1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu tỉnh nam định

111 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng trước áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội l

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tôi cam đoan sẽ tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Người cam đoan

Đỗ Văn Tú

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cô giáo, sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự động viên kịp thời của gia đình và người thân đã giúp tôi vượt qua những trở ngại và khó khăn để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới PGS TS Nghiêm Thị Thà - Trưởng Bộ môn Phân tích Tài chính, Trường Học viện Tài chính, đã hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các nhà Khoa học, các giảng viên đã hợp tác giảng dạy tại Phòng Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Lâm nghiệp

Xin cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thống kê và các hộ gia đình ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhận thức của bản thân và những khó khăn khách quan nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày tháng năm 2015

Học viên

Đỗ Văn Tú

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA 4

1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 4

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 4

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 5

1.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 8

1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 11

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của một số nước trên Thế giới 11

1.2.3 Bài học về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa có thể vận dụng cho huyện Hải Hậu 22

1.3 Tổng quan nghiên cứu 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định 27

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

2.1.3 Thực trạng sử dụng đất trồng lúa của huyện Hải Hậu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

Trang 4

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA TẠI HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM

ĐỊNH 47

3.1 Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 47

3.1.1 Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của huyện Hải Hậu 47

3.1.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại huyện Hải Hậu 67

3.2 Định hướng sử dụng đất trồng lúa tại huyện Hải Hậu 71

3.2.1 Quan điểm khai thác sử dụng đất 71

3.2.2 Quan điểm sử dụng đất trồng lúa 72

3.2.3 Định hướng sử dụng đất trồng lúa 72

3.3 Lựa chọn loại hình sử dụng đất trồng lúa bền vững 73

3.3.1 Nguyên tắc lựa chọn 73

3.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 74

3.3.3 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất trồng lúa 74

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa cho huyện Hải Hậu 75

3.4.1 Nhóm giải pháp chung 75

3.4.2 Giải pháp cụ thể 77

3.5 Điều kiện thực hiện các giải pháp 79

3.5.1 Nhà nước và các cơ quan chức năng 79

3.5.2 Về phía chính quyền địa phương 80

3.5.3 Về phía các tập thể và cá nhân sử dụng đất trồng lúa 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LUT Type of land use Loại hình sử dụng đất

PRA Participatory Rural

Appraisal

Đánh giá nhanh nông thôn

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Hiện trạng sử dụng đất trong huyện Hải Hậu 30 2.2 Dân số phân theo giới tính và khu vực từ năm 2012 - 2014 32

2.3 Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và cơ

2.4 Tổng giá trị sản xuất và tỷ trọng các ngành của huyện Hải

Hậu trong giai đoạn từ năm 2012 - 2014 36

2.5 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất của huyện Hải Hậu

2.6 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất trồng lúa năm 2014 của

2.7 Biến động đất nông nghiệp và đất trồng lúa giai đoạn 2012

2.8 Giá trị sản xuất trồng lúa cả năm của huyện Hải Hậu giai

2.9 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Hải Hậu (2012-

2.10 Diện tích, năng suất, sản lượng các giống lúa vụ xuân của

2.11 Diện tích, năng suất, sản lượng các giống lúa vụ mùa của

3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ở các xã điều tra năm

Trang 7

3.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha các giống

3.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha các giống

3.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha các giống

3.7 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha các giống

lúa vụ xuân – vụ mùa Bình quân của 3 xã 60

3.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha của một

3.9 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sử

dụng đất trồng lúa của huyện Hải Hậu tính trên 1 ha 62

3.10 Thu nhập bình quân, số lao động bình quân trên 1 ha đất

trồng lúa của 3 xã và bình quân của toàn huyện Hải Hậu 64

3.12 Mức độ sử dụng một số loại thuốc trừ sâu trên đất trồng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, nhờ có đất đai con người sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội Nhưng đất đai là nguồn lực có hạn trong khi nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, việc sử dụng đất có hiệu quả, bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, khu vực và thế giới Việt Nam là đất nước phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, việc nghiên cứu, đánh giá và tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Hải Hậu là huyện nằm phía Đông nam của tỉnh Nam Định hàng năm sản lượng lúa chiếm gần 1/3 tổng sản lượng lúa của tỉnh, thương hiệu “gạo tám Hải Hậu” đã gắn với nhiều thế hệ người Việt ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài Tuy nhiên, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang tác động mạnh mẽ đến cơ cấu đất nông nghiệp, đặc biệt là các vùng thuần nông như Hải Hậu, Nam Định Vì vậy, việc tìm giải pháp để khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất trồng lúa trong bối cảnh hiện nay là một trong những vấn

đề hết sức cần thiết đối với các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã và từng hộ gia đình nông dân Xuất phát từ thực tế của địa phương trong bối cảnh hiện nay, tôi đã lựa

chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu – Tỉnh Nam Định” làm luận văn Thạc sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trong bối cảnh hiện nay của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Trang 9

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; chỉ rõ các kết quả, hạn chế về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định;

- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định;

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại các vùng chuyên canh lúa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

3.3 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Chọn 3 xã điểm của Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định làm mẫu nghiên cứu do 3 xã này có diện tích đất trồng lúa lớn nhất và là vùng chuyên canh lúa chất lượng cao của Huyện Hải Hậu

- Về thời gian: Từ năm 2012- 2014

- Về nội dung: Hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

4 Nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc biệt là diện tích đất trồng lúa của huyện Hải Hậu, Nam Định

- Đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường từ sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Hải Hậu - Nam Định

Trang 10

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của huyện Hải Hậu – Nam Định

