1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện chương mỹ, thành phố hà nội

143 404 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực, kinh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp,

Khoa đào tạo sau Đại học, các thầy giáo trong khoa Quản trị Kinh Doanh,

những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn

thành khóa học 2014-2016

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lê

Trọng Hùng - người đã định hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp cụ thể

trong quá trình thực hiện luận văn của tôi

Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ tận tình

của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tất

cả tập thể và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên

cứu vừa qua

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Văn Vinh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 5

1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong tiến trình hội nhập quốc tế 5

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 5

1.1.2 Vai trò, đặc điểm về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 8

1.1.3 Phân loại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ 12

1.1.4 Nội dung xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 14

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng TCMN 19

1.1.6 Những Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 24

1.2 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 26

1.2.1 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng TCMN ở một số nước trên thế giới 26

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam 28

1.2.3 Bài học kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu hàng TCMN cho huyện Chương Mỹ 31

Trang 4

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 33

2.1 Tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của Huyện 33

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Điều kiện kinh tế của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 36

2.1.3 Các đặc điểm về văn hoá - xã hội - môi trường 43

2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn về địa bàn nghiên cứu ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 47

2.2 Phương pháp nghiên cứu 49

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 49

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 50

2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 51

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 52

2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 53

2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 53

2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xuất khẩu hàng TCMN 53

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Tình hình phát triển hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở huyện Chương Mỹ 55

3.1.1 Thực trạng các tổ chức sản xuất hàng TCMN xuất khẩu 55

3.1.2 Phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở các làng nghề 64

3.2 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở huyện Chương Mỹ giai đoạn 2013 – 2015 69

3.2.1 Thị trường xuất khẩu 69

3.2.2 Cơ cấu và giá trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 73

3.3 Tình hình xuất khẩu hàng TCMN ở các doanh nghiệp điều tra 78

3.3.1 Tình hình về các nhóm đối tượng điều tra 78

Trang 5

3.3.2 Thực trạng xuất khẩu hàng TCMN của nhóm đối tượng điều tra 80

3.3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng TCMN 90

3.4 Những tồn tại, hạn chế trong công tác xuất khẩu hàng TCMN trên địa bàn huyện Chương Mỹ giai đoạn 2013- 2015 95

3.4.1 Những hạn chế trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 95

3.4.2 Nguyên nhân 97

3.5 Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng TCMN trên địa bàn huyện Chương Mỹ 98

3.5.1 Phương hướng xuất khẩu mặt hàng TCMN 98

3.5.2 Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện Chương Mỹ 100

3.5 Khuyến nghị để thực hiện các giải pháp 110

3.5.1 Kiến nghị với Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương 110

3.5.2 Kiến nghị với hoạt động của các doanh nghiệp 111

KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNSX Công nghệ sản xuất CNH Công nghiệp hóa

DNTN Doanh nghiệp tƣ nhân

GTXK Giá trị xuất khẩu

Trang 8

ở huyện Chương Mỹ

57

3.3 Số lượng đối tác tiêu thụ sản phẩm hàng TCMN 61 3.4 Thực trạng ngành nghề truyền thống ở huyện Chương Mỹ 68 3.5 Thị trường xuất khẩu mặt hàng TCMN của huyện Chương Mỹ

3.10 Tổ chức sản xuất và thu mua sản phẩm TCMN của doanh

nghiệp điều tra

80

3.11 Phương thức xuất khẩu hàng TCMN của doanh nghiệp điều

tra trên địa bàn huyện Chương Mỹ

83

Trang 9

3.12 Cơ cấu sản phẩm hàng TCMN của doanh nghiệp điều tra trên

địa bàn huyện Chương Mỹ

3.15 Hiệu qủa kinh doanh xuất khẩu mặt hàng TCMN doanh

nghiệp điều tra trên địa bàn huyện Chương Mỹ

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu được xem là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy tăng trưởng của mỗi quốc gia Với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh

tế khu vực, kinh tế thế giới thì việc tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước để phát triển những mặt hàng xuất khẩu là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay

Chiến lược hướng vào xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng, Đảng và Nhà nước đã xác định mặt hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, có khả năng tăng trưởng cao, nó không chỉ mang lại lợi ích thiết thực mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn Với chính sách mở cửa nền kinh tế và tích cực tham gia vào tiến trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đã

mở ra nhiều cơ hội cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ

Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta vốn có lịch sử phát triển rất lâu đời Bằng khối óc thông minh và bàn tay khéo léo của mình từ ngàn xưa, ông cha ta đã tạo ra biết bao nhiêu sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Trải qua bao thăng trầm của kinh tế xã hội, hàng thủ công mỹ nghệ vẫn giữ được vị trí của nó, vẫn duy trì và phát triển Một trong những huyện có rất đông làng nghề truyền thống làm hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay, đó là huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội với 174 làng có nghề truyền thống làm hàng thủ công mỹ nghệ - một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của nước ta Chính bởi lẽ đó, Huyện Chương Mỹ đặc biệt quan tâm phát huy thế mạnh của các làng nghề mây tre giang xuất khẩu để giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân

Trang 12

Tuy nhiên, nhiều làng TCMN của huyện Chương Mỹ hiện đang gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế như: thiếu lao động, mẫu mã chất lượng sản phẩm yếu, nguồn nguyên liệu không ổn định, trình độ quản lý còn hạn chế

Làm thế nào để có thể khắc phục được những điểm yếu đó, tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng hàng TCMN và khai thác, mở rộng thị phần ở những thị trường mới?

Xuất phát từ thực tiễn trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện Chương

Mỹ, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, từ đó

đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong tiến trình hội nhập quốc tế

Hà Nội những năm tiếp theo

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề có liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

Trang 13

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố

trong khoảng thời gian 2013 - 2015, số liệu khảo sát điều tra năm 2016

1.4 Nội dung nghiên cứu

1.4.1 Nội dung về lý luận

Những vấn đề lý luận về Hàng thủ công mỹ nghệ; Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ; Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong tiến trình hội nhập quốc tế; Vai trò, đặc điểm về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ; Nội dung xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ; các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.4.2 Nội dung về thực trạng

Đánh giá thực trạng các tổ chức sản xuất hàng TCMN xuất khẩu với các nội dung: thực trạng làng nghề truyền thống; Tình hình phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn huyện; Thực trạng các tổ chức sản xuất hàng TCMN xuất khẩu

Đánh giá phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu ở các làng nghề; Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở huyện Chương Mỹ giai đoạn 2013 – 2015 về Thị trường xuất khẩu; Cơ cấu và giá trị xuất khẩu hàng TCMN

Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở các doanh nghiệp điều tra như: Tình hình về các nhóm đối tượng điều tra; Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nhóm đối tượng điều tra; về thực trạng hoạt động sản

