1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

già hóa dân số ở các nước đang phát triển

16 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 593,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỷ lệ sinh sụt giảm không chỉ còn là vấn đề đau đầu của riêng những nước giàu có  Xu hướng già hóa dân số thể hiện rõ rệt qua biểu đồ, dân số già của các nước đang phát triển tăng dần đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM

Môn Kinh Tế Học Phát Triển

ĐỀ TÀI:

GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Trang 2

MỤC LỤC

I. GIÀ HÓA DÂN SỐ LÀ GÌ? ĐẶC ĐIỂM GIÀ HÓA DÂN SỐ?

TRANG 02

II. HIỆN TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

TRANG 05

III. NGUYÊN NHÂN GIÀ HÓA DÂN SỐ

TRANG 07

IV. TẬN DỤNG CƠ HỘI

TRANG 08

V. THÁCH THỨC

TRANG 09

TRANG 11

NGUỒN CUNG CẤP THÔNG TIN

TRANG 13

Trang 3

I. GIÀ HÓA DÂN SỐ LÀ GÌ? ĐẶC ĐIỂM GIÀ HÓA DÂN SỐ?

1. Khái niệm:

• Già hoá dân số là một quá trình diễn ra khi tỷ lệ người lớn và người cao tuổi tăng lên, còn

tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, cũng là lúc mức sinh giảm xuống và tuổi thọ bình quân không thay đổi hoặc tăng lên

2. Bốn đặc điểm chính :

 Chỉ số già hóa sẽ tăng lên nhanh chóng và tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm mạnh (bảng1)

Bảng 1 Chỉ số già hóa và tỷ số hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam, 1979-2049

Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009.và dự báo dân số GSO (2010)

 Tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn(bảng 2)

Bảng 2 Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam, 1979-2009

Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009.

 Tỷ số giới tính nghiêng về nữ giới khi độ tuổi ngày càng cao (Bảng 3)

Bảng 3 Tỷ số giới tính dân số cao tuổi, 2009

Nguồn: Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 2009

 Mức độ già hóa dân số ở các vùng có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau là rất khác nhau (hình 4)

Trang 4

Hình 4 Phân bố dân số

cao tuổi theo tỉnh, 2009

Nguồn: Tổng Điều tra Dân số

và Nhà ở 2009

Trang 5

3. Đặc điểm "già hóa dân số" ở Việt Nam

 Việt Nam chuyển đổi từ giai đoạn "già hóa" sang cơ cấu "dân số già" là khoảng 20 năm, ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao, như Mỹ: 69 năm; Anh: 45 năm; Nhật Bản và Trung Quốc: 26 năm.( hình 5)

Hình 5 Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già” của một số nước

Nguồn: Kinsella và Gist, 1995; U.S Census Bureau, 2005; Việt Nam: GSO (2010)

 Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam ngày càng tăng lên nhanh chóng, trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết lại giảm mạnh( bảng 6)

Bảng 7 Dân số Việt Nam ‘già ở nhóm già nhất’

Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, z1999 và 2009.và dự báo dân số GSO (2010)

Trang 6

 Người cao tuổi ở Việt Nam có tuổi thọ trung bình cao (73 tuổi), nhưng gánh nặng bệnh tật cũng rất lớn, với khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền

 Việt Nam đang có xu hướng chuyển dần từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân với chỉ một cặp vợ chồng và con cái Xu hướng này sẽ làm tăng thêm trạng thái cô đơn của người cao tuổi do họ sẽ ít được con cháu chăm sóc hơn như gia đình truyền thống

 Người cao tuổi Việt Nam cũng đang phải đối mặt với không ít những vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, bên cạnh vấn đề về vật chất và sức khỏe

Trang 7

II. HIỆN TRẠNG GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ 21 Điều này có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng lớn đến tất cả các khía cạnh của xã hội Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi Hiện nay trên thế giới cứ chín người có một người từ 60 tuổi trở lên và con số này

dự tính đến năm 2050 sẽ tăng lên là cứ năm người sẽ có một người từ 60 tuổi trở lên Do vậy hiện tượng già hóa dân số không thể không được quan tâm

Già hóa dân số đang diễn ra trên tất cả các khu vực và các quốc gia với các tốc độ khác nhau Già hóa dân số đang gia tăng nhanh nhất ở các nước đang phát triển, bao gồm các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo Hiện nay, có 7 trong số 15 nước có hơn 10 triệu người già là các nước đang phát triển

Tỷ lệ sinh sụt giảm không chỉ còn là vấn đề đau đầu của riêng những nước giàu có

 Xu hướng già hóa dân số thể hiện rõ rệt qua biểu đồ, dân số già của các nước đang phát triển tăng dần đều theo các năm

 Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới

• Giai đoạn năm 2010- 2015, tuổi thọ trung bình của các nước phát triển là 78 tuổi

và của các nước đang phát triển là 68 tuổi

• Đến những năm 2045 – 2050, dự kiến tuổi thọ trung bình sẽ tăng lên đến 83 tuổi ở các nước phát triển và 74 tuổi ở các nước đang phát triển

Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệu người Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người và có sự khác biệt lớn giữa các vùng

Trang 8

Ví dụ: Dân số Việt Nam những năm gần đây:

Giai đoạn 2011-2014 Dân số Việt Nam đang ở giai đoạn dân số đang già

Dân số già hóa khiến tỷ trọng nhóm lao động trên 60 tuổi cũng gia tăng, giai đoạn 2010-2014 tăng từ mức

9,4 % lên 10,64 % Trong khi tỷ trọng nhân lực trong nhóm 15-24 tuổi đang giảm nhanh

 Tuổi thọ trung bình của người Thái cũng tăng từ 55 tuổi những năm 1970 lên 71 tuổi vào đầu những năm 2000 Dự báo đến khoảng giai đoạn 2025-2030, tuổi thọ của Thái Lan là 76,8 tuổi và đến năm 2050 là 79,1 tuổi Hiện tại tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Thái Lan chiếm trên 10%, đến năm 2025 khoảng 19,8% và đạt gần 30% vào năm 2050

Tình cảnh tỷ lệ sinh giảm mạnh cũng xảy ra tương tự ở các nước đang phát triển khác như Brazil, Mexico, Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á Kinh tế thịnh vượng dường như là một chất xúc tác của xu hướng này Các nhà nhân khẩu học cảnh báo, nếu xu hướng dân số già ở các nước đang phát triển tiếp tục mở rộng, dân số toàn cầu sẽ đạt mức 8,3 tỷ người vào năm 2050

và giảm xuống mức 7,2 tỷ người vào năm 2100, theo dự báo của Liên hiệp quốc (so với mức

dự báo trước đó là 10,85 tỷ vào cuối thế kỷ này)

Một ví dụ điển hình của Nhật Bản – đất nước phát triển nhưng kèm theo đó là phần trăm dân số trên 60 tuổi đã đạt đến mức báo động

Trang 9

Năm 1963, số người trên 100 tuổi ở Nhật Bản chỉ có 153 người Tuy nhiên, đến 11.436 người và đến năm 2009 là 40.000 người.Số người từ 65 tuổi trở lên ở nước này sẽ chạm mốc 32,9 triệu người vào ngày 15/9/2014, chiếm tới 25,9% tổng dân số.

So sánh với quốc gia đã đi qua giai đoạn dân số vàng, ta thấy: nước Nhật cùng với sự phát triển không ngừng, nâng cao chất lượng sống về vật chất lẫn tinh thần Người dân Nhật có tuổi thọ cao hơn Nhưng thay vào đó, nhịp sống đô thị khiến họ làm việc nhiều hơn

Tóm lại, với số lượng cũng như tỷ trọng người cao tuổi trong dân số ngày càng gia tăng nhanh chóng ở ngày càng nhiều quốc gia, điều quan trọng là cần nâng cao năng lực của xã hội nhằm giải quyết các thách thức đặt ra từ chuyển đổi cơ cấu nhân khẩu học này

Trang 10

III. NGUYÊN NHÂN GIÀ HÓA DÂN SỐ:

Có hai nguyên nhân chính trong việc già hóa dân số ở các nước đang phát triển hiện nay là:

Tuổi thọ trung bình của người dân đặc biệt là những nước đang phát triển tăng cao Đây được xem là một điều đáng mừng và vô cùng ý nghĩa đối với nhân loại nhưng cũng mang lại những tác hại khôn lường với sự phát triển kinh tế, một số lý

do dẫn đến tuổi thọ trung bình tăng là:

- Khoa học kĩ thuật phát triển, máy móc ra đời ngày càng nhiều đã hổ trợ cho việc phát triển y tế, nhiều căn bệnh ngày nay có thể được phát hiện sớm và chữa trị kip thời dẫn đến người già có thể sống lâu hơn

- Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe làm đẹp được đẩy mạnh đồng thời có điều kiện kinh tế khá giả nên con người muốn bản thân phải có sức khỏe tốt hơn,

họ sẵn sàng cho tiền để chăm sóc cơ thể bằng cách đến các phòng tập gym, yoga,…nhờ vậy mà sức khỏe tốt nên con người ít bệnh dẫn đến kéo dài tuổi thọ

Tỷ lệ sinh thấp cũng là một trong những nguyên nhân không kém phần quan trọng trong việc già hóa dân số và lý do điển hình của việc tỷ lệ sinh thấp là:

