Hoạt động tín dụng mạnh mẽ là một kênh giúp cho nền kinh tế có nguồn vốn dồi dào để đầu tư, phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu dịch vụ đời sống, làm đầ
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế nước
ta đã và đang hội nhập với nền kinh tế thế giới, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa nước ta trở thành nước phát triển, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Góp phần không nhỏ vào tiến trình phát triển của đất nước, hệ thống ngân hàng có nhiệm vụ huy động vốn và cung cấp các dịch vụ tiền tệ tín dụng cho xã hội, cho nền kinh tế.Do vậy sự phát triển của nền kinh tế không thể thiếu vai trò của hoạt động tiền tệ tín dụng ngân hàng Hoạt động tín dụng mạnh mẽ là một kênh giúp cho nền kinh tế có nguồn vốn dồi dào để đầu tư, phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu dịch vụ đời sống, làm đầu mối trung gian nhằm điều hòa cung cầu tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội.Vì thế hoạt động cho vay huy động vốn là một nghiệp vụ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng thương mại
Hiện nay theo số liệu thống kê tính đến cuối năm 2010 số doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trong cả nước Đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ vào GDP chiếm tỉ trọng khá cao – trung bình khoảng 40-60%/năm.Các doanh nghiệp này giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, trong tương lai nó sẽ là đối tượng cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng Nhưng do một số vấn đề hạn chế mà việc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại nhiều nơi vẫn còn chưa được mở rộng Do vậy vấn đề đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
sẽ giúp cho các doanh nghiệp này có điều kiện tốt hơn để phát triển kinh doanh đồng thời cũng giúp cho Ngân hàng mở rộng hơn trong lĩnh vực tín dụng của mình Nhận thức được sự phát triển và tiềm năng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân Hàng TMCP ĐẠI TÍN đã có chủ trương mở rộng cho vay sang khu vực doanh nghiệp này với mục đích mở rộng thị phần, tăng trưởng tín dụng và cung cấp dịch
vụ để thu phí
Trang 3Với những vấn đề nêu trên cùng với quá trình thực tập tại NHTM CP ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội “GẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI”
là đề tài được chọn nghiên cứu trong quá trình thực tập Qua đề tài này em tìm hiểu , tổng hợp lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài và nghiên cứu thực trạng mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngận Hàng TMCP ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI bằng việc tìm hiểu tài liệu và thu thập số liệu hoạt động của chi nhánh
Cấu trúc đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm về ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, tổng tài sản của NHTM luôn luôn có khối lượng lớn nhất trong toàn
bộ nền kinh tế ngân hàng Mặt khác, khối lượng séc hay tiền gửi không kỳ hạn mà nó
có thể tạo ra chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cung tiền trrj M1 của cả nền kinh tế
Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM :
Ở Hoa Kỳ: NHTM là công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sỡ nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệ vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Việt Nam theo sắc lệnh số 18CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng: NHTM là mọi xí nghiệp công hay tư laapjkeer cả chi nhánh hay phân cục ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường xuyên là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với tiền ký thác của tư nhân hay xí nghiệp hay cơ quan công quyền
Theo Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước xác định”ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán” Qua những khái niệm trên có thể rút ra một số điểm đặc trưng của Ngân hàng thương mại như sau:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả
Trang 5 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
Cần phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng khác:
•Vào cuối thập niên 60, điểm đặc thù để phân biệt ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung gian khác đó là ngân hàng thương mại là đơn vị duy nhất được phép mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho công chúng điều này có nghĩa là người ta phân biệt nó dựa trên các thành phần của tài sản Nợ Vào lúc này tiền gửi không kỳ hạn bị cấm trả lãi, tuy nhiên vì nhu ầu giao dịch thông qua Séc vẫn tăng gấp đôi hàng năm, do đó khối lượng sộ phát hành từ tài khoản gửi không kỳ hạn tiếp tục tăng mạnh sau bộ phận tiền mặt pháp định,
•Từ ng năm 80 trở đi, sau khi tiền gửi không kỳ hạn được phép trả lãi, các ngân hàng tiết kiệm và các tổ chức tín dụng khác cũng được quyền và bắt đầu mở tài
khoản không kỳ hạn, cho phép công chúng sử dụng Séc một cách linh hoạt, đa dạng dưới nhiều hình thức Lúc này việc phân biệt ngân hàng thương mại với các ngân hàng khác dựa vào tài sản Nợ không còn phù hợp nữa, do vậy các chuyên gia phương Tây chuyển sang dựa trên tài sản Có để làm tiêu thức phân biệt Theo tiêu thức này một ngân hàng thương mại là ngân hàng trung gian mà tỷ lệ vốn cho vay vào mục đích thương mại và công nghiệp chiếm đa số trong tài sản Có của nó
1.1.2.Các hoạt động của Ngân hàng Thương Mại
1.1.2.1.Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là nghiệp vụ tạo vốn trong ngân hàng, làm tăng giá trị nguồn vốn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng, cơ bản gồm các hình thức sau:
Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức
tín dụng khác dưới các hình thức tiềng gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và
các giấy tờ có giá để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận
Vay của các tổ chức tín dụng khác : Hoạt động này cho phép NHTM được
Trang 6vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài Các NHTM có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng ( Interbank Market ) Đây là trường hợp ngân hàng có lượng tiền gửi tại NHNN thấp và không đáp ứng được nhu cầu chi trả, khi đó dưới sự tổ chức của NHNN, ngân hàng này sẽ được vay của ngân hàng khác có lượng tiền gửi dư thừa tại NHNN Ngoài ra các ngân hàng cũng có thể cho vay trực tiếp lẫn nhau mà không thông qua thị trường liên ngân hàng Phương thức này rất linh hoạt giúp các NHTM cân đối vốn một cách kịp thời Tuy nhiên quá trình vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác phải đảm bảo các nguyên tắc sau :
+ Các ngân hàng phải hoạt động hợp pháp
+ Thực hiện việc cho vay và đi vay trên cơ sở hợp đồng tín dụng
+ Vốn vay phải có sự đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của NHNN
Vy vốn ngắn hạn của NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp
bách trong chi trả của NHTM Các NHTM trong trường hợp thiếu khả năng chi trả hoặc thiếu hụt dự trữ tạm thời có thể vay NHTW Một số hình thức cho vay của NHNN đối với NHTM:
+ Tái cấp vốn
+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu các giấy tờ có giá ngắn hạn khác… + Cho vay có đảm bảo bằng thế chấp hoặc có cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN
1.1.2.2.Hoạt động sử dụng vốn:
Với nguồn vốn huy động được, NHNN sẽ sử dụng trong nhiều hoạt động khác nhau để nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho ngân hàng Trong đó quan trọng nhất là các hoạt động sau:
- Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động huy động bảo đảm khả năng chi trả thanh toán thường xuyên của ngân hàng Nguồn đảm bảo cho khả năng này là những tài sản có tính lỏng cao
- Hoạt động đầu tư: Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư trên thị
Trang 7trường chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết nhằm sinh lời và phân tán rủi ro
- Hoạt động tín dụng : Theo điều 20, khoản 08, luật các tổ chức tín dụng 1997
và sửa đổi năm 2004, hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Như vậy có thể hiểu, tín dụng là quan hệ vay mượn, bao gồm cả việc đi vay và cho vay Tuy nhiên khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định thì tín dụng ngân hàng bao hàm nghĩa là cho vay Có thể nói, tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Hoạt động này bao gồm :
+ Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng Các phương thức cho vay của NHTM rất
đa dạng Nếu căn cứ theo thời hạn cho vay, NHTM được cho các tổ chức,cá nhân vay vốn dưới các hình thức: cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn,dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ…Nếu căn cứ theo tài sản đảm bảo, cho vay lại bao gồm cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không cần tài sản đảm bảo Trong đó, cho vay không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho khách hàng có uy tín, là khách hàng có mối quan hệ tốt với ngân hàng, thường xuyên và có tình hình tài chính minh bạch, ít xảy ra nợ xấu Bên cạnh đó, nếu căn
cứ theo mức độ rủi ro thì cho vay lại có các khoản vay lành mạnh và các khoản vay
có vấn đề Các khoản vay lành mạnh là các khoản vay đảm bảo tính thu hồi nợ cao, ngược lại là các khoản vay không đảm bảo Các cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản vay, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời
Và khi đã chấp nhận cho khách hàng vay, ngân hàng phải lập hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện cho vay, chứng minh được mục đích sử dụng vốn vay, hình thức cho vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, tài sản đảm bảo, phương thức trả nợ và những cam kết bắt buộc khác tùy từng quy định của ngân hàng Có thể nói họat động cho vay của ngân hàng đem lại một tỷ lệ sinh lời cao nhất nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất
Trang 8trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
+ Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất triết khấu và hoa hồng phí, đổi lại ngân hàng sẽ được sở hữu một thương phiếu chưa hết hạn ( hoặc một giấy nợ ) Khi thương phiếu hết hạn, ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ thương phiếu
1.1.3 Các chức năng của ngân hàng thương mại:
1.1.3.1 Chức năng trung gian tín dụng
NHTM là cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy động khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NH hình thành nên quỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế Với chức năng này NH vừa đóng vai trị là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trị là chủ thể cho vay
Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội, NHTM với vai trò là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, nắm bắt tình hình cung cầu về vốn tín dụng sẽ thực hiện và chuyển giao vốn một cách có hiệu quả Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lượng lớn, NH có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu vốn tín dụng về khối lượng và cả thời gian tín dụng.Thông qua chức năng trung gian tín dụng NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các chủ thể kinh tế tham gia và lợi ích chung của nền kinh tế
Đối với người gửi tiền: Họ sẽ thu được lợi từ các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi, đồng thời NH cũng đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán tiện lợi
Đối với người vay: Họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp
Đối với bản thân NH: NH sẽ tìm kiếm được khản lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi xuất cho vay và lãi xuất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới đây là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của NHTM
Đối với nền kinh tế: Chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
Trang 9nền kinh tế tăng trưởng, vì nó đáp ứng được nhu cầu về vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này,
NH đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt đôngj, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán
NH làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào khoản tiền gửi của khách hàng từ bán hàng hóa hoặc các khoản thu khác
NH thực hiện chức năng trung gian thanh toán làm cho nó trở thành thủ quỷ cho khách hàng Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách làm cho NH thực hiện được vai trò trung gian thanh toán Trên thực tế, khi việc thanh toán trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế bằng tiền mặt gặp nhiều hạn chế và rủi ro cao, do phải tập hợp, kiểm tra, vận chuyển làm cho chi phí thanh toán cao mà lại thiếu chính xác và an toàn, đặc biệt là khi hai đơn vị này cách
xa nhau, điều này tạo nên nhu cầu và gia tăng khối lượng thanh toán qua NH
Chức năng trung gian thanh toán của NH có ý nghĩa rất lớn đối với các hoạt động của nền kinh tế xã hội Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống NH góp phần giảm chi phí và lượng tiền mặt trong lưu thông và đảm bảo an toàn trong thanh toán Việc lựa chọn phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, điều này góp phần tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội Mặt khác, việc cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho NH thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại NH và
do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi
Khi kết hợp chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán taọ cho NHTM khă năng tạo ra tiền ghi sổ thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Từ một lượng tiền gửi ban đầu, qua nghiệp vụ cho vay dưới hình thức chuyển khoản, đã làm cho số dư trên tài khoản tiền gửi trong hệ
Trang 10thống NHTM tăng lên.
NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một khoản tiền gửi ban đầu, hoặc từ một khoản tiền nhận được từ ngân hàng trung ương thông qua việc cấp tín dụng cho khách hàng Khi NHTM huy động tiền gửi không kỳ hạn và cung cấp các dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng, đều có khả năn tạo ra một lượng tiền gửi mở rộng Điều này được thể hiện khi mỗi lần thanh toán chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác để thực hiện một khoản thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ, lượng tiền gửi ban đầu không ra khỏi hệ thống NH nhưng số dư trên tài khoản tiền gửi gia tăng về lượng Tốc độ gia tăng tiền tệ phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ sử dụng tiền mặt của khách hàng tiền gửi thanh toán, tỷ lệ dự trữ tiền mặt thừa trên tiền gửi không kỳ hạn tại NH Cơ chế tạo tiền của NHTM cho thấy mối quan hệ giữa tín dụng và lưu thông tiền tệ, việc mở rộng khối lượng tín dụng có ảnh hưởng đến khối tiền tệ lưu thông
Như vậy, các chức năng của NHTM có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời, khi NH thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng mở rộng quy mô hoạt động của NH
1.2.Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa vả nhỏ của ngân hàng thương mại
1.2.1.Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại:
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cá nhân, các DN… Tuy nhiên, tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể được hiểu theo những khía cạnh khác nhau Hiện nay, trong các đối tượng khách
Trang 11hàng của NHTM thì DNVVN là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất Ưu điểm của DNVVN không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn về số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư Vậy có thể hiểu
một cách khái quát rằng, cho vay DNVVN là hình thức cho vay mà theo đó ngân
hàng thương mại cho DNVVN sử dụng một khoản tiền để dựng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Khái niệm cho vay DNVVN là cơ sở trong việc phân loại các phương thức cho vay cũng như xác định đối tượng khách hàng vay vốn của NHTM
1.2.2.Khái quát hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.2.2.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Doanh Nghiệp vừa và nhỏ
Khái niệm về Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công doạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bộ về mặt vố ,
lao độ hay doanh th Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nh , doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí phân nhóm ở
Việt N
, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 200 đến 300 người lao động và
có số vốn pháp định nhỏ hơn 10 tỷ đồng được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong
đó không phân biệt doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một doanh nghiệp hoạt động độc lập trong một lĩnh vực kinh doanh nhưng không thống trị trong lĩnh vực kinh doanh của mìn
Trang 12Công thức xác định quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc một ngành hoặc địa bàn cụ thể như sau:
F(Sba) = Ib* Ia*Sa/ Id
Sa : quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước.
Đặc Điểm của Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ:
Bên cạnh những đặc điểm của Doanh nghiệp nói chung như hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận, các DNVVN cũng có những đặc điểm riêng
- Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đó có thể bắt đầu hoạt động Vòng quay sản phẩm nhanh nên
có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo
ra sự sống động trong phát triển kinh tế
- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực mới
Trang 13này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm.
- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Đồng thời doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm Số lượng lao động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá mức rõ rệt Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp
Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm trên, các DNVVN tại Việt Nam hiện nay còn khá nhiều hạn chế.Có thể thấy hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn Các hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của DNVVN
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNVVN nằm trong chính đặc điểm của nó,
đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp sản phẩm
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản
Trang 14phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,thiếu bí quyết
và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sảnphẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động
- Cũng do tính chất vừa và nhỏ của nó, DNVVN gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường
Loại hình DNVVN tại Việt Nam đã và đang có những bước tiến khá vững trong nền kinh tế Tuy còn nhiều hạn chế xong không thể phủ nhận được vai trò to lớn của nó đối với nền kinh tế thị trường đang trên đà đổi mới của Việt Nam
Vai Trò:
• Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp
Các cơ sở doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích hợp với các phương pháp tiết kiệm vốn và do đó chúng được công nhận là phương tiện giải quyết thất nghiệp hiệu quả nhất
Do đặc tính phân bố rải rác của chúng Các doanh nghiệp loại này thường phân tán nên chúng có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là với các vùng sâu vùng xa, vùng chưa phát triển kinh
tế, với các đối tượng lao động có trình độ tay nghề thấp.Nhờ vậy chúng vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần giảm dòng người chuyển về thành phố tìm việc làm
Do tính linh hoạt, uyển chuyển để thích ứng với các thay đổi của thị trường của các DNVVN Trong trường hợp có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp, không phải vì cấp quản lý bất tài mà bởi vì doanh nghiệp lớn thì khó xoay trở nhanh Họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, sau đó sẽ
Trang 15phải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cung lớn hơn cầu Trong khi đó do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động.
• Cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hoá đáng kể về cả chất lượng,
số lượng và chủng loại
Các DNVVN thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá của họ nói chung thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều cơ hội được lựa chọn Bên cạnh đó họ cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ mà các công ty lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ
• Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư cho dân địa phương
Nhìn chung các DNVVN được mở ra ở địa phương nào đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó Khi các doanh nghiệp loại đó được mở
ra thì người dân lao động ở địa phương có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập Kết cục là quỹ tiền tiết kiệm - đầu tư của địa phương đó được bổ sung
• Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn
Các công ty lớn và các tập đoàn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn Quy luật của vật lý là khối lượng một vật càng lớn thì quán tính của nó càng lớn Cũng vậy, các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn Một nền kinh tế đặt một tỷ lệ quá lớn nguồn lao động và tài nguyên vào tay các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn Tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao
• Phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế
Trang 16Một nền kinh tế bao giờ cũng có “vùng biên giới”, “vùng sâu”, “vùng xa” Đó
là các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, hoặc là xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên Các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực đó
vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng đó cao Nếu một nền kinh tế chỉ có các doanh nghiệp lớn thì điều này sẽ dẫn đến một sự phát triển không đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên và giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế cũng như gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh
tế Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chi phí cơ hội của các vùng này là chấp nhận được, xứng đáng với nguồn lợi thu lại Vì vậy họ sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương
1.2.2.2.Các loại hình cho vay đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ
•Ngắn hạn:
Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thường xuyên hay nhu cầu vốn do đặc điểm sản xuất kinh doanh theo thời vụ của doanh nghiệp Phần lớn các khoản cho vay này có thể thế chấp hoặc cầm cố tài sản Cho vay ngắn hạn đối với DNVVN bao gồm một số phương thức cho vay như sau:
- Cho vay từng lần : Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi Cho vay từng lần thường áp dụng cho các khoản vay dài hạn hoặc cho vay các dự án Ưu điểm của phương thức cho vay từng lần là ngân hàng chủ động
sử dụng vốn, thu lãi cao do các món vay được tách biệt thành các hồ sơ khác nhau
Số tiền = tổng vốn Dự Án – vốn chủ - vốn khác ( nếu có)
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Căn cứ để cấp hạn mức tín dụng là kế hoạch tài chính của doanh nghiệp, trong đó dự báo chi tiết về tài sản và vốn của doanh nghiệp
Đây là phương thức cho vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường
Trang 17xuyên và được ngân hàng tín nhiệm Phương thức cho vay này có ưu điểm là thủ tục đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay, tuy nhiên về phía ngân hàng
dễ bị đọng vốn, đồng thời do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay
- Cho vay thấu chi: Thấu chi là phương thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoản thời gian xác định
- Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa Phương thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và được ngân hàng tín nhiệm Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho khách hàng Thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay Tuy nhiên nếu khách hàng gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng Quy mô cho vay ngắn hạn của NHTM đối với doanh nghiệp như sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu hàng hóa dự trữ bình quân trong kì
DS bán tính theo giá vốn trong kì
Nhu cầu dự trữ hàng hóa =
Vòng quay hàng hóa dự trữ trong kì
Vòng quay được tính dựa trên DS bán ra tính theo giá vốn kì trước
DS bán kì trước =
Dự trữ hàng hóa bình quân kỳ trước
Bước 2: Xác định nhu cầu vay vốn ngắn hạn
Nhu cầu vay
Nhu cầu hàng hóa
dự trữ bình quântrong kỳ
-
Nguồn vốn CSH, vay TCTDkhác tài trợ cho nhu cầu dự trữhàng hóa bình quân
Trang 18Nếu doanh nghiệp hiện đang vay ngân hàng thì số tiền có thể cho vay thêm là:
Số tiền có thể = Nhu cầu vay ngắn hạn - Dư nợ đến thời điểm
cho vay thêm NH xin vay
Một số trường hợp ngân hàng không phân tích được phương án vay, ngân hàng quết định số tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo
Số tiền có thể = Giá trị TSĐB x Tỷ lệ cho vay
cho vay
•Trung và Dài Hạn:
Là phương thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên hay nhu cầu tài trợ cho các dự án riêng biệt Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ…Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể sử dụng vốn dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn để tài trợ cho những loại tài sản này Nhưng do vốn chủ sở hữu có giới hạn nên thường doanh nghiệp phải sử dụng đến nguồn vốn vay dài hạn Doanh nghiệp có thể vay dài hạn thông qua ngan hàng hoặc phát hành trái phiếu huy động vốn trên thị trường
Nhu cầu theo = Nhu cầu đầu tư vào + Nhu cầu đầu tư vào
DA TSCĐ TSLĐ
Số tiền có thể cho vay = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ
Số tiền có thể
-Các nguồn khác tham gia
tài trợ Cho vay trung và dài hạn có thể bao gồm nhiều phương thức khác nhau như cho vay trả góp, cho vay theo các dự án…
- Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả góp
- Cho vay theo các dự án: Khái niệm dự án có thể hiểu là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được
Trang 19những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định Cho vay theo dự án đòi hỏi quá trình thẩm định dự án một cách cẩn trọng và chính xác
Trên đây là một số phương thức cho vay DNVVN phân theo kì hạn cho vay Mặc dù phương thức cho vay DNVVN có thể khác nhau, tuy nhiên các phương thức
đó đều phải tuân theo một quy trình cho vay chung nhất, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong quá trình cho vay của NHTM
1.3.Mở rộng hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1.Khái niệm:
Xét trong lĩnh vực ngân hàng, mở rộng cho vay DNVVN là việc tăng tỷ trọng các khoản cho vay DNVVN trong tài sản của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về quy mô các khoản vay Bên cạnh đó, cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các NHTM hiện nay, việc mở rộng cho vay có thể bao gồm nhiều tiêu chí khác nhau như: mở rộng quy mô, hình thức, phạm vi cho vay hay đối tượng cho vay
Quá trình mở rộng cho vay của NHTM kết hợp với các yếu tố khách như chính sách cho vay, chính sách khách hàng…nhằm đảm bảo hiệu quả và chất lượng các khoản vay
