Phần II: Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam Phần này bàn về các lợi ích mà Việt Nam có được khi tham gia TPP, khi đó nguồn vốnđầu tư rót vào Việt Nam sẽ thay đổi theo chiề
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ HỌC
BÁO CÁO TIỂU LUẬN
Chủ đề 3: Triển vọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong phát
triển kinh tế Việt Nam khi tham gia TPP
Giảng viên hướng dẫn:
PGS.TS Đỗ Văn Đức
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nhóm 3
Hà Nội 2015
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3
Trang 3MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
I.Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)
1 Sự ra đời của TPP và những nét chính
1.1 Sự ra đời của TPP
1.2 Những nét chính của TPP
2 Cơ hội cho Việt Nam khi tham gia TPP
II Triển vọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam
1 Thuận lợi của Việt Nam để thu hút vốn đầu tư nước ngoài
2 Tác động hai mặt của vốn đầu tư nước ngoài tới nền kinh tế Việt Nam 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp: (FDI)
3 Những triển vọng khi Việt Nam gia nhập TPP
4 Những thách thức khi Việt Nam gia nhập TPP
5 Giải pháp.
KẾT LUẬN.
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO.
LỜI MỞ ĐẦU
Với một nước có nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam thì vốnđầu tư nước ngoài để phục vụ cho mục đích xây dựng và phát triển kinh tế là rấtquan trọng Gần đây, Việt Nam đã kí kết hiệp định có tên là “Hiệp định kinh tế Châu
Á xuyên Thái Bình Dương (TPP)”, theo các chuyên gia cho rằng sau khi hiệp địnhđược kí kết cùng với các điều khoản hợp tác kinh tế giữa các nước thì đây sẽ là mộtcánh cửa mới mở ra cho nền kinh tế Việt Nam Chính vì vậy nhóm 3 chúng em chọnchủ đề “Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế Việt Nam khitham gia TPP”, nghiên cứu để làm sáng tỏ nhận định nói trên
Bài tiểu luận của chúng em gồm 2 phần chính:
Phần I: Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
Nội dung phần này giới thiệu và sự ra đời của hiệp định và một số nét chính của hiệpđịnh
Phần II: Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam
Phần này bàn về các lợi ích mà Việt Nam có được khi tham gia TPP, khi đó nguồn vốnđầu tư rót vào Việt Nam sẽ thay đổi theo chiều hướng thế nào, đồng thời nêu lên cácbất cập gặp phải khi có sự thay đổi mới ảnh hưởng từ hiệp định
Trang 5I Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương- TPP
1 Sự ra đời TPP và những nét chính
1.1 Sự ra đời của TPP
Hiệp định TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệpđịnh Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương, là một hiệp định, thỏa thuận thươngmại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – TháiBình Dương 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico,New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản
1.2 Những nét chính của TPP:
Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưabao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS),rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ vàminh bạch hóa
Cụ thể những nét chính ảnh hưởng của Thoả thuận Đối tác Xuyên Thái Bình Dương:
-Bỏ hẳn hoặc gỉam thuế nhập cảng: Loại bỏ hoặc giảm thuế đối với một loạt các
sản phẩm như thịt heo, hoa quả, rượu vang và rượu mạnh, cải dầu, lúa mạch, máymóc, khoáng sản, lâm sản