- Nghiên cứu định hướng và nguyên tắc sử dụng đất trồng lúa một cách hiệu quả trong những năm tới đây tại huyện Hải Hậu – Nam Định

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa tại huyện Hải Hậu - Nam Định trong tương lai

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác và đất trồng lúa có thể hiểu là loại đất mà ở đó có đủ các điều kiện về thổ nhưỡng cũng như khí hậu, thủy văn phù hợp cho sự phát triển của cây lúa

Đất đai nói chung và đất trồng lúa nói riêng có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau

Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp

lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng trước áp lực từ sự gia tăng dân

số, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất trồng lúa

Theo Niên giám thống kê (tóm tắt) năm 2014, Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.096,7 nghìn ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.231,7 nghìn ha, diện tích đất trồng lúa là 4.078,6 nghìn ha Dân số là 90.728,9 nghìn người

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất trồng lúa phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

- Hiệu quả kinh tế: Bản chất là làm sao với một diện tích đất trồng lúa nhất định sản xuất ra một khối lượng thóc gạo nhiều nhất với một lượng chi

Trang 12

phí về vật chất (phân bón, thuốc trừ sâu…) và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thóc, gạo của xã hội

- Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân

về ăn mặc và nhu cầu sống khác Sử dụng đất trồng lúa phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất trồng lúa sẽ bền vững hơn

- Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ loại

hình sử dụng đất trồng lúa phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái và được đánh giá theo

3 tiêu chí:

+ Hiệu quả hóa học môi trường là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường

+ Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây lúa với đất, giữa cây lúa với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong trồng lúa mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra

+ Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

Xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động

Trang 13

kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành trồng lúa, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản phẩm lúa gạo thu hoạch được, nhất là các loại lúa gạo cơ bản có ý nghĩa chiến lược

Sử dụng đất trồng lúa có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp

* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên:

Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trồng lúa Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối

Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định lúa chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra hạt gạo hàng hóa với giá rẻ

* Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác:

Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất lúa, gạo hàng hóa Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh

Trang 14

dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức

- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: thực hiện phân vùng sinh thái trồng lúa dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển lúa gạo hàng hóa

- Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hóa các hình thức hợp tác trong trồng lúa, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất – dịch vụ và tiêu thụ lúa gạo hàng hóa

- Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hóa của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất thóc gạo hàng hóa phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng hạt gạo và hạ giá thành sản phẩm [8]

* Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội:

- Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hóa để sản xuất Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hóa mà họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ

có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những loại hàng hóa

mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng

- Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ… có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hóa của nông dân

Trang 15

- Do vậy, nhiều chính sách thúc đẩy nền kinh tế quốc dân như: Chương trình 327 “Phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách 773 về “Khai thác mặt nước hoang, bãi bồi ven sông biển”, chính sách dồn điền đổi thửa…

- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển trồng lúa của Nhà nước

1.1.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan

hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số [4], nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:

đất trồng lúa như: Năng suất lúa /ha; giá trị hàng hóa /ha trồng lúa, lợi nhuận

bình quân/ha trồng lúa Số việc làm /ha; giá trị sản lượng /ha; giá trị gia tăng /ha; thu nhập bình quân /ha, số vụ khai thác/ha trồng lúa hàng năm và tần suất

sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu như: Diện tích sử dụng /Diện tích tự nhiên;

diện tích trồng lúa/diện tích sử dụng, diện tích lúa cao sản/diện tích trồng lúa, diện tích lúa đặc sản/ diện tích trồng lúa, diện tích đất đa canh/diện tích đất trồng

Trang 16

lúa Ngoài ra còn sử dụng các tiêu chí định tính như: Các loại hình sử dụng đất

phải bảo vệ độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái (Khả năng bảo vệ và cải tạo đất; Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật), khả năng đảm bảo an toàn vệ sinh lương thực, thực phẩm; mức độ an toàn môi trường sinh thái vùng trồng lúa, mức độ an sinh xã hội,

phát triển văn hóa, bản sắc dân tộc vùng trồng lúa… Nếu cây trồng, vật nuôi có

năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận, mang lại thu nhập cao,

ổn định cho người trồng lúa việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật canh tác phù hợp với tập quán canh tác, nuôi trồng của người dân, không ngừng nâng cao: giá trị ngày công lao động nông nghiệp; Thu nhập bình quân/ lao động nông nghiệp; Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo; Mức độ giải quyết công ăn việc làm và thu hút lao động; đa dạng hóa sản phẩm tiêu thụ trên thị trường thì đánh giá hiệu quả

sử dụng đất trồng lúa cao hoặc ngược lại Như vậy, hiệu quả sử dụng đất trồng lúa phải phản ánh tổng hợp mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế, xã hội, môi trường với diện tích đất có thể khai thác, sử dụng

Cụ thể, có thể xác định thông qua các chỉ tiêu sau:

* Hiệu quả kinh tế:

- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất trồng lúa bình quân mỗi vụ hoặc mỗi năm:

+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm) trên một ha

+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất

đó trên một ha

GTGT = GTSX – CPTG = Lợi nhuận

Trong đó: Chi phí trung gian (CPTG) hay chi phí sản xuất (CPSX): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra

Trang 17

để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất mỗi năm trên 1 ha

- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ, hay còn gọi là tỷ suất sinh lời của chi phí:

TSSL = LN x 100

CPTG

- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ; GTSX/Tổng giờ công lao động; LN/Số lao động; GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất lúa và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động cũng chính là năng suất lao động