Trang 14

xuất, kinh doanh hàng TCMN xuất khẩu; Phương thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nhóm đối tượng điều tra; Kết quả kinh doanh xuất khẩu mặt hàng TCMN của nhóm đối tượng điều tra

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu mặt hàng TCMN Phân tích SWOT điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.4.3 Nội dung về giải pháp

Luận văn đề cập đến phương hướng xuất khẩu mặt hàng TCMN từ quan điểm - định hướng - mục tiêu của huyện Chương Mỹ, từ đó đưa ra một

số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng TCMN trong tiến trình hội nhập quốc tế

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU

HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong tiến trình hội nhập quốc tế

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.1.1 Hàng thủ công mỹ nghệ

Ngành hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam có thể được phân loại thành

10 tiểu ngành Theo báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thì sản xuất hàng thủ công

ở tất cả những tiểu ngành này chủ yếu dựa trên một hệ thống gồm 2.017 làng nghề trên toàn quốc Một số hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu là:

* Tre, mây, cói và lá

Từ dồi dào nguyên liệu thô ở các địa phương như tre, mây, cói và lá và cũng gồm có các nguyên liệu thô như guột, bèo tây, chuối hoặc rơm, Việt Nam sản xuất ra những đồ dùng trong gia đình như rổ, nôi, va-li, túi mua hàng, thảm lót (đĩa, cốc), bình phong và nhiều vật dụng khác Các sản phẩm được phục vụ cho mục đích sử dụng và trang trí, sản phẩm rất đa dạng, phục

vụ những thị hiếu khác nhau của khách hàng

* Gốm sứ

Nghề gốm của Việt Nam có thể được chia ra làm 04 nhóm chính: Bộ đồ

ăn, bình và lọ hoa, tượng và những vật dụng trang trí khác Tuỳ thuộc vào công nghệ và nhiệt độ nung mà các sản phẩm sẽ là gốm, sứ, sành hay đất nung

Nghề gốm đã có ở Việt Nam từ hàng ngàn năm nay và các cơ sở sản xuất gốm phân bổ trên khắp cả nước Tuy nhiên, một số trung tâm sản xuất sản phẩm gốm lớn nằm ở Hà Nội (Bát Tràng), Đồng Nai và Bình Dương Gần đây, các sản phẩm nghệ thuật làm từ sành phục vụ nhu cầu trang trí nhà và vườn

Trang 16

đã phát triển mạnh ở các tỉnh Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nam, Bắc Ninh và đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của các nhà nhập khẩu trên khắp thế giới [39]

* Thêu ren và các sản phẩm dệt

Các sản phẩm thêu ren bằng tay hầu hết là khăn trải bàn, quần áo, váy, túi

và những vật dụng sử dụng thông thường Những sản phẩm này được tạo ra chủ yếu ở các làng nghề trong các tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Nam

Đây là các nhóm sản phẩm có tiềm năng phát triển rất tốt nếu chúng ta phát triển các thị trường ngách cũng như tập trung vào thị trường thương mại bình đẳng Đối với các sản phẩm dệt và các sản phẩm của người thiểu số định hướng để xuất khẩu, điều vô cùng quan trọng quyết định đến thành công là sự sẵn có của nguyên liệu thô chất lượng cao, cải thiện chất lượng và phát triển thị trường [8 ]

* Sản phẩm đá quý và kim loại

Các vật phẩm dùng để trang trí và sản phẩm quà tặng làm từ kim loại như tượng nhỏ, đồ trang sức, chuông, chiêng và khung tranh Trong số những sản phẩm này, các vật dụng như đồ mạ bạc, đồ đồng chế tác và đồ đúc bằng đồng thiếc được xuất khẩu Gần đây, sản phẩm chế tác đồng đã tăng mạnh về kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt do sự kết hợp giữa sản phẩm đồng chế tác với các nguyên liệu tự nhiên khác như mây, bèo tây và các nguyên liệu khác

Có 45 làng nghề chạm khảm/tạc đá trong nước Những sản phẩm từ đá cho EU, Hoa Kỳ và Canađa gồm có tượng và các vật dụng trong vườn Sử dụng

đá mềm đang có xu hướng tăng lên Các nhà mua hàng nước ngoài thường thích những thiết kế đơn giản và chưa hoàn thiện trên các sản phẩm đá thủ công (đá rắn và đá trắng) [8]

* Gỗ mỹ nghệ

Nhóm sản phẩm có ưu thế lớn của ngành gỗ là đồ dùng trong nhà, chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu Hầu hết hoạt động sản xuất đồ dùng

Trang 17

làm từ gỗ tập trung ở các tỉnh khu vực phía Bắc của Việt Nam như Bắc Ninh,

Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, trong khi đó thì ngành chế biến gỗ công nghiệp lại chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Các nhóm sản phẩm quan trọng tập trung vào sản phẩm bàn và đồ bếp

Một số các sản phẩm thủ công đồ gỗ đòi hỏi sự tinh xảo như tượng, gỗ chạm khảm đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt phục vụ cho các thị trường châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan [13]

1.1.1.2 Khái niệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Xuất khẩu là việc bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trong nước và nước ngoài nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống nhân dân So với việc mua bán sản phẩm trong thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều Đây

là hoạt động giao dịch, buôn bán với những người có quốc tịch khác nhau, thị trường vô cùng rộng lớn khó kiểm soát, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia

Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế Nó không phải là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong thương mại có tổ chức từ trong nước

ra ngoài nước nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân Vì thế hoạt động xuất khẩu hàng TCMN đem lại những hiệu quả kinh tế rất cao [8]

Các hình thức xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Hàng thủ công mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngoài theo 2 phương thức sau:

- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngoài vào Việt Nam

và mua hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam Với xu hướng phát

Trang 18

triển của du lịch như hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm

- Xuất khẩu ra nước ngoài: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ công mỹ nghệ cho các đối tác nước ngoài bằng cách mang hàng sang tận nơi bằng các phương tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số thủ tục xuất khẩu nhất định [13]

1.1.2 Vai trò, đặc điểm về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.2.1 Vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

a) Đối với nền kinh tế quốc dân

- Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gần đây đã mang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất khẩu được gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng thủ công mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngoái Đây

là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn nguyên liệu rẻ tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lượng lao động nhàn rỗi ở các vùng nông thôn nước ta [26]

Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ công mỹ nghệ

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng hiện đại hoá

Việc phát triển các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu

Trang 19

hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông nghiệp có thu nhập cao hơn

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ

ở nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động

Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút rất nhiều lao động Cho đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20-40% cho nông nghiệp [14]

- Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân

Tác động của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt Trước hết thông qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều công đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp tăng giá trị lao động tăng thu nhập quốc dân

Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác Làng gốm bát tràng ngoài việc giải quyết việc làm cho gần 2.430 lao động của xã, còn giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5.500 đến 6.000 lao động của các khu vực lân cận đến làm thuê [1]

Ngoài việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho người lao động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn Ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì nơi đó thu nhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nông

Trang 20

b) Đối với các doanh nghiệp

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của các doanh nghiệp không chỉ được khách hàng trong nước biết đến mà còn có mặt ở thị trường nước ngoài Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ, qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình phát triển

Xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước Chính vì vậy, các doanh nghiệp buộc phải nâng cao chất lượng hàng hoá, tìm mọi cách để nâng cao chất lượng sản phẩm,

hạ giá thành, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào hay tiết kiệm nguồn lực Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động và tăng thêm thu nhập, ổn định đời sống cán bộ công nhân viên và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Xuất khẩu và nhập khẩu là 2 lĩnh vực hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển trong một tổng thể thống nhất biện chứng Do mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu rất chặt chẽ với nhau nên mỗi quốc gia, mỗi địa phương thường biểu thị mối quan hệ đó thông qua cán cân thương mại tức là bảng cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu của quốc gia và địa phương đó

1.1.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

- Đặc điểm về sản phẩm

Đặc điểm nổi bật về sản phẩm hàng TCMN chủ yếu và phổ biến là sản phẩm thủ công truyền thống in đậm sắc thái văn hoá trong sản phẩm

Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ của các làng nghề truyền thống đều

là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật

Trang 21

Các sản phẩm hàng TCMN vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ cao, nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa,

Người thợ thủ công sản xuất hàng thủ công, trước hết là do yêu cầu kinh

tế và nguồn sống của mình Do đó, sản phẩm thủ công truyền thống tự thân đã

là sản phẩm hàng hoá Đó là các sản phẩm có giá trị kinh tế, nhưng đậm nét mỹ thuật, mỹ nghệ duyên dáng, thanh thoát bởi đó là sự kết hợp khéo léo, nhuần nhị vẻ đẹp nghệ thuật cổ với vẻ đẹp cách tân rất hiện đại, vừa sâu lắng, tinh tế lại vừa bóng bẩy

- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Hiện nay, sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới

Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ rất khác nhau, mang nét đặc trưng của làng nghề và thoả mãn những nhu cầu riêng biệt của con người, do vậy mỗi làng nghề đều hướng tới những thị trường riêng Vì vậy, sự thăng trầm trong thị trường tiêu thụ của các làng nghề cũng phụ thuộc vào sự thăng trầm của từng thị trường đó Sản phẩm hàng TCMN hiện nay không chỉ có khả năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước, có khả năng đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới

- Đặc điểm về vốn và quan hệ tín dụng:

Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho các làng nghề hoạt động được trong cơ chế thị trường Vốn là yếu tố quan trọng giúp các cơ sở ở các làng nghề mua sắm nguyên liệu, dụng cụ sản xuất, trả công cho lao động Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất ở các làng nghề diễn ra liên tục Các nguồn vốn chủ yếu trong các làng nghề hiện nay gồm nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai hình thức: vốn tự có và vốn vay

Trang 22

Vốn tự có hiện chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong các làng nghề, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi cơ chế vay vốn đang gặp nhiều bất cập Tuy nhiên, để đảm bảo làng nghề phát triển, không thể dựa hoàn toàn vào nguồn vốn tự có được, do lượng vốn này quá nhỏ so với yêu cầu đầu tư phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ Đặc biệt, đối với các cơ sở sản xuất đã chuyên môn hoá, cần mở rộng phát triển sản xuất luôn đi cùng với đổỉ mới công nghệ, tạo lập mặt bằng nhà xưởng

Vốn vay đang có nhu cầu ngày càng tăng Việc đầu tư đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đào tạo công nhân đòi hỏi cũng phải có vốn đầu tư Vốn tự có trong các cơ sở sản xuất của làng nghề không đáng kể so với nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt do đổi mới công nghệ hay mở rộng quy mô sản xuất Bởi vậy, vốn vay hiện nay chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển làng nghề nói riêng cũng như ngành nghề nông thôn nói chung

1.1.3 Phân loại các sản phẩm thủ công mỹ nghệ

1.1.3.1 Phân loại theo tính chất của sản phẩm

Phân loại theo tính chất của sản phẩm, có hai nhóm lớn là nhóm các sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và nhóm các sản phẩm mà phần nhiều mang giá trị sử dụng

Nhóm các sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc như: chạm, khảm vàng - bạc, chạm khảm gỗ, đồ sơn mài, tranh dân gian, đồ gốm mỹ nghệ, lụa tơ tằm, thổ cẩm, thêu Đây là nhóm các mặt hàng không thể mất vị trí trong quá trình CNH, HĐH bởi sản phẩm mang tính nghệ thuật, không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được

Nhóm các sản phẩm mà phần nhiều mang giá trị sử dụng như gạch, ngói thông dụng, dệt may thông dụng, nông cụ, đồ gỗ thông dụng, các hàng nhựa - cao su - thuỷ tinh, đường kẹo, nước chấm Nhìn về tương lai, những làng nghề

Trang 23

sản xuất các mặt hàng này sẽ bị sức ép mạnh của kỹ thuật và công nghệ hiện đại… Bởi thế, những nghề và làng nghề đó cần được đầu tư đổi mới công nghệ,

đi dần vào guồng máy công nghiệp hiện đại

1.1.3.2 Phân loại theo mục đích sản xuất

Phân loại theo mục đích sản xuất, có 3 nhóm sản phẩm:

- Các sản phẩm được sản xuất nhằm mục đích xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế;

- Các sản phẩm được sản xuất nhằm mục đích tiêu thụ trên thị trường trong nước, đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong nước;

- Các sản phẩm được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính gia đình sản xuất tự sản tự tiêu (phần sản phẩm này chiếm tỷ trọng rất nhỏ)

1.1.3.3 Phân loại theo định hướng khách hàng tiêu thụ

Phân loại theo định hướng khách hàng tiêu thụ, có 3 nhóm sản phẩm, đó là:

- Các sản phẩm được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu trang trí trong các gia đình hoặc văn phòng, khách sạn, nhà hàng, ;

- Các sản phẩm được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi, lại

và sử dụng làm phương tiện sinh hoạt của con người ;

- Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất như nguyên liêu, công cụ

1.1.3.4 Phân loại theo quốc tịch của khách hàng

Phân loại theo quốc tịch của khách hàng, bao gồm: Các tập khách hàng quốc tế; Các tập khách hàng trong nước