- Thay đổi lớn trong kỹ nghệ xe hơi (ô-tô): Nhiều bộ phận xe hơi nước ngoài có
thể nhập cảng vào Canada, và mang lại lợi ích công ty sản xuất và người tiêu thụ mà
sẽ có ảnh hưởng xấu đến một số người lao động
- Quyền của người lao động: Dễ dàng di chuyển hơn cho một số công nhân có
tay nghề cao và người kinh doanh
- Bảo vệ bằng sáng chế dược phẩm lâu hơn: Dược phẩm thế hệ tiếp theo, gồm
cả sinh học tế bào cơ bản, những bằng sáng chế những dược phẩm loại đó sẽ đượcbảo vệ độc quyền tám năm
Trang 6- Bảo vệ nền kinh tế kỹ thuật số: Luật bảo vệ nền kinh tế kỹ thuật số, và những
kỹ thuật mới như “điện toán trên mây” TPP không cho phép các chính phủ thànhviên cắt giảm các luồng dữ liệu, bằng cách hạn chế luật đòi hỏi phải lưu trữ dữ liệu ởđịa phương
- Quy định mới với các doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước sẽ
được quản lý bằng nhiều quy định hơn Các công ty được chính phủ hỗ trợ bởi sẽphải tuân thủ những yêu cầu mới về sự minh bạch và các quy tắc mới khi cạnh tranhvới các công ty tư nhân
2 Cơ hội của Việt Nam khi tham gia TPP
- Đối với lĩnh vực nông nghiệp
Việc tham gia TPP sẽ mở ra cơ hội cho Việt Nam gia tăng sản xuất và mở rộng thịtrường nông sản ra nước ngoài:
Thứ nhất, Việt Nam là một nước có thế mạnh trong nông nghiệp với điều kiệnthiên nhiên thuận lợi cho phép Việt Nam có thể sản xuất nông nghiệp quanh năm.TPP sẽ mở ra cơ hội thúc đẩy đầu tư của các nước trong khối vào Việt Nam, nâng caotrình độ sản xuất và tạo khả năng cho ngành nông nghiệp Việt Nam tham gia tốt hơnvào chuỗi giá trị trong khu vực và trên toàn cầu
Thứ hai, khi TPP có hiệu lực, thuế suất sẽ giảm đến 90%, thậm chí nhiều dòngthuế về 0% nên giá hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm xuống, doanh nghiệp ViệtNam có cơ hội tham gia cạnh tranh bình đẳng hơn Các mặt hàng nông sản của ViệtNam ngày càng trở nên hấp dẫn trên thị trường thế giới
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là quy mô nhỏ, công nghệlạc hậu nên gia nhập TPP cũng mở ra cơ hội cho Việt Nam trong thu hút đầu tư, hợptác với nước ngoài nhằm hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng sảnphẩm, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu Trong 11 nước TPP còn lại, Hoa
Kỳ và Nhật Bản là 2 đối tác quan trọng của Việt Nam trong thu hút vốn FDI Theo đó,Nhật Bản có thể đầu tư vào Việt Nam để tận dụng những ưu thế, lợi thế về nôngnghiệp của Việt Nam, ngược lại Việt Nam sẽ tiếp thu công nghệ và đầu tư từ NhậtBản để cung cấp các sản phẩm nông nghiệp như rau quả, hoa tươi, cá ngừ, tôm…sang Nhật Bản và các nước TPP khác
- Dịch vụ tài chính
Trang 7Dịch vụ tài chính là lĩnh vực đàm phán được các nước TPP đặc biệt quan tâm, kỳvọng đưa TPP trở thành hiệp định tự do hóa của thế kỷ 21 với những cam kết sâurộng về tiếp cận thị trường trên các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.Hiện nay, độ mở cửa của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam vẫn còn thấp, các thịtrường dịch vụ, thị trường lao động, khoa học công nghệ…
- Chính sách cạnh tranh và doanh nghiệp nhà nước
Đối với Việt Nam, DNNN hiện vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế (lĩnhvực kinh doanh, số lượng lao động, tài sản, đóng góp NSNN, đóng góp GDP) Do đó,tham gia TPP vừa là thách thức song cũng là cơ hội để Việt Nam thực hiện cải cáchkhu vực DNNN Khi tham gia TPP, các DNNN sẽ không còn được hưởng các ưu đãi,không còn những đặc quyền, đặc lợi, các doanh nghiệp tư nhân sẽ có cơ hội để pháttriển và cạnh tranh bình đẳng Đồng thời, TPP sẽ tạo sức ép thúc đẩy các DNNN chủđộng nâng cao năng lực cạnh tranh