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

+ Đảm bảo vấn đề an ninh lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân; sản lượng lúa bình quân/ đầu người

+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;

+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân: Số lượng lao động bình quân/ ha

+ Góp phần định canh định cư

+ Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật;

+ Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu: Giá trị xuất khẩu/GTSX

* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:

Theo Đỗ Nguyên Hải [2], chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất ở vùng nông nghiệp:

Trang 18

+ Đánh giá tác động môi trường: Tỷ lệ diện tích không ô nhiễm/Tổng diện tích đất nông nghiệp; Tỷ lệ diện tích không ô nhiễm/Diện tích đất trồng lúa

+ Đánh giá hệ thống cây trồng: Số loại cây trồng, vật nuôi/ 1 ha diện tích đất trồng lúa

+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;

+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên: Số loài động vật, thực vật/ 1

ha đất trồng lúa

+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

1.2 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa

1.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của một số nước trên Thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của Thái Lan

Từ những năm 90 trở lại đây Thái Lan đã chuyển mạnh sang hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng vào xuất khẩu khai thác lợi thế đất đai, lao động, khí hậu lấy nông nghiệp làm điểm tựa cho sự phát triển kinh tế đất nước Mục tiêu đề ra của nhà nước là phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hoá, phát triển công nghiệp chế biến nông sản phục vụ cho xuất khẩu Thái Lan coi nông nghiệp nông thôn là xương sống của đất nước và đặc biệt có chính sách đầu tư khuyến khích phát triển diện tích đất sản xuất lúa chất lượng cao mang tính hàng hoá Đến nay Thái Lan là một nước đứng đầu về sản xuất lúa gạo trên thế giới; chất lượng sản phẩm gạo ngon đã đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ của khách hàng trên thế giới và đã tạo được thương hiệu gạo ngon Thái Lan Để không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã có các chính sách đồng bộ và hỗ

Trang 19

trợ về kỹ thuật, giống, thị trường cho nông dân và vùng trồng lúa trên cả 2 phương diện:

+ Quy trình sản xuất lúa hàng hóa

+ Chính sách với nông dân, nông thôn

- Về sản xuất: Thái Lan đặc biệt coi trọng từ khâu sản xuất việc lựa chọn giống tốt, có chất lượng cao, đáp ứng với thị hiếu người tiêu dùng của các thị trường khác nhau trên thế giới

- Đầu tư khoa học và công nghệ nhất là công nghệ sinh học, công nghệ chế biến hiện đại để sản phẩm qua chế biến phải phong phú, đa dạng mẫu mã đẹp và đặc biệt là chất lượng đảm bảo cho các định hướng khác nhau theo yêu cầu

- Về tiêu thụ: Xây dựng chính sách khuyến khích nông dân sản xuất lúa gạo xuất khẩu thông qua các ưu đãi thuế, lãi suất vay cho nhà đầu tư vào nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, chuyển giao khoa học công nghệ cho sản xuất lúa chất lượng cao không thu thuế xuất khẩu gạo, tạo nguồn vốn vay với lãi suất

ưu đãi, nhà nước không can thiệp mà tạo điều kiện cho doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu gạo

- Đào tạo nguồn nhân lực, cán bộ lãnh đạo, lao động có tri thức, có trình

độ tiếp thu khoa học công nghệ cao cho vùng trồng lúa hàng hóa

- Huy động nguồn vốn của nhà nước và nhân dân đóng góp xây dựng hạ tầng cơ sở vùng trồng lúa Chú trọng củng cố mở rộng các nông trại sản xuất lúa gạo chuyên canh, khuyến khích ưu đãi phát triển doanh nghiệp cung ứng vật tư và chế biến lúa gạo

- Nhà nước mua đất nông nghiệp của nông dân và bán cho những người dân có nhu cầu và khả năng sản xuất lúa chất lượng cao

Các chính sách và quản lý nông nghiệp đã giúp Thái Lan thành nước xuất khẩu gạo tốt nhất Thế giới

Trang 20

1.2.1.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở Ấn Độ

Bắt đầu nghiên cứu lúa và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa từ 1970, nhưng đến 1989 mới được hệ thống hóa và tăng cường thực sự Sau năm năm đã phóng thích được sáu giống ưu thế, tính đến tháng 12/2001 đã phóng thích 18 giống lúa Việc phát triển lúa và nâng cao hiệu quả

sử dụng đất lúa đang được phát triển ở Ấn Độ, tuy gặp một số khó khăn do chất lượng gạo thấp, giá lúa giống cao, nhưng phần lớn nông dân vẫn muốn tiếp tục canh tác lúa thường

Năm 1996, Ấn Độ đã sản xuất được 1.300 tấn hạt giống lai F1 và gieo cấy khoảng 500.000 ha lúa lai thương phẩm, năng suất hạt lai chỉ đạt 1,5 – 2 tấn/ha Trong nghiên cứu phát triển lúa lai hai dòng Ấn Độ cũng đã gây tạo và xácđịnh được 12 dòng TGMS, tạo ra hai tổ hợp lai đưa vào sản xuất Hiện nay Ấn

Độ đang rất tích cực trong công tác nghiên cứu và phát triển các giống lúa lai năng suất, chất lượng cao Gạo do Ấn Độ sản xuất có chất lượng rất cao và được thị trường ưa chuộng tiêu biểu là sản phẩm gạo Basmati nổi tiếng

Chính sách của Nhà nước Ấn Độ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa là:

+ Cải cách kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 1991 - 1999:

