1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giải pháp đẩy mạnh cho vay đối với DNVVN

86 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 685 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là hình thức cho vay tươngđối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thườngxuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi, có nguồn thu thườngkhôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI :

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN PHƯƠNG NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI

Họ và tên sinh viên : Phan Thị Thanh Huyền

Lớp : Ngân hàng 48B

Mã sinh viên : CQ483646

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia,

xu thế này bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong đó cólĩnh vực tài chính – ngân hàng Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế này một mặttác động thúc đẩy hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực của nền kinh tế,mặt khác cũng làm gia tăng cạnh tranh và đặt ra nhiều thách thức đối với trình độphát triển của mỗi quốc gia Nhất là khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mạiquốc tế WTO Đây không chỉ là một thị trường mở cho đất nước ta có điều kiệnngày một lớn mạnh hơn mà còn đặt ra nhiều thách thức mới cho các doanh nghiệpViệt Nam, trong đó có các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp vừa và nhỏchiếm một số lượng lớn trong số lượng các doanh nghiệp ở nước ta, sự phát triểncủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ ảnh hưởng khá lớn tới nền kinh tế Do đó,việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam làmột vấn đề thiết yếu quan trọng Nhưng để thúc đẩy phát triển các doanh nghiệpvừa và nhỏ ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết các khó khăn mà các doanh nghiệpnày đang gặp phải trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất là thiếu vốn sản xuất,đòi hỏi Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tổ chức tíndụng phải cùng quan tâm giải quyết

Qua thời gian thực tập, tìm tòi và học hỏi tại ngân hàng TMCP Phương Nam– chi nhánh Hà Nội em nhận thấy hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ ngày càng được quan tâm nhưng vẫn chưa thực sự trở thành hoạt động lớncủa chi nhánh Do đó, em đã lựa chọn đề tài « Giải pháp đẩy mạnh cho vay đối vớidoanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh HàNội » Em muốn nghiên cứu, tìm hiểu, rút ra những kết quả đat được, các mặt hạnchế để từ đó đưa ra một số giải pháp về hoạt động này

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì đề tài gồm có 3 chương :

Chương 1 : Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ củangân hàng thương mại

Chương 2 : Thực trạng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏtại ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh Hà Nội

Chương 3 : Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa

và nhỏ tại ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh Hà Nội

Trang 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Khái niệm và tiêu thức xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1.1 Khái niệm

Tùy vào điều kiện và tình hình kinh tế mà mỗi nước sẽ qui định số lượng công nhân mà một DNVVN cần có Theo đó, tại Viêt Nam, ngày 30/6/2009, Chínhphủ ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP trong đó quy định rõ: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Cụ thể như sau:

Qui mô

Khu vực

Doanhnghiệp siêunhỏ

Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động Tổng

nguồn vốn Số lao động

Tổngnguồn vốn

Số laođộng

20 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

II Công

nghiệp và

xây dựng

10 ngườitrở xuống

20 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

mại và

dịch vụ

10 ngườitrở xuống

10 tỷ đồngtrở xuống

Từ trên 10người đến

100 người

Trang 4

Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chuẩn mực nào về DNVVN Ở

Mỹ, một doanh nghiệp được coi là vừa và nhỏ khi có số công nhân tối đa là 1000,tại Úc là 300, còn theo Liên minh Châu Âu thì DNVVN là doanh nghiệp có sốcông nhân không vượt quá 250 Trong cùng một khu vực cũng có sự khác nhau vềkhái niệm DNVVN Tại Chi Lê, Colombia DNVVN là doanh nghiệp có từ 11-200công nhân, tại Nam Phi con số đó là 1-500 công nhân Trong khi đó tại Mêhicô thì

với số công nhân là 500 doanh nghiệp đó vẫn được coi là vừa và nhỏ

- Tiêu thức định lượng: thường sử dụng các tiêu thức như số lượng lao độngtrong doanh nghiệp (bao gồm lao động thường xuyên và không thường xuyên); giátrị tài sản hay nguồn vốn; doanh thu; lợi nhuận Trong đó:

Số lao động có thể là số lao động thực tế, số lao động trung bình theo danhsách,

Tài sản hay nguồn vốn có thể là giá trị tài sản còn lại, tài sản cố định,nguồn vốn cố định, tổng giá trị tài sản, tổng giá trị nguồn vốn,

Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm hay tổng giá trị gia tăngtrong một năm Hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu tổng giá trị gia tăng trênmột năm

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghịêp vừa và nhỏ

1.1.2.1 Ưu điểm

- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ, linh hoạt.

Các DNVVN có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý gọn nhẹ, hợp lý, khôngcồng kềnh, dễ kiểm soát, số lượng lao động không nhiều, không có nhiều các khâutrung gian, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hànhtrực tiếp, góp phần tiết kiệm đáng kể chi phí, thời gian quản lý doanh nghiệp Điềunày góp phần tạo nên lợi thế tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh

Trang 5

- DNVVN năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh.

Các DNVVN thường có quy mô hạn chế, mô hình tổ chức đơn giản, có thểnhanh chóng đưa ra các quyết định để thích ứng với mọi biến cố Vì vậy so vớicác doanh nghiệp lớn, các DNVVN thường dễ dàng chuyển đổi hướng sản xuấtkinh doanh, chuyển hướng mặt hàng, tăng giảm lao động để đối phó với nhữngkhó khăn nội tại hoặc những biến động khó lường của thị trường do sự chuyển đổinày không gây ra nhiều khó khăn và tốn kém về mặt chi phí như các doanh nghiệplớn

- DNVVN có khả năng thu hồi vốn nhanh.

So với các doanh nghiệp lớn, DNVVN chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằngkhông lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản có thể bắt đầu hoạt động, hơn thế vòngquay sản phẩm nhanh, hiệu quả kinh tế thường sẽ cao hơn, khả năng thu hồi vốnnhanh hơn Điều đó tạo ra sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh và hấpdẫn mọi thành phần kinh tế vào khu vực này

- Quan hệ giữa người lao động và người quản lý khá chặt chẽ.

DNVVN có qui mô không lớn lắm, số lượng lao động không nhiều, mốiquan hệ giữa người lao động và người thuê lao động khá gắn bó, ít xảy ra xungđột, trong trường hợp có xung đột xảy ra thì cũng dễ giải quyết và dàn xếp Trênthực tế, lao động làm việc trong các DNVVN ít bị đe doạ bị mất việc làm, còn laođộng ở các doanh nghiệp lớn dễ bị mất việc làm hơn, đặc biệt là khi nền kinh tế bịrơi vào suy thoái

1.1.2.2 Nhược điểm

- DNVVN có vốn kinh doanh tương đối nhỏ.

Do quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các DNVVN thường lâm vào tình trạng thiếuvốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường hay tiến hành đổi mới, nâng cấptrang thiết bị Bên cạnh đó, các DNVVN lại gặp khó khăn trong việc tiếp cậnnguồn vốn Nguyên nhân là do các dự án vay vốn của các DNVVN thường là các

dự án có quy mô nhỏ, nhiều ngân hàng ngại cho vay vì chi phí thẩm định cao, rủi

ro cao Mặt khác, các DNVVN lại thường gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựngcác dự án đầu tư Việc huy động vốn trên thị trường tài chính cũng gặp nhiều cảntrở do các doanh nghiệp này chưa đủ uy tín để phát hành trái phiếu doanh nghiệp

- Trình độ quản lý ở các DNVVN còn bị hạn chế.

Trang 6

Nhà quản lý của các DNVVN thường nắm bắt, bao quát và quán xuyến hầuhết các mặt của hoạt động kinh doanh Thông thường họ được coi là nhà quản trịdoanh nghiệp hơn là nhà quản lý chuyên sâu Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng,nghiệp vụ quản lý trong các DNVVN còn rất thấp so với yêu cầu Những nghiêncứu cho thấy những người chủ doanh nghiệp thuộc khu vực này có trình độ họcvấn ở mức khá thấp Vẫn tồn tại những chủ doanh nghiệp chưa từng qua đào tạo

về nghiệp vụ chuyên môn, do đó họ thiếu kiến thức về kinh tế, pháp luật, cũng nhưkinh nghiệm thực tế Nhiều doanh nghiệp vẫn quản lý doanh nghiệp mình theokiểu hộ gia đình

- Cơ sở vật chất kỹ thuật trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu.

Các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất kinh doanh của các DNVVNthường có chi phí không quá cao, công nghệ đơn thuần Do năng lực tài chính củacác DNVVN còn hạn chế nên thường gặp nhiều khó khăn trong đầu tư, đổi mớimáy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến Hơn nữa, cùng với thói quen tư duy

và nhận thức, DNVVN thường đầu tư dần, mỗi năm mua mới một vài loại máymóc, thiết bị, điều này làm cho dây chuyền kỹ thuật trong các DNVVN khôngđồng bộ, chắp vá Mặt khác, do trình độ quản lý còn yếu kém, các DNVVNthường rơi vào tình huống mua phải những dây chuyền công nghệ đã lỗi thời

- Các DNVVN có sức cạnh tranh kinh tế thấp hơn các doanh nghiệp lớn.

Do gặp khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặcbiệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động,chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường Hơn nữa, các DNVVN chỉchú trọng sản xuất, chưa quan tâm đúng mức đến các hoạt động như truyền thông,quảng bá, giới thiệu sản phẩm Do thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thịtrường, các DNVVN thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường, gặp khókhăn trong việc chiếm lĩnh thị trường

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế.

- DNVVN đóng góp vào tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Thực tế không chỉ ở các nước phát triển mà ngay cả ở những nước đang pháttriển, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng khá lớn trong sốlượng các doanh nghiệp, do đó thu nhập từ loại hình này chiếm một tỷ lệ khá lớntrong tổng thu nhập quốc dân Ngay ở nước ta, ước tính đến hết năm 2009 số

Trang 7

lượng doanh nghiệp là 460 nghìn doanh nghiệp ( tăng 15 lần trong vòng 9 năm),song phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số doanh nghiệp tư nhân lớn cònquá khiêm tốn trong khi các doanh nghiệp quy mô vừa cũng rất thưa thớt.

