Tuy vậy, trong quản lý sử dụng đất đai chúng ta còn một số hạn chế như: Năng suất đất còn thấp, nhiều diện tích còn hoang hóa, tình trạng mất cân đối trong ngành nông nghiệp vẫn còn, hàn
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN VÕ ĐỊNH
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2014
Tác giả
Chu Thị Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Võ Định đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, trong khoa đào tạo sau đại học, tập thể, cán bộ công nhân viên - Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ chuyên môn các phòng ban của huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội, Đảng ủy - UBND - HTX NN các xã trên địa bàn nghiên cứu, các hộ gia đình, người dân địa phương trên địa bàn nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương để tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu của mình
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 26 tháng 3 năm 2014
Tác giả
Chu Thị Minh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng biểu vii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA 4
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất trồng lúa và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 4
1.1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất trồng lúa 4
1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 10
1.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 14
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 16
1.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở một số nước trên giới và ở Việt Nam 18
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trông lúa ở một số nước trên thế giới 18
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trông lúa ở Việt Nam 23
1.3 Tổng quan về các đề tài đã nghiên cứu 32
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Chương Mỹ 34
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 54
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 54
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 55
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích xử lý số liệu 56
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá 56
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu kinh tế phản ánh hiệu quả sử dụng đất 56
2.3.2 Đánh giá hiệu quả đất trồng lúa 57
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58
3.1 Thực trạng sử dụng đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2012 58
3.1.1 Sử dụng đất trồng lúa huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010 - 2012 58
3.1.2 Các loại hình sử dụng đất trồng lúa 61
3.1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng trên đất trồng lúa 64
3.2 Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ 66
3.2.1 Giá trị sản xuất các loại cây trồng trên đất lúa huyện Chương Mỹ năm 2012 66
3.2.2 Hiệu quả kinh tế trên 1 ha của một số cây trồng trồng trên đất trồng lúa huyện Chương Mỹ năm 2012 67
3.3 Hiệu quả sử dụng đất lúa của các nông hộ nghiên cứu 70
3.3.1 Thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu 70
3.3.2 Tình hình sử dụng đất trồng lúa của các nông hộ điều tra theo vùng nghiên cứu 72
3.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của các nông hộ điều tra 76
3.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa về mặt xã hội 87
3.3.5 Đánh giá hiệu quả trồng lúa về mặt môi trường 88
3.4 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở vùng nghiên cứu 90
Trang 73.4.1 Ảnh hưởng của điều kiện địa hình, thời tiết, khí hậu, mùa vụ 90 3.4.2 Ảnh hưởng của giống cây trồng mới, kỹ thuật công nghệ, đầu tư vốn 91 3.4.3 Ảnh hưởng của giá cả thị trường 93 3.4.4 Ảnh hưởng của tập trung ruộng đất 93 3.5 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 94 3.5.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 94 3.5.2 Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 97 3.5.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa 100 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 86 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
7 CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
12 DSKHHGĐ Dân số kế hoạch hóa gia đình
32 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
36 SALT Kỹ thuật canh tác trên đất dốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
2.1 Bảng thống kê các nhóm đất của huyện Chương Mỹ năm 2012 42 2.2 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Chương Mỹ năm 2012 44 2.3 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Chương Mỹ từ năm 2010 - 2012 46 2.4 Phân loại độ tuổi dân số của huyện Chương Mỹ năm 2012 52
2.5 Tình hình dân số và lao động của huyện Chương Mỹ thời kỳ 2010 –
2.6 Mẫu điều tra các hộ trồng lúa tại 3 vùng nghiên cứu 54 3.1 Đặc điểm sử dụng đất trồng lúa của Chương Mỹ năm 2012 58 3.2 Biến động đất trồng lúa huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010 – 2012 60
3.3 Diện tích và cơ cấu diện tích đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ
3.4 Tổng hợp các loại hình sử dụng đất trồng lúa 63 3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa từ năm 2010-2012 65
3.6 Giá trị sản xuất các loại cây trồng trên đất lúa
3.7 Hiệu quả kinh tế trên 1 ha của một số cây trồng trồng 68 3.8 Thông tin cơ bản về các hộ trồng lúa điều tra năm 2013 71 3.9 Các loại hình sử dụng đất sản xuất lúa của các nông hộ vùng bán sơn địa 73 3.10 Các loại hình sử dụng đất trồng lúa của các nông hộ vùng đồng bằng 74 3.11 Các loại hình sử dụng đất trồng lúa của các nông hộ vùng ven sông Đáy 75 3.12 Năng suất của một số loại cây trồng chính trên đất lúa ở vùng nghiên cứu 77
3.13 Giá trị sản xuất của một số loại cây trồng chính trên đất lúa ở vùng
3.14 Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính trồng trên đất lúa tại vùng 80
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Bản đồ hành chính huyện Chương Mỹ năm 2012 35
2.2 Một số yếu tố khí hậu đặc trưng của huyện Chương Mỹ 37
2.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Chương Mỹ năm 2012 45
2.4
Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện 2010 -2012 47 3.1
Biến động cơ cấu đất trồng lúa năm 2010 - 2012 62