Chính phủ đã đưa ra kế hoạch tăng cường kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp; lập quỹ phát triển nguồn nước cho 100 khu vực được ưu tiên; chi 10 triệu USD cho chương trình cải tạo và khai thác đất hoang để trồng lúa; quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng sản lượng lúa tại miền Đông và Đông Bắc, mở rộng và củng cố các hợp tác xã trồng lúa; thành lập trung tâm dự báo mùa màng quốc gia nhằm giúp nông dân chủ động hơn trong sản xuất lúa; sửa đổi luật hàng hóa thiết yếu, kiểm soát chặt chẽ việc tích trữ và buôn bán các loại nông sản (đặc biệt là lúa gạo) nhằm ổn định thị trường; xây dựng Chương trình quốc gia về công

Trang 21

nghiệp hóa nông thôn triển khai ở 100 nhóm làng xã mỗi năm; từ tháng

4-1995, thực hiện kế hoạch bảo hiểm toàn diện cho mùa màng, theo đó, phí bảo hiểm được phân chia giữa các bang và trung ương, theo tỷ lệ 1/2

+ Cải cách kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp lần hai từ năm 2000 đến

nay: Ngày 28-7-2000, Chính phủ Ấn Độ công bố chính sách nông nghiệp mới

với mục tiêu đạt tăng tưởng 4%/năm, gồm các nội dung chính: từ năm

2004-2010, đầu tư cho nông nghiệp tăng 7,5-7,7%; nâng cấp giống lúa để đáp ứng nhu cầu về lương thực; ưu tiên trồng lúa, thực hiện đa dạng hóa trong sản xuất lúa gạo; ưu tiên thủy lợi; thực hiện kế hoạch nhằm liên kết toàn bộ các con sông lớn của đất nước bằng hệ thống kênh, đập chắn, hồ chứa; xây dựng một chiến lược toàn diện để kiểm tra, giám sát và bảo quản, giảm những tổn thất

và lãng phí từ sản xuất, vận chuyển, bảo quản và phân phối lúa gạo; bãi bỏ những hạn chế trong việc vận chuyển, cho phép tự do xuất khẩu lúa gạo, ; thành lập các khu “nông nghiệp xuất khẩu”; đầu tư 22 triệu USD vào những khu vực sản xuất nông nghiệp lớn; giành khoản ngân sách 16 tỷ USD/năm để thực hiện các biện pháp giảm thiệt hại sau thu hoạch;… Ở cả 25 bang và 7 lãnh thổ trực thuộc trung ương của Ấn Độ đều có trường Đại học Nông nghiệp với môi trường học tập tốt, đội ngũ giảng dạy có trình độ chuyên môn cao Tích tụ ruộng đất được tiến hành thông qua các hợp đồng và chế độ cho thuê đất, vì vậy, nông dân có thể tăng cường đầu tư về kỹ thuật, vốn và nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm Hệ thống các ngân hàng thương mại phục vụ nông nghiệp cũng ngày càng tốt hơn Đến cuối năm 2004, Ấn Độ có 67.283 chi nhánh các ngân hàng thương mại, trong đó 32.178 chi nhánh ở khu vực nông thôn, chiếm 47,8%

Tháng 2-2002, Chính phủ ban hành Luật về hàng hoá thiết yếu, bỏ những hạn chế về vận chuyển nông sản giữa các bang, để nông dân có thể bán được nông sản ở mức giá tốt nhất, củng cố các hợp tác xã ở nông thôn, tăng cường

Trang 22

vai trò các hợp tác xã tín dụng, cung cấp đủ và kịp thời nguồn tín dụng, đáp ứng nguồn nước tưới Tháng 5-2005, lại có thêm một kế hoạch đầu tư khoảng

3 tỷ USD để phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn

+ Ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp: Việc áp

dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp đã giúp cho nền nông nghiệp Ấn Độ tăng năng suất nhanh chóng Nhờ công nghệ sinh học, việc tạo ra các giống cây trồng biến đổi gen và các đặc tính kháng được thuốc trừ cỏ, kháng sâu bệnh được dễ dàng hơn Để nâng cao hiệu quả việc sử dụng đất lúa, Ấn Độ thực hiện thâm canh, tăng vụ; coi trọng công tác thủy lợi và sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, Xây dựng hệ thống kho lạnh, dây chuyền vận chuyển đến thị trường để đảm bảo chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng và giảm mức thất thoát đến mức nhỏ nhất [13]

1.2.1.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở Philippines

Gạo là lương thực chủ yếu ở Philippines Quốc gia quần đảo này là nước sản xuất lúa gạo đứng hàng thứ 8 trên thế giới Tuy nhiên với dân số đông và điêu kiện thời tiết khắc nghiệt chủ yếu là mưa, bão làm cho sản lượng gạo hàng năm luôn bị thiếu hụt từ 2-3 triệu tấn gạo mỗi năm Vấn đề thiếu gạo trầm kha của Philippines là nỗi lo đau đầu của quan chức Chính phủ và người tiêu dùng gạo trong nước

Ngược lại lịch sử, Philippines đã từng sản xuất đủ gạo ăn trong những năm đầu của thập niên 1970 Trong năm 1973, Philippines từng xuất khẩu 90.000 tấn gạo và duy trì dự trữ gạo đến 3 tháng sau mỗi niên vụ sản xuất

Sản xuất lúa gạo ở Philippines là quan trọng để cung cấp lương thực trong nước và đóng góp vào nền kinh tế đất nước Philippines là nước sản xuất gạo lớn thứ 8 trên thế giới, chiếm 2,8% tổng sản lượng gạo toàn cầu Tuy nhiên, Philippines cũng là nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới trong những năm gần đây Chính phủ Philippines công nhận đã nhập khẩu 2,47 triệu tấn gạo xay trong năm 2010