Các DNVVN có khả năng cung ứng hàng hoá sản phẩm ra thị trường là rấtlớn Trong các loại hình sản xuất kinh doanh, DNVVN có sức lan toả vào mọi lĩnhvực của đời sống xã hội, đáp ứng khá tốt nhu cầu tiêu thụ hàng hoá của các doanhnghiệp lớn cũng như nhu cầu tiêu dùng đa dạng trong xã hội mà bản thân cácdoanh nghiệp lớn khó có thể đáp ứng được ngay

Với tốc độ tăng dân số hiện nay so với tốc độ tăng của nền kinh tế thì tỷ lệ thấtnghiệp sẽ gia tăng Do đó, số lượng DNVVN ngày càng gia tăng đã giải quyết mộtkhối lượng lớn việc làm cho dân cư, tạo công ăn việc làm cho người lao động, gópphần xoá đói giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp Đặc biệt, trong nhiều thời kỳ, cácdoanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu hút thêmlao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới lớn hơn khu vực doanh nghiệp lớn

tế sẽ được nâng cao

- Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế.

Một nền kinh tế bao giờ cũng có các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Đó

là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển hoặc xatuyến giao thông, thiếu tài nguyên, Nếu như các doanh nghiệp lớn thường không

có mặt ở các địa phương khó khăn này ( vì các doanh nghiệp lớn cho rằng nguồnlợi thu được từ nơi đó không bằng ở các nơi khác với cùng chi phí bỏ ra) thì cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt khắp mọi nơi và trở thành nguồn lực quan

Trang 8

trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng nguồn thu chongân sách địa phương cũng như quốc gia.

Nhìn chung các DNVVN được mở ra ở địa phương nào thì đều có công nhân

là người của địa phương đó Do đó, khi các DNVVN được thành lập thì người dân

ở địa phương đó có công ăn việc làm, có thu nhập, góp phần làm phát triển kinh tếđịa phương

- Giữ gìn và phát huy các ngành nghề truyền truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần duy trì và phát triển các ngành nghề thủcông truyền thống ( chẳng hạn như ngành sản xuất các mặt hàng thủ công mĩ nghệ).Trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá, các ngành nghề thủ công đang đứngtrước nguy cơ cạnh tranh khốc liệt giữa chế tạo sản phẩm thủ công và sản xuất dâychuyền hàng loạt Loại hình vừa và nhỏ có thể nói là rất phù hợp với sản xuất thủcông Bởi vì, các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh,quảng cáo và để sản xuất các loại mặt hàng này phải sử dụng lao động địa phương.Bên cạnh đó, công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần dần tiếp cận các ngành nghề này Và đócũng là một điều cần thiết phải xảy ra trong thời đại công nghệ

1.1.4 Tính tất yêu khách quan của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

- Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với lịch sử hìnhthành và phát triển các doanh nghiệp Trong giai đoạn hàng hoá giản đơn không có

sự phân biệt giữa người chủ và người thợ Người sản xuất hàng hoá vừa là người

sở hữu tư liệu sản xuất vừa là người trực tiếp lao động sản xuất, vừa là người trựctiếp quản lý, điều khiển công việc của mình và cũng là người mang sản phẩm củamình ra trao đổi trên thị trường Tuy nhiên, trong thời kì hiện đại, mối quan hệ chủthợ ngày càng phát triển Trong thời kì này, có một số người muốn thử sức mìnhtrong các ngành kinh doanh Họ nắm trong tay một số vốn ít ỏi, một số trình độ vàkinh nghiệm nhất định, một số kiến thức được lĩnh hội ở các trường chuyênnghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ chỉ thành lập các doanh nghiệp nhỏ Họthuê mướn lao động và trở thành các ông chủ

- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, với tài năng, năng lực, sự nhanh nhạynắm bắt thời cơ, biết ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, điều hành tổ chức vàsắp xếp công việc khéo léo, hợp lý, cộng với một số đức tính như cần cù, chịu khó,

Trang 9

tiết kiệm, , một số người đã trở nên thành đạt, ngày càng giàu lên, tích lũy đượcngày càng nhiều của cải, thường xuyên mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.Đến một lúc, các thành viên trong gia đình không thể đảm đương hết công việc,cần phải thuê mướn thêm nhân công, do đó họ trở thành các ông chủ Ngược lại,lại có những người do không may mắn hay do năng lực yếu kém, không có trình

độ, không biết kịp thời ứng dụng khoa học kỹ thuật, công tác điều hành tổ chứckhông hợp lý nên làm ăn thua lỗ, thất bại Hậu quả đương nhiên là họ phải bán tưliệu sản xuất, phải tìm cách trả nợ, phải đi làm thuê cho người khác Trong giaiđoạn đầu, các ông chủ và người thợ thường lao động trực tiếp với nhau, nhữngngười làm thuê có thể là bà con họ hàng với ông chủ, sau đó thì mở rộng dần ra

Mô hình này được xếp vào phạm trù doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Để phát triển kinh tế, đất nước không thể không có các doanh nghiệp lớnvới tiềm lực kinh tế, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế Tuy nhiên, phần đông các doanh nghiệp lớn đuợc hình thành vàphát triển từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong quá trình sản xuất kinh doanh,một số ông chủ đã phát triển các doanh nghiệp của mình bằng cách mở rộng quy

mô doanh nghiệp, và như vậy thì nhu cầu về vốn tăng lên Từ đó, để nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh, các nhà doanh nghiệp hoặc một số người đã cùng nhaugóp vốn, hoặc phát hành cổ phiếu, thành lập công ty cổ phần, bằng các hình thứcliên kết ngang, dọc, hỗn hợp, nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều doanh nghiệp lớn đãhình thành và phát triển Quy luật đi từ nhỏ đến lớn là con đưòng tất yếu của sựphát triển bền vững của đại đa số các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.Nền kinh tế của một quốc gia tổng hợp của các doanh nghiệp lớn, bé tạo thành Sựđan xen này khắc phục được tính đơn điệu, xơ cứng của nền kinh tế, tạo nên sự đadạng, phong phú, linh hoạt, đáp ứng được những biến đổi của thị trường

1.2 Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

1.2.1 Các phương thức cho vay áp dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1.1 Phân loại theo thời hạn

- Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng

nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu

Trang 10

thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động Loại cho vay này có mức rủi rothấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô Vì thế lãi suất cho vay của loại này thường thấp hơn các loại khác.

- Cho vay trung và dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm đến

vài chục năm Nó thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu và kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội

Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu tư thường là dự tính cho nên cho vay loại này chứađựng mức rủi ro cao; kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống Mức rủi ro và do đó lãisuất tăng lên cùng thời hạn vay

1.2.1.2 Phân loại theo tài sản đảm bảo

Phân loại theo các này được phân chia thành : cho vay có tài sản đảm bảo vàcho vay không có tài sản đảm bảo

- Cho vay có tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo có thể được phân loại theo

tính chất an toàn và phân loại theo hình thức vật chất

* Với cách phân loại theo tính chất an toàn, ngân hàng chia tài sản đảm bảothành hai loại: loại 1 và loại 2

Loại 1 là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của khách hàng, hoặcđảm bảo của bên thứ ba cho khách hàng của ngân hàng ( bảo lãnh ) Những đảmbảo này không được hình thành từ khoản tín dụng của chính ngân hàng Đảm bảoloại 1 có thể có giá trị lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của khoản tín dụng tuỳthuộc vào dự đoán của ngân hàng về rủi ro Các khoản tín dụng dựa trên tài sảnđảm bảo loại 1 thường đảm bảo an toàn cho ngân hàng, song gây khó khăn cho cảngân hàng lẫn khách hàng trong việc định giá, bảo quản, làm cho thời gian phântích tín dụng thường bị kéo dài

Loại 2 là những tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng Đây

là biện pháp để ngân hàng có thể hạn chế việc người vay bán tài sản được hìnhthành từ vốn vay Tuy nhiên, khi người vay không có khả năng trả nợ thì phần lớncác tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó bán Do đó, tài sản loại 2 không đảm bảocho ngân hàng thu đủ gốc và lãi Tài sản loại 2 thường áp dụng cho khách hàng màtài sản loại 1 có ít hoặc không thể trở thành tài sản đảm bảo cho ngân hàng

* Với cách phân loại theo hình thức vật chất thì có: đảm bảo bằng hàng hoátrong kho, đảm bảo bằng tài sản cố định, đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của

Trang 11

người thứ ba, đảm bảo bằng chứng khoán, đảm bảo bằng bảo lãnh của người thứ

ba, đảm bảo bằng số dư bù

Đảm bảo bằng hàng hoá trong kho như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm, Nếu ngân hàng có kho bãi riêng hoặc phương thức bảo quản thích hợp thì đây làhình thức rất thuận lợi cho khách hàng và ngân hàng

Đảm bảo bằng tài sản cố định: nhà máy, trang thiết bị sản xuất và phươngtiện vận chuyển, cây con, quyền sử dụng đất, rừng, đều có thể trở thành đảm bảocho ngân hàng

Đảm bảo bằng các hợp đồng chi trả của người thứ ba: nhiều khách hàng kýhợp đồng bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ (ví dụ bán hàng, nhận thầu cungcấp, xây dựng ) và nhận về hợp đồng thanh toán Hợp đồng thanh toán là cam kếtcủa người thứ ba về vệc sẽ thanh toán số tiền trong thời hạn nhất định với nhữngđiều kiện cụ thể cho khách hàng Hợp đồng này có thể trở thành đảm bảo chokhách hàng để nhận tài trợ của ngân hàng

Đảm bảo bằng chứng khoán: các chứng khoán có thể bán với ít, nhiều rủi ro.Quản lý chứng khoán là tương đối thuận tiện đối với ngân hàng do phần lớn ngânhàng đều có nghiệp vụ quản lý và kinh doanh chứng khoán