- Chủ nghĩa lối sống độc thân ngày càng được giới trẻ yêu thích

- Nguồn thu nhập của người dân tăng cao: khi xã hội phát triển thì nguồn thu nhập của người dân tăng cao tuy nhiên họ muốn được hưởng trọn vẹn những gì họ đã làm ra mà không chia sẽ với người khác, đồng thời áp lực công việc nặng nề khiến họ mệt mỏi nên dẫn đến việc số người không thích lập gia đình

- Do gánh nặng kinh tế nên người ta không thích sinh con nữa vì việc nuôi một đứa con đến lúc trưởng thành quá tốn kém.Các cặp vợ chồng có xu hướng nuôi ít con hoặc thậm chí họ không muốn sinh con để họ có thể hưởng thụ cuộc sống tốt hơn

- Trình độ văn hóa ngày càng được nâng cao hơn nên những quan niệm như trọng nam khinh nữ hay đẻ con để khi về già hưởng lộc từ con cái của người xưa nhiều không còn xuất hiện nhiều nữa Đồng thời, con người có nhu cầu học tập nghiên cứu làm việc nhiều hơn

Trang 11

IV. TẬN DỤNG CƠ HỘI:

• Kêu gọi khuyến khích hoặc yêu cầu người lao động đều cần phải tiết kiệm nhiều nhằm đảm bảo cuộc sống khi về già Ngoài ra, tiết kiệm còn có thể tăng cơ hội đầu tư đem lại lợi ích kinh tế

• Để nhà nước tạo cơ hội việc làm, quy định tuổi về hưu linh hoạt và đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người cao tuổi, giúp họ tăng thu nhập và lợi ích của tuổi già Đầu tư phát triển qũy lương hưu

• Nâng cao các dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi, đặc biệt là các dịch

vụ về y tế, cung cấp thêm nhiều sản phẩm hỗ trợ cho người cao tuổi…

• Người cao tuổi giữ vị trí hết sức quan trọng Người cao tuổi vừa là tấm gương để các thế hệ trẻ noi theo, vừa là kho kinh nghiệm, kho tàng văn hóa nghệ thuật, giá trị truyền thống tốt đẹp

Trang 12

V. THÁCH THỨC:

Bên cạnh những cơ hội mà già hóa dân số mang đến, thì cũng cho ta những thách thức rất cần quan tâm từ kinh tế, xã hội và văn hóa ở một phạm vi hẹp của cá nhân, gia đình mà còn là nỗi lo của cộng đồng, xã hội và tòa thế giới

Thách thức lớn nhất là thay đổi cơ cấu lao động vì tỉ lệ người già ở độ tuổi từ 45-60 tăng dẫn đến việc gia nhập lao động thị trường sẽ có xu hướng giảm đi Như vậy, nhân lực trong nước sẽ già đi và bắt buộc phải kéo dài độ tuổi nghĩ hưu để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế

Về kinh tế:

- Năng suất lao động của nhóm tuổi cao chỉ có thể đạt được đến một mức độ nhất định,

để bù đắp cho khoảng thu nhập của gia đình phải đòi hỏi những người trẻ tuổi cần làm việc nhiều hơn

- Chi phí y tế và phúc lợi cho người già tăng lên làm ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển

Về xã hội:

Một xã hội dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm Như cảnh báo của Tổng thư ký Liên hợp quốc “Ảnh hưởng về kinh tế và xã hội của hiện tượng già hóa dân số có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, không chỉ tác động tới cá nhân người cao tuổi và gia đình họ mà còn tác động lan tỏa tới toàn xã hội và cộng đồng toàn cầu theo những cách thức chưa từng được biết đến” (UNFPA, 2012)

An sinh xã hội:

- Lực lượng lao động tao ra sản phẩm và của cải có xu hướng giảm trong khi người thụ hưởng có xu hướng tăng Chính vì thế đã tạo ra gánh nặng cho Quỹ hưu trí phải trả tiền lương hưu trí với số lượng nhiều (hện quả của mức sinh thấp)

Một phần do sự thay đổi của môi trường,lối sống, nên bệnh tật của người cao tuổi

Trang 13

cao như huyết áp, đột quỵ, tim mạch…Theo PGS-TS Phạm Thắng-Viện Lão khoa quốc gia cho biết thì đây là một thử thách đối với gia đình và xã hội bởi chi phí khám và chữa bệnh cho người cao tuổi ngày càng tăng, cao gấp khoảng 7-8 lần so với trẻ em Một mặt, nhà nước và xã hội phải tăng các chi phí cho hệ thống y tế (gia tăng số giường bệnh, bệnh viện lão khoa, nhà dưỡng lão, chi phí khám, chữa bệnh…) Mặt khác, phải

mở rộng, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi với những nguồn nhân lực và tài lực nhất định Chi phí này được chi trả bởi gia đình hoặc hệ thống BHYT