1.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động cho vay
1.3.2.1.Nhân tố chủ quan:
Từ phía ngân hàng
Để mở rộng hoạt động cho vay có hiệu quả và chất lượng, các NHTM cần đưa
ra những chính sách, hành động, phương hướng kinh doanh hợp lý Cụ thể như sau:
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Mỗi một tổ chức ngay từ khi được thành lập ra đã phải có một phương châm hoạt động nhất định và phải có chiến lược kinh doanh phù hợp với các mục tiêu đã đặt ra Đó là một tiêu chí rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình cạnh tranh càng ngày càng trở nên gay gắt, mỗi ngân hàng phải xây dựng cho mình một phương châm, chiến lược kinh doanh đúng đắn và hiệu quả Đó là một điều kiện vô cùng quan trọng giúp cho ngân
Trang 20hàng có định hướng nhất quán trong việc khai thác tốt nhất tiềm lực hiện có và có thể thích ứng tốt với những biến đổi của môi trường kinh doanh gay gắt hiện nay.Khi mà chiến lược kinh doanh đặt ra không hiệu quả, không đúng đắn thì mọi hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng không thể phát triển được, thậm chí nó có thể gây nên những tổn thất khôn lường cho ngân hàng
Chiến lược phát triển sẽ tạo ra một định hướng chung về khách hàng mục tiêu của ngân hàng và từ đó xây dựng nên các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với đối tượng khách hàng đó
Để phù hợp với xu thế hiện nay thì các NHTM đang ngày càng quan tâm đến các DNVVN và đang thúc đẩy việc thiết lập chiến lược kinh doanh hướng vào đối tượng này Chính điều này đã có ảnh hưởng quyểt định đến họat động cho vay nói chung, doanh số cho vay cũng như chất lượng cho vay đối với DNVVN nói riêng trong mỗi một ngân hàng
Trang 21• Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng:
Ngân hàng cam kết tài trợ cho khách hàng với món tiền và hạn mức nhất định Giới hạn này ngoài các quy định theo luật thì mỗi ngân hàng còn có quy định riêng
về quy mô và giới hạn
Ví dụ như quy mô tối đa cho vay của mỗi giám đốc khu vực, giám đốc chi nhánh, quy mô cho vay dựa trên giới hạn đảm bảo…
Chính sách này sẽ được quy định một cách cụ thể trong từng thời kỳ trong năm có tính đến quy mô và tổ chức nguồn vốn của mỗi ngân hàng
• Lãi suất tín dụng:
Mỗi một ngân hàng đều có các mức lãi suất tín dụng khác nhau phân theo từng kỳ hạn, loại tiền, đối tượng khách hàng Lãi suất này có thể được cố định trong một thời hạn tín dụng nhưng cũng có thể được thả nổi theo sự biến đổi của lãi suất tham khảo hặc chỉ số làm cơ sở điều chỉnh lãi suât hoặc cũng có thể là sự kết hơp cố định có điều chỉnh sau một khoảng thời gian xác định
• Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ:
Các thời hạn tín dụng có liên quan trực tiếp đến rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và chu kỳ kinh doanh của người vay Các chính sách thời hạn tín dụng được đưa ra phải giải quyểt được mối quan hệ về thời hạn giữa nguồn(chủ yếu
do người gửi và do ngân hàng vay quyết định) và thời hạn tài trợ(bắt nguồn từ yêu cầu của người vay do đặc điểm luân chuyển nguồn vốn và quy mô thu nhập quyết định) Kỳ hạn nợ liên quan đến tính toán các nguồn thu của khách hàng có thể dựng
để trả nợ
• Các khoản đảm bảo:
Chính sách đảm bảo gồm những quy định về trường hợp tài trợ cần đảm bảo bằng tài sản, các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng, danh mục các đảm bảo được ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ phần trăm cho vay trên đảm bảo, đáng giá và quản
lý đảm bảo Chính sách tín dụng về các khoản đảm bảo cũng bao gồm cả việc đánh giá tài sản đảm bảo và mức phán quyết tín dụng dựa trên việc định giá cho tài sản đảm bảo
Trang 22• Chính sách đối với tài sản có vấn đề
Các tài sản có vấn đề bao gồm các tài khoản nợ xấu và tài sản có biểu hiện đáng ngờ Chính sách đối với tài sản có vấn đề gồm các quy định về cách thức xác định nợ xấu và các tài sản đáng ngờ khác, tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận và mức độ xấu của các khoản nợ, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác
Như vậy, chính sách tín dụng của ngân hàng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng tới khả năng tiếp cận tín dụng của các DNVVN Khi chính sách tín dụng mà linh hoạt, đa dạng thì nó sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu của DNVVN ở các phân đoạn thị trường khác nhau hay nói cách khác là sẽ làm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các DNVVN
Quy mô nguồn vốn của ngân hàng thương mại:
Như ta đã biết, tất cả các hoạt động cho vay của NHTM đều phải tuân theo quy định liên quan đến hoạt động cho vay của pháp luật Quy định 1627 về quy chế cho vay của một tổ chức tín dụng đối với một khách hàng có quy định ” dư nợ cho vay tối đa đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn ủy thác của chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hay trường hợp khách hàng vay là một tổ chức tín dụng khác”
Do đó, quy mô nguồn vốn của ngân hàng đặc biệt là quy mô vốn chủ sở hữu là nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng cho vay của một ngân hàng Các ngân hàng lớn thường cung cấp các khoản cho vay có giá trị lớn cho các doanh nghiệp còn các ngân hàng nhỏ thường tập trung cho vay các khỏan có quy mô nhỏ- nghiệp
vụ tín dụng bán lẻ
Ngoài ra, quy mô của ngân hàng cũng ảnh hưởng đáng kể đối với thu nhập ròng của các loại hình cho vay Để đạt được hiệu quả cao nhất trong cho vay, ngân hàng cần cung cấp các loại hình cho vay mà ngân hàng có lợi thế nhất Ví dụ như, các ngân hàng lớn thường có ưu thế trong cho vay kinh doanh bất động sản và cho vay tiêu dùng trả góp, các ngân hàng có quy mô trung bình thường có lợi thế về các khoản cho vay theo thẻ tín dụng, còn các ngân hàng nhỏ lại có ưu thế trong cho vay thương mại
Trang 23 Chất lượng và tính đa dạng của các hình thức cho vay
Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của ngân hàng Một ngân hàng sẽ ít có khả năng lớn mạnh, khả năng mở rộng cho vay nếu những sản phẩm cho vay mà nó cung cấp cho khách hàng là đơn điệu, chất lượng hoạt động không cao Một trong những đặc điểm đặc trưng của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là không có sự khác biệt, bản quyền khó xác định nên từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng
Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt như ngày nay thì buộc các ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra tính khác biệt cho sản phẩm ngân hàng để củng cố và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh của chính ngân hàng mình
Thông tin tín dụng
Là tất cả các thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, đảm bảo tiền vay, tình hình tín dụng và thông tin pháp lý của khách hàng có quan hệ với ngân hàng Hệ thống thông tin tín dụng được đưa ra nhằm hình thành cơ sở dữ liệu về khách hàng