3.2 Cơ cấu các loại hình sử dụng đất trồng lúa huyện
Chương Mỹ
64
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của đất nước, diện tích đất đai có hạn về số lượng, nhưng sức sản xuất của nó không ngừng được tăng lên nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách hợp lý Chính vì vậy, đất đai cần được quản lý, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả Sử dụng nguồn tài nguyên đất phải gắn với cải tạo, bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đảm bảo nhu cầu sống cho con người, đồng thời đáp ứng nhu cầu cho phát triển mạng giao thông, xây dựng đô thị, các khu cụm công nghiệp, dành quỹ đất hợp lý cho phát triển thương mại, dịch vụ, văn hóa xã hội an ninh quốc phòng Do vậy, một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay là quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
Trong những năm qua, Nhà nước đã rất chú trọng tới công tác quản lý,
sử dụng đất đai, đặc biệt đất nông nghiệp, đất trồng lúa Từ một nước trong những thập kỷ 90 của thế kỷ XX, là một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu, đến nay, sau hơn 25 năm đổi mới chúng ta đã xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, đó là một thành công lớn trong sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, trong quản lý sử dụng đất đai chúng ta còn một số hạn chế như: Năng suất đất còn thấp, nhiều diện tích còn hoang hóa, tình trạng mất cân đối trong ngành nông nghiệp vẫn còn, hàng hóa nông sản phẩm chưa thực sự đáp ứng kịp thời cho người tiêu dùng, một số diện tích đất bị hao mòn, hiệu quả sử dụng đất còn thấp
Chương Mỹ là huyện có tổng diện tích đất tự nhiện 23.240,92 ha với địa hình phức tạp và đa dạng gồm vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng và vùng đồi gò Trong những năm qua, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ, nhu cầu đất cho phát triển
Trang 13các lĩnh vực kinh tế, xã hội và đời sống dân sinh tăng cao nên cơ cấu sử dụng đất có sự biến động mạnh
Chương Mỹ là một huyện ngoại thành, nơi cung cấp thực phẩm quan trọng cho Thủ đô Hà Nội, trong nhiều năm qua sản xuất nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp của thành phố, với nhiều chuyển biến tích cực trong việc sử dụng đất đai, đặc biệt đất trồng lúa có nhiều tiến bộ Nhưng việc sử dụng đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ đang còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, đó là: Một số diện tích đất sản xuất nông nghiệp vẫn còn bỏ hoang, hoặc sử dụng sang mục đích khác; bố trí cây trồng chưa phù hợp trên từng loại đất; năng suất cây trồng chưa cao; hiện tượng đất
bị sói mòn vẫn còn; hiệu quả sử dụng đất chưa thực sự cao; chưa đáp ứng được nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người dân và thành phố Chính vì
vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” làm luận văn
tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng hiệu quả
sử dụng đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 14- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và rút ra những vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng đất
- Đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong những năm tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng đất trồng lúa, các loại hình và các kiểu sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
Đề tài hệ thống hóa một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến sử dụng đất trồng lúa, hiệu quả sử dụng đất trồng lúa Đánh giá thực trạng sử dụng đất trồng lúa và phân tích hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của huyện Chương Mỹ; Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất trồng lúa, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong những năm tới
- Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Phạm vi về thời gian:
Đề tài thu thập các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian 2010 -
2012, số liệu khảo sát điều tra năm 2013
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA 1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất trồng lúa và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
1.1.1 Một số vấn đề về sử dụng đất trồng lúa
1.1.1.1 Đất nông nhiệp và sử dụng đất trồng lúa
- Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội Chính vì vậy, Luật đất đai năm
2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối
và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác” Theo Luật đất đai Việt Nam năm 2003, đất đai được chia thành 3 nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng
Đất nông nghiệp gồm: đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và đất lâm nghiệp Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được
sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác
Có thể thấy, đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là: đất
có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng Nhận thức đúng được các vấn đề trên sẽ giúp người
sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có
Trang 16hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái
- Đất trồng lúa và sử dụng đất trồng lúa
Đất trồng lúa là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương
Đất chuyên trồng lúa nước cấy trồng từ hai vụ lúa mỗi năm trở lên kể
cả luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng được một hoặc phải bỏ hoá không quá một năm
1.1.1.2 Đặc điểm của đất trồng lúa
Đất trồng lúa nước là loại đất nông nghiệp và tính chất vật lý, hoá học của đất có những thay đổi rất cơ bản so với tình trạng tự nhiên ban đầu nhờ vào chế độ canh tác lâu dài theo phương thức ngập nước có chu kỳ nhờ vào các công trình phụ trợ cảu kỹ thuật canh tác lúa nước, như hệ thống kênh mương tưới tiêu, hệ thống giao thông nội đồng
Đất trồng lúa có diện tích giới hạn: sự giới hạn đó là do toàn bộ diện tích bề mặt của trái đất cũng như diện tích đất đai của môi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị giới hạn Do diện tích đất đai có giới hạn nên người ta không thể tuỳ ý muốn của mình tăng diện tích đất lúa lên bao nhiêu cũng được Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất lúa phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất lúa theo mục đích sử dụng…và xu hướng biến động của chúng