Các tập khách hàng quốc tế (đối với các sản phẩm xuất khẩu qua biên giới và xuất khẩu tại chỗ) gồm: các nhà nhập khẩu nước ngoài, các nhà sản xuất và người tiêu dùng có quốc tịch nước ngoài

Các tập khách hàng trong nước gồm: các nhà sản xuất trong nước (đối với các sản phẩm là nguyên liệu, vật liệu, công cụ sản xuất .); các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp và chủ đầu tư xây dựng

Trang 24

(đối với các sản phẩm là vật liệu xây dựng, trang trí nội thất); người tiêu dùng

ở các đô thị và nông thôn (đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ, ăn, ở, đi lại của dân cư )

1.1.3.5 Phân loại theo hình thức lưu thông phân phối và tiêu dùng

Phân loại theo hình thức lưu thông phân phối và tiêu dùng, có các tập khách hàng sau:

Các nhà nhập khẩu nước ngoài trực tiếp ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp ở các làng nghề truyền thống

Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam ký hợp đồng cung cấp nguyên liệu thu mua sản phẩm để sản xuất hoặc hợp đồng thu mua gom sản phẩm của các làng nghề xuất khẩu

Các thương nhân ở các đô thị lớn ký hợp đồng

1.1.4 Nội dung xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

1.1.4.1 Nghiên cứu thị trường quốc tế

* Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới

Phải bao gồm việc nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất của một ngành sản xuất cụ thể, tức là việc nghiên cứu không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà còn ở lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá

Muốn vậy ta phải xác định các vấn đề sau: Thị trường đang cần mặt hàng gì? Tình hình tiêu dùng mặt hàng đó như thế nào? Mặt hàng ở thời kỳ nào của chu kỳ sống? Tình hình sản xuất mặt hàng đó ra sao? Tỷ suất ngoại tệ của mặt hàng đó?

* Dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng tới nó

Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định (Thế giới, khu vực) trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Khi nghiên cứu thị trường hàng hoá khác nhau phải căn cứ vào đặc điểm của chúng để đánh giá đúng ảnh hưởng của các

Trang 25

nhân tố, xác định nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định tới xu hướng vận động của thị trường trong giai đoạn hiện tại và tương lai

* Lựa chọn đối tác buôn bán

Mục đích của hoạt động này là lựa chọn bạn hàng có thể cộng tác được, đảm bảo an toàn và có lãi Nội dung cần thiết để nghiên cứu lựa chọn đối tác bao gồm: Quan điểm kinh doanh của thương nhân đó; Lĩnh vực kinh doanh của họ; Khả năng vốn và cơ sở vật chất của họ, nhằm thấy được những ưu thế bên thoả thuận giá cả, điều kiện thanh toán; Uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ; Những người chịu trách nhiệm thay mặt để kinh doanh và phạm vi trách nhiệm của họ đối với nghĩa vụ của công ty

* Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới

Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới được coi là vấn đề chiến lược ưu tiên hàng đầu bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức tiêu thụ và lợị nhuận của nhà xuất khẩu Định giá đúng đảm bảo cho các nhà xuất khẩu thắng lợi trong kinh doanh, tránh rủi ro và thua lỗ Thông thường các nhà kinh doanh xuất khẩu định giá bán sản phẩm dựa trên 3 căn cứ: Giá thành và các chi phí khác; Sức mua của người tiêu dùng và nhu cầu của họ; Giá cả hàng hoá cạnh tranh

* Thanh toán trong thương mại quốc tế

Thanh toán trong TMQT là một khâu rất quan trọng, đảm bảo hiệu quả kinh tế trong kinh doanh xuất khẩu Việc thanh toán phải xét đến các vấn đề:

- Tiền tệ trong thanh toán quốc tế

- Thời hạn thanh toán

- Các hình thức và phương thức thanh toán quốc tế

- Các điều kiện đảm bảo hối đoái

Trang 26

1.1.4.2 Lập phương án kinh doanh

Trên cơ sở những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu thị trường, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh cho mình Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt tới những mục tiêu xác định trong kinh doanh Việc kinh doanh phương án này bao gồm:

- Đánh giá tình hình thị trường

- Lựa chọn mặt hàng

- Đề ra mục tiêu cụ thể

- Đề ra biện pháp và thực hiện những biện pháp này

- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh

1.1.4.3 Nguồn hàng cho xuất khẩu

Đó là toàn bộ hàng hoá của một công ty hoặc địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng xuất khẩu được

Để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể đầu tư trực tiếp cho sản xuất, có thể là thu gom hoặc ký kết hợp đồng mua với các chủ hàng, các đơn vị sản xuất Nguồn hàng cho xuất khẩu ổn định là tiền đề cho việc phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp

1.1.4.4 Đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế

* Các hình thức đàm phán:

Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng Thông thường có các hình thức sau:

Trang 27

Đây là việc nhà kinh doanh thế hiện có ý định bán hàng của mình, là lời

đề nghị ký kết hợp đồng Nếu việc mua bán xuất phát từ phía người mua (người nhập khẩu) thì có thể hỏi giá hoặc đặt hàng

Bước 2 : Hoàn giá

Khi người mua chấp nhận được đơn chào hàng nhưng không chấp nhận hoàn toàn đơn chào hàng đó mà đưa ra một đề nghị mới thì lời đề nghị này gọi là hoàn giá Thường thì giao dịch không kết thúc ngay từ lần chào hàng đầu tiên mà phải trải qua nhiều lần hoàn giá

1.1.4.5 Hợp đồng kinh tế xuất khẩu hàng hoá

Đối với các quan hệ mua bán hàng hoá, sau khi các bên mua và bán tiến hành giao dịch và đàm phán có kết quả thì phải thực hiện lập và ký kết hợp đồng Trong đó quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia ký kết phải được thể hiện đầy đủ trong hợp đồng Hợp đồng thể hiện bằng văn bản

và hình thức bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu ở nước ta

Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của các đương sự có quốc tịch khác nhau, trong đó bên gọi là bên bán (nước xuất khẩu) có nghĩa

vụ phải chuyển vào quyền sở hữu của bên kia gọi là bên mua (nước xuất khẩu) một lượng hàng hoá nhất định Bên nhập khẩu có trách nhiệm trả tiền

và nhận hàng

* Thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Trang 28

Sau khi hợp đồng xuất khẩu đƣợc ký kết thì đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải đƣợc thực hiện hợp đồng đã ký, tiến hành sắp xếp những phần việc đã làm ghi thành bảng biểu theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịp thời ghi lại những diễn biến, những văn bản phát đi và nhận đƣợc để xử lý và giải quyết cụ thể, đồng thời phải đảm bảo đƣợc quyền lợi quốc gia và hiệu quả kinh doanh của đơn vị