Trang 23

Trong những năm 1980, sản xuất lúa gạo ở Philippines gặp phải vấn

đề Tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn1980-1985 chỉ còn 0,9%,

so với tốc độ tăng trung bình 4,6% trong vòng 15 năm trước đó Tăng trưởng giá trị trong ngành sản xuất lúa gạo cũng đã giảm mạnh trong những năm 1980s Các cơn bão nhiệt đới, hạn hán, suy thoái kinh tế của những năm 1980s,

và cuộc khủng hoảng kinh tế thời kỳ 1983-1985 góp phần vào sự suy giảm này Mức vốn đầu tư cho cây trồng từ Chính phủ và từ người nông dân cho cây trồng đã cạn kiệt, giá đầu vào nông nghiệp tăng, và giá đầu ra không ổn định Phân bón và chất dinh dưỡng thực vật đã giảm 15%

Nông dân bị gò ép bởi các khoản nợ gia tăng và thu nhập giảm Diện tích dành cho sản xuất lúa gạo từ những năm cuối 1970 đến giữa những năm 1980

đã giảm trung bình 2,4% mỗi năm Sự suy giảm chủ yếu ở các trang trại vành đai ven biển và các trang trại trồng lúa lệ thuộc nước trời Kết quả là, vào năm

1985, năm cuối cùng nhiệm kỳ của tổng thống Marcos, cả nước phải nhập khẩu 538.000 tấn gạo

Tình hình được cải thiện phần nào vào cuối những năm 1980, và số lượng gạo nhỏ hơn vẫn được nhập khẩu Tuy nhiên, trong năm 1990, đất nước

đã trải qua một đợt hạn hán nghiêm trọng Sản lượng giảm 1,5%, bắt buộc phải nhập khẩu khoảng 400.000 tấn gạo

Ở Philippines cây lúa được gieo trồng rộng rãi ở các đảo lớn như Luzon, Phía Tây đảo Visayas, phía Nam và Trung tâm đảo Mindanao Trong năm 2010, gần 15,7 triệu tấn lúa được sản xuất, chiếm 21,86% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp và chiếm 2,37% GNP Trung bình năng suất mỗi ha sản lượng nói chung là thấp so với các nước Châu Á khác

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, kể từ giữa những năm 1960s sản lượng đã tăng lên đáng kể như là một kết quả của việc trồng các giống năng suất cao được

Trang 24

phát triển từ Viện lúa quốc tế IRRI Tỷ lệ lúa "phép lạ" từ IRRI đã làm gia tăng từ con số 0 (năm 1965-1966) lên đến 81% (năm 1981-1982) Năng suất trung bình tăng từ 1,23 tấn/ha năm 1961 đến 3,59 tấn/ha trong năm 2009

"Cuộc cách mạng xanh" này đi kèm với việc sử dụng mở rộng đầu vào hóa chất Trong số nông dân được khảo sát ở Miền Trung Luzon, cho thấy số lượng thuốc trừ sâu cho mỗi ha tăng lên 10 lần trong giai đoạn1966-1979, từ dưới 0,1 kg/ha đến gần 1.0 kg/ ha Tuy nhiên, giữa những năm 1990, con số này đã giảm đi một nửa Kể từ đó, lượng sử dụng và mức độ sử dụng thuốc trừ sâu là hơi thấp hơn so với thời kỳ đầu của cuộc Cách mạng Xanh

Để kích thích tăng năng suất, Chính phủ Philippines cũng tiến hành mở rộng các hệ thống thuỷ lợi quốc gia và khu vực Diện tích trồng lúa được thủy lợi hóa tăng từ dưới 500.000 ha vào năm 1960 đến 1,5 triệu ha trong năm

2009, hiện nay gần ½ diện tích đất trồng lúa của Philippines có khả năng chủ động tưới tiêu

Ở Philippines trước đây nhập khẩu lớn nhất về lượng gạo, đã được thúc đẩy tự túc lúa gạo cho cả nước Đất trồng lúa chủ động thủy lợi cho phép sản xuất các vụ lúa được thu hoạch trước mùa mưa bão

Giá cao đầu vào nông nghiệp, tăng nhanh dân số, mưa bão triền miên, làm giảm diện tích đất trồng lúa, thủy lợi đã đóng vai trò trong việc kiến thiết đất nước trở lại trong những nỗ lực tự túc đủ gạo ăn cho cả nước

Năng suất lúa của Philippines từ 1,16 tấn/ha năm1960 tăng đến 3,59 tấn/ha trong năm 2009 Thấp hơn so với hai năm trước đó do các thiệt hại bởi các cơn bão nhiệt đới "Ondoy" và "Pepeng" Trong năm 2007, năng suất lúa bình quân đạt 3,8 tấn/ha và năm 2008 là 3,77 tấn /ha

Năng suất lúa bình quân ở Philippines cũng cao hơn so với Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Năng suất lúa trong những năm gần đây của Philippines chỉ đạt khoảng 3 tấn/ha, thấp hơn nhiều so với Việt Nam và Trung Quốc

Trang 25

Trong cuộc họp triển khai kế hoạch giữa IRRI và Philippines trong tháng 3/2010 đã đã nhận định về tình hình cây lúa ở Philippines với những giải pháp của Chính phủ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa như sau:

- Chính phủ đã đưa ra chính sách về trợ cấp phân bón và hạt giống: Trợ cấp cho các nhà sản xuất hạt giống và các nhà sản xuất phân bón để giảm chi phí của các đầu vào

