Cụ thể, vẫn còn những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng như nhận thức của người dân chưa cao, trình độ dân trí của người dân còn thấp, nguồn kinh phí do Nhà nước
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ – PHÁT TRIỂN
XÃ ĐIỀN HẢI, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ – PHÁT TRIỂN
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ ĐIỀN HẢI, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
Sinh viên th ực hiện:
Trang 3Lời Cảm Ơn
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài trường
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể quý thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế, các thầy cô trong khoa Kinh tế
và Phát triển, đặt biệt là Th.S Trương Quang Dũng người đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ UBND xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, các cán bộ và bà con trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp
đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trình độ và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bài khóa luận của em cũng còn nhiều sai sót, kính mong quý thầy cô giáo góp ý để em có thể hoàn thành bài khóa luận một cách tốt nhất
Em xin trân trọng cảm ơn!
Huế, ngày thỏng năm 2016 Tỏc giả khúa luận
Trang 4L ỜI CẢM ƠN i
M ỤC LỤC ii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH M ỤC CÁC BẢNG vii
TÓM T ẮT KHÓA LUẬN viii
PH ẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1.Mục tiêu chung 2
2.2.Mục tiêu cụ thể 2
3.Đối tượng nghiên cứu 3
4.Phạm vi nghiên cứu 3
5.Phương pháp nghiên cứu 3
5.1.Phương pháp chọn điểm nghiêm cứu 3
5.2.Phương pháp thu thập thông tin 3
5.3.Phương pháp xử lý thông tin 4
Ph ần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC XÂY DỰNG NTM 5
1.1.Cơ sở lí luận 5
1.1.1.Nông thôn mới 5
1.1.2.Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM 11
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 20
1.2.Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1.Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 21
1.2.2 Tình hình xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam 26
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THAM GIA XÂY DỰNG NTM CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐIỀN HẢI, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
T ỈNH THỪA THIÊN HUẾ 32
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.2 Thực trạng tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM trên địa bàn xã điền hải 39
2.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 39
2.2.2 Kết quả đạt được và một số tác động của việc xây NTM tới địa phương 41
2.2.3 Những thuận lợi khó khăn trong quá trình xây dựng NTM ở xã Điền Hải 50 2.2.4 Về các mức độ tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 52
2.2.5 Về các nội dung tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 55
2.2.6 Về các hình thức tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 62
2.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 65
2.2.8 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC VÀ TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY D ỰNG NTM 72
3.1 Định hướng 72
3.2 Giải pháp 73
3.2.1 Đối với các cấp chính quyền 73
3.2.2 Đối với người dân 78
PH ẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
3.1.Kết luận 83
3.2.Kiến nghị 84
3.2.1.Đối với các cấp chính quyền 84
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 63.2.2 Đối với người dân 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CQĐP Chính quyền địa phương
GTNT Giao thông nông thôn
GTVT Giao thông vận tải
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KHKT Khoa học kỷ thuật
KT – XH Kinh tế - xã hội
LHPN Liên hiệp phụ nữ
NTM Nông thôn mới
UBND Ủy ban nhân dân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của việc xây dựng NTM đến thu nhập của người dân 47
Biểu đồ 2: Tác động của việc xây dựng NTM tới địa phương 48
Biểu đồ 3: Tác động của việc xây dựng NTM tới môi trường 50
Biểu đồ 4: Mức độ tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 54
Biểu đồ 5: Cơ cấu các nhóm hộ phân theo tình hình kinh tế 55
Biểu đồ 6: Hình thức tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM 63
Biểu đồ 7: Ảnh hưởng của độ tuổi đến mức độ quan tâm của người dân trong việc xây dựng NTM 66
Biểu đồ 8: Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến mức độ quan tâm của người dân trong việc xây dựng NTM 66
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tình hình dân số và lao động xã Điền Hải năm 2015 36
Bảng 2: Tình hình phát triển của một số loại cây trồng, vật nuôi điển hình trên địa bàn xã Điền Hải năm 2013 – 2015 39
Bảng 3: Khái quát chung về các đặc điểm của các hộ điều tra năm 2016 40
Bảng 4: Tác động của việc xây dựng NTM đến sự phát triển kinh tế 46
Bảng 5: Tỷ lệ người dân biết về chương trình NTM 52
Bảng 6: Mức độ quan tâm của người dân trong việc xây dựng NTM 53
Bảng 7: Người dân tham gia tập huấn và đào tạo ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất 56 Bảng 8: Người dân tham gia đóng góp kinh phí thực hiện các mô hình sản xuất năm 2015 58
Bảng 9: Người dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Điền Hải 59
Bảng 10: Kinh phí cho xây dựng hạ tầng nông thôn xã Điền Hải 60
năm 2013-2015 60
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 10TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài: “Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM trên địa
bàn xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu nghiên cứu chính là: Đánh giá sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM từ đó đề xuất một số biện
NTM bền vững trên địa bàn xã Điền Hải trong thời gian tới
Để đạt được mục tiêu chung đã đề ra, cần có những mục tiêu cụ thể sau: Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM; Đánh giá thực trạng tham gia của người dân trong xây dựng NTM trên địa bàn xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường
sự tham gia của người trong xây dựng NTM
Nhằm làm rõ mục tiêu đề ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế
Để nắm rõ được những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng NTM, tôi tìm hiểu các đặc điểm địa bàn nghiên cứu có liên quan: Đó là các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trong quá trình nghiên cứu, tôi chọn các phương pháp nghiên cứu đó là: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, phương pháp tính toán và xử lý thông tin, hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu, tôi tiến hành nghiên cứu trên 60 hộ nông dân xã Điền Hải
Qua quá trình nghiên cứu thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng mô hình NTM tại xã Điền Hải tôi nhận ra rằng: Trọng tâm của
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 11chương trình xây dựng NTM không phải là sự đầu tư hỗ trợ nguồn kinh phí từ Nhà nước, mà chủ yếu đề cao sự phát huy nội lực từ nhân dân trong việc tham gia các hoạt động phát triển làng xã Việc người dân tự đóng góp công sức,
tiền của, đất đai đã phát huy được hiệu quả tham gia, các hoạt động của chương trình được đảm bảo; Người dân ngày càng nhận thức và phát huy được vai trò “chủ thể” của mình, họ tích cực tham gia các hoạt động như tham gia phát triển kinh tế Chương trình xây dựng NTM sau gần 5 năm đưa vào thực hiện đã gặt hái được những thành công đáng khích lệ bức tranh toàn cảnh
của xã đã thực sự có những thay đổi toàn diện; Nhận thức của người dân ngày càng được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện
Mặc dù, quá trình xây dựng NTM tại xã Điền Hải đã huy động và khuyến khích được sự tham gia tích cực của người dân, nhưng vẫn chưa được như mong đợi Cụ thể, vẫn còn những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng như nhận thức của người dân chưa cao, trình độ dân trí của người dân còn thấp, nguồn kinh phí do Nhà nước hỗ trợ còn ở mức hạn hẹp,…
Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại trên, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:
sách tạo điều kiện cho sự tham gia của người dân; Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của họ trong thực thi chính sách nông thôn mới; Phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội trong quá trình huy động sự tham gia của người dân; Tăng cường đào
tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cấp cơ sở
trí; Phát triển kinh tế hộ; Huy động nguồn lực từ dân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 12PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Phát triển nông thôn đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển, nhất là Việt Nam, một nước có gần 70% dân số ở các vùng nông thôn và sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương chính sách phát triển các vùng nông thôn và xóa đói giảm nghèo cho người dân Trong đó chính sách xây
dựng NTM là một trong những chính sách sẽ mang lại một diện mạo mới cho khu vực nông thôn Đó là làng xã sạch đẹp văn minh hiện đại, sản xuất phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa, đời sống vật chất tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Nông dân là chủ thể và đối tượng chính của các khu vực nông thôn Việc phát huy vai trò chủ thể của người dân trong việc tham gia xây dựng NTM là
rất quan trọng Đảm bảo phương châm: “ Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra và dân hưởng thụ” Chúng ta không thể có NTM nếu không đề cao vai trò của người dân và người dân không nhiệt tình, tâm huyết cùng với Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng NTM Vì vậy công việc của nông thôn sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất nếu công việc đó được giải quyết, đánh giá, nhìn nhận và được tham gia bởi người dân Sự tham gia của người dân trong
việc giải quyết các vấn đề nông nghiệp có vai trò quyết định quan trọng sự thành công của một chương trình hay dự án
Chương trình xây dựng NTM là một trong những mục tiêu quan trọng đã được xác định trong nghị quyết số 26_NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp_ Nông dân_ Nông thôn được Chính phủ cụ thể hóa ban hành mục tiêu quốc gia và triển khai thực hiện trên
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 13vượt qua cơn khủng hoảng năm 2008 và giữ được mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2006_2010 đạt 3,36%, vượt mục tiêu đại hội Đảng X đề ra
Cơ cấu nông thôn nước ta có bước chuyển dịch tích cực Kết cấu hạ tầng
KT-XH nông thôn tiếp tục được nâng cấp và phát triển đồng bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển, nhất là về thủy lợi, giao thông, điện, thông tin truyền thông, hạ tầng y tế, giáo dục, thương mại sinh hoạt, văn hóa thể thao xây dựng NTM tích cực triển khai đã trở thành phong trào khắp cả nước Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng và phát triển nông thôn, xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành xây
năm hưởng ứng phong trào đã thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn,
nếp sống, nếp nghĩ, cách làm của người dân, đời sống vật chất và tinh thần
của người dân được nâng cao, bộ mặt làng xã được thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được bảo vệ Tuy nhiên sự tham gia của người dân trong việc xây
dựng NTM còn nhiều hạn chế Vấn đề tham gia của người dân thực hiện chủ
yếu thông qua một số mô hình phát triển NTM vẫn chưa được cụ thể hóa một cách chi tiết, chưa mô phỏng nó thành một phương pháp để thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế Việc sử dụng nguồn vốn
hỗ trợ của Nhà nước cho địa phương quản lý và người dân tham gia trực tiếp chưa được cụ thể, rõ ràng Chưa phát huy hết được vai trò của người dân trong xây dựng NTM Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành lựa chọn đề tài :
“S ự tham gia của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 M ục tiêu nghiên cứu
2.1 M ục tiêu chung
Nhằm đánh giá sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM từ
đó đề xuất một số biện pháp chủ yếu để tăng cường sự tham gia của họ, góp
phần xây dựng NTM bền vững trên địa bàn xã Điền Hải trong thời gian tới
Trang 14của người dân trong xây dựng NTM
trên địa bàn xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
sự tham gia của người trong xây dựng NTM
3 Đối tượng nghiên cứu
Người dân tại địa bàn nghiên cứu, Ban chỉ đạo, Ban quản lý, tổ công tác giúp việc trong xây dựng NTM tại địa bàn xã Điền Hải
4 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2010 – 2015
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp chọn điểm nghiêm cứu
Tôi lựa chọn xã Điền Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế để