Đảm bảo bằng bảo lãnh của người thứ ba: người thứ ba cam kết thực hiệncác nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng thay cho khách hàng khi khách hàngkhông thực hiện được Đối với người bảo lãnh có uy tín ( Nhà nước, các tổ chứctài chính lớn, các công ty lớn ) ngân hàng chấp nhận bảo lãnh không cần tài sảnđảm bảo Đối với những người bảo lãnh chưa có uy tín, ngân hàng đòi hỏi phải cótài sản đảm bảo cho bảo lãnh đó

Đảm bảo bằng số dư bù: Các đảm bảo loại này đều gắn liền với các thủ tụcphức tạp, không có lợi cho cả ngân hàng lẫn khách hàng Hơn nữa, ngân hàng dựtính, nếu rủi ro xảy ra với khách hàng thì tổn thất cũng chỉ chiếm một phần số tiềnvay Trong trường hợp này ngân hàng có thể yêu cầu đảm bảo bằng tiền gửi kí quĩ(số dư bù) Số tiền đảm bảo có thể được chuyển sang tài khoản khác của kháchhàng hoặc vẫn lưu trên tài khoản tiền gửi song khách hàng không được quyền sửdụng cho đến khi đã trả nợ hết cho ngân hàng

- Cho vay không có tài sản đảm bảo: đối tượng được cho vay theo hình thức

này thường là khách hàng thực hiện các dự án đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội,hoặc khoản vay có thời hạn ngắn, ngân hàng có thể thực hiện kiểm soát Loại hình

Trang 12

cho vay này có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hànglàm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợnần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay

1.2.1.3 Phân loại theo hình thức cho vay

Theo quy chế vay 1627/2001/QĐ-NHNN, quyết định của thống đốc ngânhàng nhà nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay đối với các tổ chức tíndụng thì tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng vay các phương thức cho vaysau: Cho vay từng lần , Cho vay theo hạn mức tín dụng, Cho vay theo dự án đầu

tư, Cho vay hợp vốn, Cho vay trả góp, Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng,Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Cho vay theo hạnmức thấu chi, các phương thức cho vay khác

- Cho vay từng lần : mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ

tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Đây là hình thức cho vay tươngđối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thườngxuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi, có nguồn thu thườngkhông ổn định, cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời để mở rộng sản xuấtkinh doanh tại một số chu kì nhất định

Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụngvốn vay Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí kết hợp đồng cho vay, xác địnhqui mô cho vay, thời hạn giải ngân,thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếucần Mỗi món vay được tách biệt thành các hồ sơ khác nhau Theo từng kì hạn nợtrong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình khách hàng sử dụngtiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả Nếu thấy có dấu hiệu viphạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất

có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi Nghiệp vụ này tương đối đơngiản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định và thoả

thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Hạnmức tín dụng có thể cấp cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuấtkinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Đó là số dư tối đa tạithời điểm tính

Trong kì khách hàng có thể thực hiện vay - trả nhiều lần, song dư nợ khôngđược vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức

Trang 13

cuối kì Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên, đến cuối kì, khách hàngphải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức Mỗilần khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứngminh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợppháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.

Phương thức cho vay này được áp dụng đối với các khách hàng có sản xuấtkinh doanh ổn định, có quan hệ vay mượn thường xuyên với ngân hàng Khi kháchhàng có thu nhập thì ngân hàng sẽ thu nợ, điều này tạo chủ động ngân quỹ chokhách hàng Khi xác định hạn mức tín dụng, ngân hàng dựa trên các cơ sở: báocáo quyết toán của năm trước, báo cáo kế toán tại thời điểm gần nhất, kế hoạch sảnxuất kinh doanh hàng năm, các hợp đồng kinh tế, Với phương thức cho vay này,ngân hàng chỉ có thể kiểm soát hiệu quả sử dụng vốn vay khi khách hàng nộp cácbáo cáo tài chính

- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện

các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Khi khách hàng có kế hoạchđầu tư mới, đầu tư mở rộng công suất, đầu tư đổi mới công nghệ hoạt động sản xuấtkinh doanh, nhằm thực hiện dự án nhất định thì có thể xin vay ngân hàng Thôngthường các khoản cho vay đầu tư dự án được trả dần từ nguồn khấu hao, lợi nhuậncủa chính dự án cho vay và các nguồn thu hợp pháp khác của khách hàng

Để vay vốn , khách hàng phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạchđầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án Ngân hàng tiến hành cho vay dựa trênphân tích và thẩm định dự án và xác định khả năng trả nợ của khách hàng Ngânhàng đặc biệt quan tâm đến phân tích tài chính của doanh nghiệp Một doanhnghiệp có tình hình tài chính mạnh là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết địnhcho vay để thực hiện dự án

Nhu cầu đầu tư dự án được tính dựa trên tổng hợp các chi phí về xây dựng,giải phóng mặt bằng, mua và lắp đặt các thiết bị, và các tài sản lưu động dự trữcần thiết để bắt đầu quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Sau khi phân tíchnhu cầu vốn đầu tư của khách hàng, ngân hàng sẽ xem xét kỹ lưỡng các nguồn vốntài trợ như nguồn vốn tự có, chiếm dụng của người cung cấp, vay các tổ chức tíndụng khác, Ngân hàng sẽ xem xét dựa trên các yếu tố là: quy mô và thời hạn củamỗi nguồn; tính khả thi của mỗi nguồn và các điều kiện để dự án tiếp cận đượcnguồn vốn

Trang 14

- Cho vay hợp vốn: ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác cùng cho vay đối

với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một

tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay của tổ chứctín dụng đối với khách hàng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng doThống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Cho vay hợp vốn thường được áp dụngtrong các trường hợp sau: nhu cầu xin vay của doanh nghiệp vượt trên giới hạncho vay của một ngân hàng; nguồn vốn của ngân hàng không đủ khả năng cho vay

để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng; ngân hàng muốn phân tán rủi ro

- Cho vay trả góp: cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho

phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Cho vaytrả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tàisản cố định hoặc hàng lâu bền Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp vớikhả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế từ dự án)

Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hoámua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc đều đặn vào thu nhập của khách hàng.Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất trong khung lãisuất cho vay của ngân hàng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn

sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Ngânhàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng,mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng Mức phí này do ngân hàng thoảthuận với khách hàng và được tính trên số tiền ngân hàng cam kết cho vay màkhách hàng chưa rút vốn trong thời hạn hợp đồng

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng

chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng

để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặcđiểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tíndụng, ngân hàng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngânhàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận

bằng văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài

Trang 15

khoản thanh toán Khách hàng chỉ được phép chi trội đến một giới hạn nhất định

và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi

Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi

và thời gian thấu chi ( có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng ) Trong quá trìnhhoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ séc vượt quá số

dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi) Khi khách hàng có tiền nhập

về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi

Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sửdụng Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thờigian và qui mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngânquỹ song không chính xác Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợicho khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phầnlớn là không có đảm bảo, có thể cấp vài ngày trong tháng, vài tháng trong nămdùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng, Hình thức này nhìn chungchỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì thunhập ngắn

- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy

định tại Quy chế của NHNN và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tíndụng và đặc điểm của khách hàng vay

1.2.1.4 Phân loại theo rủi ro

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngânhàng do khách hàng vay không trả đúng thời hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủvốn và lãi Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dựkiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất Tuy nhiên những khoản cho vay đó luônhàm chứa rủi ro

Do đó, cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính antoàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời, đánh giá chấtlượng tín dụng,

- Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.

- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh

như khách hàng chậm tiêu thụ sản phẩm, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, kháchhàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,

Trang 16

- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn

ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn

- Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn quá lâu , khả năng trả nợ rất kém, tài sản

thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ỳ

1.2.2 Đặc điểm cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.

- Giá trị các khoản vay của DNVVN thường không lớn.

Do quy mô tài chính còn nhiều hạn chế nên nhu cầu vay vốn phục vụ chohoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN thường ở mức trung bình Trên thực

tế, mức cho vay đối với DNVVN chủ yếu phụ thuộc vào giá trị tài sản thế chấp,đảm bảo và thành phần kinh tế

Về tài sản đảm bảo, các DNVVN có các tài sản giá trị thường rất thấp, hầu hết cóqui mô tài sản nhỏ, DNVVN thường không có đủ tài sản đảm bảo, nhiều tài sản khôngđáp ứng yêu cầu của ngân hàng, đôi khi không chứng minh được quyền sở hữu hợppháp đối với tài sản hay không có người bảo lãnh DNVVN thường gặp vướng mắc vớichính quyền địa phương về các thủ tục đất đai hoặc các mối quan hệ pháp lý khác, tạokhó khăn trong quá trình cung ứng vốn cho các doanh nghiệp này

Về thành phần kinh tế, các NHTM thường ưu ái cho vay đối với các doanhnghiệp nhà nước vì với quan niệm là nếu các doanh nghiệp đó không trả được nợthì sẽ có nhà nước đứng ra trả Do đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước mặc dù có kếtquả kinh doanh kém hơn vẫn được ưu tiên cho vay hơn so với các doanh nghiệpngoài quốc doanh

- Thời hạn vay của các DNVVN thường là ngắn hạn.

Nguồn vốn huy động chủ yếu của các ngân hàng thương mại (NHTM)thường là các khoản tiết kiệm ngắn hạn, do đó thời hạn vay vốn không quá dài củacác DNVVN là hoàn toàn phù hợp, trong khi đó, các NHTM thường cho cácdoanh nghiệp lớn vay trung và dài hạn do các doanh nghiệp này có khả năng đàmphán cao hơn Thời hạn vay của các DNVVN thường ngắn phù hợp với đặc điểmsản xuất kinh doanh: chu kỳ sản xuất không dài, vòng quay vốn nhanh

Mặt khác, các NHTM phải tuân thủ theo tỷ lệ chuyển đổi kì hạn nguồn vốncủa NHNN quy định, hơn thế nữa việc chuyển đổi kì hạn là hết sức rủi ro do đóthời hạn vay của các DNVVN giúp cho cơ cấu vốn của các NHTM hợp lý, tránhrủi ro thanh khoản

Trang 17

- Tổng dư nợ cho vay DNVVN trên tổng dư nợ khá lớn.

DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp, là một thị trườngtiềm năng cho các ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng để phân tán rủi ro.Đối với các NHTM, doanh thu từ hoạt động tín dụng ( trong đó hoạt động cho vaychiếm tỷ trọng chủ yếu ) đặc biệt quan trọng, chiếm trên 60% tổng doanh thu củamỗi ngân hàng, đây được coi là hoạt động chính của mỗi ngân hàng Trong đó, đốitượng khách hàng là DNVVN chiếm tỷ trọng dư nợ của NHTM thường là lớnnhất, là nhóm đối tượng khách hàng luôn khiến các NHTM tranh giành nhau Ngoài ra việc NHTM có quan hệ tín dụng với các DNVVN là cơ hội để cung cấpcác dịch vụ khác như: tư vấn, bảo lãnh, thanh toán, đầu tư, mở L/C, Điều này giúpcho NHTM không chỉ có thu nhập từ lãi mà còn có thêm thu nhập từ phí dịch vụ

- Cho vay DNVVN thường gặp nhiều rủi ro lớn.

Hạch toán tài chính của DNVVN chưa chuyên nghiệp, giấy tờ sổ sách kếtoán thường không rõ ràng, minh bạch, số liệu phản ánh không chính xác tình hìnhsản xuất kinh doanh, tình hình tài chính khiến các ngân hàng khó nắm bắt đượcthực trạng của các doanh nghiệp Điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong quátrình thẩm định, giám sát vốn vay, dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Qui mô các DNVVN nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, trình độ quản lý, trình

độ công nghệ, tay nghề lao động thấp,chính ví thế khi cho các DNVVN vay vốnngân hàng dễ gặp rủi ro khi các doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn, không trả đủgốc và lãi, trì hoãn trả nợ, khi hoạt động sản xuất thua lỗ

1.2.3 Ý nghĩa của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.

1.2.3.1 Đối với ngân hàng thương mại

- Hoạt động cho vay DNVVN trước tiên làm tăng lợi nhuận cho NHTM.

Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của cáctrung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo rathu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất của ngânhàng Hình thức cho vay truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn có tài sảnđảm bảo, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu; sau đó mở rộngthành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằngcác chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp Hiện nay, cácNHTM đã thực hiện đa dạng các hình thức như : cho vay ngắn, trung và dài hạn,

Trang 18

bảo lãnh cho khách, mua các tài sản để cho thuê, Trong đó, hoạt động cho vayđối với DNVVN chiếm một vị trí hàng đầu vì ngoài vị trí đóng góp lợi nhuận vàohiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn có tác động hỗ trợ, mở rộng các dịch vụkhác, tiện ích khác của NHTM, giúp phát triển qui mô lợi nhuận cho ngân hàng.Mặt khác, khi cho vay đối với DNVVN tức là ngân hàng đã tăng cường các mónvay nhỏ và vừa, thời gian thường ngắn và lãi suất thì tương đối cao.

- Mở rộng cho vay đối với DNVVN là giúp NHTM phân tán được rủi ro.

Hiện nay, đi cùng với tốc độ tăng trưởng tín dụng tương đối cao thì cácNHTM cũng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tín dụng lớn Việc NHTM cho vayđối với các DNVVN giúp ngân hàng phân tán rủi ro do số lượng khách hàng làDNVVN lớn, qui mô từng khoản cho vay nhỏ, trải rộng trên hầu hết các ngànhnghề, lĩnh vực kinh doanh nên việc cho vay các đối tượng này sẽ giúp phân tán rủi

ro của danh mục cho vay Ngân hàng thực hiện cho vay nhiều món vay nhỏ đối vớinhiều DNVVN sẽ an toàn hơn khi cho vay món lớn cho số ít doanh nghiệp lớn.Cho nhiều DNVVN vay tức là các ngân hàng đã thực hiện theo nguyên tắc không

bỏ trứng vào một giỏ, từ đó dàn trải được rủi ro

Khi cho vay các doanh nghiệp lớn, do các doanh nghiệp lớn thường tham giaxây dựng các công trình lớn, được tiến hành trong vòng nhiều năm nên tạo ra tìnhtrạng ứ đọng vốn, tỷ trọng nợ quá hạn, nợ xấu khá cao luôn làm các ngân hàngphải lo lắng Tiến hành cho vay DNVVN, ngân hàng sẽ dễ quản lý hơn doDNVVN thường có quy mô nhỏ, gọn, địa bàn hoạt động hẹp Do số lượngDNVVN lớn, lại có mặt tại hầu hết các tỉnh, thành phố, do đó khi cho vayDNVVN sẽ khai thác tối đa mạng lưới chi nhánh rộng khắp của các ngân hàng

- Cho vay đối với DNVVN là hướng tới đối tượng khách hàng tiềm năng.

Với xu hướng phát triển ngày nay thì các DNVVN đang dần đóng một vaitrò hết sức quan trọng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tế Sau đây là các lý

do lý giải tại sao các DNVVN là những đối tượng khách hàng tiềm năng:

* Thứ nhất, tiềm năng thị trường lớn mạnh, các DNVVN chiếm 95% tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động tại các quốc gia phát triển và đang phát triển

* Thứ hai, là đối tượng khách hàng ổn định, hơn 60% các DNVVN khôngthay đổi mối quan hệ với các ngân hàng trong suốt 5 năm qua

* Thứ ba, đối với khách hàng là các DNVVN thì sự thuận tiện quan trọnghơn giá cả

Trang 19

* Thứ tư, giao dịch ngân hàng thông qua máy tính cá nhân, chủ sở hữu cácDNVVN sử dụng máy tính cá nhân nhiều gấp 2 lần các khách hàng tiêu dùngtrung bình

* Thứ năm, các dịch vụ đầu tư được xác định, chủ sở hữu các DNVVN thôngthường khá giả hơn tầng lớp dân cư nói chung, điều này cho phép các ngân hàngđưa ra các dịch vụ đầu tư các nhân dựa trên các mối quan hệ với doanh nghiệp

* Thứ sáu, hầu hết các DNVVN đều cảm thấy rằng các nhu cầu về dịch vụngân hàng của họ chưa được đáp ứng một cách đầy đủ

1.2.3.2 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Khi cho vay đối với các DNVVN tức là ngân hàng đã tạo ra cơ hội được vay vốn của DNVVN được nhiều hơn.

Hiện tại, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của doanh nghiệp vừa nhỏ cònnhiều hạn chế, khó khăn do chưa đáp ứng được yêu cầu về thủ tục và điều kiệnvay vốn Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cảitiến kỹ thuật, thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị đểtồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế, không một doanhnghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vì vậy,khi chính sách cho vay của ngân hàng được mở rộng thông thoáng thì phần nào đó

sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm cơ hội để tiếp cận kênh huy động vốn này Từ

đó, giúp các DNVVN có vốn thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh, các dự

án đầu tư, góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinhdoanh được liên tục Các DNVVN được tăng năng lực tài chính, tăng khả năngcạnh tranh Khi được đáp ứng nhu cầu về vốn, các DNVVN có được nền tảng cơ

sở để phát triển nhanh mạnh hơn

- Góp phần tập trung vốn sản xuất, tăng tính cạnh tranh của các DNVVN.

Cạnh tranh là một qui luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại vàđững vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Do qui

mô nhỏ, vốn ít, năng lực quản lý và trình độ thấp kém nên các DNVVN gặp phảinhiều khó khăn trong cạnh tranh để chiếm lĩnh ưu thế với các doanh nghiệp lớntrong và ngoài nước Do vốn tự có hạn hẹp, khả năng tích lũy lại thấp nên muốn cómột lượng vốn đủ lớn để đầu tư trang kĩ thuật hiện đại, mở rộng sản xuất kinhdoanh thì phải tốn rất nhiều thời gian mới thực hiện được Chỉ có vay vốn từ ngân

Trang 20

hàng mới có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, giúp chodoanh nghiệp thực hiện được mục đích là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh Khi tiếp cận và vay vốn được từ ngân hàng, các DNVVN sẽ thoả mãn được nhucầu vốn, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh,

từ đó tăng tính cạnh tranh trên thị trường

Khi ngân hàng cho vay vốn, để đảm bảo tính an toàn, ngân hàng thườnggiám sát tình hình hoạt động của DNVVN trước và sau khi giải ngân, góp phần tạocho các DNVVN có ý thức hơn trong việc sử dụng vốn đúng mục đích, nỗ lực làm

ăn và quản lý tài chính minh bạch để có khả năng trả nợ và duy trì mối quan hệ tốtvới ngân hàng Từ đó, các DNVVN ngày càng khắc phục được những nhược điểm, phát huy được năng lực, thế mạnh và dần dần tạo được vị thế của mình trênthương thường

- Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Do nhược điểm lớn nhất của DNVVN là thiếu vốn, điều này ảnh hưởng rấtlớn đến khả năng tồn tại và phát triển của mỗi DNVVN Nguồn vốn vay chính làcông cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng là

tổ chức tài chính trong nền kinh tế có khả năng cung cấp những khoản tín dụng vớiqui mô, số lượng, thời hạn, lãi suất, hình thức, đa dạng nhất và được coi là nguồn

có chi phí thấp nhất Do đó, các DNVVN thường có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấuhợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giávốn bình quân rẻ nhất

1.2.3.3 Đối với nền kinh tế

Cho vay DNVVN giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế vì cả cácDNVVN và các NHTM đều là những tế bào của nền kinh tế quốc gia, việc pháttriển qui mô, lợi nhuận và cơ hội phát triển của các tế bào kinh tế này đều gópphần vào tăng trưởng của cả nền kinh tế

Hoạt động cho vay đã cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sảnxuất kinh doanh của các DNVVN Nhờ đó mà các DNVVN có thể đẩy nhanh tốc