để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng Mục đích quan trọng nhất của nó là tìm kiếm và phát hiện ra sớm các khoản tín dụng có vấn đề để đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ đồng thời dự báo trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu
Trên cơ sở thông tin thu được, ngân hàng sẽ quyết định được một cách đúng đắn hơn trong quy trình kiểm tra, giám sát tín dụng Chất lượng của thông tin tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến khoản cho vay Khi thông tin tín dụng đầy đủ, chính xác sẽ góp phần hạn chế và ngăn ngừa được phần nào rủi ro tín dụng, rủi ro lựa chọn đối nghịch do thiếu thông tin không cân xứng về đối tượng đầu tư từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động tín dụng
Thông tin tín dụng có thể khai thác từ các nguồn khác nhau Có thể nguồn bên trong hay bên ngoài hệ thống; chính thức hay phi chính thức Việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, đầy đủ ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng từ đó ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN
Trang 24 Trình độ cán bộ công nhân viên
Trình độ của cán bộ làm công tác cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM Khi các cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức và hiểu biết sâu rộng thì sẽ có thể phân tích và nắm bắt được tình hình của khách hàng và từ đó đưa ra được quyết định tín dụng chính xác Ngược lại, khi các cán bộ tín dụng yếu kém về năng lực lao động, chưa được đào tạo một cách đầy đủ thì sẽ thiếu khả năng phân tích và đánh giá một cách chính xác
về khách hàng vay vốn, không bao quát được các điểm yếu về mặt pháp lý hoặc các sai sót trong hồ sơ vay vốn của khách hàng nên từ đó đem ra những quyết định thiếu chính xác, gây nên những hậu quả xấu cho ngân hàng
1.3.2.2.Nhân tố khách quan:
Từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Năng lực tài chính của DNVVN
Năng lực tài chính của DNVVN là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì tình hình tài chính sẽ vững mạnh từ đó mới có thể đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng và có thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng Năng lực tài chính được thể hiện ở khối lượng vốn chủ sở hữu và tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn kinh doanh của DNVVN Vốn chủ sở hữu này sẽ phản ánh khả năng tự chủ tài chính, khả năng chống chọi với hoàn cảnh bất lợi của DN Khi tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp càng nhỏ chi phí vốn vay càng lớn và đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh doanh thua lỗ và mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng của doanh nghiệp
Hiện nay, các DNVVN muốn vay vốn ngân hàng thì phải đảm bảo là có một phần vốn tự có nhất định tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh
Chính vì vậy, nếu như vốn sở hữu thấp nhưng nhu cầu đầu tư lớn cũng khó có thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng
Phương án sản xuất kinh doanh:
Đây là một vấn đề liên quan đến tính hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó Khi tiến hành phương án sản
Trang 25xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tính toán doanh thu thu được, các chi phí liên quan và lỗ lãi Từ đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định là có tiến hành thực hiện các dự án hay không.
Đây là một trong những điều kiện vay vốn hàng đầu của DNVVN Để đảm bảo thu hồi được vốn vay từ các doanh nghiệp, ngân hàng phải chọn những phương
án khả thi, có khả năng thực hiện được và thực sự có hiệu quả để tiến hành đầu tư
Do vậy, việc doanh nghiệp có khả năng vay vốn của ngân hàng phụ thuộc một phần vào phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có khả thi hay không
Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ:
Khi một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt thì sẽ có được chiến lược kinh doanh tốt, khả năng kinh doanh cao và có thể quản lý vốn tụt Nó được thể hiện ở cách thức tổ chức hoạt động chung, tổ chức hoạt động sổ sách kế toán, quản lý tài chính hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, môi trường kinh doanh Nó còn thể hiện ở trình độ nhận định thị trường để có được chiến lược kinh doanh năng động và các biện pháp nhằm chống chọi lại những biến động bất lợi của thị trường Năng lực quản lý này nó ảnh hưởng trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, đến sản phẩm của doanh nghiệp, đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, mối quan hệ với các đối tác Đây cũng là một tiêu chí quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định có cho DNVVN vay vốn hay không và nếu vay thì với hạn mức là bao nhiêu
Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp:
Đây là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của DNVVN và đây chính là thiện chí trả nợ của chủ DNVVN Đạo đức kinh doanh của DNVVN thể hiện ở việc doanh nghiệp trung thực, sử dụng vốn đúng mục đích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo hoạt động kinh doanh được lành mạnh, đảm bảo trả nợ được cho ngân hàng
Các DNVVN luôn muốn có thể tiếp cận được nhiều hơn tới nguồn vốn của ngân hàng Nếu các DNVVN báo cáo một cách đầy đủ, minh bạch, sử dụng vốn đúng mục đích kinh doanh, thực hiện vay và trả tốt thì có thể tiếp cận được nhiều hơn đối với nguồn vốn đó Tuy nhiên, nếu các DNVVN cố tình báo cáo sai lệch các
Trang 26thông tin, sử dụng vốn sai mục đích thì sẽ không thể tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng Các ngân hàng sẽ mất dần niềm tin đối với các DNVVN từ đó sẽ thắt chặt các biện pháp đảm bảo tiền vay Như vậy thì sẽ càng hạn chế khả năng tiếp cận vốn của các DNVVN.
Từ môi trường bên ngoài:
Chính sách phát triển kinh tế của đất nước:
Chính sách phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng tín dụng của ngân hàng đối với DNVVN Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của nhà nước sẽ gây nên những biến động lớn đối với hoạt động cho vay của ngân hàng
Dựa trên cơ sở các đường lối, chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước thì các doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu kinh doanh của mình, cân đối tài chính để xác định nhu cầu vay vốn ngân hàng Đồng thời, các ngân hàng thương mại sẽ căn cứ vào các chỉ tiêu này để xác định cơ cấu tín dụng của mình một cách
Môi trường pháp lý:
Môi trường pháp lý là một hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến toàn bộ các hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Khi một hệ thống pháp luật đồng bộ thì sẽ tạo ra được một hành lang an toàn cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động của các ngân hàng nói riêng Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng, nó như một hành lang pháp lý tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh tế và có tính chất bắt buộc đối với tất cả các chủ thể kinh tế đó Khi mà hệ thống pháp luật rắc rối, không đồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho ngân hàng trong việc thực hiện các hợp
Trang 27đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế.