1.1.4.6 Hiệu quả xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh

- Lợi nhuận là lƣợng dôi ra của doanh thu so với chi phí

 LN =  DT -  CP

 LN: Tổng lợi nhuận doanh nghiệp

 DT: Là toàn bộ số tiền thu đƣợc qua việc bán hàng hoá dịch vụ trong một năm

 CP: Toàn bộ chi phí doanh nghiệp bỏ ra khi sản xuất hàng hoá dịch

Trang 29

Tỷ xuất hoàn vốn đầu tư (TSHVĐT )

Lợi nhuận dòng

Công thức tính : TSHVĐT =

Vốn sản xuất Chỉ tiêu này cho biết nếu bỏ ra một đồng vốn thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này là một chỉ tiêu được các nhà kinh doanh quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền với lợi ích của công ty cả hiện tại và tương lai

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí

Công thức tính như sau :

Lợi nhuận TSLN = _

Tổng chi phí

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng TCMN

1.1.5.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

- Do khả năng tài chính của doanh nghiệp: Khả năng tài chính của

doanh nghiệp là một vấn đề rất quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Các doanh nghiệp này cần phải có một lượng vốn lớn để xuất khẩu sau đó mới thu lại được

Thiếu vốn đó là tình trạng chung của các doanh nghiệp Việt Nam từ đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp , đánh mất cơ hội kinh doanh đánh mất bạn hàng …vv

- Do trình độ tổ chức quản lí: Hoạt động xuất khẩu TCMN đòi hỏi phải

có sự nỗ lực phối hợp cao và đồng bộ giữa tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu tổ chức nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm đến khâu cung cấp nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất, bảo quản, vận chuyển, tiêu thụ Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh xuất khẩu TCMN phải có một trình độ tổ chức quản lý nhất định, nó cũng chính là một

Trang 30

nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của một doanh nghiệp, một cơ sở sản xuất

- Do tác động của quá trình xúc tiến bán hàng: Hoạt động quảng bá,

giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp đến khách hàng là một hoạt động quan trọng nó giúp cho khách hàng biết đến doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp và thương hiệu của doanh nghiệp Hiện nay loại hàng này ở các doanh nghiệp Việt Nam còn kém Do vậy tuy các sản phẩm mỹ nghệ của Việt Nam rất đa dạng phong phú song chưa được các bạn hàng trên thế giới biết đến đặc biệt là chưa tạo được nhiều thương hiệu nổi tiến gây ấn tượng với khách hàng

- Do tác động của thông tin thị trường: Ngày nay với sự phát triển

nhanh chóng của công nghệ thông tin thì việc tìm kiếm thông tin là rất nhanh chóng Song nó lại rất hạn chế với các doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ chuyên trách năng lực kém Việc nắm bắt được thông tin được coi là rất quan trọng Có được nhiều thông tin có nghĩa là có nhiều cơ hội kinh doanh đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt

- Do vị thế và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường: Nhiều khi

khách hàng mua sản phẩm không để ý đến giá cả, chất lượng sản phẩm mà họ mua sự sang trọng, uy tín của sản phẩm doanh nghiệp trên thị trường điều này

nó ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu hàng hoá Uy tín của doanh nghiệp được đánh giá qua các hệ thống chi tiêu đánh giá và quá trình thực tế cuả doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh Khi có uy tín thì việc kinh doanh thường có hiệu quả hơn rất nhiều

- Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất: Để sản phẩm có thể thâm

nhập và cạnh tranh được trên thị trường xuất khẩu thì sản phẩm của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu khắt khe nhất của thị trường về chất lượng Chính trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất sẽ quyết định khả năng đó

Trang 31

- Trình độ tay nghề của công nhân: Ngoài vấn đề kỹ thuật sản xuất, tay

nghề của người thợ làm ra sản phẩm TCMN là một yếu tố rất quan trọng để sản xuất gia công hàng TCMN xuất khẩu vì nó ảnh hưởng đến chất lượng, giá thành sản phẩm Khả năng xuất khẩu sẽ tăng lên nếu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có một đội ngũ lao động chất lượng cao, có khả năng sản xuất mọi loại sản phẩm theo yêu cầu của thị trường với chất lượng cao nhất và chi phí ít nhất Điều này sẽ góp phần tạo ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên thị trường xuất khẩu về giá cả, chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm

- Trình độ marketing: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cơ sở

sản xuất sẽ được cải thiện không chỉ ở việc sản xuất được các sản phẩm chất lượng cao, giá rẻ mà còn tuỳ thuộc rất lớn vào các nỗ lực hoạt động marketing Trình độ marketing thể hiện ở trình độ thực hiện các công việc như: nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, tổ chức quảng cáo, khuyếch trương, tổ chức cho sản phẩm thâm nhập thị trường mới, cải tiến mẫu mã, bao

bì đóng gói, nâng cao uy tín, tên tuổi của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên thị trường quốc tế

- Mẫu mã sản phẩm kém sáng tạo, không có sản phẩm mới: Các sản

phẩm của làng nghề hay doanh nghiệp đều mang một nét đặc trưng riêng, được tạo ra bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, truyền từ đời này qua đời khác Đó là điểm mạnh nhưng cũng đồng thời là hạn chế, bởi trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt trên thị trường như hiện nay, yếu tố sáng tạo của sản phẩm TCMN là một trong những yêu cầu bức thiết đối với mỗi làng nghề, mỗi doanh nghiệp

1.1.5.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

- Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế: Hoạt động xuất nhập khẩu

thực chất là bắc cầu để giao lưu hàng hoá giữa trong nước và ngoài nước, trong quá trình đó sẽ bộc lộ sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế và xã

Trang 32

hội giữa các nước Bởi vậy trình độ phát triển kinh tế giữa các nước, trình độ dân trí, thu nhập và mức sống của dân cư, sự ổn định của môi trường pháp luật của quốc gia nhập khẩu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu

Một nền kinh tế phát triển ổn định của quốc gia nhập khẩu sẽ tạo điều kiện tốt để các doanh nghiệp mở rộng xuất khẩu, ngược lại, một nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng chắc chắn sẽ không kích thích việc nhập khẩu Điều này làm giảm khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu

- Do công cụ, chính sánh vĩ mô của nhà nước: Công cụ chính sánh vĩ

mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện bởi vì nó thể hiện ý chí của đảng và nhà nước công cụ chính sách vĩ mô của nhà nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội Bởi vậy nó chịu tác động của các chính sách chế độ pháp luật ở quốc gia mình và đồng thời cũng phải tuân theo những quy định quốc tế

Đối với hoạt động ngoại thương nhà nước thường sử dụng các công cụ thuế quan hoặc phi thuế quan để điều chỉnh lượng hàng hoá phù hợp với nhu cầu trong nước đồng thời khuyến khích xuất nhập khẩu hoặc hạn chế nó