độ sản xuất

Một hệ thống các hình thức cho vay đa dạng không những thoả mãn nhu cầu

đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn củangân hàng trở nên dễ dàng hơn, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phíkhác có liên quan cho các DNVVN

Trang 21

Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức cho vay sẽ tạo sự chủ độngcho các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN trong việc thực hiện kế hoạch sảnxuất kinh doanh khi nó đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có củabản thân Điều này giúp cho các DNVVN tích cực tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới

và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội

Các nguồn vốn ngân hàng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tíndụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro tín dụng, buộc những người đi vay trong

đó có các DNVVN phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảomối quan hệ lâu dài với ngân hàng

Hoạt động cho vay đối với DNVVN là kênh chuyển tải tác động của Nhànước đến các mục tiêu vĩ mô Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn địnhgiá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm Việc đảm bảo đạt được mụctiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần lớn vào khối lượng và cơ cấu tíndụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng cho vay Vấn đề này, đến lượt nó,lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như: lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thếchấp, bảo lãnh và chủ trương đẩy mạnh cho vay được quy định trong chính sáchtín dụng từng thời kỳ Như vậy, thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điềukiện cho vay của các NHTM, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng vàchuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổngcầu của cả nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu Sự thay đổi của tổng cầudưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và cácđiều kiện sản xuất khác Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu củachính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết mà Nhànước đã đề ra

Như vậy,việc cho vay đối với DNVVN một mặt thúc đẩy sự phát triển củabản thân các doanh nghiệp, mặt khác nó góp phần làm cho nguồn vốn trong lưuthông được luân chuyển có hiệu quả hơn Hàng năm, các DNVVN đã đóng gópđáng kể vào tổng thu nhập quốc dân, tạo việc làm cho nhiều người lao động ở cảthành thị và nông thôn, và đang có xu hướng gia tăng đóng góp vào nền kinh tếquốc dân theo thời gian

Ngoài ra, hoạt động cho vay đối với các DNVVN khiến các NHTM phát huytối đa năng lực của mình, tăng cường khả năng huy động vốn một cách hợp lý , từ

đó khai thác tối ưu mọi nguồn lực để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của

Trang 22

đất nước bởi vì các NHTM là huyết mạch của nền kinh tế, điều tiết lượng tiền hiệuquả cho nền kinh tế Do đó, phát triển hoạt động của các NHTM cũng phần nàogóp phần phát triển nền kinh tế quốc gia.

1.2.4 Các nhân tố tác động tới hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

1.2.4.1 Từ phía ngân hàng

- Chính sách cho vay của ngân hàng

Mỗi NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách cho vay cụ thể Chínhsách cho vay không chỉ phản ánh chủ trương, định hướng cho vay mà còn tạo ra sựthống nhất chung trong hoạt động cho vay của NHTM nhằm hạn chế rủi ro vànâng cao khả năng sinh lời Thông thường chính sách cho vay có thể là chỉ thịbằng lời của ban lãnh đạo, hoặc là một tập hợp các hành vi, các thông lệ và các tậpquán của NHTM Chính sách cho vay ảnh hưởng đến hoạt động cho vayDNVVN, nội dung của nó thường bao gồm: chính sách khách hàng, chính sáchquy mô và giới hạn cho vay, lãi suất và phí suất cho vay, thời hạn cho vay và kìhạn nợ, các khoản đảm bảo, điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán

Ở Việt Nam, chính sách cho vay ở các NHTM thường được thể hiện dưới dạngvăn bản cụ thể và thông qua đó thì các cán bộ tín dụng thực hiện theo những quy địnhđược đề ra trong đó Chính sách cho vay linh hoạt là nhân tố thúc đẩy cho vay pháttriển bởi vì trước hết, thông qua chính sách cho vay của mỗi NHTM mà các cán bộ tíndụng có cơ sở vững chắc để đảm bảo cho những khoản cho vay an toàn, hiệu quả;mặt khác, nội dung của chính sách cho vay thường được xây dựng phù hợp với đườnglối kinh tế phát triển xã hội của chính phủ và là sự kết hợp hài hoà giữa quyền lợi củaNHTM, của khách hàng gửi tiền và khách hàng vay tiền

- Qui trình cho vay của ngân hàng.

Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với kháchhàng, các NHTM thường đặt ra một qui trình cho vay Quy trình cho vay là tậphợp những quy định cần phải thực hiện trong quá trình thực hiện nghiệp vụ chovay của NHTM từ cấp vốn đến thu nợ Đây là một quá trình bao gồm nhiều giaiđoạn mang tính chất liên hoàn theo một trật tự nhất định, được bắt đầu từ khi điềutra, thẩm định thiết lập hồ sơ, xét duyệt cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình sửdụng vốn vay cho đến khi thu lãi và thu hồi được nợ Đó chính là các bước (hoặc

Trang 23

nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan trong ngânhàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.

Cũng giống như tất cả các khách hàng khác, nếu một ngân hàng có quy trìnhđầy đủ, ngắn gọn, chính xác, thủ tục hành chính không rườm rà, rắc rối thì sẽ thuhút được đối tượng khách hàng là các DNVVN bởi vì sẽ tiết kiệm được nhiều thờigian và chi phí cho cả hai bên Không chỉ thế, với một quy trình đầy đủ, chính xác,NHTM có thể phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm, góp phần ngăn ngừa rủi ro,đảm bảo thu nhập cho ngân hàng

- Qui mô nguồn vốn của ngân hàng

Qui mô vốn của NHTM là điều kiện cần để thực hiện hoạt động cho vay đốivới DNVVN Nguồn vốn thể hiện sức mạnh tài chính của mỗi ngân hàng Ngânhàng có nguồn vốn dồi dào có thể phát triển hoạt động cho vay Phải có một qui

mô vốn lớn thì các NHTM mới đáp ứng được nhu cầu về vốn của các DNVVN,còn những NHTM có quy mô vốn nhỏ sẽ không thể thành công trong phát triểnhoạt động cho vay DNVVN bởi vì qui mô vốn càng nhiều, ngân hàng càng có thểphát triển hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động cho vayđối với DNVVN về qui mô và khối lượng tín dụng, chủ động về thời hạn cũng nhưlãi suất cho vay; còn qui mô hạn hẹp thì không đủ điều kiện để đáp ứng cho cácDNVVN vay vốn, còn nếu cho vay thì sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro như: khảnăng thanh toán, rủi ro phá sản,

Qui mô vốn của NHTM phụ thuộc vào các khoản huy động vốn, vốn chủ sởhữu của ngân hàng, Nguồn vốn huy động bao gồm: tiền gửi giao dịch, tiền gửiphi giao dịch, tiền đi vay, vốn tự có của ngân hàng Nhìn chung, kết quả hoạt độnghuy động vốn có tác động rất lớn đến hoạt động cho vay đối với DNVVN

- Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ ngân hàng.

Nhân tố con người là nhân tố quyết định đóng góp sự thành công trong mọihoạt động của NHTM Chất lượng nhân sự có liên quan tới mọi mặt hoạt động củangân hàng trong đó có hoạt động cho vay DNVVN Hoạt động của các ngân hàng

có nhiều nét tương đồng nhau, tựu chung trong hoạt động huy động vốn, sử dụngvốn và các dịch vụ ngân hàng được pháp luật cho phép, tuy nhiên mỗi ngân hànglại mang những nét khác biệt riêng về đội ngũ cán bộ nhân viên và văn hoá ngânhàng Nét đặc trưng này được thể hiện rõ nét ở hoạt động cho vay, hoạt động màcán bộ tín dụng giao dịch trực tiếp với khách hàng, thường xuyên hoạt động với

Trang 24

khách hàng Có thể nói cán bộ tín dụng giữ một vai trò quyết định trong hoạt độngcho vay của NHTM Phong cách làm việc, tác phong đạo đức tốt, năng động sángtạo, linh hoạt, nhạy bén, thái độ phục vụ khách hàng tận tình, là những yếu tố thuhút tâm lý khách hàng, trong đó có các DNVVN Các cán bộ tín dụng giỏi chuyênmôn nghiệp vụ, có khả năng phân tích, giám sát khách hàng để đảm bảo chấtlượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng không gặp phải những rủi ro khi cho vay Do đó,các ngân hàng đã luôn chú ý đến đời sống vật chất, tinh thần của các nhân viên,chú ý đến công tác tuyển dụng và đào tạo dạy nghề, tạo môi trường làm việc thuậnlợi cho nhân viên, khuyến khích khả năng sáng tạo, giáo dục và bồi dưỡng tư cáchđạo đức, sắp xếp bộ máy hợp lý và khoa học.

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ của ngân hàng.

Công nghệ là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng lớn tới sự pháttriển hoạt động cho vay DNVVN của NHTM Những thay đổi và tiến bộ của côngnghệ ứng dụng vào ngân hàng cho phép ngân hàng đổi mới trong tất cả các hoạtđộng nói chung và đặc biệt là phát triển hoạt động cho vay DNVVN Sự phát triểncủa công nghệ thông tin và công nghệ mạng vào ngành ngân hàng đã tạo ra mộtcuộc cách mạng công nghệ trong ngành ngân hàng Nó đòi hỏi các ngân hàng đổimới và hoàn thiện danh mục sản phẩm dịch vụ và cung ứng ra thị trường một loạtcác sản phẩm dịch vụ trên cơ sở công nghệ hiện đại như chuyển tiền điện tử, ngânhàng tự động, máy thanh toán tiền POS, , đáp ứng các nhu cầu khác nhau củakhách hàng trong đó có các DNVVN

Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành ngân hàng góp phần đẩynhanh tốc độ xử lý dữ liệu, giảm khối lượng công việc cho cán bộ nhân viên, tạođiều kiện thuận lợi cho công tác tập hợp thông tin, thu hút khách hàng, phục vụ kịpthời nhanh chóng mọi nhu cầu của khách hàng, tạo tâm lý thoải mái cho kháchhàng khi giao dịch Do đó, các ngân hàng không ngừng đổi mới công nghệ, mộtmặt để tạo dựng hình ảnh, uy tín trong lòng khách hàng, mặt khác để cạnh tranhvới các ngân hàng đối thủ

- Hệ thống mạng lưới, chi nhánh của ngân hàng.