Môi trường chính trị xã hội
Đây là một nhân tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định đối với các nhà đầu tư Khi nền chính trị ổn định thì nó sẽ tạo ra được sự tin tưởng lớn đối với các nhà đầu tư đặc biệt là đầu tư dài hạn Khi đầu tư tăng lên, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh từ đó hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ
Những biến động bất ổn về chính trị- xã hội không những sẽ làm hạn chế đầu
tư, hạn chế các khoản vay mới mà còn tác động tiêu cực đến những khoản vay cũ thông qua những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với hoạt động của các DNVVN và của ngân hàng
Bên cạnh đó, các quan niệm xã hội về sự ưa thích cá nhân, về các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, sự biến động của môi trường có thể làm thay đổi các triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì thế nó sẽ ảnh hưởng đến họat động tín dụng của doanh nghiệp đó.Thái độ của các cơ quan chính quyền cũng có ảnh hưởng lớn đến họat động của các DNVVN Nó được thể hiện qua cách xử sự cũng như tinh thần phục vụ và
hỗ trợ cho DNVVN Thái độ của các phương tiện thông tin đại chúng cũng đóng góp tích cực vào sự chuyển biến thái độ tâm lý xã hội đối với các DNVVN
Như vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của các DNVVN chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố, không chỉ từ phía ngân hàng, từ phía DNVVN mà còn các yếu tố như môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, chính trị, xã hội…chính
vì vậy, để có thể tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN thì cần phải có sự phối hợp một cách nhuần nhuyễn và chặt chẽ giữa tất cả các phía trong tổng thể đó
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM
CỔ PHẦN ĐẠI TÍN CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1.Tổng quan về NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội
2.1.1.Sự hình thành và phát triển của NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh
1, Thị tứ Long Hòa, Huyện Cần Đước, Tỉnh Long An
Ngày 17/08/2007, theo quyết định số 1931/QĐ-NHNN, Ngân hàng TMCP nông thôn Rạch Kiến được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng TMCP đô thị và đổi tên thành Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín, theo quyết định số 2136/QĐ-NHNN ngày 17/09/2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 29Việc chấp thuận cho Ngân hàng Đại Tín chuyển đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng TMCP nông thôn sang Ngân hàng TMCP đô thị tạo điều kiện cho Ngân hàng nâng cao năng lực về tài chính, mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, đủ sức cạnh tranh và phát triển mạnh mẽ, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của TRUSTBank với mục tiêu phấn đấu trở thành một ngân hàng bán lẻ hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế, cung cấp sản phẩm dịch vụ đa dạng từ cơ bản đến cao cấp, hoàn thành mục tiêu đưa TRUSTBank trở thành một trong số các ngân hàng có chất lượng phục vụ tốt nhất tại Việt Nam
Nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng mạng lưới hoạt động, theo quyết định số 1855/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 21/08/2008, Ngân hàng TMCP Đại Tín chuyển địa điểm trụ sở chính đến số 145-147-149 Hùng Vương, phường 2, Thị xã Tân An, Tỉnh Long An
Vốn điều lệ và tổng tài sản giai đoạn 2007 - 201
Trang 30Sản phẩm dịch vụ chính:
Trang 31Ngân hàng TMCP Đại Tín cung cấp đa dạng các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu của Quý khách hàng như :
•
Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
•
SMS B nking: Thông báo thông tin
Sắp tới Ngân hàng sẽ triển khai cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại như Internet Banking, dịch vụ thanh toán trực tuyến, dịch vụ thẻ…
Trang 32TRUSTBank là 977 người Đa số cán bộ nhân viên có trình độ đại học và trên đại học, thường xuyên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ tại trung tâm đào tạo của TRUSTBank và các trường Đại học, Viện nghiên cứu trong nướ
d Định hướng và mục tiêu phát triển
TRUSTBank định hướng trở thành một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị phát triển, có nghiệp vụ đa dạng, chất lượng phục vụ cao, công nghệ ngân hàng hiện đại, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến, từng bước đưa TRUSTBank trở thành một thương hiệu ngân hàng bán lẻ có uy tín trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế
Dựa trên nền tảng định hướng nêu trên, Ngân hàng TMCP Đại Tín sẽ tiếp tục đưa ra các giải pháp mới nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
•
Xác định đối tượng và chính sách hoạt động kinh doanh: xác định đối tượng đầu tư tín dụng phù hợp để vừa nhanh chóng tạo ra lợi nhuận, vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định và lâu dài Nghiên cứu đầu tư, tham gia liên doanh góp vốn đối với một số dự án trọng điểm; cơ cấu lại tài sản sinh lời nhằm đảm bảo hoạt động an toàn và ổn định thông qua các nghiệp vụ đầu tư trên thị trường liên Ngân hàng, đầu tư trái phiếu, chứng kho
Trang 33•
Xác định thị trường và lĩnh vực kinh doanh khác: nhanh chóng nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thị trường mục tiêu, có kế hoạch thâm nhập các thị trường tiềm n
•
Phát triển nguồn nhân lực: Với một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực phù hợp, chính sách tiền lương, thưởng hợp lý, Ngân hàng có thể thu hút và đào tạo được nhiều cán bộ, nhân viên giỏi và có tâm huyết với nghề, từ đó dễ dàng vượt qua khó khăn, thử thách, phát triển an toàn và bền vữ
Trang 34c:
Đẩy mạnh cải cách nhằm đạt tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về hoạt động tiền tệ, ngân hàng, tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, chất lượng tín dụng để tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế Góp phần đưa ngành ngân hàng phấn đấu trở thành ngành kinh tế lớn trong khu vực và trên thị trường tài chính quốc tế trong giai đoạn 2010-
20
Hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại - đa năng, tăng cường công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hệ số an toàn tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh
ranh
Chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức phong phú, chủ yếu huy động vốn trung - dài hạn trong dân cư để tạo nguồn cho vay, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trên phạm vi c
nước
Hướng đến phát triển bền vững và nhanh chóng mở rộng mạng lưới hoạt động tại các tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt chú trọng mở rộng mạng lưới tại các vùng kinh tế trọn
Trang 35nhu cầu, kỳ vọng của mỗi đối tượng khách hàng để đưa ra các giải pháp chăm sóc hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng cho phép
hàng.2.1.2 Bộ máy tổ chức tại NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh
à Nội
2.1.2.1.Mô hình ổ
hức :
Mô hình t
Trang 36Với vị trí thuận lợi và sự nỗ lực của Ban lãnh đạo, Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác cho vay và huy động vốn, hỗ trợ nhiều cho Hội sở chính trong những khi Hội sở chính gặp khó khăn về vốn Hiện nay Chi nhánh đã có 8 phòng giao dịch đi vào hoạ
a.
