vùng có địa hình đồi núi đá Caster hiểm trở, địa hình núi đất phân bố rải rác chủ yếu tập trung ở gần trung tâm xã, ven các trục đường độ cao 300-500 m Diện tích này chủ yếu để canh tác lúa nước, ngô và cây nông sản khác Về khí hậu, xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi
Trang 39nhiệt độ trung bình năm là 22,10C, lượng mưa trung bình năm 1.384 mm tập trung vào tháng 5-9 (70% lượng mưa)
Bảng 3.3 Hiện trạng tài nguyên rừng xã Văn Minh
Đơn vị: ha
TL 9
Rừng Đặc dụng
Rừng Phòng
hộ
Rừng Sản xuất
9 Gỗ m 3 , tre nứa 1.000 cây
Trang 40Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn xã là 3.430 ha (chiếm 90% diện tích toàn xã) trong đó diện tích đất có rừng 2.715 ha (chiếm 79% diện tích tự nhiên), diện tích đất chưa có rừng trong đó chủ yếu rừng có cây tái sinh rải rác (trạng thái IA, IB, IC Theo phân loại của Việt Nam) chiếm 715 ha (21% diện tích đất lâm nghiệp toàn xã Diện tích rừng tự nhiên chiếm 65% diện tích toàn xã, chủ yếu là rừng thứ sinh phục hồi và rừng gỗ xen tre nứa Tất cả diện tích này đều là diện tích rừng tiềm năng cho thực hiện REDD+ trên địa bàn xã Theo dự đoán của Hạt Kiểm lâm Na Rì trên địa bàn toàn xã hiện có khoảng 83.725 m3 gỗ và 947.000 cây tre nứa các loại, đây chính
là bể các bon của cây sinh khối trên mặt đất tiềm năng nhất cho chương trình REDD+ thực hiện trên địa bàn xã
Bảng 3.4 Diện tích rừng phân theo chủ thể quản lý xã Văn Minh
Đơn vị: Ha
đình
Cộng đồng
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hiện trạng rừng – Hạt Kiểm lâm Na Rì)
Trên địa bàn xã Văn Minh có ba chủ thể quản lý rừng chủ yếu là Hộ gia đình, Cộng đồng và UBND xã Trong đó chủ thể quản lý rừng chủ yếu là Hộ gia đình chiếm 1.240 ha chiếm 39% Diện tích rừng do UBND xã quản lý chiếm 42%, chủ yếu là các diện tích rừng chưa giao cho cá nhân tổ chức nào hoặc một số hộ gia đình đã canh tác ổn định lâu dài nhưng chưa được cấp hoặc đang chờ cấp sổ