Để đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng đòi hỏi cácngân hàng phải hoạch định được chiến lược phân phối phù hợp để đưa sản phẩmdịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng một cách tốt nhất Kênh phân phối làcông cụ trực tiếp đưa sản phẩm của ngân hàng đến với khách hàng, do đo đóng

Trang 25

một vai trò vô cùng quan trọng Ngay từ ban đầu, phần lớn các ngân hàng đã sửdụng mạng lưới chi nhánh để thực hiện việc phân phối sản phẩm, dịch vụ.

Chi nhánh là loại kênh truyền thống gắn với các trụ sở và hệ thống cơ sở vậtchất tại những địa điểm nhất định Đặc biệt là việc cung ứng sản phẩm dịch vụngân hàng chủ yếu thực hiện bằng lao động thủ công của đội ngũ nhân viên ngânhàng Vì vậy, sử dụng loại kênh phân phối này thường đòi hỏi phải có đội ngũnhân viên đông và khách hàng đến giao dịch trực tiếp tại trụ sở hoặc quầy giaodịch của chi nhánh Do đó, để bán được nhiều sản phẩm dịch vụ và chiếm lĩnhđược thị phần lớn, các NHTM thường phát triển mạng lưới chi nhánh rộng khắp vàluôn sẵn sàng cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng

Hệ thống mạng lưới, chi nhánh hoạt động rộng khắp, cơ sở vật chất hiện đạikhông chỉ giúp ngân hàng tiếp cận được với nhiều khách hàng hơn mà còn gópphần nâng cao hiệu quả quảng bá và khẳng định thương hiệu của ngân hàng Đây

là cơ sở để ngân hàng phát triển các hoạt động cho vay trong đó có cho vayDNVVN

1.2.4.2 Từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Nhu cầu vay vốn của DNVVN.

Đây là nhân tố quyết định sự thành công của hoạt động cho vay DNVVN Đểthực hiện được hoạt động cho vay đối với DNVVN thì NHTM phải có cầu vốnvay từ các DNVVN Cho dù ngân hàng đổi mới chính sách, quy trình và thủ tụccho vay thông thoáng hơn mà các DNVVN không có nhu cầu vay vốn thì hoạtđộng cho vay cũng không thể thực hiện được Nhu cầu vay vốn của các DNVVN

là để đầu từ đổi mới công nghệ, trang thiết bị vật tư, để phát triển nguồn nhânlực, Các hoạt động này đều phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh

- Khả năng tài chính, khả năng trả nợ của DNVVN.

Năng lực tài chính là yếu tố hàng đầu ngân hàng xem xét khi quyết định chovay với các DNVVN Năng lực tài chính được thể hiện ở khả năng độc lập tự chủtài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và trả nợ của khách hàng Ngânhàng sẽ chỉ cho khách hàng vay khi khách hàng chứng tỏ được khả năng tài chính

và khả năng trả nợ cho ngân hàng Năng lực tài chính thể hiện ở vốn tự có và tỷ lệvốn tự có trong tổng tổng nguồn vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng Doanhnghiệp có năng lực tài chính tốt phản ánh việc kinh doanh có hiệu quả và quản lý

Trang 26

vốn vay một cách tối ưu Khả năng tài chính, khả năng trả nợ của DNVVN là điềukiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay của NHTM

NHTM chỉ cho vay đối với những DNVVN đạt yêu cầu do đó khả năng tàichính, khả năng trả nợ của các DNVVN là yếu tố quan trọng quyết định đến sựthành công của hoạt động cho vay Tuy nhiên, vấn đề tài chính của các DNVVNcòn nhiều bất cập, gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình thẩm đinh, đánhgiá về năng lực tài chính và khả năng trả nợ thực sự của doanh nghiệp

- Năng lực quản lý của doanh nghiệp.

Năng lực quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng quản lý điều hành của bộmáy và trình độ của cán bộ quản lý Một doanh nghiệp có bộ máy quản lý tốt, các chủdoanh nghiệp thông minh, nhanh nhẹn, linh hoạt điều hành doanh nghiệp của mình điđúng hướng, đưa ra những quyết định chính xác, kết quả kinh doanh có lãi tạo ra thunhập cho doanh nghiệp và nguồn trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Do đó, đây là mộtnhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNVVN của NHTM

- Tài sản đảm bảo của các khoản vay.

Ngay từ đầu, tất cả các khoản cho vay phải có 2 phương án trả nợ tách biệt

Vì vậy, tài sản đảm bảo là một đòi hỏi của ngân hàng để đáp ứng cho nguồn trả nợthứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không được đảm bảo Nó mang tính chất dựphòng, ngăn ngừa rủi ro và làm tăng tính an toàn của khoản vay đó Giá trị tài sảnđảm bảo ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà khách hàng được vay, vì theo quyđịnh thì các ngân hàng chỉ được phép cho vay không quá 70% giá trị tài sản đảmbảo Khi các doanh nghiệp không sử dụng hợp lý, hiệu quả vốn vay, làm ăn thua lỗ

họ sẽ mất tài sản đảm bảo Khi cho các DNVVN vay vốn, các ngân hàng thườngxem xét quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp với các tài sản đảm bảo, nếucác doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện về tài sản đảm bảo thì hoạt độngcho vay của ngân hàng đối với các DNVVN khó thực hiện được

1.2.4.3 Từ phía môi trường bên ngoài.

- Môi trường kinh tế - chính trị

Tình hình và sự thay đổi của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế có tác động

to lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nóiriêng Môi trường kinh tế vừa tạo cho ngân hàng những cơ hội kinh doanh, đồngthời cũng tạo ra cả những thách thức đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trang 27

Môi trường kinh tế có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử dụng sảnphẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng Do vậy, mọi biến động của nền kinh tế

sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng trong đó có hoạt động cho vayđối với DNVVN Họat động cho vay của ngân hàng trong đó bao gồm cả cho vayđối với các DNVVN phụ thuộc rất nhiều vào tình hình của nền kinh tế trong nước,khu vực và toàn cầu: phát triển, suy thoái hay khủng hoảng

Khi nền kinh tế trong nước rơi vào suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát vàthất nghiệp tăng cao, hoạt động của các doanh nghiệp sụt giảm thì nhu cầu đối vớicác sản phẩm tài chính cũng suy giảm Ngược lại, khi nền kinh tế trong nước đangtrong giai đoạn tăng trưởng, các biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt để ngân hàng đẩymạnh hoạt động cho vay trong đó có cho vay đối với các DNVVN

Tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động ngânhàng của từng quốc gia Xu hướng toàn cầu hoá với phát triển của thương mạiquốc tế và sự di chuyển tự do hơn của các dòng vốn quốc tế làm cho hoạt độngkinh doanh ngân hàng cũng có những thay đổi mạnh mẽ

Nhân tố chính trị cũng ảnh hưởng tới hoạt động cho vay DNVVN của cácNHTM Một đất nước với tình hình chính trị ổn định, không có sự biến động,không có chiến tranh, là điều kiện để phát triển kinh tế đất nước, ở đó, cácDNVVN yên tâm sản xuất kinh doanh từ đó mới tăng nhu cầu vay vốn ngân hàng.Tình chính chính trị có ảnh hưởng tới tình hình huy động, cho vay và đầu tư vốncủa ngân hàng, đây là nhân tố ảnh hưởng tới nguồn vốn phục vụ cho hoạt độngcho vay DNVVN của NHTM

- Môi trường văn hoá – xã hội

Hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phốikhá nhiều bởi các yếu tố văn hoá Những hành động trái với truyền thống văn hoáthường khó được chấp nhận Hành vi tiêu dùng bị chi phối bởi các yếu tố văn hoá,

do đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Môi trường văn hoá – xã hội tác động đến việc huy động vốn của ngân hàng,

từ đó tác động tới hoạt động cho vay DNVVN của các NHTM Trong nguồn vốnhuy động được của NHTM thì nguồn tiền gửi và nguồn đi vay chiếm tỷ trọng lớn.Môi trường văn hoá – xã hội tác động đến việc huy động vốn ở các khía cạnh sau:

Trang 28

* Tập quán và nhu cầu tiêu dùng của dân cư: những dịp lễ tết khả năng chitiêu của người dân tăng lên do đó nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của cácdoanh nghiệp có xu hướng giảm.

* Trình độ dân trí: nếu trình độ dân trí cao sẽ là nền tảng để phát triển kinh tế, xãhội của đất nước, đời sống của người dân được cải thiện, thu nhập của người dân caolên, chi tiêu dư thừa, do đó khả năng gửi tiền vào ngân hàng cũng tăng lên

Ngoài ra, môi trường văn hoá- xã hội sẽ tác động đến tư cách đạo đức của chủdoanh nghiệp, từ đó tác động đến mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp Chủdoanh nghiệp là người có phẩm chất đạo đức là điều kiện để ngân hàng tin tưởng vàodoanh nghiệp, tạo nên mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng

- Môi trường pháp lí

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của ngânhàng nói chung và hoạt động cho vay DNVVN nói riêng Kinh doanh ngân hàng làmột trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của luật pháp và các

cơ quan chức năng của Chính phủ Hoạt động của các ngân hàng thường đượcđiều chỉnh rất chặt chẽ bởi các quy định pháp luật Mọi chế độ, quy chế cho vaycủa ngân hàng phải gắn chặt với các quy định của pháp luật Nhà nước Ngân hàngphải căn cứ vào các quy định của pháp luật để hoạt động Môi trường pháp lý đồng

bộ, minh bạch, rõ ràng, không chồng chéo, các thông tư, hướng dẫn cụ thể, phùhợp với môi trường kinh tế và theo hướng hỗ trợ hoạt động cho vay DNVVN củaNHTM thì sẽ càng khuyến khích hoạt động này phát triển Ngân hàng phải thườngxuyên nắm được những thay đổi của các quy định pháp luật để chủ động kinhdoanh cho phù hợp với những quy định mới Do đó, môi trường pháp lý trongnước là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay DNVVN của NHTM

- Môi trường khoa học - công nghệ

Sự thay đổi về công nghệ có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế và xã hội Nólàm thay đổi phương thức sản xuất, cách thức tiêu dùng và cả phương thức trao đổicủa xã hội nói chung cũng như của ngân hàng nói riêng Phương thức trao đổi giữakhách hàng và ngân hàng rất nhạy cảm với các tiến bộ công nghệ đặc biệt là côngnghệ thông tin Ngân hàng là một trong những ngành rất quan tâm tới việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh Ngày nay, hoạt động của ngân hàngkhông thể tách rời khỏi sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin

Trang 29

Trên thực tế, những thay đổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽtới hoạt động kinh doanh ngân hàng Công nghệ mới không chỉ cho phép ngânhàng đổi mới quy trình nghiệp vụ mà còn đổi mới cả cách thức phân phối, pháttriển sản phẩm dịch vụ Những thay đổi công nghệ vừa tác động mạnh mẽ tớiphương thức sản xuất của các ngành sản xuất, vừa tác động tới cách thức sử dụngsản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa tạo ra những nhu cầu, đòi hỏi mới về sản phẩmdịch vụ ngân hàng.