tiến hành nghiên cứu vì đây là một xã đang trong quá trình xây dựng NTM Điền Hải là xã nằm trong xã điểm xây dựng MTM trong giai đoạn 2010 –
2015 của tỉnh Thừa Thiên Huế Xã Điền Hải khá phát triển về mọi mặt kinh tế
- xã hội, trong đó sự tham gia của người dân trong việc góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế - xã hội của xã và đang được phát huy mạnh mẽ, thể hiện
rất rõ trong xây dựng mô hình NTM tại xã
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Số liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng các thông tin, số liệu thứ cấp chủ yếu từ cơ quan thực tập thông qua các báo cáo và niên giám thông kê về tình hình kinh tế - xã hội, tình hình dân số, lao động, đất đai,…trên địa bàn xã Điền Hải và một số tài
liệu khác có liên quan
Trang 15phương pháp điều tra bằng sử dụng bảng hỏi, phiếu điều tra: Chọn ngẫu nhiên
60 người thuộc 60 hộ trong 1.351 hộ dân ở 8 thôn trên địa bàn xã để thu thập thông tin liên quan đến sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM dựa trên các bảng hỏi (có phụ lục đính kèm)
5.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sau khi có đầy đủ những thông tin thứ cấp và sơ cấp cần thiết ta tiến hành
tổng hợp kiểm tra lập thành các bảng, biểu, đồ thị Từ đó tính toán, so sánh các
chỉ tiêu bằng chương trình Excel, để nhằm tính toán những số liệu thống kê phản ánh điển hình hiện trạng các nội dung nghiên cứu, những số liệu này làm cơ sở cho quá trình phân tích, đánh giá số liệu sau này được dễ dàng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 16Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA
CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC XÂY DỰNG NTM
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Nông thôn mới
Nông thôn
Cho đến nay, có thể nói chưa có định nghĩa nào xác và được chấp nhận
một cách rộng rãi về nông thôn Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường
so sánh nông thôn với thành thị
Trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trưng chủ yếu làm nghề nông Còn trong từ điển Bách khoa Xô Viết của Nhà xuất bản Bách khoa Liên
Xô năm 1986 thì thành thị được định nghĩa là khu vực dân cư làm ngành nghề ngoài nông nghiệp Hai định nghĩa trên chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị
Song thực tế sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau cả về mặt tự nhiên, kinh
tế và xã hội
Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn thường bao quanh các đô
thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp) Những vùng đất đai này khác nhau
về địa hình, khí hậu, thủy văn,…
Về kinh tế, nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp (nông lâm, ngư nghiệp)
Cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị Trình
độ phát triển cơ sở vật chất và kỹ thuật (điện, thủy lợi, cơ khí, hóa chất, v.v…), trình độ sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường cũng thấp kém hơn đô thị
Về xã hội, trình độ học vấn, khoa học – kỹ thật, y tế, giáo dục và đời
sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn thấp hơn dân cư đô thị Tuy
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 17nhiên những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường phong phú hơn đô thị Mật độ dân cư ở nông thôn thấp hơn đô thị Như vậy, khái niệm vùng nông thôn bao gồm tổng hợp nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau, mà từng mặt, từng tiêu chí riêng lẻ không thể nói lên một cách đầy đủ được
Từ đó, khái niệm vùng nông thôn có thể diễm đạt như sau: Nông thôn là vùng đất đai rộng với một cộng đồng dân cư chủ yếu là nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và thu
nhập mức sống của dân cư thấp hơn đô thị
Phát triển nông thôn
Khác với phát triển và phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; Có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh
tế Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương; Theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng
và hiện đại hóa mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ
Có quan điểm cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thế kinh tế, xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực
Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của
một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được
hưởng lợi ích từ sự phát triển”
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau Phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn,
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 18nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng
cuộc sống của các cư dân nông thôn
Với điều kiện của Việt Nam, chúng ta có thể phát biểu: “Phát triển nông
văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TƯ của Trung ương, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh nông nghiệp, dịch vụ; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; An ninh trật tự được giữ vững; Đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; Theo định hướng
xã hội chủ nghĩa
- Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản:
+ Hai, là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa
+ Ba, đời sống vật chất, tinh thần người dân ngày càng được nâng cao
Xây dựng NTM là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần thự
hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất
và diện mạo đời sống, văn hóa qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 19phát triển của đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài
Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); Nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; Giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; Hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; Chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; Cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; Chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; Cơ giới hoá chưa đồng bộ
Do thu nhập của nông dân thấp; Số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; Sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; Tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục,…); Nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, KT – XH khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
Do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cần 3 yếu tố chính: Đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng NTM sẽ triển khai quy