- Mua sắm chính phủ
Việt Nam, đến nay vẫn chưa mở cửa với mua sắm chính phủ Với cam kết về muasắm chính phủ trong TPP, việc đấu thầu sẽ thuận lợi hơn, minh bạch hơn, nhiều lựachọn cho chủ đầu tư và tăng cường chất lượng cho công trình, cũng như thu hútđược đầu tư tư nhân Cái lợi rõ ràng có thể nhìn thấy là dùng ngoại lực, thay đổi môitrường bên trong Ngoài ra khi tham gia TPP, Việt Nam có thêm điều kiện thuận lợi
để đàm phán hi p định mua sắm chính phủ của WTO và hoạt động đấu thầu sẽ trởnên minh bạch, công khai hơn Đồng thời, đấu thầu sẽ khiến cho các khoản chi tiêungân sách đạt hiệu quả cao hơn
- Quy tắc xuất xứ
Đối với những nước có nền kinh tế hướng tới xuất khẩu như Việt Nam, lợi íchchủ yếu và trực tiếp mà Việt Nam có thể hy vọng từ việc ký FTA với các đối tác là ởviệc các đối tác sẽ loại bỏ thuế quan cho hàng xuất khẩu Việt Nam Tuy nhiên, việcloại bỏ thuế quan cho các đối tác trong FTA chỉ áp dụng đối với “hàng hóa có xuất xứ
từ đối tác FTA” Nếu các quy định về quy tắc xuất xứ không phù hợp với tình hình sảnxuất, cung ứng nguyên vật liệu đầu vào của nước xuất khẩu thì hàng hóa nước đó sẽkhó đáp ứng được các điều kiện để được coi là “có xuất xứ” phù hợp và do đó sẽkhông được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA Trong các trường hợp như vậy, lợi ích
lý thuyết mà nước xuất khẩu hy vọng có được từ FTA sẽ bị vô hiệu hóa bởi các quytắc xuất xứ hàng hóa không hợp lý này Vì vậy, quy tắc xuất xứ là một nội dung quan
Trang 8trọng trong bất kỳ FTA nào Đối với Việt Nam, quy tắc xuất xứ nội khối tạo nên sức
ép, đồng thời mở ra cơ hội tăng cường thu hút FDI
Trang 9II Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
1 Thuận lợi của Việt Nam để thu hút vốn đầu tư nước ngoài:
Các yếu tố cơ bản:
Chế độ chính trị ổn định, an toàn; Nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ; Vịtrí địa lý thuận lợi; Tài nguyên thiên nhiên phong phú Đặt trong bối cảnh Việt Namđang có nhiều thuận lợi, đại diện Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng Việt Nam đang cónhiều thuận lợi để thu hút đầu tư:
Thứ nhất, đó là sự quan tâm chỉ đạo điều hành quyết liệt của Chính phủ, bộ
ngành và địa phương trong cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút vốn FDI
Thứ hai, xu thế đầu tư của thế giới vào khu vực châu Á và ASEAN cũng đang ngày
càng tăng Đặc biệt là xu hướng chuyển dịch của các nhà đầu tư nước ngoài từ TrungQuốc và Thái Lan sang các nước ASEAN Trong đó Việt Nam được đánh giá là điểmđến đầu tư hấp dẫn
Thứ ba, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với 55 nền kinh tế, với hơn 90% các
dòng thuế suất được giảm về 0%, được xem là lợi thế lớn cho nhà đầu tư để bỏ vốnvào Việt Nam
Thứ tư, nhiều dự án cơ sở hạ tầng đang được xây dựng như năng lượng, điện,
đường xá… sẽ góp phần hoàn thiện hơn điều kiện vật chất, đáp ứng nhu cầu của nhàđầu tư
Thứ năm, theo đánh giá của tổ chức quốc tế, Việt Nam được đánh giá có môi
trường đầu tư khá tốt, khi đứng thứ 9 về mức độ hấp dẫn đầu tư, tăng 2 bậc so vớinăm 2013 Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng trưởng ổn định
Trang 102 Tác động hai mặt của vốn đầu tư nước ngoài tới nền kinh tế Việt Nam.