- Chính phủ tăng kinh phí Ngân sách để đầu tư vào nghiên cứu

- Thế hệ các dữ liệu và số liệu thống kê mới đáng tin cậy về trồng lúa

- Chiến lược phát triển loại giống lúa lai

- Chính sách khuyến khích nông dân sản xuất lúa hữu cơ

Thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên Philippines đã đạt được sản suất lúa trong năm 2009 là: Diện tích lúa thu được thu hoạch: 4.532.300 ha, năng suất bình quân 3,59 tấn/ha, sản lượng lúa thô là 16.266.420 tấn

Sản xuất cây lúa ở Philippines trong năm 2010 là: Diện tích lúa được thu hoạch: 4.354.160 ha, năng suất bình quân 3,622 tấn/ha, sản lượng lúa thô là 15.771.700 tấn [14]

1.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở một số địa phương của Việt Nam

1.2.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long

Từ năm 1989, ĐBSCL đã giải quyết được nội dung quan trọng là thỏa mãn nhu cầu lương thực trong nước và bắt đầu trở lại tham gia thị trường xuất khẩu gạo thế giới Tính từ năm 1980 đến nay, năng suất lúa vùng ĐBSCL tăng 4,4% và sản lượng tăng trung bình 9,3% mỗi năm Cùng với việc ứng dụng nhanh thành tựu nghiên cứu giống mới đưa ra sản xuất, phát huy tính sáng tạo và năng động của nông dân đã làm thay đổi đáng kể sản lượng của

Trang 26

vựa lúa Mặt khác, năm 2004 Pháp lệnh về Giống cây trồng vật nuôi ra đời còn tạo bước ngoặt mới trong nghiên cứu giống tại ĐBSCL

Cùng với sự đầu tư về thủy lợi, sự sáng tạo của người nông dân đã đưa năng suất lúa bình quân từ 3,298 tấn/ha năm 1990 lên 5,38 tấn/ha năm 2009 Tiến sĩ Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt, cho biết: “Hai mươi năm qua, chúng ta chưa bao giờ bị mất mùa tuy vẫn có sâu bệnh, dịch hại, thiên tai, nhưng ANLT vẫn được giữ vững và liên tục ở vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo trên thế giới” Theo thống kê của Cục Trồng trọt, năm 2008, diện tích trồng lúa toàn vùng gần 3,86 triệu ha (tăng 175.000 ha so với năm 2007) với sản lượng đạt 20,6 triệu tấn (tăng 2,03 triệu tấn so với năm 2007) Năm 2009, diện tích trồng lúa toàn vùng giảm 24.800 ha còn 3,835 triệu ha, nhưng năng suất bình quân đạt 5,38 tấn/ha và sản lượng hơn 20,63 triệu tấn lúa hàng hóa, tăng 10.000 tấn so năm 2008 Trong đó, sản lượng lúa của vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên hiện chiếm khoảng 40% sản lượng lúa toàn vùng ĐBSCL; chiếm giữ vai trò đảm bảo ANLT rất lớn cho vùng

Riêng lúa vụ 3 (thu đông) toàn vùng có sản lượng 1,6-2,2 triệu tấn lúa hàng hóa/năm; qua kết quả khảo sát của Viện Lúa ĐBSCL tại An Giang, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang những địa phương nhiều kinh nghiệm trồng lúa vụ 3 cho thấy, phần lớn diện tích đều cho năng suất cao Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, không thể phủ nhận việc sản xuất liên tục có thể làm giảm độ màu mỡ của đất, đặc biệt ở những nơi có bờ bao ngăn lũ để tăng vụ Tuy nhiên, việc sản xuất lúa vụ 3 ở ĐBSCL là cần thiết để tăng sản lượng lúa, góp phần đảm bảo ANLT và tăng lượng gạo xuất khẩu Vấn đề còn lại là để làm lúa vụ 3 cần chọn nơi phù hợp Ông Đàm Văn Lý, nông dân ấp 7B2 xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, cho biết: “Sau giải phóng, ở đây chỉ làm được 1 vụ lúa, đến năm

1988 tăng lên 2 vụ và năm 1989 đến nay là 3 vụ/năm Đây là vùng đất lung,

Trang 27

nên vụ 3 năng suất kém chỉ 5 tấn/ha, nhưng việc tăng vòng quay của đất là chủ trương đúng đắn của ngành nông nghiệp và Nhà nước Trình độ nông dân cũng được nâng lên rõ rệt, do vậy việc sản xuất 3 vụ lúa trong năm không khó khăn gì đối với nhà nông” Ông Lý có 1,6 ha đất trồng lúa, hằng năm ông thu nhập hơn 100 triệu đồng; năng suất vụ đông xuân đạt 7-8 tấn/ha, hè thu 6-7 tấn/ha, thu đông 5 tấn/ha và nông dân phải hiểu vùng đất của mình mới đạt năng suất này Ông Lý cho rằng, trước năm 1981, năng suất lúa của vùng đất Hậu Giang không ổn định và không cao do đất phục hóa, nhưng các công trình nghiên cứu khoa học về nông nghiệp được áp dụng rộng rãi đã dần cải thiện năng suất lúa và người dân trồng lúa rất năng động, thích ứng nhanh với

kỹ thuật mới

Đến nay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, với số lượng bình quân hơn 4 triệu tấn/năm Có thể nói vai trò của ĐBSCL trong chiến lược ANLT quốc gia không có vùng, miền nào thay thế được Tuy nhiên, sự quan tâm đầu tư cho vùng ĐBSCL chưa tương xứng với những đóng góp của vùng cho cả nước Diện tích đất trồng lúa giảm, thách thức của biến đổi khí hậu, áp lực sâu bệnh, quá trình đô thị hóa nhanh đang tạo áp lực cho vùng

trong nhiệm vụ đảm bảo ANLT quốc gia

1.2.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa ở Điện Biên

Hương Việt 3 là giống lúa thuần chất lượng cao do TS Vũ Hồng Quảng cùng cộng sự - Viện nghiên cứu và Phát triển cây trồng- Học viện Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu chọn tạo thành công từ tổ hợp lai: Hoa sữa Mỹ (Mỹ)/ D42 (Việt Nam)/ Tám đột biến (Việt Nam)/ Daikoku (Nhật Bản) năm 2005