để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất lúa có cơ sở khoa học
Có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý hoá học và sinh học trong đất lúa cũng không đồng nhất Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu, nước…) nên tính chất của đất lúa có khác nhau giữa các vùng, khu vực
Trang 17Do canh tác lúa lâu đời trong điều kiện ngập nước, trong phẫu diễn đất lúa thường có các tầng với các đặc điểm sau: Tầng canh tác là tầng chịu ảnh hưởng sâu sắc của con người, có vai trò rất quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây lúa Tầng đế cày, tiếp theo tầng canh tác Tầng này được hình thành do quá trình trồng lúa nước lâu đời, các hạt sét từ tầng canh tác lắng xuống cộng thêm tác dụng cơ học của máy kéo, cày, bừa, trâu, bò và người làm cho tầng này trở lên chặt, ít thấm nước và khí
Thời gian trồng lúa càng lâu đời thì tầng này xuất hiện càng rõ và mỏng dần đến ổn định (chiều dày từ 5 - 10 cm) Sự hình thành tầng đế cày có ý nghĩa quan trọng đối với độ phì đất lúa Nó có thể ngăn cản nước thấm quá nhanh đảm bảo cho tầng canh tác giữ được nước trong thời gian tương đối lâu, các chất dinh dưỡng ít bị thấm trôi đi Tuy nhiên, nếu tầng này quá chặt thì nước lại thấm khó, ảnh hưởng xấu đến sự đổi mới hoàn cảnh dinh dưỡng ở tầng canh tác, cản trở bộ rễ phát triển
Theo Bùi Huy Đáp (1984) đất nhiệt đới dù ở vùng khô hạn hay ẩm đều tương đối khó sử dụng và dễ có chiều hướng thoái hóa
Trong điều kiện ngập nước, rễ cây lúa cũng hút thức ăn dễ dàng hơn do
ở trạng thái khử mà xung quanh rễ lúa lại là vùng ôxy hoá nên chất dinh dưỡng hòa tan dễ dàng di chuyển vào cây Mặt khác, nhờ có khả năng ôxy hoá của rễ cây lúa mà nếu có nhiều chất độc đã tích luỹ do quá trình khử gây
ra thì chúng được ôxy hoá và trở nên vô hại Nhờ ngập nước mà khí cacbonic vốn tạo ra nhiều do các chất hữu cơ phân giải bị đẩy và tích luỹ trên mặt nước làm nguồn dự trữ cho quá trình quang hợp Quá trình canh tác lúa còn tạo cho đất lúa ở trong hoàn cảnh luân phiên khô ẩm, cho nên quá trình ôxy hoá khử xảy
ra phổ biến
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Nếu sử
Trang 18dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của nó không ngừng được nâng lên Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức thâm canh và chế độ canh tác hợp lý Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất đai Vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năng suất đất đai tăng lên
1.1.1.3 Phân loại đất trong sản xuất lúa
Theo kết quả đánh giá sử dụng đất, toàn quốc có 15 loại sử dụng đất chính phân bố trên 388 đơn vị đất Để đảm bảo phát triển nông nghiệp theo hướng thâm canh đa dạng hoá cây trồng, tăng thu nhập cho nông dân có 6 loại đất chính được lựa chọn phân bố trên 169 đơn vị đất
Cây lúa có thể sống trên nhiều loại đất từ đất cát đến đất sét, từ đất cao đến đất ngập nước Cây lúa cũng có thể chịu đất chua, phèn, mặn ở giới hạn nhất định miễn là có đủ nước (nước mưa, nước tưới) trong thời gian sinh trưởng và phát triển Song để có thể phát triển tốt, cho năng suất cao, cây lúa cần đất đai giàu dinh dưỡng, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, đất tơi xốp, thoáng khí khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy, thành phần cơ giới thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (PH từ 5,5-7,5)
Một số loại đất chính, đã, đang và sẽ trồng lúa ở Việt Nam
Nhóm đất cát: Đắc điểm cơ bản của đất cát là có thành phần cấp hạt thô, rất nghèo dinh dưỡng, khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng thấp
Nhóm đất mặn: Đặc điểm cơ bản của nhóm đất này là có hàm lượng tổng số muối tan cao Các chất dinh dưỡng khác như: Đạm, lân, kali ở mức trung bình đến khá Về mặt lý tính, đất mặn thường có thành phần cấp hạt từ thịt nặng đến sét rất dẻo, dính khi có nước, khi khô thì co lại, nứt nẻ
Nhóm đất phèn: Nhóm đất phèn được chia là 2 loại: đất phèn tiềm tàng
và đất phèn hoạt động Hiện nay cả hai loại đất này đều được sử dụng để trồng lúa
Trang 19Nhóm đất lầy và than bùn:
Đất lầy hay còn gọi là đất Glây: Đất glây có độ phì nhiêu tiềm tàng cao, nếu được cải tạo thì nhanh chóng trở thành đất tốt Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu để cải tạo, sử dụng đất glây Đất than bùn: Đất than bùn thường được sử dụng trồng lúa nếu tầng than bùn ở độ sâu 25-30 cm; những nơi đã khai thác than bùn có thể được cải tạo để trồng lúa, nuôi trồng thuỷ sản
Nhóm đất phù sa: đất phù sâ được hình thành do sản phẩm bồi đắp của các hệ thống song, là nhóm đất chủ lực cho sản xuất lúa, cây lương thực và các cây ngắn ngày khác Được chia là 3 loại: đất phù sa hệ thống sông Hồng, đất phù sa hệ thống sông Cửu Long và đất phù sa hệ thống các sông khác
Nhóm đất xám bạc màu: Đất xám bạc màu có đặc điểm là thành phần
cơ giới nhẹ, nghèo chất dinh dưỡng nhưng vẫn có giá trị vì vẫn có thể phát triển cây lâm nghiệp…
Nhóm đất đen nhiệt đới: Đất thích hợp cho những loại cây: lúa, đỗ đậu, ngô, mía, các loại cây ăn quả Ở địa hình bằng thoát nước kém, nhóm đất này
có thể dành để trồng lúa cũng như một số cây trồng khác
Nhóm đất đỏ vàng: Đặc diểm của đất đỏ vàng là có thành phần cơ giới nặng Cấp hạt thường là nặng, hàm lượng mùn, đạm, lân tổng số khá cao, kết cấu tốt nên đất vẫn tơi xốp và thoáng khí
Lúa được trồng tập trung chủ yếu trên các loại đất chính sau: Đất phù
sa với các loại hình canh tác chính là: 2 vụ lúa, 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,
1 vụ lúa + 2 vụ màu
Đất mặn, đất phèn (2 vụ lúa, 1 vụ lúa + 1 vụ màu) Đất cát (màu đông xuân + lúa mùa hoặc hè thu), những nơi có điều kiện thâm canh cao có thể chuyển đổi thành cơ cấu 3 vụ ( màu đông xuân + khoai lang đông)
Đất xám bạc địa hình bằng và thấp; đất xám Feralit biến đổi so trồng lúa (2 vụ lúa và 1 lúa + 1 màu)
Trang 201.1.1.4 Nguyên tắc sử dụng đất trồng lúa và loại hình sử dụng đất trồng lúa
- Nguyên tắc sử dụng đất lúa
Đất lúa là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Cho nên, sử dụng đất lúa phải trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất lúa