- Do điều kiện tự nhiên: Các điều kiện tự nhiên sẽ quyết định khả năng

của nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác để chế biến xuất khẩu, nó ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của một doanh nghiệp trong việc đẩy mạnh xuất khẩu

Các yếu tố địa lý, địa hình, vị trí của doanh nghiệp trong quan hệ với

hệ thống giao thông quốc tế cũng như khoảng cách tới thị trường tiêu thụ quan trọng sẽ có ảnh hưởng, quyết định đến chi phí vận tải và thời gian cần thiết đưa hàng hoá đến nơi tiêu dùng

Trang 33

- Do tác động của khoa học công nghệ: Hoạt động xuất khẩu nói chung

và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng đều chịu tác động của khoa học công nghệ Khoa học công nghệ phất triển giúp cho con người sản xuất được nhiều hàng hơn chất lượng cao hơn , kiểu dáng mẫu mã đẹp hơn Ngành

mỹ nghệ là ngành có đặc thù riêng manh đậm nét bản sắc của dân tộc, để có những sản phẩm tốt chất lượng cao kiểu dáng đẹp rất cần đến các nghệ nhân, tuy nhiên sự hỗ trợ của khoa học công nghệ sẽ giúp cho các nghệ nhân tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã kiểu dáng đẹp hơn và chi phí nhỏ hơn

- Do tác động của thị trường lao động: Nguồn nhân lực là một yếu tố

vô cùng quan trọng nó quyết định vận mệnh của doanh nghiệp vì vậy nếu doanh nghiệp có được một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ thì doanh nghiệp đó có một nửa là thành công Nếu có một đội ngũ cán bộ công nhân viên tốt làm giảm giá thành sản phẩm từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh , giảm chi phí sửa chữa, hỏng v.v Đặc biệt đối với ngành mỹ nghệ cần

sự khéo léo tài giỏi thì vấn đề nhân lực quan trọng

- Do tác động của hệ thông giao thông vận tải, thông tin liên lạc, kho tàng bến bãi Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền vớí công việc vận chuyển hệ

thống thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng, kịp thời Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thông tin cho Fax, Tel, Internet…

đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện đại hoá phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần cho quá trình thực hiện xuất khẩu nhanh chóng và an toàn

- Khả năng hoạt động hữu hiệu của các trung gian: Để thực hiện hoạt

động xuất khẩu, các doanh nghiệp xuất khẩu TCMN phải thông qua một loạt các trung gian khác như: các trung gian vận chuyển, các trung gian thanh

Trang 34

toán, các trung gian phân phối, tiêu thụ sản phẩm Chính khả năng hoạt động hữu hiệu của các trung gian này sẽ góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu của một doanh nghiệp

- Khả năng đáp ứng của các ngành cung cấp nguyên liệu

Để có thể mở rộng và phát triển xuất khẩu hàng TCMN của một doanh nghiệp bất kỳ, vấn đề quan trọng mà doanh nghiệp phải quan tâm đó là khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp, đặc biệt là nguồn nguyên liệu Chính khả năng đáp ứng của các nguồn cung cấp nguyên liệu về quy mô, chất lượng, cơ cấu chủng loại sẽ là nhân tố cơ bản quyết định quy mô, chất lượng, cơ cấu, sản phẩm xuất khẩu của một doanh nghiệp trên thị trường

Ngoài ra khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu về các yếu tố cơ sở hạ tầng như: giao thông vận tải, điện nước, thông tin liên lạc cũng có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của một doanh nghiệp

1.1.6 Những Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ

Muốn tăng thêm thu nhập cho người nông dân, để họ giàu lên thì phải phát triển thêm nhiều ngành nghề phi nông nghiệp và tăng cường xuất khẩu Ngay từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với tư tưởng chỉ đạo là “Giải phóng năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước” Đến Đại hội đảng lần thứ VII, quan điểm phát triển làng nghề đã được Báo cáo nêu lên trực tiếp và cụ thể: “Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và phục vụ nhân dân” [35]

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, trong phần “Đường lối phát triển nông thôn những năm tới”, Báo cáo nêu rõ “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp

Trang 35

và dịch vụ nông thôn, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính tạo ra việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân”, và “tạo điều kiện thuận lợi để giúp nông dân chuyển sang làm ngành nghề ngoài nông nghiệp Khuyến khích để các doanh nghiệp và hợp tác

xã đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển bền vững các loại nghề”[35]

Theo nghiên cứu của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, nếu xuất khẩu mặt hàng này đạt 1 triệu USD, thì sẽ giải quyết việc làm cho 3.500 - 4.000 lao động [30]

Tại Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ, đã

cụ thể hoá và Hướng dẫn thi hành Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi), đã quy định ngành nghề truyền thống trong danh mục A, là “ngành nghề thuộc lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư”

Ngày 24/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 132/2000/QĐ- TTg về “Một số chính sách khuyến khích phát triển làng nghề nông thôn”, đã nêu rõ:

- Nhà nước có quy hoạch và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề theo cơ chế thị trường, bảo đảm phát triển bền vững, giữ gìn tốt vệ sinh môi trường nông thôn, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp

và nông thôn, đồng thời có quy hoạch phát triển ngành nghề truyền thống phải gắn với ngành du lịch, văn hoá

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện và sử dụng các sản phẩm ngành nghề nông thôn, nhất là các sản phẩm sử dụng nguồn nguyênliệu tự nhiên trong nước (mây, tre, nứa, ), nhằm hạn chế một phần tác hại đến môi trường của các sản phẩm chất thải hoá chất, nhựa công nghiệp

Trang 36

- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách bảo hộ hợp pháp các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn, nhất là các ngành nghề truyền thống, nhằm đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc

Ngoài những văn bản có tính định hướng này, các bộ, ngành liên quan cũng đã có những thông tư, chỉ thị hướng dẫn thực hiện các nghị định, quyết định trên với nội dung đề cập phạm vi cụ thể hơn trong việc đẩy mạnh phát triển làng nghề

Bộ Nông nghiệp và PTNT có Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006, Bộ Công thương có Chỉ thị 02/2007/CT-BCT ngày 14/11/2007

về việc triển khai Quyết định 136/2007/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình khuyến công quốc gia đến năm 2012 [3]

1.2 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng TCMN ở một số nước trên thế giới

a) Kinh nghiệm của Trung quốc

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, hoạt động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc diễn ra vô cùng mạnh mẽ Các nhà sản xuất và xuất khẩu của Trung Quốc thực sự trở thành đối thủ rất mạnh của các nhà sản xuất ở nước trên thế giới

Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát triển vùng nông thôn như tăng đầu tư cho sản xuất hàng nguyên liệu và sơ chế; trợ giá hàng thủ công mỹ nghệ và có chính sách chỉ phát triển các xí nghiệp hàng thủ công mỹ nghệ ở vùng nông thôn

Trang 37

Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng thị phần nhằm thu lợi nhuận lâu dài thay vì lợi nhuận trước mắt; áp dụng thương mại điện tử để tìm hiểu thị trường quốc tế và mạnh dạn cử phái đoàn đi tìm hiểu thị trường nước ngoài; thành lập hiệp hội quản lý chất lượng hàng xuất khẩu; đổi mới công nghệ và tăng hiệu quả cạnh tranh; tích cực tìm đối tác nước ngoài để liên doanh nhằm chuyển giao công nghệ, bao gồm cả công nghệ quản lý, lấy khoa học kỹ thuật cao để cải tạo và nâng cao chất lượng hàng truyền thống

Có thể rút ra hai điều quan trọng từ sự phát triển của các doanh nghiệp kinh tế nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu hàng TCMN ở Trung Quốc như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn, đặc biệt dưới hình thức

doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp

Thứ hai, để doanh nghiệp vừa và nhỏ này phát huy được vai trò của

mình, chính quyền các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi về mặt chính sách để

họ có khả năng điều chỉnh dần dần theo nền kinh tế thị trường trong thời kỳ nền kinh tế đang chuyển đổi và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Sự tăng trưởng các doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào nhiều khả năng của các hệ thống trong nước và địa phương cải thiện các điều kiện khách quan và khả năng công nghệ để doanh nghiệp phát triển

b) Kinh nghiệm của Thái Lan

Chính sách kinh tế của Thái Lan trong suốt ba thập kỷ qua đã dẫn đến

sự tăng trưởng không bền vững và phát triển mất cân đối giữa các miền và nhóm người trong xã hội Chính phủ của Thủ tướng Thaksin đã đề ra một quốc sách nhằm vực dậy nền kinh tế đất nước từ bộ phận những người dân nghèo này Chính sách quốc gia đó là chính sách “Một làng, một sản phẩm” Chính sách nhằm phát huy tính tự lực, khai thác tính sáng tạo của người dân,

sử dụng các nguồn lực của địa phương để phát triển kinh tế của tỉnh Dự án

Trang 38

được coi như một chiến lược tạo ra thu nhập bình đẳng hơn cho người dân nông thôn ở mọi làng quê trên đất nước Thái Lan

Dự án được xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản: một là mang tính địa phương nhưng phải tiến ra toàn cầu; hai là phát huy tính tự lực sáng tạo và ba

là phát huy nguồn nhân lực

Với những nguyên tắc trên, dự án có 6 mục tiêu cụ thể:

Thứ nhất: Tạo ra những đặc điểm riêng biệt cho sản phẩm địa phương

để tăng doanh số bán Ngoài ra để hàng hoá có thể thâm nhập thị trường thế giới, phải đáp ứng được những tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng quốc tế

Thứ hai: Làm sống lại, phục hồi và phát huy các kiến thức truyền

thống của địa phương nhằm củng cố hiệu quả kinh doanh của địa phương

Thứ ba: Phát huy những tri thức của địa phương để sáng tạo và tạo ra

những sản phẩm và hàng hoá có tính đặc thù

Thứ tư: Song song phát triển du lịch sinh thái và du lịch tham quan các

làng nghề TCMN nhằm tăng thu nhập cho địa phương

Thứ năm: Xây dựng lòng tự hào dân tộc và xã hội đối với sản phẩm

của Thái Lan

Thứ sáu: Hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương phát triển và cạnh tranh

trên thị trường quốc tế Điều này được thực hiện thông qua việc hỗ trợ thiết kế

và phát triển sản phẩm để theo kịp thay đổi thị hiếu và sở thích của thị trường

Những sản phẩm của dự án chính là những sản phẩm truyền thống của địa phương nhưng được cải tiến về mẫu mã và chất lượng để phù hợp với thị hiếu khách hàng, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và dị biệt trên thị trường toàn cầu

1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam

Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều địa phương tham gia sản xuất xuất khẩu hàng TCMN nhưng có hiệu quả cao, số lượng mặt hàng phong phú, chất

lượng tốt, hoạt động xuất khẩu khá mạnh đó là Đồng Nai và Thái Bình

Trang 39

a) Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu của Đồng Nai

Đồng Nai: Một góc nhìn từ hàng thủ công mỹ nghệ Đồng Nai [23]

Có vị trí nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với những điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, tỉnh Đồng Nai là địa phương

có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các ngành công nghiệp nói chung và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nói riêng Đồng Nai xưa vốn nổi tiếng với nghề gốm mỹ nghệ và chế tác đá, theo thời gian đã phát triển thêm nhiều nghề thủ công mỹ nghệ như: mây tre đan, tranh gạo, tranh đá quý, dệt thổ cẩm

Nói về hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Đồng Nai, nghề gốm mỹ nghệ được gợi nhắc đến đầu tiên bởi làng nghề gốm truyền thống gắn liền với lịch

sử hình thành và phát triển của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai Gốm Biên Hòa đã nổi danh từ lâu nhờ chất liệu men đặc trưng, sự sáng tạo trong ý tưởng thiết kế, kết hợp nét văn hóa cổ và hiện đại, trang trí hài hòa với họa tiết, tinh túy qua từng nét chạm lộng, khảm khắc tạo hình…Sản phẩm gốm mỹ nghệ của Đồng Nai đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và phong cách thể hiện Những sản phẩm chủ yếu của dòng gốm Biên Hoà gồm có: tượng mỹ thuật, bình, đôn, lu, chậu, đĩa trang trí, ấm chén, đèn lồng, phù điêu …Các sản phẩm này vẫn được duy trì và phát triển đến ngày nay, không chỉ phục vụ tiêu dùng trong nước mà còn tham gia xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước

Hiện nay sản phẩm gốm Đồng Nai chủ yếu xuất khẩu và phần lớn thuộc nhóm sản phẩm trang trí sân vườn Khách hàng yêu thích gốm Đồng Nai có nhu cầu về sản phẩm gốm có thể liên hệ tham khảo đặt hàng tại các doanh nghiệp như: Công ty CP Gốm Việt Thành, HTX gốm Thái Dương, DNTN gốm Phong Sơn, DNTN gốm Đồng Tâm, Công ty TNHH Sinh Phong (gốm đen), Công ty TNHH Tân Thiên Phú, DNTN Minh Đức, Công ty TNHH Hoàng Mỹ, DNTN gốm đỏ Thanh Long ở huyện Long Thành …

Đến nay, hàng gỗ thủ công mỹ nghệ Đồng Nai đã tìm được thị trường xuất khẩu tại nhiều quốc gia Châu Âu, Mỹ, Úc Với những cơ hội thuận lợi và