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 20hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn
lạc hậu, nông dân nghèo khó
1.1.1.3 Mục tiêu xây dựng NTM
Chương trình xây dựng NTM là một chương trình lớn thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với nông thôn và nông dân, với các mục tiêu sau: Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng KT - XH ngày càng hoàn thiện; Cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; Gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Từng bước thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Trình độ dân trí được nâng cao; Môi trường sinh thái được bảo vệ
Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; An ninh trật tự được giữ vững; Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Tóm lại là, những mục tiêu của chính sách đều hướng đến người dân ở nông thôn – đối tượng thụ hưởng của chính sách Để đạt những mục tiêu trên, ngoài sự hỗ trợ, định hướng của Nhà nước, sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp
ủy chính quyền, sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng phát huy vai trò chủ thể của người dân
Vì vậy, cần phát huy nội lực từ phía người dân, huy động sự tham gia của người dân vào việc thực thi chính sách với mong muốn chính sách đem lại những hiệu quả thiết thực phục vụ cho chính cuộc sống của người dân
Xây dựng mô hình NTM có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội địa phương và được thể hiện qua các lĩnh vực sau:
* Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị
trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 21thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn
Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc
của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
chủ trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; Là người nông dân kết tinh các tư cách: Công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 22* V ề môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng,
trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển
bền vững
* Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ
làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, toàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng NTM
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình NTM có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình
hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách KT - XH ra đời tạo hiệu ứng tổng
1.1.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM
Tham gia
Theo cách hiểu chung thì tham gia là góp phần hoạt động của mình vào
một hoạt động, một tổ chức chung nào đó Tuy nhiên, cách hiểu này tương đối đơn giản và không khái quát được bản chất, nội dung tham gia trong tổng thể các mối quan hệ của nó
Tham gia được xác định như một đóng góp tự nguyện của người dân vào
một hoặc nhiều chương trình công cộng nhằm phát triển quốc gia, nhưng người dân không được mong đợi là sẽ góp phần vào hình thành chương trình hoặc phê phán nội dung các chương trình (Ủy ban Kinh tế Châu Mỹ La tinh, 1973) Tham gia bao gồm sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lợi của các chương trình phát triển
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 23cũng như trong đánh giá những chương trình này (Cohen và Uphoff, 1977)
Như vậy, tham gia là một quá trình cho phép người tham gia tự tổ chức
để xác định nhu cầu và cùng nhau thiết kế tổ chức thực hiện đánh giá hoạt động và cùng nhau hưởng lợi từ những hoạt động đó
Sự tham gia của người dân
Theo Setty (1991): “S ự tham gia của người dân là quá trình người dân
ưu tiên, khởi xướng và thực hiện các dự án bằng cách đóng góp ý tưởng, mối
Sự tham gia của người dân được hiểu theo những phương diện khác nhau
Sự tham gia của người dân là một quá trình bàn bạc cởi mở, bình đẳng
giữa cán bộ, các nhà hoạch định chính sách với người dân địa phương
Sự tham gia của người dân là một quá trình mà Chính phủ và người dân cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ cho tất cả người dân
Sự tham gia của người dân là một quá trình tìm và huy động các nguồn
lực của người dân, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước
Tóm lại, có thể hiểu sự tham gia của người dân là quá trình người dân cùng với chính phủ xây dựng chương trình hoạt động, lựa chọn ưu tiên, khởi xướng và thực hiện các dự án bằng cách đóng góp ý tưởng, mối quan tâm, vật
liệu tiền bạc, lao động và thời gian, cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và
tiến hành các hoạt động để phục vụ cho cộng đồng
quá trình mà Nhà nước và người dân cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể trong việc phát triển nông thôn và tiến hành các hoạt động để thực hiện trách nhiệm của mình, mang lại hiệu quả thiết thực cho người nông dân Do đó, sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM đóng vai trò hết sức quan trọng
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 24trong việc góp phần vào thành công chung của chương trình xây dựng NTM,
cụ thể được thể ở các vai trò lớn sau đây:
Thứ nhất, sự tham gia của người dân là phương tiện hữu hiệu để huy
động tiềm năng của địa phương, tài nguyên tại chỗ phục vụ cho các hoạt động trong xây dựng NTM Đồng thời, tổ chức và vận dụng tính sáng tạo của người dân vào các hoạt động phát triển Tiềm năng của địa phương, sự linh hoạt, sáng tạo sẽ được khai thác nếu sự tham gia của người dân được khuyến khích
và hỗ trợ theo một cơ chế rõ ràng, hợp lý, có phương pháp, tính toán khoa học
và các biện pháp chế tài cụ thể Từ đó, tạo được sự đồng thuận và ủng hộ của người dân trong các hoạt động quản lý nhà nước Đó là một trong những nhân
tố tác động mạnh mẽ đến xây dựng NTM
Thứ hai, giúp xác định nhu cầu ưu tiên của cộng đồng và tiến hành
những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Vì chính người dân biết rõ nhất là họ cần gì? Khả năng của họ đến đâu? Do đó, khi người dân tham gia thì họ sẽ đề xuất những ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của họ trong
việc xây dựng NTM, từ đó chính quyền địa phương có cơ sở để lựa chọn
những hoạt động để đáp ứng nhu cầu của người dân một cách thiết thực nhất
Từ đó, giúp cho hoạt động xây dựng NTM đảm bảo được tính thiết thực, đảm