Sử dụng đất lúa ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên
cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm và hướng tới xuất khẩu Do đó, đất lúa cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất lúa có hiệu quả kinh tế cao
Thực hiện sử dụng đất lúa theo nguyên tắc đầy đủ và hợp lý là cần thiết, bởi nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng lương thực trên một đơn vị diện tích, xây dựng chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì của đất Mặt khác, trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa và phát triển nền nông nghiệp bền vững
- Về nguyên tắc sử dụng đất lúa đầy đủ
Đây là nguyên tắc quan trọng, sử dụng toàn bộ diện tích đất lúa cần được sử dụng hết vào sản xuất lúa, với việc bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất lúa đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất Đảm bảo diện tích đất lúa luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người
Trang 21sử dụng đất lúa thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây lúa, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất,… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm
1.1.2 Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
1.1.2.1 Khái niệm hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
- Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất lúa
Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học -
kỹ thuật, lao động, đất đai, trao đổi để phát triển cây trồng có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sử dụng đất trồng lúa, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phù hợp với đặc điểm sinh thái và bảo vệ môi trường
Trên quan điểm phát triển hệ thống đất trồng lúa, thực hiện việc sử dụng đất theo hướng tập trung chuyên môn hoá, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Phương thức thâm canh ở nước ta chủ yếu là bằng con đường đầu tư để phát triển nông nghiệp
Trang 22Quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa gắn liền với hiệu quả xã hội và phát triển nông nghiệp bền vững Thực hiện sử dụng đất trồng lúa một cách đầy đủ, hợp lý với quan điểm đúng đắn đảm bảo được sự phát triển nhằm tăng nhanh sản phẩm nông nghiệp, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sự cân bằng sinh thái
- Khái niệm hiệu quả
Trong sản xuất hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất; trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận; trong lao động hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra trong thời gian Trong xã hội, hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó Vậy, hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu
xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự
ổn định lâu của hiệu quả Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa có thể xem xét ở các mặt sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối đất lúa là mức đạt được các mục tiêu KT - XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây lúa, tăng chất lượng và tổng sản phẩm lúa hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu lương thực cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất lúa nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ
Trang 23ra ít nhất, ảnh hưởng ít nhất tới môi trường Đó là phần kết quả quá trình đầu
tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao
- Các tiêu chuẩn đó được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất
cơ bản theo nguyên tắc tối đa hóa có ràng buộc Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng lương thực nhất định, hoặc thực hiện cực đại hóa lượng lương thực khi có một lượng nhất định đất lúa và các yếu tố đầu vào khác
- Hiệu quả sử dụng đất lúa có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đến hệ thống môi trường, đến những người lao động ngành nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất lúa phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bảo vệ môi trường
Về mặt kinh tế: Loại giống lúa nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển
ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất lúa là thực
hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm
Hệ thống sử dụng đất lúa phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất lúa
Tổng giá trị sản lượng lúa trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất lúa
Về mặt xã hội: Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng
thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội Như vậy, việc đáp ứng được các nhu cầu của người dân là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường…) Sản phẩm
thu được phải thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của người nông dân
Trang 24Về bảo vệ môi trường: Loại hình sử dụng đất lúa phải bảo vệ được độ
phì đất, ngăn ngừa sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ phì nhiêu của đất lúa tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và sử dụng đất trồng lúa bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
Như vậy, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường có quan hệ mật thiết với nhau, có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển trong sản xuất lúa theo hướng bền vững Mặt khác, hiệu quả kinh tế chỉ thể hiện mục đích của người sản xuất là tối đa hóa lợi nhuận Nhưng muốn sử dụng đất lúa theo hướng bền vững cần quan tâm đến cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trường
1.1.2.2 Nội dung hiệu quả đất trồng lúa
Hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Nội dung xác định hiệu quả kinh tế đất trồng lúa bao gồm: Xác định yếu tố đầu vào: là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, v.v
Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận, v.v
Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận, từ đó làm
cơ sở để nhà sản xuất tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng Nâng cao hiệu quả kinh tế sẽ làm cho thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện
Đối với sản xuất lúa, nâng cao hiệu qủa kinh tế sử dụng đất trồng lúa có