2.1 Vốn đầu tư trực tiếp: (FDI)
2.1.1 Lợi ích:
Đầu tư nước trực tiếp nước ngoài đã góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền kinh
tế Việt nam tư tập trung sang nền kinh tế thị trường, đồng thời nâng cao năng lựcsản xuất công nghiệp Tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài tăng bền vững ở tất cả các địa phương trong cả nước, góp phần thúc đẩychuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam trong một số ngành kinh tế quan trọngcủa đất nước như viễn thông, khí hoá dầu, tin học, ô tô …Trước hết chúng ta phảikhẳng định là: Đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho thúc đẩy phát triển kinh
tế, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam:
- Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh tế:
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi mộtnền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trongnước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốnFDI Việt nam là một trong những nước đang phát triển, vì vậy mà chúng ta rất cầnnguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước
- Khi thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chúng ta còn có thể thu hút được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới:
Điều đó góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế trong nước,thu hút được các chuyên gia nước ngoài vào làm việc, từ đó tạo điều kiện cho độingũ kỹ sư trong nước có điều kiện học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm tiến tớilàm chủ công nghệ.Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn cóthể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng” Tuy nhiên,công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI
từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyếtquản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích luỹ và phát triển qua nhiều năm vàbằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyếtquản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thucủa đất nước
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các vùng kinh tế còn kém phát triển.
Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân, tránh lãng phí nguồn lực laođộng (nước ta lại là một nước có cơ cấu dân số trẻ có nguồn lực lao động dồi dào) Vìmột trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sảnxuất thấp, nên công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa
Trang 11phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góptích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương
- Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước:
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các
xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng FDI cũng
đã giúp Việt nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềmnăng xuất khẩu của Việt nam FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành côngnghiệp chủ đạo của Việt nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong ngànhmay mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện
- Học tập được kinh nghiệp quản lý, lãnh đạo điều hành doanh nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn Từ đó góp phần nâng cao năng lực quản
lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
- Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ công ty có vốn đầu tư củacông ty đa quốc gia mà ngay cả các công ty khác trong nước có quan hệ làm ăn vớicông ty cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nướcthu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩymạnh xuất khẩu
- Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước
Việc Việt nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngàycàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt nam trên nhiều phươngdiện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu,tham gia vào các thị trường quốc tế,… FDI đã hỗ trợ Việt nam một cách tích cựctrong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kếtthoả thuận khung với EU, bình thường hoá và thoả thuận thương mại song phươngvới Mỹ.Trong những năm gần đây, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam đãtăng lên đáng kể Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường vốn cũng đồng nghĩa với việcViệt nam sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, nhất là khi khả năng hấp thụ vốn của nềnkinh tế Việt nam là chưa cao
Trang 122.1.2 Bất lợi:
Song, trong lĩnh vực tưởng chừng toàn những điều tốt lành này, những tác độngmặt trái của FDI vẫn ẩn khuất đâu đó:
- Thứ nhất làm tăng lạm phát: Thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn đầu tư này
chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung nhữnghàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ
đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán,tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực
tế Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kíchthích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹcần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lựctăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làmtăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước
- Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”)
không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thìmặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó làmột mặt Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạngcông nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ
bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội” Ngoài
ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh
tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra Do đó, hiệu quả tiếpnhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí củanước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà,
ba tiền thóc”
- Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các
chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3USD, thậm chí nhiều hơn Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tănglượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng “Hợp lực” củanhững yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng”của tăng trưởng kinh tế gây ra
- Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự
án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và lànguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai Đặc biệt, các dự án xâydựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho cácnhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của cácthế hệ tương lai
- Thứ năm, chuyển giao công nghệ