2.1 Mục đíchĐánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương.2.2. Nội dung nghiên cứu2.2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Xác định vị trí vùng nghiên cứu. Đặc điểm địa hình, địa mạo Điều kiện khí hậu, thuỷ văn: ảnh hưởng của khí hậu đến cơ cấu mùa vụ, năng suất cây trồng,... Đặc điểm và tính chất đất đai2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Điều kiện kinh tế xã hội: Dân số, lao động, việc làm, trình độ dân trí, tình hình quản lý và sử dụng đất đai, cơ cấu các ngành nghề. Tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình độ canh tác, loại hình sử dụng đất...2.2.3. Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện: •Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp•Đánh giá khả năng đáp ứng của quỹ đất nông nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu lương thực của huyện.2.2.4. Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp+ Hiệu quả kinh tế: •Tổng vốn đầu tư, giá trị sản xuất, tổng thu nhập, hiệu quả lao động và đồng vốn từ các loại hình sử dụng đất.•So sánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất, từ đó tìm ra loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất.•Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp+ Hiệu qủa xã hội: •Khả năng tạo ra việc làm của loại hình sử dụng đất được người dân quan tâm nhiều nhất.•Khả năng nâng cao trình độ canh tác, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.+ Hiệu quả môi trường: •Sự thích hợp của cây trồng với điều kiện đất đai qua các chỉ tiêu: mức độ đầu tư phân bón, sử dụng thuốc BVTV và hệ số sử dụng đất, biện pháp luân canh cải tạo đất.2.2.5. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ.•Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ.•Định Hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.•Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả.2.2.6. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 3HÀ NỘI – 2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này của tôi là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc /
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngân
Trang 5
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Ủy ban nhân dân huyện, phòng Kinh
tế, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, và chính quyền các xã cùng nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngân
Trang 6MỤC LỤC
L I CAM OANỜ Đ i
L I C M NỜ Ả Ơ ii
M C L CỤ Ụ iii
DANH M C CÁC CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ v
DANH M C B NGỤ Ả vi
DANH M C HÌNHỤ viii
M Ở ĐẦ 1U 1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu 3
Chương 1 T NG QUAN CÁC TÀI LI U NGHIÊN C UỔ Ệ Ứ 4
1.1 Vấn đề hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4
1.1.1 Những lý luận cơ bản về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4
1.1.2 Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp .9
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 12
1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.2.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất 14
1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp .18
1.3 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.3.1 Những nghiên cứu trên Thế giới 21
1.3.2 Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở trong nước 23
1.3.3 Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất huyện Chương Mỹ 25
Chương 2 N I DUNG VÀ PHỘ ƯƠNG PHÁP NGHIÊN C UỨ 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội 27
2.2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội huyện Chương Mỹ, Hà Nội 27
2.2.3 Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ 27
2.2.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 28
2.2.5 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ 28
Trang 72.2.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp 28
2.3.2 Chọn điểm nghiên cứu 29
2.3.3 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn 29
2.3.4 Phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả 29
2.3.5 Các phương pháp khác 31
Chương 3 K T QU NGHIÊN C UẾ Ả Ứ 32
3.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 33
3.1.3 Khí hậu, thời tiết 34
3.1.4 Đặc điểm và tính chất đất đai 36
3.1.5 Thuỷ văn 38
3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 39
3.2.1 Đặc điểm nhân văn 39
3.2.2 Dân số và lao động 40
3.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 42
3.3 Tình hình sử dụng đất của huyện Chương Mỹ 44
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2012 44
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 46
3.3.3 Các tiểu vùng kinh tế sinh thái của huyện Chương Mỹ 48
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 49
3.4.1 Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 50