bảo thu được những kết quả tốt nhất trong quá tình xây dựng NTM
Thứ ba, giúp cho chương trình được thừa nhận, khuyến khích người dân
đóng góp nguồn lực thực hiện và đảm bảo tính bền vững Thực tiễn chương
dân tích cực tham gia góp tiền của, công sức thì các nguồn lực trong dân được huy động tối đa, tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần thực hiện thắng lợi các
mục tiêu đã đề ra
khi làm việc cùng nhau sẽ tăng tính tự tin và khả năng để giải quyết các vấn
đề khó khăn trong cộng đồng Giúp huy động được sức mạnh tập thể, khai thác được trí tuệ tập thể tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thành công các
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 25công trình, dự án được triển khai ở địa phương
các hoạt động Từ xưa đến nay, vai trò của người dân luôn được đề cao Thực
tiễn đã chứng minh sự tham gia của người dân góp phần thực hiện thắng lợi các cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững chủ quyền của tổ quốc cũng như trong các hoạt động của thời kì mới xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và trong hoạt động xây dựng NTM nói riêng cần quan tâm, chú ý đến vai trò quan trọng của người dân CQĐP các cấp là cấp gần dân nên càng phải quan tâm hơn đến vấn đề này để nâng cao năng lực quản lý địa phương, đưa nền hành chính gần dân hơn
Xây dựng NTM được thực hiện thông qua tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để họ “tham gia thực sự” vào các hoạt động phát triển thôn Các đề tài nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong xây
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 26
T ự nguyện và
ch ủ động Theo định hướng
Các m ức độ tham khác nhau của người dân trong việc xây dựng NTM
Có thể thấy rằng, tùy thuộc vào trình độ nhận thức, văn hóa, điều kiện kinh tế, địa lý của từng vùng miền khác nhau, mức độ tham gia của người dân vào xây dựng NTM ở các cấp độ khác nhau Vì vậy có thể các cấp độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM bao gồm:
M ột là, không có sự tham gia
Không có sự tham gia không đồng nghĩa là người dân không làm gì, mà
là người dân tham gia nhưng cán bộ điều khiển và tham gia mang tính hình
thức
Cán bộ điều khiển: Người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không
được hiểu rõ về nội dung, chẳng hạn như người dân đóng góp tiền cho một
hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận
cho dân phát biểu ý kiến nhưng mang tính chất lấy lệ, cán bộ quyết định mọi
Trang 27 Hai là, tham gia ít
Ở mức độ này, người dân vẫn không phải là chủ thể của quá trình thực thi bởi người dân chỉ được thông báo và giao nhiệm vụ; Người dân được hỏi ý
kiến nhưng không được quyết định
Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: Người dân được thông
báo, hiểu rõ những việc mà cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình
Người dân được hỏi ý kiến: Kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách do
cán bộ thiết kế và quản lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy
ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm túc Sau đó, cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân, rồi cùng thực hiện
Ba là, tham gia th ực sự
Đó là người dân tham gia vào khởi sự quá trình tổ chức thực thi chính sách và tham gia lựa chọn phương án tổ chức thực thi chính sách Người dân đóng vai trò chính, chịu trách nhiệm chính, cán bộ chỉ đóng vai trò hỗ trợ khi
cần thiết
Như vậy, mức độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM phản ánh
mức độ tự quản của địa phương và mức độ dân chủ của xã hội Vì vậy, trong
dân, góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng NTM
như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng NTM được hiểu là:
thi chính sách của cơ quan nhà nước ở của địa phương liên quan đến quyền và
lợi ích của người dân Từ những hiểu biết đó, người dân có thể đóng góp vào các hoạt động trong quá trình xây dựng NTM
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 28- Dân bàn: Bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế
hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như bàn luận lựa chọn địa điểm thi công công trình, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp,…
mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể
bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ
hoạt động phát triển nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động
của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công
việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình
- Dân kiểm tra: Có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự
giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở
và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực
trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình
tham gia; Các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp
của một tổ chức do người dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu,
bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình
Trang 29Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự
ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “dân là gốc”.Nội dung
mỗi người dân có thể tham gia vào những phần việc khác nhau tùy vào điều
kiện, khả năng và nhu cầu của họ
Người dân có thể tham gia vào việc thực chi chính sách NTM bằng nhiều hình thức khác nhau Tùy vào đặc điểm, điều kiện của mỗi người, mỗi vùng, mỗi địa phương mà lựa chọn hình thức sao cho phù hợp và đạt được
hiệu quả Cụ thể, có 07 hình thức chủ yếu sau:
(1) Tham gia đóng góp ý kiến
Tham gia đóng góp ý kiến thể hiện trình độ và năng lực của cá nhân cũng như của cả cộng đồng nói chung Đồng thời, thể hiện sự quan tâm của họ đối
với các vấn đề của địa phương, sự am hiểu về chính sách Giúp cho quá trình
thực thi chính sách sát với cơ sở, từ đó đạt được những hiệu quả bước đầu
Chẳng hạn như tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và đồ án quy hoạch NTM cấp xã; Tham gia lập kế hoạch thực hiện Chương trình (thôn, xã)
Tham gia đóng góp ý kiến được tập trung vào hai trường hợp Thứ nhất, là
của các nhóm có nhiều khó khăn so với các nhóm khác trong bản thân cộng đồng Các nhóm khó khăn thường tự ti, ít phát biểu tham gia đóng góp ý kiến
những vấn đề liên quan đến họ, việc tạo môi trường và cơ hội thuận lợi khuyến khích sự tham gia đóng góp ý kiến là cần thiết Thứ hai, là của chung của cộng đồng cơ sở thông qua đại diện của mình Tham gia đóng góp ý kiến được thực