ý nghĩa rất quan trọng Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng lúa thì trọng tâm là phải tiết kiệm nguồn lực, với nguồn lực đất đai có hạn, đòi hỏi người sử dụng đất, người sản xuất là làm thế nào để tạo ra được số lượng lương thực có chất lượng tốt nhất Người sản xuất có cơ hội hơn trong việc tích luỹ vốn đang tập trung vào tái sản xuất mở rộng
Trang 25Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là xu hướng tất yếu của sự phát triển xã hội Tuy nhiên ở mỗi một lĩnh vực khác nhau thì có những quan tâm khác nhau Đối với sản xuất lúa, việc nâng cao hiệu quả kinh tế là giúp người lao động trồng lúa tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì được sử dụng sản phẩm hàng hoá với giá thành hạ và chất lượng lại tốt hơn Nâng cao hiệu quả kinh tế giúp cho cả xã hội có nhiều thuận lợi, lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng ngày càng được tăng lên
Đất trồng lúa có vị trí rất quan trọng trong qúa trình sản xuất nông nghiệp và chiếm tỷ lệ lớn trong nông nghiệp Phần lớn các sản phẩm của ngành trồng trọt như lương thực, thực phẩm để được sản xuất trên đất trồng lúa đều cung cấp nhu cầu ăn, uống Từ đó, làm cơ sở cho các chủ thể có các định hướng sử dụng tốt đất trồng lúa, thúc đẩy việc đầu tư vào đất nhằm đem lại kết quả kinh tế cao, đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sống
1.1.2.3 Bản chất hiệu quả đất trồng lúa
Về mặt định lượng là xem xét, so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ
ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn hơn chi phí
bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực quản
lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Như vậy, hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế có quan hệ mặt thiết
với nhau
1.1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa là một việc làm hết sức quan trọng của mỗi Quốc gia vì diện tích đất lúa có hạn, nhưng nhu cầu lương thực của
xã hội ngày một tăng Khối lượng đầu vào của quá trình sản xuất lúa không tương xứng với khối lượng đầu ra nên nâng cao hiểu quả sản xuất lúa phụ
Trang 26thuộc vào cây giống Vì thế chúng ta phải tìm cách để có được những cây giống tốt phù hợp với điều kiện từng vùng để hiệu quả cao
Một số địa phương chưa thực hiện đúng chủ trương sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa nước, nên vẫn còn tình trạng quy hoạch
sử dụng đất phi nông nghiệp trên đất sản xuất nông nghiệp có năng suất cao, thậm chí trên đất chuyên thâm canh lúa nước, trong khi ở địa phương vẫn còn nhiều quỹ đất khác Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị nhiều nơi còn dàn trải, có không ít địa phương tỷ lệ lấp đầy còn dưới 60% song vẫn đề nghị mở thêm nhiều khu, cụm công nghiệp khác
Công tác quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi phê duyệt tại nhiều địa phương chưa được coi trọng trong khâu thực hiện; việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt còn mang tính hình thức, các quyền của người sử dụng đất trong phạm vi quy hoạch ở nhiều nơi còn bị
vi phạm, chẳng hạn như không cấp Giấy chứng nhận, không được sửa chữa nhà cửa Nhiều nơi để cho dân ngang nhiên lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép không bị xử lý, gây khó khăn phức tạp và làm tăng chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự nghiêm túc, đặt biệt là việc quản lý, sử dụng đất theo các chỉ tiêu quy hoạch
Do đó, để tạo nên sự đột phá trong thực hiện Nghị quyết 26 của Trung ương
về “Tam nông”, việc đầu tiên là công tác quy hoạch sử dụng đất phải được coi
là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện quyền định đoạt về đất đai; tạo lập cơ sở pháp lý cho công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; kể cả hỗ trợ điều tiết thị trường
- Đất trồng lúa đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia
Trong hai thập niên vừa qua, quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp diễn ra mạnh mẽ đã khiến đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể
Bài học từ Philippines cho thấy, để đổi lấy các khu công nghiệp, nước
Trang 27này đã mất rất nhiều cánh đồng lúa phì nhiêu và mỗi năm phải nhập 1,5 triệu tấn lương thực
Dân số nước ta đông, trong đó hơn 70% sống ở khu vực nông thôn, đất canh tác không nhiều, nếu tính theo đầu người thì ở mức thấp nhất thế giới Theo dự báo, cơ cấu dinh dưỡng của người Việt Nam trong thời gian tới sẽ thay đổi theo hướng giảm dần nhu cầu về chất bột, song với tốc độ tăng trưởng dân số bình quân 1,2%/năm, cộng với nhu cầu lương thực cho chế biến, chăn nuôi sẽ tăng mạnh nên tổng nhu cầu tiêu thụ lương thực trong nước
sẽ tăng thêm trong vài thập niên tới
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trồng lúa
1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, không khí, địa hình, thổ nhưỡng ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lúa, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng sản xuất lúa cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định giống lúa chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Khí hậu, thời tiết: Yếu tố khí hậu, thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lúa và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng, trực tiếp ảnh hưởng đến
sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây lúa Lượng mưa có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây lúa
1.1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là: năng suất lúa, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
Trang 28Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và điều kiện tự nhiên – xã hội: khác nhau đã tác động đến việc quản lý sử dụng đất lúa, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển và kinh tế khác nhau dẫn đến trình
độ sử dụng đất lúa cũng khác nhau Nền kinh tế và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất lúa của con người càng được nâng cao
Hệ thống chính sách và những quy định của Nhà nước là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng đất lúa Có bốn nhóm chính sách có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất lúa:
nghiệp;
giáo dục, thông tin, nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ;
Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất lương thực của Nhà nước Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thế kinh doanh, trình độ đầu tư