Môi trường kỹ thuật công nghệ bao hàm những nguồn lực có ảnh hưởng đếnkhả năng sáng tạo và những sản phẩm dịch vụ mới và cả kỹ thuật liên lạc giữangân hàng và khách hàng nhằm khai thác những cơ hội của thị trường để đưa ranhững chính sách phù hợp Thái độ của khách hàng đối với một ngân hàng còn tuỳthuộc rất lớn vào những kỹ thuật mà ngân hàng sử dụng và mức độ mà ngân hàngthoả mãn cho những nhu cầu và mong muốn của khách hàng

Quá trình tự động hoá các dịch vụ ngân hàng giúp ngân hàng mở rộng khônggiới hạn về không gian, thời gian và các dịch vụ ngân hàng mới, đem lại chokhách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích là xu hướng được xác định trong kinhdoanh ngân hàng hiện đại

Trong nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng sâu sắc,bên cạnh đó, môi trường công nghệ ngày càng phát triển, đứng trước tình cảnh đó,

để đương đầu với các đối thủ khác, các doanh nghiệp buộc phải đầu tư máy móctrang thiết bị hiện đại để tăng tính cạnh tranh bởi công nghệ là một nhân tố quantrọng đẩy mạnh hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của các DNVVN Tuynhiên, do nguồn vốn hạn hẹp, để có thể đổi mới công nghệ thì nguồn vốn vay ngânhàng trở nên quan trọng đối với các DNVVN Nhu cầu vay vốn của DNVVNchính là nhân tố thúc đẩy hoạt động cho vay của NHTM đối với DNVVN

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG TMCP

PHƯƠNG NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh Hà Nội 2.1.1 Sự ra đời và phát triển của ngân hàng TMCP Phương Nam

NHTM cổ phần Phương Nam với hơn 16 năm hoạt động kể từ khi bắt đầuthành lập (19/05/1993) đến nay đã có những bước tiến vững chắc, đã và đangkhẳng định vị thế của mình trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy gặp nhiềukhó khăn khi mới thành lập, tập thể cán bộ nhân viên của ngân hàng đã dốc sứcđưa ngân hàng từ một ngân hàng nhỏ với số vốn điều lệ khiêm tốn 10 tỷ đồng của

38 cổ đông trở thành một ngân hàng đã và đang có một vị trí nhất định trong hệthống ngân hàng Việt Nam, có cơ sở hạ tầng khang trang và đội ngũ cán bộ côngnhân viên năng động và có trình độ chuyên môn cao Năm đầu tiên hoạt động,ngân hàng đã thu được kết quả:

Tổng vốn huy động : 31,2 tỷ đồng

Dư nợ cho vay : 21,6 tỷ đồng

Lợi nhuận : 258 triệu đồng

Southern Bank đã tiến hành sáp nhập các Ngân hàng và các tổ chức tín dụngtrong giai đoạn 1997 – 2003 :

- Sát nhập Ngân hàng và một quỹ tín dụng NHTM cổ phần Đồng Tháp năm 1997

- Sát nhập NHTM cổ phần Đại Nam năm 1999

- Mua lại quĩ tín dụng nhân dân Định Công, Thanh Trì Hà Nội năm 2000

- Sát nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Châu Phú năm 2001

- Sát nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Cái Sắn năm 2003

- Mạng lưới hoạt động được phát triển rộng tại thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội, Cần Thơ, An Giang, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Bình Thuận

- Trước khi sát nhập, ngân hàng chỉ có 1 hội sở chính và 1 chi nhánh, đến nay mạng lưới hoạt động với 84 chi nhánh và các phòng giao dịch và các đơn

vị trực thuộc trên toàn quốc

Trang 31

- Hội sở chính đặt tại: 279 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11

- Đến cuối tháng 12/2005 vốn điều lệ của ngân hàng đạt 58042 tỷ đồng tổng tài sản có đạt 6.497 tỷ đồng; tổn huy động đạt 5.579 tỷ đồng; tỷ lệ nợ xấu dưới 1,59%

- Nợ quá hạn ròng luôn dưới mức cho phép; lập quỹ dự phòng rủi ro đầy

đủ theo quy định

- Mở rộng mạng lưới hoạt động đến những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước; tăng lợi tức cho cổ đông

- Đảm bảo lợi ích cho người lao động

- Tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên

- Tổng số cán bộ công nhân viên trên toàn hệ thống đạt gần 1191 người, trong đó trình độ trên đại học, đại học và cao đẳng chiếm trên 93%

- Thực hiện tốt nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa, từ thiện xã hội

- Thực hiện xây dựng trụ sở chính khang trang và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm phục vụ khách hàng tốt hơn tạo nền tảng phát triển vững mạnh trong tương lai

- Hiện nay ngân hàng TMCP Phương Nam đã là ngân hàng có số vốn điều

2.1.2 Tổng quan về chi nhánh Hà Nội.

2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh Hà Nội.

Nhằm mục đích mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động để phục vụ kháchhàng, đưa hoạt động ngân hàng đến với địa bàn dân cư, vùng kinh tế, tạo điều kiệntốt nhất để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế, xã hội, đồng thờiphát triển quy mô hoạt động tạo lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh daonh cho

Trang 32

ngân hàng TMCP Phương Nam, tháng 11 năm 2001, chi nhánh Hà Nội đã đượcthành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1384/QĐ-NHNN về việc chophép ngân hàng TMCP Phương Nam mua lại quỹ tín dụng nhân dân xã Định Công

và đặt chi nhánh tại Hà Nội Trụ sở chính của chi nhánh đặt tại số 115 Trần HưngĐạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội với tên gọi ngân hàng TMCP Phương Nam – Chi nhánhcấp I Hà Nội

Ngày 14/11/2008 Sở Giao Dịch II ra đời và trở thành đơn vị chủ quản, quản

lý các đơn vị tại khu vực phía Bắc

Ngày 26/3/2008 Phòng giao dịch Hoàn Kiếm đi vào hoạt động Đến nay chinhánh đã chuyển trụ sở chính đến địa điểm mới tại số 27 Hàng Bài, Quận HoànKiếm, Hà Nội, chuyển chi nhánh cũ tại 115 Trần Hưng Đạo thành chi nhánh HoànKiếm

Các sản phẩm chính:

* Sản phẩm cá nhân:

- Sản phẩm cho vay: cho vay mua nhà, sinh hoạt tiêu dùng, trả góp mua xehơi, hỗ trợ du học, sửa chữa xây dựng nhà ở, mua chuyển nhượng nhà ở, đất ở, sảnxuất kinh doanh dịch vụ, cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá, cầm cố cổ phiếu

- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn bằng VNĐ, bằng ngoại

tệ, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn bằng vàng, VNĐ

- Tiền gửi thanh toán bằng VNĐ, ngoại tệ

- Dịch vụ chuyển tiền: chuyển tiền trong nước, chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam

* Sản phẩm doanh nghiệp:

- Dịch vụ bảo lãnh trong nước, bảo lãnh nước ngoài

- Dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài, chuyển tiền trong nước

- Dịch vụ tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn

- Sản phẩm cho vay: Vay ngắn hạn, vay theo hạn mức tín dụng, vay theo mứctín dụng dự phòng, vay theo dự án đầu tư, tài trợ xuất nhập khẩu

- Thanh toán quốc tế: tín dụng chứng từ, nhờ thu kèm chứng từ

- Chi trả lương qua tài khoản

* Ngân hàng trong tầm tay:

Trang 33

- Gồm bộ 3 dịch vụ: Phone Banking, Mobile Banking, Internet Banking; hệthống thông tin ngân hàng của chi nhánh sẽ luôn nằm trong tầm tay của bạn, giúpbạn luôn làm chủ nguồn thông tin tài chính quý giá của mình.