- Theo kết quả của Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011 cho thấy, chỉ

có hơn 25,5% người cao tuổi ở Việt Nam sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội, còn lại trên 70% người cao tuổi không có tích lũy vật chất, phải tự lao động kiếm sống cùng

với sự hỗ trợ của con cháu và gia đình Tuy nhiên, trong giai đọa gần đây mô hình gia

đình nhiều thế hệ đã trở nên ít đi, chính vì thế mà ngày may người già thường sống cô độc trong khi các dịch vụ chăm sóc vẫn còn hạn chế, tất cả đồng nghĩa với việc mối nguy hiểm của người cao tuổi sẽ gia tăng

- Hệ thống lương hưu tại nhiều quốc gia vận hành theo hình thức thực thanh-thực chi, do

đó khi số người cao tuổi quá nhiều, quỹ lương hưu một số quốc gia rơi vào khó khăn, không đủ đáp ứng , đôi khi dẫn đến khủng hoảng, chính vì vậy cần phải đầu tư, duy trì, đảm bảo tính bền vững của hệ thống đặc biệt là các nước đang phát triển với tốc độ già hóa dân số cao

- Tàn tích chiến tranh gây ra đã để lại, nhiều nơi bị nhiễm chất độc màu da cam Đến nay, đa phần họ đã thuộc nhóm người cao tuổi Ngoài những loại bệnh của người già, không ít trong số họ mắc những bệnh đặc trưng của chiến tranh, trong khi đó, đa phần trong số họ sau chiến tranh về quê nhà sinh sống, họ không có lương hưu Điều này, đòi hỏi cần có những chính sách ASXH đặc thù cho nhóm người này

- Đặc thù của Việt Nam là thu nhập thấp chỉ đủ để người lao đông dùng cho những chi tiêu trước mắt, không đủ để tích lũy để chi khi cao tuổi Một số nhà phân tích đã nêu, người lao động Việt Nam “già khi chưa giàu” Đối với một người “già khi chưa giàu” sẽ tạo áp lực cho con cái, nhưng đối với một xã hội “già hóa” và xã hội “già” thì áp lực này

sẽ chuyển sang hệ thống ASXH

Trang 14

VI. GIẢI PHÁP:

Đây là những thách thức to lớn và để biến nó từ thách thức thành thành tựu thì cần phải ứng phó, đón nhận một cách chủ động nhất có thể với những chính sách thực tế

và phù hợp:

- Tiến sỹ Hồ Văn Hoành- Phó Chủ tịch Trung ương Hội Khoa học Phát triển nguồn nhân lực, nhân tài Việt Nam đề xuất: “Chính phủ cần tập trung rà soát để bổ sung chính sách phù hợp với tình hình mới nhằm kéo dài thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” đó là giáo dục đào tạo; lao động, việc làm, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; chính sách xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời; chính sách về thị trường lao động và chuyển dịch lao động; dân số và y tế; chính sách an sinh xã hội “

- Cần đẩy mạnh việc tuyên truyền về vấn đề già hóa dân số nhằm nâng cao nhận thức của xã hội, người dân có thể chủ động hơn trong việc chuẩn bị cho tuổi già

- Cần nâng cao tính minh bạch trong xử lý vi phạm về BHXH( mỗi tháng phải trích lương

để đóng bhxh, tuy nhiên hạn chế của bhxh tư nguyện )

- Tăng khả năng tiếp cận cũng như cải thiện chất lượng các dịch vụ y tế nhằm: đảm bảo thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi Đặc biệt, chính phủ các nước cũng cần đặc biệt lưu tâm để mọi nhóm đối tượng người cao tuổi đều có khả năng như nhau khi tiếp cận các chính sách an sinh xã hội hay dịch vụ y tế

- Việc đầu tư cho giáo dục, công việc ổn định cho thanh niên cũng đóng một vai trò quan trọng không chỉ ở hiện tại mà còn cho tương lai

- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH (hướng tới BHXH cho toàn bộ người lao động) sẽ là một trong những giải pháp để tăng quy mô quỹ hưu trí và tăng khả năng chi trả BHXH cho người thụ hưởng trong tương lai gần Đặc biệt là điều chỉnh hạ độ tuổi được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng

- Nhận cao trình độ Y tế, khi có sự chăm sóc y tế tốt (ngay từ khi còn trẻ), người cao tuổi ( 60, 65 tuổi trở lên) vẫn còn khỏe mạnh và vẫn có thể tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình, do đó phải có chính sách việc làm phù hợp cho người cao tuổi, để họ vừa duy trì được sức khỏe, có được thu nhập và tăng mức đóng góp cho đất nước

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w