CN H ỘI
: 96 Bà Triệu, P.Hàng Bài, Q.Hoàn Kiếm, TP.H
b.
PGD Cầu Gy : 126 Nguyễn Phong Sắc, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
c. PGD Đống Đ : 163 Đặng Tiến Đông, P.Trung Liệt, Q.Đống Đa, TP.Hà Nội
d. PGD Thạch Thấ : Lô 8 KCN Kim Khí, Xã Phùng Xá, H.Thạch Thất, TP.Hà Nộ
e. PGD Hào Na : 165 Phố HàoNam , P.Ô Chợ Dừa, Q.Đống Đa, TP.Hà Nộ
Phó Giám Đốc
Phòng Kế
toán Tài
chính
Phòng Nguồn Vốn
Phòng Đầu Tư
Phòng Kinh Doanh
Trang 37PGD Từ Liêm : Số 6 xã Xuân La , Xuân Đỉnh , Từ Liêm
hỏi như:
Ngân hàng khá mới, doanh nghiệp và dân cư trên địa bàn Hà Nội còn chưa hiểu nhiều về ngân hàng, cũng như ngân hàng chưa nắm rõ về nhu cầu của các đồi tượng k
sự và công tác tiếp thị quảng cáo Cán bộ cũng như nhân viên trong ngân hàng đều
có trình độ Cao Đẳng, Đại học và rất giỏi về c
yên môn.Hiện nay hoạt động tín dụng ngân hàng đã ổn định và không ngừng được mở rộng quy mô cũng như phạm vi h
Trang 38tác hậu cần.
Phòng Kế oán Tài chính : Phòng này vừa có nhiệm vụ hạch toán kế toán,theo dõi, phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính; quản lý các loại vốn, tài sản tại ngân hàng, báo cáo các hoạt động kinh tế tài chính.Tính toán và ghi chép tất
cả các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến quá trình thanh toán đối với khách hàng vào các sổ sách kế toán, đồng thời chịu trách nhiệm lập báo cáo quyết toán, cung cấp cho nội bộ ngân hàng và các cấp
ó thẩm quyền the quy định
Phòng Kinh doanh : Có nhiệm vụ nghiên cứu tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn hoạt động để lập ra kế hoạch khai thác nguồn vốn, chiến lược kinh doanh của ngân hàng, kết hợp các phòng ban đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh so với cùng kỳ nhằm đề ra phương hướng giải quyết và lập kế hoạch cho kỳ tiếp theo, tr
h ban giám đốc quyết định
Ngoài ra dựa vào việc nghiên cứu tình hình kinh tế- xã hội trên địa bàn hoạt động để lập kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, trung và dài hạn.Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn đúng quy trình nghiệp vụ, tiếp nhân, thẩm định và thực hiện các
Trang 39khoản cho vay đối với khách hàng, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay.Do tính chất quan trọng cúa tín dụng, thẩm định là giai đoạn khởi đầu cho quá trình đầu tư tín dụng và qua đó có thể đánh giá chính xác về sự cần thiết, tính khả thi của phương
án và hiệu quả tín dụng, hơn nữa đây cũng là bộ phận tạo ra lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng và có mối liên hệ chặt chẽ với phòng kế toán ngân quỹ.Ngoài ra còn có chức năng thực hiện nhiệm vụ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và tái bảo lãnh.Cho nên phòng này được coi là bộ phận chủ yếu cũng là ng
Phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Định biên nhân sự do Tổng giám đốc quyết định dựa
ên cơ ở đề xuất của giám đốc chi nhánh.
hi nhánh Hà Nội có những chức năng sau:
- Trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo phân cấp của Ngân hàng TMCP Đại T
n trên địa bàn theo địa giới hành chính
- Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra, kiểm toán nội bộ theo uỷ quyềnc Tổng giám đốc ngân hàng TMCP Đại Tín
Trang 40- Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao và lệnhc
và nước ngoài bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy đn
của của NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội
Tiếp nhận các nguồn tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ, chính quyền và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước theo quy ị
của của NHTM cổ phần ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội
Được phép vay vốn các tổNam chức tài chính, tín dụng khác hoạt động tại Việt và tổ chức tín dụng nước ngoài khi được Tổnggiám đốc của NHTM cổ p
n ĐẠI TÍN chi nhánh Hà Nội cho phép bằng văn bản
Các hình thức huy động vốn khác theo quy
ịnh của của NHTM cổ phần ĐẠI TÍN cNamhi nhánh Hà Nội
Việc huy động vốn bằng đồng Việt , ngoại tệ,vàng và các công cụ khác theo quyđ