* Sản phẩm khác: thẻ ATM, dịch vụ trung gian, thanh toán mua bất động sản

dịch vụ Western Union, cho thuê ngăn tủ sắt

Chi nhánh sử dụng công nghệ Core Banking System (CBS) – đây là 1 mộtcông nghệ giúp hệ thống thông tin của chi nhánh luôn online trên toàn hệ thống và

là thành viên của hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng trên toàn thế giới –SWIFT (society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication) bảo đảmdịch vụ chuyển tiền và thanh toán quốc tế trên toàn cầu

2.1.2.2 Bộ máy tổ chức của ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh

Phòng ngân quỹ: 08 người

Phòng kinh doanh: 08 người

Phòng thanh toán quốc tế: 03 người

Phòng hành chính - tổ chức: 01 người

Bộ phận kiểm soát tại khu vực phía Bắc: 02 người

Bộ phận bảo vệ và lái xe: 06 người

Trang 34

Biểu đồ 1: Sơ đồ tổ chức ngân hàng TMCP Phương Nam

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Phương

Nam – chi nhánh Hà Nội

Mặc dù mới được thành lập không lâu nhưng chi nhánh đã đạt được những

thành tựu đáng kể trong toàn hệ thống ngân hàng Phương Nam Trên địa bàn Hà

Nội có rất nhiều ngân hàng hoạt động, trong đó bao gồm cả các ngân hàng quốc

doanh, ngân hàng TMCP, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Với số lượng lớn nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng như vậy, khách hàng có rất nhiều

sự lựa chọn, nếu ngân hàng nào phục vụ khách hàng tốt, sẽ giữ được quan hệ giao

dịch với khách hàng truyền thống và thu hút thêm được nhiều khách hàng mới, mở

rộng thị phần và ngược lại, nếu ngân hàng phục vụ với chất lượng kém, khách hàng

sẽ dễ dàng tìm đến một ngân hàng đối tác khác Tuy nhiên, địa bàn mà chi nhánh

hoạt động là nơi tập trung đông dân cư và là trung tâm công nghiệp, thương mại và

dịch vụ nên chi nhánh đã sớm tạo lập được nhiều mối quan hệ giao dịch với khách

hàng là các công ty, doanh nghiệp và khách hàng cá nhân trên địa bàn

Phòng

nguồn

vốn

Phòng kinhdoanh

Phòng thanh toán quốc tế

Phòng

kế toán- ngân quỹ

Phòng hành chính -

tổ chức

Phòng công nghệ thông tin

Phó giám đốc (phụ trách kinh doanh)Giám đốc

Trang 35

Chi nhánh đã xác định cho mình cách thức cũng như chất lượng huy độngvốn nhanh và ổn định, đáp ứng các yêu cầu khách hàng cũng như định hướng kinh

tế của Nhà nước Các hình thức huy động vốn chủ yếu trong thời gian qua là nhậntiền gửi tiết kiệm, nhận tiền gửi của tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu, hối phiếu.Với sự lãnh đạo, dẫn dắt tài tình của ban lãnh đạo, chi nhánh đã và đang từng bướchoàn thiện mình để khẳng định chỗ đứng trên thị trường Trong những năm vừa qua, chi nhánh đã chứng tỏ năng lực hoạt động của mình và đem lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng

2.1.3.1 Tình hình huy động vốn.

Chi nhánh thực hiện hoạt động huy động vốn chủ yếu trong khu vực dân cư,chi nhánh đã tận dụng được ưu thế về địa bàn và mạng lưới tiết kiệm cùng đội ngũcán bộ giàu kinh nghiệm để tăng số dư tiền gửi của dân cư một cách ổn định vàchắc chắn Với hai chi nhánh cấp 2 và hai phòng giao dịch trải đều trên địa bàndân cư, đồng thời với phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình, chu đáo vàđúng quy trình của đội ngũ cán bộ nhân viên cũng như áp dụng hệ thống máy mócthiết bị hiện đại vào giao dịch đã tạo được tâm lý thoải mái và tin tưởng của kháchhàng, làm cho lượng khách hàng đến giao dịch ngày càng đông Bên cạnh việc huyđộng vốn trong dân cư, chi nhánh cũng tăng cường huy động từ các doanh nghiệp,các tổ chức trong nền kinh tế Chúng ta có thể thấy trong bảng sau: ổn định và pháttriển không ngừng, từ đó tạo sự ổn định về tỷ giá giữa đồng tiền trong nước và cácđồng tiền khác (đặc biệt là đối với đồng USD) tạo ra tâm lý an toàn cho kháchhàng khi gửi tiền bằng USD

Để có được những thành công trên, cùng với ban lãnh đạo và sự phối hợpchặt chẽ giữa các phòng ban khác, cán bộ nhân viên phòng nguồn vốn đã có nhữngchính sách, chiến lược về lãi suất huy động, các loại hình huy động, loại tiền huyđộng, , phù hợp trong từng thời kỳ, song song với việc ngày càng hoàn thiện vềphong cách giao tiếp văn minh, lịch sự, tận tình với khách hàng, luôn luôn làm vừalòng khách đến và vui lòng khách đi

Huy động là khâu quan trọng nhằm duy trì sự hoạt động và phát triển củangân hàng bởi vì nếu không có vốn thì ngân hàng không thể tiến hành hoạt độngcho vay Vì thế trong những năm vừa qua chi nhánh đã không ngừng chú trọngphát triển hoạt động này và đã thu được kết quả khá khả quan

Trang 36

Bảng 1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh

Đơn vị: tỷ đồngChỉ

tiêu

Trong cơ cấu tiền gửi tiết kiệm thì việc huy động tiền tiết kiệm có kỳ hạn vẫnchiếm phần lớn trong tổng lượng tiền gửi Điều này có thể giải thích do chi nhánhnằm trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, nơi tập trung nhiều khu dân cư lớn, thêm vào

đó những năm gần đây nền kinh tế của đất nước khá cao và ổn định, hơn nữa lưu

Trang 37

lượng khách hàng đến giao dịch đông, lãi suất huy động mang tính cạnh tranh vớicác ngân hàng khác trên cùng địa bàn

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế nói trên thì quận Hoàn Kiếm không phải

là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh lớn Cácchủ thể kinh doanh trên địa bàn chủ yếu là các hộ kinh doanh cá thể, các công ty

cổ phần, với quy mô về vốn và bộ máy tổ chức thuộc loại vừa và nhỏ Họ giaodịch với chi nhánh thường bằng tiền mặt, một số giao dịch bằng việc mở tài khoản,chính vì điều này lượng tiền gửi của các tổ chức kinh tế không cao

Năm 2009, chi nhánh đã làm tốt công tác tuyên truyền, các đợt chăm sóckhách hàng, các đợt khuyến mãi, quảng cáo, tiếp thị đối với khách hàng gửi tiền,

và các tổ chức kinh tế - xã hội Chi nhánh cũng đang cố gắng tạo dựng uy tín hơnnữa trên thị trường cùng với sự lớn mạnh của đất nước

Để có được những thành công trên, cùng với ban lãnh đạo và sự phối hợpchặt chẽ với các phòng ban khác, cán bộ phòng kinh doanh đã có những chínhsách, chiến lược về lãi suất huy động, các loại hình huy động, loại tiền huyđộng, , phù hợp trong từng thời kỳ

2.1.3.2 Tình hình sử dụng vốn.

Như chúng ta đã biết ngân hàng là một trung gian tài chính với chức năng cơbản là kết nối những người thiếu vốn và những người thừa vốn, nguồn thu của chinhánh chủ yếu có được từ các hoạt động tín dụng, vì vậy đây là hoạt động hết sứcquan trọng của chi nhánh do đó, chi nhánh trong những năm qua cũng đã chútrọng phát triển hoạt động tín dụng theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm đạt tớimục tiêu chung của ngân hàng là “Phát triển, an toàn và hiệu quả” Những nỗ lực

đó mang lại hiệu quả thực tế cho chi nhánh, cụ thể là doanh số cho vay qua cácnăm của chi nhánh đã liên tục tăng lên, đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn, có thểthấy trong bảng sau:

Trang 38

nợ, giảm 0,3 tỷ đồng so với năm 2008.

Cơ cấu giữa cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn được điều chỉnh tích cựcphù hợp với định hướng của chi nhánh Dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm 60% tổng

dư nợ, dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm 40% tổng dư nợ

Cũng qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng có chiều hướng giảm đi, phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng ngày một tốt hơn

2.1.3.3 Tình hình thu nhập

Trong tình hình kinh tế thị trường mấy năm trở lại đây ngày một phát triển,

sự xuất hiện của các ngân hàng mới ngày càng nhiều, tạo nên nhiều sức cạnh tranhhơn nữa đối với toàn hệ thống ngân hàng trong nước nói chung và ngân hàngTMCP Phương Nam nói riêng Có không ít doanh nghiệp phá sản, không có khảnăng tài chính trả nợ, ảnh hưởng đến nguồn thu của các ngân hàng Vì vậy, chinhánh ngày càng thận trọng trong việc cho vay và quản lý vốn vay

Bảng 3: Tình hình thu nhập của chi nhánh

Trang 39

Đơn vị: tỷ đồngTài

khoản

Qua đây nhận thấy thu nhập chính của chi nhánh gồm các khoản thu khác vàthu lãi tiền vay và tiền gửi, thu dịch vụ thanh toán Đây là những chỉ tiêu có ảnhhưởng lớn tới lợi nhuận của chi nhánh Do đó cần phải có những biện pháp thiếtthực hữu hiệu để tăng nguồn vốn này một cách có hiệu quả nhất

2.1.3.4 Tình hình chi phí

Đối với ngân hàng TMCP Phương Nam – chi nhánh Hà Nội chi phí mangđặc điểm riêng so với các ngân hàng khác, các khoản chi phí chủ yếu được thựchiện là chi lãi tiền gửi và tiền vay của các tổ chức kinh tế hay tổ chức tín dụngkhác, chi cho công tác tổ chức, quản lý Việc quản lý chi phí trong mỗi ngân hàngkhá là quan trọng, nó là yếu tố quyết định đến sự phát triển của ngân hàng đó trongcông cuộc đổi mới hiện nay

Trang 40

Bảng 4: Tình hình chi phí của chi nhánh

Đơn vị: tỷ đồng

Ngày đăng: 07/09/2017, 07:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS.Phan Thị Thu Hà, giáo trình ngân hàng thương mại, 2007 Khác
2. Luận văn khoa ngân hàng tài chính các khoá 45,46,47 trường đại học kinh tế quốc dân Khác
3. Sổ tay tín dụng ngân hàng TMCP Phương Nam Khác
4. Báo cáo thường niên của ngân hàng TMCP Phương Nam các năm 2007, 2008, 2009 Khác
5. Tạp chí ngân hàng, thị trường tài chính tiền tệ, tài chính doanh nghiệp các số 2007,2008,2009 Khác
7. Trang web http:// www.phuongnambank.com.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w