1.1.4.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
Đây là nhân tố cơ bản quy định hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất lúa
Cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc, các dịch vụ về sản xuất và khoa học - kỹ thuật Những yếu tố này tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất lúa
1.1.4.4 Kỹ thuật,công nghệ
Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đất lúa và hiệu quả kinh tế
Trang 29Đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử dụng chất hóa học trong sản xuất lúa, phát huy kiến thức cổ truyền của nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp nói chung và hiệu qủa sử dụng đất lúa nói riêng phụ thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất Có khi cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế
Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trìnnh khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa
1.1.4.5 Điều kiện sản xuất của nông hộ
Kiến thức và kỹ năng của nông dân góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất lúa Khả năng tiếp thu kỹ thuật
và năng suất cây trồng có liên quan chặt chẽ đến kiến thức và kỹ năng canh tác của nông dân Trình độ văn hóa và kinh nghiệm có thể được coi là những biến độc lập quy định đến năng suất và hiệu quả trong sản xuất lúa
1.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở một số nước trên giới và ở Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trông lúa ở một số nước trên thế giới
Các nước Châu Á trong quá trình sử dụng đất trồng lúa rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp
Trang 30chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh - môi trường Những năm đầu của thập kỷ 70 - 80 nhiều vùng đã đưa các cây trồng cạn vào
hệ thống cây trồng trên đất lúa làm tăng hiệu quả sử dụng đất
Ở cả khu vực Đông Nam á, người nông dân và chính phủ phải đối mặt với lựa chọn sản xuất, họ có thể gieo cấy các giống lúa cho năng suất cao và thường có thể thu hoạch với thời gian ngắn hơn, song phải dựa vào nước tưới, bón nhiều phân hơn và sử dụng thuốc trừ sâu nhiều hơn Chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn của những giống lúa này giúp nông dân có khả năng trồng các vụ khác (lúa hoặc các cây trồng khác) sau khi vụ lúa được thu hoạch Một lựa chọn khác, nông dân có thể gieo cấy các giống lúa truyền thống, có xu hướng cho năng suất thấp hơn và chu kỳ sinh trưởng dài hơn, song đòi hỏi ít nước và phân bón hơn và sử dụng hạt giống rẻ hơn Các giống lúa gạo truyền thống thường được người tiêu dùng chấp nhận mua với giá cao hơn (năm 2011 ở Myanmar, Thái Lan và Philippin, giá bán lẻ các loại gạo có giá cao nhất đều cao hơn 50-75% so với giá các loại gạo có giá trị thấp nhất) (Aye, 2009; Prasertsri, 2011; Bộ Nông nghiệp Phipippin, Cục Thống kê nông nghiệp, 2011) Pimgali et al, 1997 viết rằng “Hầu hết các giống lúa hiện đại được người tiêu dùng châu á cho là có chất lượng thấp” Lợi nhuận ròng mà nông dân thu được từ sản xuất lúa gạo phụ thuộc vào chi phí vật tư đầu vào (lao động, ruộng đất, hạt giống, phân bón và các hoá chất khác), phụ thuộc vào năng suất và giá trị bán trên thị trường Do người tiêu dùng ở khu vực này ngày càng trở nên khá giả hơn, nhu cầu đối với các loại gạo truyền thống đã tăng lên, làm tăng giá mặt hàng này Do sản xuất các giống lúa năng suất cao
có chi phí vật tư đầu vào cao hơn và giá bán trên thị trường thấp hơn, người nông dân thường lựa chọn các giống lúa truyền thống để sản xuất
Trong thời kỳ từ năm 2000 tới năm 2010, năng suất lúa gạo trung bình
ở Đông Nam á đã tăng trên 9%, tức là khoảng 0,9%/năm Dự báo tăng trưởng năng suất lúa cho đến năm 2021 sẽ diễn ra với tốc độ gần như tương tự, đạt 0,88%/năm
Trang 31Tại Trung Quốc
Lúa gạo là thành phần quan trọng trong khẩu phần ăn của hơn một nửa dân số thế giới, và đây là loại cây trồng quan trọng nhất cả về khía cạnh kinh
tế và xã hội ở Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia sản xuất và tiêu thụ lúa gạo nhiều nhất thế giới Trung quốc sản xuất và tiêu thu khoảng 1/3 sản lượng gạo của thế giới, tức là khoảng 200 triệu tấn/năm
Năng suất lúa ở Trung Quốc đã tăng rất đáng kể sau khi giống lúa lùn năng suất cao đựơc đưa vào sản xuất các giống lúa lai này đã rất thành công nên người nông dân hôm nay có thể sản xuất được nhiều lúa hơn với diện tích canh tác ít hơn
Hiện Trung Quốc có 29 triệu ha lúa lai mỗi năm, cho năng suất trung bình 6,3 tấn/ha Bộ Nông nghiệp Trung Quốc cho biết Trung Quốc sẽ duy trì sản lượng lùa hàng năm ở 500 triệu tấn, để đáp ứng nhu cầu của 1,3 tỷ dân Trên đất lúa 2 vụ ở vùng phía Nam thường được canh tác 2 hoặc 3 vụ với hệ thống cây trồng: Lúa - Lúa mì - Khoai tây hoặc Lạc - đậu tương - Lúa mì, đây là các công thức mang lại hiệu quả cao được nhiều nơi áp dụng
Trang 32- Tại Philippin
kỹ thuật canh tác trên đất dốc (viết tắt là SALT) Mô hình SALT bao gồm nhiều dạng SALT1, SALT2, SALT3, SALT4 Kỹ thuật này đã tăng độ che phủ, hạn chế xói mòn, làm giàu đất và nâng cao năng suất cây trồng từ 2 -
3 lần so với canh tác truyền thống Thực hiện phương thức canh tác trên đất dốc theo hướng chuyển đổi hệ thống cây trồng, đa dạng hoá cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm và cây lâu năm, trồng rừng đã góp phần bảo vệ được môi trường sinh thái, chống xói mòn và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất
so với các phương thức canh tác trước đây
Philippines sẽ tự cung được gạo nhờ lúa lai Nước nhập khẩu gạo lớn
nhất thế giới, Philippines, đang hy vọng có thể sản xuất đủ lúa gạo tiêu dùng sau khi tăng mạnh sản lượng, theo tin từ Bộ Nông nghiệp nước này Đây là tín hiệu khả quan cho thấy mục tiêu tự cung tự cấp lúa gạo vào năm 2013 có thể đạt được
Mặc dù vậy, các chuyên gia nông nghiệp Philippines cho rằng sẽ không thể có những kết quả khả quan nếu không lựa chọn các giống lúa lai, đầu tiên