Trang 40

sự linh hoạt, chủ động trong sản xuất kinh doanh, nhiều cơ sở đã có điều kiện sản xuất ổn định và ngày càng phát triển Họ cùng liên kết với nhau hợp tác sản xuất để sản phẩm thêm đa dạng mẫu mã, kịp thời hoàn thành số lượng cũng như chất lượng nên liên tục ký kết được nhiều hợp đồng lớn

b) Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu tỉnh Thái Bình

Thái Bình: Nỗ lực tìm kiếm thị trường xuất khẩu [22]

Trong những năm qua hoạt động xuất khẩu của Thái Bình có mức tăng trưởng khá, mang lại nguồn ngoại tệ lớn, góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển Ðóng góp vào thành công đó, ngoài sự chủ động tìm kiếm thị trường xuất khẩu của Trung tâm Xúc tiến thương mại (Sở Công Thương) còn

có sự nỗ lực rất lớn từ các doanh nghiệp Ðến nay, nhiều mặt hàng như dệt may, nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng, gốm sứ đã thâm nhập được những thị trường lớn các nước trên thế giới, mang lại hiệu quả kinh tế cao Ðể

hỗ trợ tìm kiếm thị trường xuất khẩu, những năm qua Trung tâm đã chuyển tải kịp thời tới các doanh nghiệp những thông tin về thị trường, tình hình kinh tế, thuận lợi, khó khăn khi kinh doanh và đầu tư vào các nước cũng như định hướng mặt hàng xuất khẩu, chính sách khuyến khích xuất nhập khẩu và đầu

tư của các nước trên thế giới Ðồng thời, Trung tâm đã đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến xuất khẩu như tổ chức cho các doanh nghiệp đi nghiên cứu, khảo sát thị trường nước ngoài, tổ chức đoàn doanh nghiệp của nước ngoài về Thái Bình gặp gỡ các doanh nghiệp của tỉnh, cung cấp thông tin về doanh nghiệp, sản phẩm, v.v

Nhờ những nỗ lực trên, năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh tiếp tục tăng trưởng khá, đạt 975 triệu USD, tăng 21% so với năm 2012, vượt kế hoạch 11% 6 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 470,7 triệu USD, tăng 17,19% so với cùng kỳ năm 2013 Thời gian tới, tỉnh tiếp tục chú trọng khai thác thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc… với những

Ngày đăng: 07/05/2018, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồng Anh (2015), Đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vào Liên bang Nga, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vào Liên bang Nga
Tác giả: Hồng Anh
Năm: 2015
2. Bộ Công thương (2009), Một số quy định về hóa chất khi XK hàng TCMN vào Châu Âu & Mỹ, Cục xúc tiến thương mại, ngày 10 Tháng 12 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định về hóa chất khi XK hàng TCMN vào Châu Âu & Mỹ
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
4. Hoàng Văn Châu, Phạm Thị Hồng Yến, Lê Thị Thu Hà (2007), Làng nghề du lịch Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề du lịch Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Châu, Phạm Thị Hồng Yến, Lê Thị Thu Hà
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
5. Trần Văn Chử (2005), Phát triển thị trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ 2004- 2005, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Trần Văn Chử
Năm: 2005
6. Chính phủ (2006), Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài, số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chi cục thống kê huyện Chương Mỹ (2013,2014, 2015), Niên giám thống kê huyện Chương Mỹ, năm 2013, 2014, 2015.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Chương Mỹ, năm 2013, 2014, 2015
8. Đỗ Quang Dũng (2005), "Về tiêu chí xác định làng nghề", Tạp chí Giáo dục lý luận, (3), tr 46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiêu chí xác định làng nghề
Tác giả: Đỗ Quang Dũng
Năm: 2005
9. Thùy Dương (2012) “Cánh cửa” cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, Báo công thương, 24/04/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh cửa” cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
10. Thùy Dương (2013), Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường Nhật Bản cho doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ, Báo công thương, 03/01/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường Nhật Bản cho doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ
Tác giả: Thùy Dương
Năm: 2013
11. Hoàng Hân (2015), Hàng thủ công mỹ nghệ: Chật vật tìm thị trường xuất khẩu, báo Đà nẵng, 06/08/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng thủ công mỹ nghệ: Chật vật tìm thị trường xuất khẩu
Tác giả: Hoàng Hân
Năm: 2015
12. Hoàng Hiền và Hoàng Hùng (2008), “Giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các làng nghề”, Báo Nhân Dân. (số 19477) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các làng nghề”
Tác giả: Hoàng Hiền và Hoàng Hùng
Năm: 2008
14. Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền (2007), Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam; NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến, Vũ Thị Hiền
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
15. Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến (2006), Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống. NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
Tác giả: Nguyễn Hữu Khải, Đào Ngọc Tiến
Nhà XB: NXB Lao động- Xã hội
Năm: 2006
16. Phạm Kim (2014) Kinh nghiệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường EU, Cục công nghiệp địa phương, Bộ Công thương – 27/06/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường EU
17. Nguyễn Thảo Linh (2008), “Hàng thủ công mỹ nghệ 2008: Bí đầu ra”, Thời báo Doanh nhân. (số 39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hàng thủ công mỹ nghệ 2008: Bí đầu ra
Tác giả: Nguyễn Thảo Linh
Năm: 2008
18. Hồ Hải Long (2007), “Ngành đồ gỗ Việt Nam: Hội nhập và phát triển”, Thời báo Kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành đồ gỗ Việt Nam: Hội nhập và phát triển
Tác giả: Hồ Hải Long
Năm: 2007
19. Nguyễn Mai (2006), "Những dự án giao thông phát triển du lịch, làng nghề "; "Thành công nhân cấy nghề ở An Mỹ - Mỹ Đức", Báo Điện tử Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dự án giao thông phát triển du lịch, làng nghề ; Thành công nhân cấy nghề ở An Mỹ - Mỹ Đức
Tác giả: Nguyễn Mai
Năm: 2006
22. Sở công thương Thái Bình (2014), Nỗ lực tìm kiếm thị trường xuất khẩu, nguồn Sở công thương Thái Bình, ngày 21 Tháng 8 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hái Bình (2014), Nỗ lực tìm kiếm thị trường xuất khẩu
Tác giả: Sở công thương Thái Bình
Năm: 2014
23. Sở công thương Đồng Nai (2016), Một góc nhìn từ sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một góc nhìn từ sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đồng Nai
Tác giả: Sở công thương Đồng Nai
Năm: 2016
24. Trần Tâm (2015), Cơ hội lớn cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, Bộ công thương, 23 tháng 11, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội lớn cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Tác giả: Trần Tâm
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w