3.4.2 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính trong huyện 52
3.4.3 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 60
3.4.4 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất 76
3.4.5 Hiệu quả môi trường các loại hình sử dụng đất 79
3.5 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ 95
3.5.1 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ 95
3.5.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp từ 5 – 10 năm tới 95
3.6 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 98
3.6.1 Giải pháp quy hoạch sử dụng đất 98
3.6.2 Giải pháp kĩ thuật 99
3.6.3 Giải pháp về chính sách và vốn 100
K T LU N VÀ Ế Ậ ĐỀ NGHỊ 100
1 Kết luận 101
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 103
PH L CỤ Ụ 105
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu khí hậu ở Hà Nội 35Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số huyện Chương Mỹ 41Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 huyện Chương Mỹ 45Bảng 3.4 Cơ cấu diện tích sử dụng đất nông nghiệp 47Bảng 3.5 Biến động diện tích đất nông nghiệp 2007 – 2012 (ha) 47Bảng 3.6 Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện 49Bảng 3.7 Các loại hình sử dụng đất chính huyện Chương Mỹ 51Bảng 3.8 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính vùng 1 53Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính vùng 2 58Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế trên 1ha một số cây trồng chính vùng 3 59Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế trên 1ha các công thức luân canh vùng 1 62Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế trên 1ha các công thức luân canh vùng 2 67Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế trên 1ha của các công thức luân canh vùng 3 70Bảng 3.14 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của các LUT theo các tiểu vùng 73Bảng 3.15 Khả năng thu hút lao động của loại hình sử dụng đất 77Bảng 3.16 Lượng phân bón cho cây trồng chính được quy đổi ra lượng (N, P205, K20)
và tiêu chuẩn bón phân cân đối hợp lý 81Bảng 3.17 Lượng chất hữu cơ để lại cho đất sau thu hoạch
của một số kiểu sử dụng đất 85Bảng 3.18: Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế
và xã hội của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 86Bảng 3.19: Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế
và xã hội của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 90Bảng 3.20: Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế
và xã hội
của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 93Bảng 3.19 Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 97
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ biểu thị lượng mưa và nhiệt độ trung bình
của huyện Chương Mỹ 36
Hình 3.2 Biểu đồ diện tích, cơ cấu sử dụng đất năm 2012 46
Hình 3.3 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng 1 63
Hình 3.4 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng 2 68
Hình 3.5 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng 3 71
Hình 3.6 So sánh các LUT của ba tiểu vùng trong huyện74Hình 3.7 Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế và xã hội của các kiểu sử dụng đất sử dụng đất vùng 1 .87
Hình 3.8 Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế và xã hội của các ki ểu sử dụng đất sử dụng đất vùng 2 91
Hình 3.9 Kết quả đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường, kinh tế và xã hội
của các ki ểu sử dụng đất sử dụng đất vùng 3 94
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và quan trọng bậc nhất với mỗi quốc gia Là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng, là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được đặc biệt là trong nông nghiệp
Với sự phát triển mạnh của các ngành kinh tế, sự tăng nhanh của dân số dẫn đến nhu cầu đất đai cho mục đích phi nông nghiệp ngày càng tăng, đi liền với nó, nhu cầu lương thực, thực phẩm đáp ứng cho đời sống và sản xuất của con người không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng gây sức ép lớn cho ngành nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác nguồn lợi tự nhiên từ đất để đảm bảo nhu cầu về thức ăn và vật dụng Vì vậy, sản xuất nông nghiệp là một một hệ thống phức tạp trong mối quan hệ của tự nhiên với kinh tế - xã hội
Những năm qua, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển đổi sang mục đích khác diễn ra quá nhanh, khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Nhiều địa phương "thuần nông", với đất đai màu mỡ, nay cũng sụt giảm đất sản xuất nông nghiệp; diện tích tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do áp lực tăng dân số, sự phát triển đô thị hóa, công nghiệp hóa và các hạ tầng kỹ thuât Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có
Trang 130,4 ha đất canh tác.