hiện thông qua các cuộc họp khác nhau được tổ chức tại cộng đồng
(2) Tham gia đóng góp lao động
Các nội dung của xây dựng NTM có cách thức tổ chức thực hiện khác nhau nhưng đối với các hoạt động hưởng lợi chung của cả cộng đồng thì quy
mô nhỏ và mức độ kỹ thuật không phức tạp Vì vậy, địa phương có thể chủ động tổ chức thực hiện phần lớn các hoạt động với sự hỗ trợ tối thiểu từ bên
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 30ngoài Nguồn lực để thực hiện bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực tự nhiên
Nguồn nhân lực: Lao động ở địa phương Có thể tham gia thông qua đóng góp ngày công để xây dựng các công trình, cải thiện điều kiện ở hộ gia đình
(3) Tham gia đóng góp tiền mặt
Đây là nguồn lực tài chính đã được nhắc đến ở trên Đây là nguồn lực
quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động Người dân có thể tham gia thông qua đóng góp bằng tiền mặt trong các hoạt động xây dựng kết cấu hạ
tầng, bảo vệ môi trường,
(4) Tham gia hi ến đất
Đất đai là nguồn lực tự nhiên, người dân có thể tham gia thông qua việc
hiến đất, tài sản trên đất Hình thức này được thực hiện chủ yếu trong việc
thực hiện các xây dựng kết cấu hạ tầng như đường giao thông, chợ, thủy lợi, trường học, Tuy nhiên, đây không phải là hình thức dễ thực hiện vì liên quan đến vấn đề về lợi ích của người dân Do đó, nó còn tùy thuộc vào nhận thức
của mỗi người dân
(5) Cung cấp vật liệu, dụng cụ tại chỗ
Đây là nguồn lực vật chất Đóng góp vật liệu và dụng cụ tại chỗ là hình
thức có thể khai thác ngay tại địa phương, góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho chi phí của các công trình
(6) Tham gia tập huấn khuyến nông, khuyến lâm
Để tham gia vào chương trình NTM người dân phải tham gia vào các lớp
tập huấn, thông qua đó mà người dân được nâng cao năng lực và khả năng của mình, có những kỹ năng, hiểu biết để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
(7) Cử đại diện ban giám sát thi công
Giám sát để đảm bảo quyền lợi, sự công bằng, an toàn và buổi thi công đạt kết quả, người dân phải bầu ra ban giám sát cho thôn mình, họ sẽ cùng người dân tham gia xuyên suốt quá trình thi công Ban giám sát đó phải là
những người có trách nhiệm cao và được người nhân dân tín nhiệm
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 31Sự tham gia của người dân vào xây dựng NTM có vai trò quyết định đến
thức nào được người dân tham gia nhiều, hình thức nào dễ tham gia để thu hút
sự tham gia của người dân
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
1.1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế
- Giá trị sản xuất
- Mức độ thực hiện kế hoạch đóng nguồn kinh phí
- Các chỉ tiêu về số lượng các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng
tại thôn, xã nhằm phát triển kinh tế xã
- Giao thông: Số km đường liên thôn, liên xã được bê tông hoá
- Điện: Số trạm biến áp, số km đường dây hạ thế
- Trạm y tế: Số trạm y tế, số phòng khám, số giường bệnh
- Số trạm phát thanh, bưu điện
- Số nhà trẻ, số trường mần non, tiểu học, THCS
- Hệ thống nước sạch
1.1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội
- Tỷ lệ tăng, giảm hộ giàu và hộ nghèo
- Mức độ cải thiện về đời sống và điều kiện sinh hoạt: Thu nhập bình quân đầu người, lương thực bình quân đầu người,…
1.1.3.4 Chỉ tiêu về phát triển con người
Trang 32- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế
1.1.3.5 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo vệ môi trường
- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch
- Chi phí bảo vệ và cải thiện môi trường
- Tỷ lệ đường thôn xóm được bê tông hóa không lầy lội vào mùa mưa
- Các hoạt động gây ô nhiễm môi trường và cải thiện môi trường sống
1.1.3.6 Ch ỉ tiêu đánh giá sự tham gia của người dân
- Số hộ tham gia các lớp tập huấn
- Tổng hợp nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động
- Tỷ lệ dân đóng góp kinh phí/tổng kinh phí
- Tổng hợp diện tích đất do người dân dóng góp
- Số ngày công tham gia lao động trực tiếp
- Một số đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn mới của xã
- So sánh kết quả đạt được từ trước và sau khi thực hiện đề án
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghi ệm của một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM
Từ năm 1979, ở tỉnh Oi-ta, Nhật Bản đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông
thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Người khởi xướng phong trào OVOP của thế giới, Tiến sĩ Mo-ri-hi-kô Hi-ra-mát-su nhấn mạnh ba nguyên tắc chính xây dựng phong trào OVOP Đó là, địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu; Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; Và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 33sản phẩm Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa mạch, chanh Kabosu, Cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành công mà cả sự thất bại Người dân sản xuất rồi tự chế biến,
tự đem đi bán mà không phải qua thương lái Họ được hưởng toàn bộ thành quả chứ không phải chia sẻ lợi nhuận qua khâu trung gian nào Chỉ tính riêng trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào OVOP “Mỗi làng, một sản phẩm” của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng tre,… Được sản xuất với chất lượng và giá bán rất cao
Theo Tiến sĩ Hi-ra-mát-su, gần 30 năm hình thành và phát triển, sự thành công của phong trào OVOP đã lôi cuốn không chỉ các địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, đáng chú ý là các quốc gia ở châu
Á và châu Phi tìm hiểu và áp dụng Một số quốc gia trong khu vực Nam Á như Thái-lan, Phi-li-pin, Tận dụng được nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống, đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ
Đông-áp dụng kinh nghiệm của phong trào OVOP của Nhật Bản
1.2.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; Đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; Tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; Giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập
hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 34Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; Phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; Giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước,