do Trung Quốc sản xuất, và những công nghệ cùng thiết bị sản xuất mới, hiện đại Nếu thiếu những yếu tố đó, mục tiêu tự cung tự cấp gạo vào năm 2013 sẽ không đạt được.Viện Nghiên cứu Lúa gạo Philippines cho biết các giống lúa lai do Viện phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) sản xuất, như giống indica và japonica nhiệt đới, có thể cho năng suất tới 10-12 tấn mỗi hécta, gấp gần 3 lần mức 3,8 tấn ở những giống vẫn thường sử dụng
Chương trình Lúa gạo Quốc gia cho biết lúa lai đang cho năng suất cao hơn 15% so với mức 4-5 tấn mỗi héc ta ở những giống lúa thường Chính phủ Philippine đặt mục tiêu tăng diện tích lúa lai lên 500.000 – 700.000 ha vào 2013, so với 375.000 ha hiện nay
Trang 33Philippine hiện là nước đứng thứ 3, sau Trung Quốc và Ấn Độ về xuất khẩu hạt giống lúa lai Với việc tăng sản lượng gạo nhờ lúa lai, nhập khẩu gạo vào Philippines dự kiến sẽ giảm xuống chỉ 500.000 tấn vào năm 2012, thấp hơn 48,1% so với mức 860.000 tấn của năm 2011, và chỉ bằng 20% lượng nhập năm 2010
- Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài
hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp
Hơn 60% nông dân Thái Lan gồm 3,7 triệu nông hộ là những người trồng lúa trên tổng diện tích là 10,7 triệu Ha đất lúa Hàng năm sản xuất được 29,4 triệu tấn lúa, tiêu thụ nội địa 21,4 triệu tấn, còn 8 triệu tấn được xuất khẩu khiến cho Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo chủ yếu trên thị trường thế giới Giống lúa nổi tiếng nhất là KHAO DAWK MALI 105 (HOM MALI) hay còn gọi là HƯƠNG NHÀI (JASMINE) có phẩm chất ngon, mềm
và thơm
Thái Lan có nguồn gen dồi dào về giống lúa Ngân hàng gen có hơn 24.000 dòng/giống Gần 100 giống lúa cải tiến đã được công nhận đưa vào sản xuất Tổng nhu cầu lúa giống của Thái Lan khoảng 1 triệu tấn Tuy nhiên, một số nông dân thường tự để dành giống riêng trong 2-3 năm, trước khi thay thế bằng hạt giống mới Sở Lúa Gạo ước tính tổng nhu cầu lúa giống của Thái Lan xấp xỉ 571.000 tấn/năm
Ở Thái Lan, năng suất lúa dự báo sẽ tăng trên 1%/năm cho đến năm
2021, nhanh hơn tốc độ của thời kỳ 2000-2010 Các chính sách của chính phủ Thái Lan được kỳ vọng sẽ khuyến khích mạnh mẽ gia tăng năng suất – chính phủ đã cam kết mua lúa gạo của nông dân với giá cao hơn hẳn giá thị trường
Trang 34so với trước đây (Prasertsri, 2011) Trong phần lớn thời kỳ 2000-2010 giá lúa gạo mà người nông dân bán được ở Thái Lan đã ở mức cao, tăng cao hơn các mức giá tại các nước ở bán đảo khác ở Đông Nam á, giúp nông dân có đủ khả năng gia tăng sản xuất
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trông lúa ở Việt Nam
1.2.2.1 Những chủ trương của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp
Những chính sách của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp
đó là: Chính sách giá đất nông nghiệp được quy đinh tại Điều 12 Luật Đất đai
năm 2003 và mới nhất là Nhị quyết số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ Với việc chính thức công nhận giá đất thị trường và điều chỉnh giá Nhà nướ theo giá thị trường, Nhà nước Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất có giá cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất và là một trong những cơ sở sử dụng đất có giả cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất
và là một trong những cơ sở để Nhà nước xác định giá giao dịch đất giữa Nhà nước và người dân
Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất
Khi tiến hành giao đất lần đầu cho hộ nông dân vào những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XX, để giảm xung đột Nhà nước đã giao đất cho hộ theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất Hệ quả nguyên là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún Để khuyến khích nông dân tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, Nhà nước sau đó có chính sách khuyến khích nông dân “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau
Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp
Nhà nước tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền
bù đất nông nghiệp tác động lớn đến hiệu quả sử dụng đất của nông dân
Trang 35Luật Đất đai của Việt Nam quy định: “Nhà nước có quyền thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải đền bù cho nông dân đất mới theo diện tích và hạng đất tương đương Nếu không có đất đền bù hoặc đất đền bù ít hơn đất bị thu hồi, Nhà nước đền tiền cho nông dân theo giá đất do Nhà nước quy định tại từng thời điểm
Chính sách thuế đất nông nghiệp
Từ năm 2003 đến năm 2010, chính phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điều cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền Tiền thuế đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu thầu Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm nhẹ ở nhiều khâu, kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa thu thuế giá trị gia tăng từ đất
Tiếp cận ở một khía cạnh cụ thể hơn đối với vấn đề sở hữu của nông dân trong cơ chế thị trường đặc biệt là về đất đai, tác giả Nguyễn Văn Bích cho rằng cần thiết phải làm rõ quyền hạn của người nhận được quyền sử dụng đất (tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất, quyền chuyển đổi cho người khác khi chuyển sang làm việc khác, quyền thừa kế quyền sử dụng cho người được thừa kế theo pháp luật, quyền cho mượn tạm thời (theo vụ) Quyền của nông dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), quyền này nên quy định rõ cho từng loại đất (đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng ), xác định rõ các đối tượng được giao quyền sử dụng đất, sau khi giao quyền sử dụng đất xong cần tiến hành ngay việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng
Trang 36Theo dự báo nếu tốc độ tăng dân số là 1,2% năm thì dân số Việt Nam
sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cân thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua các nhà khoa học nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn đề như: Lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao,
bố trí luân canh cây trồng, vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Năm 1960, GS.Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng tăng vụ, gối vụ, trồng xen
để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) đề cập đến
Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạc tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do GS.VS Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửa Long do GS.VS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao
Chương trình đồng trũng (1985 - 1987) do Ủy ban kế hoạch Nhà nước chủ trì Chương trình bản đồ canh tác (1988 - 1990) do Ủy ban khoa học Nhà nước chủ trì đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón
có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng ở các vùng sinh thái
Trang 37Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN – 01 (1991 – 1995) do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Bên cạnh đó, vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lực đất đai, khi hậu, để bố trí cây trồng, nâng cao hiệu qủa sử dụng đất cũng được nhiều tác giả đề cập Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng –
1997 cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 - 4 vụ/1 năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao
Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế lớn đã được bố trí trong các phương thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết được phần nào những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay Có những giá trị mô hình cho năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao trước mặt, song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biết có nơi còn làm hủy hoại môi trường, phá hủy đất Vì vậy, cần có các công trình nghiên cứu ở từng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương để đưa ra các giải pháp thích
hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững
1.2.2.2 Kết quả nghiên cứu tác động kỹ thuật nhằm tăng năng suất cây trồng
Ngay từ năm 1960, các nhà khoa học đã nghiên cứu đưa ra giống lúa xuân ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, tạo ra sự kiện chuyển biến rõ nét trong sản xuất ở đồng bằng sông Hồng Sau đó, trong vài thập kỷ trở lại đây, hàng năm ở nước ta đã đưa ra một số giống cây trồng mới có
Trang 38năng suất cao vào sản xuất: giống lúa xuân số 5, số 6 cho năng suất đạt tới
65 - 70 tạ/ha Giống ngô Bioseed; giống LVN10; LVN11,… đạt năng suất trung bình 55 - 65 tạ/ha, nếu thâm canh tốt năng suất có thể đạt 80 - 90 tạ/ha Các giống cây thực phẩm như đỗ, đậu tương, lạc,…cũng được chú trọng nghiên cứu để luân canh với ngô, lúa
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, giai đoạn 1963 - 1978
đã đưa ra hàng chục giống mới: lúa, ngô, đậu đỗ, khoai tây, khoai lang, mía, chè, cam, quýt, vải,… Giai đoạn 1990 - 2004, có khoảng 105 giống, trong đó
55 giống thuộc 14 loại cây trồng đạt tiêu chuẩn Quốc gia: lúa, đậu tương, lạc, khoai lang, khoai tây, khoai sọ, sắn,…có năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt đã được đưa vào sản xuất rộng rãi ở những vùng sinh thái góp phần thay đổi cơ cấu mùa vụ, thâm canh nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Xây dựng hệ thống canh tác và mô hình sử dụng đất phù hợp với các vùng Vấn đề luân canh, tăng vụ, chuyển vụ để sử dụng tốt hơn các điều kiện
về đất đai, khí hậu, thời tiết và nguồn lao động trong nông thôn… cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Đối với đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng, dựa trên đánh giá hiện trạng và khả năng hiệu quả chuyển đổi theo tác giả Bùi Thị Ngọc Dung sẽ chuyển từ 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa bấp bênh sang lúa
- cá kết hợp với trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm Với loại hình sử dụng đất lúa hai vụ (vùng ven biển thuộc tỉnh Ninh Bình và Thái Bình) chuyển sang trồng cói Đất lúa 2 vụ ở các xã ven các đô thị lớn chuyển sang trồng rau sạch, hoa và cây cảnh Các huyện ven biển sẽ tăng diện tích nuôi trồng thủy sản do chuyển từ đất lúa một vụ
Nghiên cứu hệ thống - nông lâm nghiệp ở Trung du miền núi phía Bắc, tác giả Lương Hồng Nguyên, Đặng Phúc và Bùi Xuân Phương đưa ra một số
hệ thống sản xuất nông nghiệp có ưu thế phát triển của vùng: hệ thống sản xuất cây lâu năm với hệ thống canh tác chè, cây ăn quả; các hệ thống sản xuất cây ngắn ngày: ngô, đậu tương và một số sản phẩm khác
Trang 39Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam, đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Những nghiên cứu này giúp người sản xuất có những hiểu biết và kiến thức để đưa ra được những quyết định, lựa chọn đúng đắn trong các hoạt động nông nghiệp
Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3 - 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây thực phẩm cao cấp đạt hiệu quả cao
Có thể nhận thấy những nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất ở trên là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng
và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Trang 40Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợi đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập [5] Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai
1.2.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở một số địa phương
- Sản xuất lúa giống, lúa gạo có thương hiệu ở Văn Chấn, Yên Bái
Đối với cây lúa nước, Văn Chấn ổn định diện tích gieo cấy đến năm
2015 là 8.110 ha và 2020 là 8.200 ha, giảm dần và xóa bỏ gieo trồng lúa nương Huyện hướng vào mở rộng sản xuất lúa giống tại cánh đồng Mường
Lò từ 12 ha hiện tại lên 200 ha vào năm 2015, đạt sản lượng 1.100 tấn đáp ứng yêu cầu sản xuất tại chỗ và cung ứng cho các vùng lân cận Dự kiến đến
2020, huyện có 400 ha sản xuất lúa giống cho sản lượng 2.400 tấn, đáp ứng giống cho khoảng 40.000 ha Cùng với sản xuất lúa giống, huyện đầu tư hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao tại các xã vùng cánh đồng Mường Lò, phấn đấu đến 2015 làm được 1.000 ha/vụ và năm 2020 đạt 1.500ha/vụ bằng các loại giống mới năng suất, chất lượng cao như Japonica, DH1, Chiêm hương,…
Tại vùng cao và thượng huyện, đầu tư thâm canh chăm sóc diện tích lúa
2 vụ, đảm bảo tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời phục tráng giống nếp Tú Lệ đặc sản thành sản phẩm có thương hiệu Văn Chấn đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong canh tác, thu hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch,… cơ giới hóa trong sản xuất và