Hiện nay, nước ta có khoảng gần 70% dân số sống ở nông thôn, nông nghiệp đang là nguồn sinh kế chính Vì vậy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 2/3 hộ gia đình làm nông nghiệp Đồng thời, ngành nông nghiệp hàng năm cũng đóng góp hàng tỷ đô la vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Với
vị trí quan trọng như vậy, nông nghiệp là chìa khóa của sự ổn định và phát triển đối với nguời dân Trong bối cảnh hội nhập, nông nghiệp nước ta có thể
có thêm nhiều cơ hội phát triển, cũng không ít những tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ổn định của nông nghiệp, ảnh hưởng đến an ninh lương thực của người nông dân, đặc biệt là người nông dân nghèo
Huyện Chương Mỹ nằm ở phía Tây Nam Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Quốc Oai; phía Đông giáp với quận Hà Đông, huyện Thanh Oai; phía Nam giáp huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức; phía Tây giáp với huyện Lương
Sơn(tỉnh Hoà Bình), cách trung tâm thành phố Hà Nội 20km Trên địa bàn
huyện có quốc lộ 6A đi các tỉnh phía Tây Bắc dài 18km, đường tỉnh lộ 419,
có chuỗi đô thị Xuân Mai - Hòa Lạc - Sơn Tây; có tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua huyện với chiều dài 16,5km Với những ưu đãi về vị trí địa lý, Chương Mỹ trở thành trung tâm giao thương kinh tế giữa các tỉnh vùng Tây Bắc với vùng Đông Bắc bộ
Tổng diện tích tự nhiên 23226,51 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm trên 2/3 tổng diện tích tự nhiên Đặc trưng của địa hình mang đặc tính trung
du miền núi, được chia cắt bởi nhiều dãy núi đá, nhiều sông suối, hình thành những rải hẹp gây lụt lội, chia cắt giao thông, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến sản suất nông nghiệp nói riêng và đời sống, phát triển kinh tế của nhân dân
Vì vậy, việc đánh giá đúng hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển nền kinh tế của địa phương, giúp lựa chọn đúng các loại hình sử dụng đất phù hợp với cây trồng, vật
Trang 14nuụi để đưa ra hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nụng nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để xõy dựng kịch bản phỏt triển kinh tế của huyện.
Xuất phỏt từ tỡnh hỡnh thực tế của địa phương, tụi tiến hành nghiờn cứu
đề tài: ‘Đỏnh giỏ hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp trờn địa bàn huyện
Chương Mỹ - thành phố Hà Nội’’
2 Mục đớch và yờu cầu của đề tài
2.1 Mục đớch
Đỏnh giỏ hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp trờn địa bàn huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội, từ đú đề xuất một số giải phỏp nõng cao hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp tại địa phương
2.2 Yờu cầu
- Nghiên cứu điều kiện sản xuất (tự nhiên, kinh tế, xã hội) và thực trạng
sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chương Mỹ, Thành Phố Hà Nội
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trờng, phát hiện u, nhợc
điểm của các loại hình sử dụng đất đang đợc áp dụng trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nông nghiệp hiện có
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Vấn đề hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.1.1 Những lý luận cơ bản về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Kết quả, mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà
ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu? Có đem lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Trên phạm vi toàn xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả phải là chi phí lao động xã hội Vì thế, bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên hữu hạn (Bùi Văn Ten, 2000)
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản
Trang 16xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2001)
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện ở:
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung thâm canh
Việc sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều các yếu tố liên quan Vì vậy, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998) Nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường;
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích của cả cộng đồng
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác
Trang 17- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành.
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía cạnh: hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội (Vũ Năng Dũng, 1997)
Theo C.Mác (1962) thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “ Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hoá và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là qui luật “ Tiết kiệm ”,
là “ Tăng năng suất lao động xã hội ”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “ Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ
sở của hết thảy mọi xã hội “ Như vậy, theo quan điểm của Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Samuel – Nordhuas cho rằng: “ Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó".(Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ, 2000)
Theo L.M Canirop" Hiệu quả của sản xuất được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung của nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng"
Trang 18Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa” Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí.
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ
ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là: mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Theo nguyên lý đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử đều không có, tạo ra hiệu quả lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ Do vậy việc tận dụng khai thác các điều kiện sẵn có, hay giải quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống Đó chính là mục tiêu
Trang 19đặt ra đối với mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội.
Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo
ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Trang 20Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường
Môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi
mà ngược lại quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh
tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
1.1.2 Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1 Khái quát về đất nông nghiệp
Theo báo cáo của World Bank (1995) hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn Trong 1200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý
Trang 21Luật đất đai 2003 phân loại đất thành 3 nhóm theo mục đích sử dụng,
đó là: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất rừng trồng, nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội (Nguyễn Đình Mẫn và Trịnh Văn Thịnh, 2000)
Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, đất đai có những tính chất đặc trưng riêng khiến nó không giống bất kỳ một tư liệu sản xuất nào khác, đó là: đất có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết sử dụng đúng
Nhận thức đúng được các vấn đề trên sẽ giúp người sử dụng đất có các định hướng sử dụng tốt hơn đối với đất nông nghiệp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên của đất đồng thời không ngừng bảo vệ đất và môi trường sinh thái
Xét cho cùng, đất chỉ có giá trị thông qua quá trình sử dụng của con người, giá trị đó tuỳ thuộc vào sự đầu tư trí tuệ và các yếu tố đầu vào khác trong sản xuất Hiệu quả của việc đầu tư này sẽ phụ thuộc rất lớn vào những lợi thế của quỹ đất đai hiện có và các điều kiện KT-XH cụ thể
1.1.2.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do
bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới
Trang 22xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao.
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp
* Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh
về khoa học- kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp
Trang 23ổn định (Vũ Năng Dũng, 1997)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái
và bảo vệ môi trường (Lê Văn Bá, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch
cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác (Lê Văn Bá, 2001) (Phạm Duy Đoán, 2004)
- Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm phải khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp
+ Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài (Dẫn theo Đỗ Thị Tám, 2001)
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng )
có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên
để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng nông nghiệp hoá cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang (Lê Hội, 1996) người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc
Trang 24biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất.
1.1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây
là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North (Lê Hội, 1996), ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tưới tiêu hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, quy trình kỹ thuật
có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế, trong nền nông nghiệp
nư-ớc ta Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.3 Nhóm các yếu tố tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, độ cao tuyệt đối của địa hình, tính chất đất, khả năng thích hợp của cây trồng đối với đất, nguồn nước và thực vật) làm cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi hợp lý, nhằm khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hóa, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 25- Hình thức tổ chức sản xuất
Cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng
cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
1.1.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm :
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là : năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra (Nguyễn Duy Tính, 1995)
1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Những điểm cần lưu ý khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Diện tích đất có hạn, dân số ngày càng tăng, nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
là rất cần thiết, cần xem xét ở các khía cạnh sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí ) Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên 1 đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính trên
1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân
Trang 26canh trên mỗi vùng đất.
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất (môi trường đất, nước) (Ngô Thế Dân, 2001)
- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông nghiệp Mặt khác, nông nghiệp thường tác động mạnh mẽ lên môi trường Trong quá trình phát triển, ở nhiều giai đoạn phản ứng của môi trường thường tạo ra những trở ngại to lớn, có khi không thể vượt qua được Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá huỷ gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp với môi trường xung quanh Cụ thể là khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không? Việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không?
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn (Đường Hồng Dật và các cộng sự, 1994)
1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu
Trang 27chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển KT-XH khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu
xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự
ổn định lâu dài của hiệu quả
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
+ Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thoả mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu KT-XH, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
+ Các tiêu chuẩn được xem xét với việc ứng dụng lý thuyết sản xuất cơ bản theo nguyên tắc tối ưu hoá Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một l-ượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác (Dẫn theo
Đỗ Nguyên Hải, 2001)
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
Trang 28ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt, củ, quả, và tàn dư để lại) Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
* Bảo vệ về môi trường:
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái
Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý
và sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, )
* Bền vững về mặt xã hội:
Thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng
Trang 29năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội Đáp ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân.
+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả
1.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phương pháp xác định với chỉ tiêu đánh giá đúng sẽ định hướng phát triển sản xuất và đưa ra các quyết định phù hợp để tăng nhanh hiệu quả
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
+ Mục tiêu và phạm vi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.+ Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, KT-XH và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Dẫn theo Phan Sĩ Mẫn và cs, 2001)
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính, các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)
+ Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật
và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng
Trang 30sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu
+ Phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:
1.2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế
Chúng tôi sử dụng cách tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất được tính trên
1 ha đất nông nghiệp bằng hệ thống chỉ tiêu cụ thể như sau:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong
kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho
cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất, thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu, thuê nhân công…)
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất (GTSX) trừ chi phí trung gian (CPTG)
GTGT = GTSX – CPTG
- Hiệu quả kinh tế trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG) Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh
Trang 31với chi phí cơ hội của người lao động.
- Chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ cao thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng nhỏ
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện cụ thể:
- Mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học
1.2.3.3 Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:
Hiệu quả môi trường sinh thái có thể phân tích thông qua các chỉ tiêu sau:
- Đánh giá tính thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại thông qua các chỉ tiêu cụ thể:
+ Mức độ đầu tư phân bón
+ Mức độ sử dụng thuốc BVTV
- Hệ số sử dụng đất, biện pháp luân canh cải tạo đất
- Tỉ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hoá
- Mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất, nước, không khí, động, thực vật.)
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Môi trường trong nông nghiệp bao gồm các biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu nước Nếu như sự phối hợp các khâu này trong canh tác không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất bởi các chất hoá học, đất bị chua, mặn hoặc laterit hoá, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất nông sản và làm suy thoái môi trường
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất
Trang 32nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ dừng lại
ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
1.3 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Những nghiên cứu trên Thế giới
Diện tích đất đai có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam á như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, ph-ương pháp phân tích chuyên gia Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại
cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện Lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật
ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các
Trang 33hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật (Lê Hội, 1996).
Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, KT-XH Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm (Phan Sĩ Mẫn và cs, 2001)
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai,
ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” (Hoàng Thu Hà, 2001), đã thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn (Phan Sỹ Mẫn và cs 2001)
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp
là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), Canađa là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Oxtraylia là 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Cộng đồng châu
Trang 34Âu là 67,2 tỉ USD (chiếm 42,1%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (68,9%).
Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Các nước châu á đã rất chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh, môi trường
1.3.2 Nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở trong nước
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm châu á, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân
số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 4.093,9m2, chỉ bằng 1/7 mức bình quân của thế giới Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người là 3.068,2m2
bằng 1/3 mức bình quân thế giới Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm
2015 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trong những năm qua, nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy hiệu quả các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Ngay từ những năm 1960, GS Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyến biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen
Trang 35để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến như: Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987).
Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do GS.VS Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửu Long do GS.VS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao (Bùi Văn Ten, 2000)
Chương trình bản đồ canh tác (1988-1990) do Uỷ ban khoa học Nhà nước chủ trì, cũng đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đồng bằng sông Hồng góp phần làm tăng năng suất sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN-01 (1991-1995) do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Bên cạnh đó, vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lực đất đai, khí hậu, để bố trí cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng được nhiều tác giả đề cập
Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng - 1997, cho thấy ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 - 4 vụ/1 năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở các vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về
Trang 36sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế lớn đã được bố trí trong các phương thức luân canh: cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp
Ở vùng đồng bằng Bắc bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3- 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái gần ven đô, tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây thực phẩm cao cấp đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30-35 triệu đồng/năm
Nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn sản xuất mới chỉ giải quyết được phần nào những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay Có những mô hình cho năng suất cây trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao trước mắt, song chưa có gì đảm bảo cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biệt có nơi còn làm huỷ hoại môi trường, phá huỷ đất Vì vậy cần có sự nghiên cứu các giải pháp thích hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững
1.3.3 Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất huyện Chương Mỹ
Sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về mặt vật chất, tinh thần của toàn xã hội Khi nguồn lực sản xuất
xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất Ngày nay, sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp phát triển bền vững cũng là xu thế tất yếu đối với các quốc gia, các vùng Vì vậy, đất đai hay bất cứ nguồn lực nào cũng cần được sử dụng một cách có hiệu quả, đầy
đủ và hợp lý Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta cũng ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp nông thôn
Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm bền vững hay theo hướng sản
Trang 37xuất hàng hoá còn chưa nhiều Chương Mỹ là một vùng sinh thái đa dạng, điều kiện KT-XH có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn cơ sở hạ tầng còn hạn chế trình độ dân trí chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế sản xuất, tài nguyên đất đai và nhân lực chưa được khai thác đầy đủ
Nông nghiệp huyện Chương Mỹ có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Nền nông nghiệp của huyện trong những năm qua nhất là trong thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng Giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản trên địa bàn năm 2012 đạt 697,6 tỷ đồng, tăng 111,3% so với năm 2001, sản lượng lương thực có hạt là 68.376 tấn, cơ cấu nông nghiệp đã bắt đầu có sự chuyển đổi theo hướng tích cực
Ngành nông nghiệp của huyện Chương Mỹ đã giải quyết được căn bản lương thực cho nhu cầu tiêu dùng trong huyện và một phần cung cấp cho thị tr-ường Tỷ trọng cây thực phẩm, cây ăn quả, hoa, các loại cây cảnh hàng hoá đã bắt đầu có sự chuyển biến tích cực Chăn nuôi phát triển đều và có tốc độ cao
Tuy nhiên, từ trước đến nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào có quy mô lớn và có ý nghĩa thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện là hết sức cần thiết nhằm phát triển nhanh hơn và bền vững hơn nền kinh tế nông nghiệp của huyện
Vì vậy, Chương Mỹ cần phải nghiên cứu và triển khai có hiệu quả các giải pháp đất đai phù hợp, thiết thực với điều kiện cụ thể của huyện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cả trước mắt và lâu dài
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất nông nghiệp, các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn của huyện
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
* Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Xác định vị trí vùng nghiên cứu
- Đặc điểm địa hình, địa mạo
- Điều kiện khí hậu, thuỷ văn: ảnh hưởng của khí hậu đến cơ cấu mùa
vụ, năng suất cây trồng,
- Đặc điểm và tính chất đất đai
2.2.2 Điều kiện kinh tế- xã hội huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
* Điều kiện kinh tế xã hội:
- Dân số, lao động, việc làm, trình độ dân trí, tình hình quản lý và sử dụng đất đai, cơ cấu các ngành nghề Tình hình kinh tế nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, trình
độ canh tác, loại hình sử dụng đất
2.2.3 Tình hình sử dụng đất tại huyện Chương Mỹ
- Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện
- Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện:
•Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
Trang 39•Đánh giá khả năng đáp ứng của quỹ đất nông nghiệp đối với phát triển kinh tế, xã hội và nhu cầu lương thực của huyện.
2.2.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
+ Hiệu quả kinh tế:
•Tổng vốn đầu tư, giá trị sản xuất, tổng thu nhập, hiệu quả lao động và đồng vốn từ các loại hình sử dụng đất
•So sánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất, từ đó tìm ra loại hình
+ Hiệu quả môi trường:
•Sự thích hợp của cây trồng với điều kiện đất đai qua các chỉ tiêu: mức
độ đầu tư phân bón, sử dụng thuốc BVTV và hệ số sử dụng đất, biện pháp luân canh cải tạo đất
2.2.5 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ.
•Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Chương Mỹ
•Định Hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
•Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
2.2.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu thứ cấp
Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-
Trang 40xã hội, thực trạng sử dụng đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện.
2.3.2 Chọn điểm nghiên cứu
Các điểm nghiên cứu phải đại diện được cho các vùng sinh thái và kinh
tế, trình độ sử dụng đất của huyện Chương Mỹ Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn 3 xã là Thủy Xuân Tiên, Đồng Phú và Phụng Châu đại diện cho 3 vùng kinh tế – sinh thái của huyện
2.3.3 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn
Ở mỗi xã đại diện, chúng tôi tiến hành điều tra nông hộ theo phương pháp chọn mẫu có hệ thống với tổng số hộ điều tra là 180 hộ Nội dung điều tra nông
hộ bao gồm: chi phí sản xuất, lao động, năng suất cây trồng, loại cây trồng, mức
độ thích hợp cây trồng với đất đai và những ảnh hưởng đến môi trường
2.3.4 Phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả
+ Phân tích, xử lý số liệu theo chuỗi thời gian để nhận biết quy luật của các yếu tố liên quan trong quá trình sử dụng đất và hiệu quả kinh tế sử dụng đất làm cơ sở đưa ra những giải pháp sử dụng đất hiệu quả hơn Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel
• Phân tích hiệu quả kinh tế:
Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong
kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho
cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất, thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu, thuê nhân công…)
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả:
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất (GTSX) trừ chi phí trung gian (CPTG)