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những
kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển
1.2.2.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia Đông Á, có diện tích tự nhiên 100.140 km2
trong đó khoảng 70% là vùng núi; Dân số 50,062 triệu (2009) với mật độ 488 người/ km2
Từ một nước nghèo sau chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên những năm 50 của thế kỷ trước, Hàn Quốc nay trở thành một con rồng Châu Á và đã đứng trong nhóm các nước phát triển G20 Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 17.700 USD, năm 2010 khoảng 20.000 USD
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 35Thế giới biết đến Hàn Quốc không chỉ về thành công trong trong phát triển kinh tế nói chung, mà còn biết đến một đất nước có kỳ tích về phát triển nông thôn Chỉ trong 26 năm Hàn Quốc đã thành công trong xây dựng NTM
Về mặt thời gian, kỳ tích này của Hàn Quốc đã vượt xa những thành công về phát triển nông thôn của các nước phát triển khác như Nhật: 73 năm; Mỹ: 96 năm; Anh: 116 năm
Có thể nói rằng, thành công của Hàn Quốc trong phát triển nông thôn
gắn liền với thành công của phong trào Seamaul Trong tiếng Hàn, Saemaul là
sự kết hợp của "Sae" có nghĩa là "mới" và "maul" có nghĩa là ngôi làng Saemaul là phát triển hoặc cải cách cộng đồng thành một nơi tốt đẹp hơn,
cuộc sống tốt đẹp hơn, cho tất cả mọi người, không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần cho thế hệ mai sau Vào những năm 60 của thế kỷ trước, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn
Cả nước có đến 74% dân thuộc vào nhóm nghèo đói và chỉ 20% có thể tiếp
cận với điện, nhưng thiên tai lũ lụt triền miên, người dân Hàn Quốc phải gánh
chịu và phải tự khắc phục hậu quả Lũ lụt năm 1969, là một trận lũ lịch sử có
sức phá hoại rất lớn, người dân ở Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa và đường
xá mà không có sự hỗ trợ từ Chính phủ Điều này, làm tổng thống đương nhiệm Park Chung Hee suy nghĩ là làm sao để phát triển kinh tế vùng nông thôn và ông nhận ra rằng, sự trợ giúp của Chính phủ cũng vô nghĩa nếu người dân không tự giúp chính mình, hơn nữa khuyến khích nội lực trong cộng đồng nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóa phát triển nông thôn, ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào Saemaul
Trong quá trình tiến hành phong trào Saemaul để canh tân nông thôn, Chính phủ đã vạch ra đường lối chỉ đạo thực tiễn là “đi từng bước, đừng quá nhiều, quá nhanh”; Đối với chính quyền là không được cưỡng ép người dân
và tất cả các dự án phải có tác dụng nâng cao lợi ích chung cùng lợi ích của nông dân Còn đối với nông dân, họ phải tự làm việc để thay đổi vận mệnh
của mình Trong việc khuyến khích nông dân, chính quyền sẽ giúp đỡ và ưu
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 36tiên trợ giúp những người chứng tỏ có tinh thần cao về tự lực và hợp tác Với đường lối chỉ đạo như vậy, Chính phủ đã liên tục điều chỉnh chính sách hỗ trợ phát triển để phù hợp với tình hình thực tiễn Năm 1971, các dự án phát triển nông thôn thực hiện hỗ trợ cho 33 nghìn làng với mỗi làng là 300 bao xi măng Đất đai và công lao động do người dân trong chính các làng đó bỏ ra Đến năm 1972, chiến lược đầu tư được điều chỉnh, Chính phủ đã lựa chọn
một nửa số làng đã thực hiện tốt hơn để tiếp tục hỗ trợ trong số 33 nghìn làng
của năm 1971 Nhưng Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho các làng này thêm
một tấn thép và tăng lên 500 bao xi măng
Để khuyến khích của hoạt động của từng làng, chính quyền thực hiện
việc đánh giá và xếp loại các làng theo ba nhóm: Nhóm làng tích cực nhất, nhóm trung bình và nhóm cơ bản Bằng việc trao thưởng cho mỗi làng 2.000
đô la Mỹ nếu được thăng nhóm xếp hạng nhờ đẩy nhanh quá trình xây dựng NTM, chương trình đã tạo sự chuyển biến rõ rệt nhờ việc phân loại các nhóm làng trong những năm sau đó
Mặt khác, nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình hỗ trợ cho các làng, dự án NTM đặc biệt quan tâm đến nhân tố con người Trình độ văn hoá của người dân nông thôn rất thấp, cho nên việc phổ biến chính sách gặp phải không ít khó khăn Để khắc phục hạn chế này, các dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương và Chính phủ cũng rất coi
trọng việc xử lý những cán bộ tham nhũng Tổng thống đương nhiệm Park Chung Hee đã từng nói trước 20.000 sinh viên Đại học Seoul: “…Tôi sẽ đem
bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng… ” và trong quá trình lãnh đạo đất nước ông đã xử lý kiên quyết với tệ tham nhũng
Song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường xá cầu cống, điện, thủy lợi, nước sạch sinh hoạt,… Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc cũng thay đổi nhờ việc ngói hóa, bê tông hóa nhà ở của người dân Không những thế, Chính phủ còn chú trọng vào các dự án tăng thu nhập cho nông dân bằng việc
hỗ trợ và khuyến khích sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiều mặt hàng nông
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 37sản, tăng cường các cơ sở đào tạo nghề nông Cuộc cách mạng xanh thập niên
70 và cách mạng trắng thập niên 80 của thế kỷ trước trong lĩnh vực nông nghiệp đã mang lại những kỹ thuật canh tác mới, các loại giống mới được đưa vào sản xuất tăng năng suất và chất lượng nông sản
Ngoài ra, Chính phủ Hàn Quốc còn áp dụng chính sách miễn thuế các
mặt hàng như: Xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho chế biến nông sản Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Nhờ đó, sức
tăng lên đáng kể Kết quả tới năm 1974 thu nhập người dân ở nông thôn đã cao hơn ở thành thị Năm 1977 hầu hết các xã đã có thể độc lập về kinh tế Thu nhập của nông dân Hàn Quốc từ đó vẫn tăng lên đều đặn Mức độ chênh
lệch về thu nhập của nông dân và thị dân luôn được duy trì với khoảng cách
nhỏ, năm 2010 thu nhập của nông dân bằng khoảng 85% thu nhập thị dân Sau gần ba mươi năm từ đầu thập kỷ 70 đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, phong trào Seamaul qua việc hoạch định chu đáo, đầu tư sáng suốt và
nhất là khéo léo giác ngộ nông dân về sự thăng tiến đời sống, đã dấy lên lòng nhiệt thành, tinh thần sáng tạo và nỗ lực chung của nông dân trong việc thực
hiện các dự án phát triển nông thôn theo sự lựa chọn của chính họ Với chất xúc tác của tinh thần Seamaul, cơ sở hạ tầng nông thôn thay thay đổi, thu nhập người nông dân không ngừng tăng lên gần bằng thu nhập thị dân, họ đã tự thay đổi được đời sống của mình và làm biến đổi toàn diện nông thôn Hàn Quốc
rằng, quá trình xây dựng NTM chỉ thực sự thành công, khi chính người nông dân tự làm chủ vận mệnh của mình, với sự hỗ trợ của Nhà nước để thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn cùng với việc tăng thu nhập một cách ổn định
1.2.2 Tình hình xây d ựng mô hình NTM ở Việt Nam
Xây dựng NTM cũng như phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng NTM trên thực tế đã có những địa phương thực hiện rất thành công
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 38và đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho những địa phương đang trong quá trình triển khai thực hiện Trong đó tỉnh Thái Bình và huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai là một trong các đơn vị cấp huyện, tỉnh đầu tiên trong cả nước hoàn thành các tiêu chí xây dựng NTM hiện nay Do đó, có những bài
học quý báu về phát huy sự tham gia của người dân cần phải học hỏi
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, có gần 90% số dân sống ở nông thôn
và hơn 70% lao động làm nông nghiệp Trong quá trình phát triển, Thái Bình
đã đạt nhiều thành tựu về phát triển nông thôn Những thành công của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM ở Thái Bình đã thực sự mở
rộng, phát huy dân chủ, triển khai nghiêm túc, thực chất quy chế dân chủ cơ
sở với phương châm hành động: Dân biết - dân bàn - dân làm - dân kiểm tra,
Trước hết, Thái Bình đã tập trung phát huy dân chủ, sức mạnh của cả hệ
thống chính trị, của toàn dân để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra Thực
hiện hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong xã hội Thực sự dân chủ, công khai, minh bạch trong huy động và sử
dụng các nguồn lực Chủ động ngăn ngừa, phát hiện kịp thời và giải quyết dứt điểm những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ Đảng, trong nhân dân trên cơ sở
giữ vững kỷ cương, pháp luật và phát huy dân chủ; Bảo đảm ổn định chính trị
từ cơ sở
Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề dân chủ đã được địa phương nhận thức
một cách nghiêm túc từ lãnh đạo cấp tỉnh đến các cơ sở Công tác mở rộng, phát huy cơ chế dân chủ ở cơ sở đã đi vào mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo từ
cấp tỉnh đến cơ sở, và triển khai sâu rộng trong nhân dân
hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng nông thôn Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: Mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 39đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng Cụ thể ở đây, người dân được biết rõ có bao nhiêu tiêu chí của NTM? Những tiêu chí nào vốn có đã đạt chuẩn trên địa bàn, những tiêu chí nào tiếp tục nâng cấp hoàn thiện, những tiêu chí nào cần phải bắt đầu từ đầu? Dân còn được biết
phải đầu tư như thế nào, đóng góp ra sao, nguồn vốn từ đâu? Người dân phải đóng góp cái gì, Nhà nước hỗ trợ như thế nào?
Người dân được bàn cách giải quyết dưới nhiều hình thức khác nhau,
bằng nhiều kênh truyền tin khác nhau; Được cọ xát, trao đổi, cân nhắc về các
mặt, về điều hơn lẽ thiệt, về cái lợi cái hại, về cái mới cái cũ, cái hay cái dở
với các xu hướng khen hay chê, ủng hộ hay phản đối, chấp nhận hay bác bỏ
Mọi người thay đổi suy nghĩ và ý kiến cá nhân của mình bằng cách chấp
nhận, chia sẻ một giải pháp tốt nhất, hợp lý, hợp tình nhất trong số những cách giải quyết được đề xuất
Sự tham gia của người dân ở đây liên quan đến kế hoạch phát triển sản
xuất, các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: Bàn luận
mở hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các
giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương
thức quản lý tài chính
Cụ thể, việc triển khai thực hiện Quyết định số 19/2013/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 11 năm 2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ và quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng NTM giai đoạn 2011-2015, các xã trong tỉnh đã chỉ đạo thực hiện công khai, minh bạch trong tiếp nhận, quản lý
và sử dụng nguồn xi măng hỗ trợ của tỉnh, tiến hành nghiệm thu các công trình hoàn thành đảm bảo nghiêm túc, đúng tiến độ Các địa phương đã thực
hiện khá tốt việc công khai, tuyên truyền đến nhân dân về các chủ trương, chính sách, cơ chế hỗ trợ của Nhà nước và địa phương về xây dựng NTM
Nhân dân được thảo luận, bàn bạc và thống nhất xây dựng phương án, đề án
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế
Trang 40chỉnh trang đồng ruộng, xây dựng hạ tầng GTNT, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân phát huy quyền làm chủ, phát huy trí tuệ, góp sức tham gia xây
Một số xã đã tổ chức phát phiếu lấy ý kiến trước khi triển khai các công
trình, hay việc đưa ra để lấy ý kiến “dân bàn” điều hơn lẽ thiệt trong việc hiến đất xây dựng GTNT, chỉnh trang ngõ xóm, Việc công khai dân chủ trong xây dựng các công trình đều được giao cho cơ sở, người dân bàn bạc tìm phương án triển khai Các thôn trực tiếp là chủ đầu tư, tự chủ động chọn các
tổ thợ thi công có uy tín thông qua cuộc họp lấy ý kiến từ nhân dân Tổ thi công phải đáp ứng đủ 3 yếu tố như có kinh nghiệm, phương tiện, máy móc thi công, đồng ý trả công chậm,
Người dân cũng trực tiếp tham gia lao động, tham gia điều hành, quản lý các hoạt động phát triển NTM như: Tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,
tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản
lý và sử dụng công trình Từ đó, đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập Ngoài ra, người dân còn góp của, góp công Hình thức đóng góp có
thể bằng tiền, bằng đất, bằng sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ,
thay đổi rõ rệt Diện mạo mới của nông thôn với quang cảnh sạch đẹp, văn minh Từ đường làng đến ngõ xóm, đều khoác lên mình bộ “áo mới”, góp
phần nâng cao chất lượng đời sống của người dân
rằng: “Khó khăn nhất trong xây dựng NTM là nhận thức Với nhiệm vụ xây
dựng NTM, điều đầu tiên cần làm đó là thay đổi nhận thức của mỗi người
dân Chương trình xây dựng NTM có thành công được hay không chính là
phụ thuộc vào người dân; Nếu nhận thức của người dân không thay đổi thì
Đạ i h
ọc Kinh
tế Hu
ế