Giống Hương Việt 3 ra đời góp phần đáp ứng nhu cầu về giống lúa chất lượng ngày càng cao của bà con nông dân Hiện nay, giống lúa này đã, đang được trồng tại các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa,… Đây là những địa phương có khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho sự phát triển của giống lúa này

Trang 28

Đặc điểm chính của Hương Việt 3 là: Thời gian sinh trưởng ngắn; năng suất cao, có khả năng đạt 65,0 -75,0 tạ/ha/vụ; chất lượng ngon, cơm mềm, trắng bóng, dẻo, dai, mùi thơm và vị đậm; hạt thon dài, rất được nông dân ưa chuộng, chiều dài của hạt gạo ≈ 7,3mm, đạt tiêu chuẩn gạo xuất khẩu; khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và thích ứng ở nhiều vùng sinh thái

Tỉnh Điện Biên đã thực hiện giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa sau:

+ Vụ Mùa năm 2014, tỉnh Điện Biên đã phối hợp với Viện Nghiên cứu

và Phát triển cây trồng, Công ty TNHH giống Nông nghiệp Trường Hương - Điện Biên triển khai gieo cấy giống Hương Việt 3 tại huyện Điện Biên với diện tích 1,0ha thử nghiệm đã cho năng suất 65,0 - 70,0 tạ/ha Trên cơ sở đó,

vụ Xuân 2015, Tỉnh, Viện, Công ty đã cùng phối hợp mở rộng diện tích gieo cấy ở huyện Điện Biên và các huyện khác của tỉnh, đạt kết quả từ 72,0 - 7,8 tạ/ha, năng suất thực thu cao hơn so với giống lúa Tám Điện Biên (Bắc thơm

số 7) từ 10-15%

+ Vụ Xuân 2015, Công ty TNHH giống Nông nghiệp Trường Hương Điện Biên đã mở rộng sản xuất, triển khai chính sách giá mua thóc thương phẩm của nông dân gieo cấy Hương Việt 3 cao hơn so với lúa Tám Điện Biên

từ 8-10% nhằm mở rộng diện tích gieo cấy giống lúa này tại cánh đồng Mường Thanh Điện Biên và các huyện khác trên địa bàn tỉnh Từ kết quả khảo nghiệm thành công bước đầu tại cánh đồng Mường Thanh vào năm

2014, đến nay, giống lúa thuần Hương Việt 3 đã giúp bà con trong tỉnh Điện Biên có thêm giống lúa chất lượng, năng suất cao để lựa chọn gieo trồng phù hợp với hai vụ/năm, tăng năng suất, chất lượng, sản lượng nhằ m tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân, doanh nghiệp và phát triển thương hiệu Gạo Hương

Việt 3 Điện Biên (Học viện Nông nghiệp Việt Nam).[15]

Vụ mùa 2009, toàn huyện Lương Tài (Bắc Ninh) gieo trồng 866,2 ha

Trang 29

giống lúa chất lượng cao, chiếm 20% diện tích, bằng 14% so với cùng kỳ Các Giồng lúa chất lượng cao như: HT1, BC15, Bắc thơm số 7, LT2, QR1, Nếp

87, Nếp 97, gieo trồng ở một số xã Bình Định, Phú Hòa, Quảng Phú, Mỹ Hương

Chính phủ áp dụng chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa: + Chính phủ đã ra Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý và sử dụng đất trồng lúa

+ Cải tạo hệ thống thủy lợi, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp + Giải quyết các vấn đề của người nông dân

+ Bảo vệ môi trường, gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với việc giữ gìn tài nguyên, bảo vệ nguồn sống của nông dân

+ Phát huy và kết hợp hệ thống các cơ quan nghiên cứu gồm Viện Khoa học kỹ thuật và nông nghiệp Việt Nam, Viện cây Lương thực và thực phẩm, Viện công nghệ sau thu hoạch, Viện Nông nghiệp Miền Nam, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện Bảo vệ thực vật góp phần quan trọng trong phát triển ngành sản xuất lúa gạo và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa cho Việt Nam

1.2.3 Bài học về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa có thể vận dụng cho huyện Hải Hậu

Từ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên Thế giới và các tỉnh chuyên canh lúa của Việt Nam, có thể rút ra các bài học cho huyện Hải Hậu

về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa như sau:

* Về phía cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương:

+ Chính sách hỗ trợ sản xuất:

- Chính sách khai thác sự gia tăng tối đa năng suất, sản lượng, chất lượng lúa, gạo vụ Đông Xuân: gồm các gói chính sách hỗ trợ sử dụng giống lúa xác nhận, hỗ trợ phân bón cho nông dân khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư

Trang 30

vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao xuất khẩu nhỏ (<500 ha) và vừa (>500

ha nhưng <2.000ha), hỗ trợ doanh nghiệp tồn trữ, chế biến lúa gạo

- Chính sách hỗ trợ sản xuất và cải thiện chất lượng lúa gạo vụ xuân: gồm các gói chính sách: hỗ trợ nghiên cứu, xây dựng bộ giống lúa - cơ cấu giống lúa thích hợp canh tác theo vùng sinh thái và theo mùa vụ gieo cấy, đặc biệt là phải đáp ứng được về chất lượng gạo theo nhu cầu tiêu dùng ở thị trường trong nước và các nước nhập khẩu gạo trên thế giới, chuyển đổi mùa

vụ, thời vụ sản xuất lúa Hè Thu, chính sách hỗ trợ khắc phục khô hạn, phèn mặn cho vùng sản xuất gặp khó khăn, hỗ trợ việc chuyển đổi mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu cây trồng cạn thay thế sản xuất lúa không hiệu quả, chính sách cho tồn trữ, bảo quản, sơ chế, chế biến lúa, gạo

- Chính sách mở rộng vùng sản xuất lúa vụ mùa an toàn và hiệu quả: gồm các gói thủy lợi nội đồng, đê bao khép kín, đê bao hỡ

- Chính sách phát triển bền vững vùng sản xuất tôm - lúa: hỗ trợ xây dựng vùng sản xuất lúa chất lượng cao, lúa đặc sản trên nền tôm nước lợ, chính sách hỗ trợ xây dựng thương hiệu, sản xuất theo hướng GAP, hướng hữu cơ

+ Chính sách hỗ trợ đào tạo nông dân:

- Gắn các chương trình trọng điểm quốc gia với việc đào tạo nông dân có bằng cấp theo từng chuyên đề một cách cụ thể, bài bản về sản xuất lúa, bảo vệ môi trường

- Đào tạo về kiến thức sức khỏe, y tế và các vấn đề liên quan đến vệ sinh

an toàn thực phẩm

+ Chính sách liên kết sản xuất:

- Xây dựng, mở rộng và nâng cao chất lượng HTX nông nghiệp, khâu quan trọng là con người được đào tạo về quản lý và kinh doanh nông sản lúa, gạo Đây được xem như là một công ty trong tổng công ty hoặc tập đoàn lúa,

Trang 31

gạo Việt Nam trong tương lai Góp phần lớn vào lưu thông lúa gạo trong nước

và xuất khẩu

- Xây dựng vùng nguyên liệu lúa xuất khẩu quy mô diện tích lớn theo các hợp đồng xuất khẩu hằng năm, hoặc ký kết ổn định trong nhiều năm giữa nông dân với doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với đối tác trên thị trường tiêu thụ

- Sự phát triển bền vững của sản xuất lúa ở huyện Hải Hậu đòi hỏi sự tác động từ nhiều phía và tiến hành đồng bộ với các bước đi phù hợp cho từng giai đoạn Như vậy mới có thể chủ động xây dựng các kế hoạch và đáp ứng ngày càng cao hơn cho thị trường, gia tăng thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất lúa và cho sản xuất lúa nói chung ở Hải Hậu

* Về phía người nông dân trồng lúa:

- Nhanh chóng tiếp thu tiến bộ mới trong sản xuất lúa, kết hợp với những kinh nghiệm truyền thống hình thành nên một phương thức sản xuất lúa riêng phù hợp với vùng trồng lúa

- Mạnh dạn học hỏi các cán bộ khuyến nông, những chuyên gia từ Viện nghiên cứu Nông nghiệp

- Chấp hành nghiêm chỉnh lịch thời vụ và cơ cấu giống mà Hợp tác xã đề ra

1.3 Tổng quan nghiên cứu

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình công bố viết về đề tài nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và các vấn đề về sản xuất lúa gạo hàng hóa, điển hình là các công trình:

+ Tạ Văn Hân (2012), “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên”, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Thái Nguyên làm rõ lý luận về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa, một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa.[3]

Trang 32

+ Hoàng Trần Trung (2014), “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và

đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất trồng lúa huyện Sơn Dương – Tỉnh Tuyên Quang”, Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai, Trường Đại học Thái Nguyên đã làm rõ được một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và cũng

đã đưa ra được một số đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất trồng lúa chỉ áp dụng cho địa bàn huyện Sơn Dương.[6]

+ Tác giả Đinh Quốc Trị, năm 2009 luận văn thạc sỹ “Khảo nghiệm một

số giống lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” đã phản ánh một số giống lúa có chất lượng và triển vọng của giống lúa cao, chưa đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa.[5]

+ Trường Đại học Thành Tây (Hà Đông, Hà Nội) vừa nghiên cứu thành công hai giống lúa mới là giống thơm MHT và giống thơm RVT Đây là hai giống lúa thơm, ngon, chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu của vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc

+ Sở KH và CN đã phối hợp với Trung tâm Chuyển giao công nghệ và khuyến nông (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) triển khai đề tài

"Nghiên cứu phát triển một số giống lúa thơm năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao cho tỉnh Nam Định" nhằm nghiên cứu, tuyển chọn và phát triển một số giống lúa thơm chất lượng có giá trị kinh tế cao bổ sung vào tập đoàn

cơ cấu giống hiện có của tỉnh Trung tâm Chuyển giao công nghệ và khuyến nông đã tiến hành nghiên cứu điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác của người dân và nhu cầu thị trường, qua đó đề xuất cấy khảo nghiệm 10 giống lúa thơm có triển vọng như: Trân châu hương, SH8, VS1, DT68, GL102, GL159, GL106, GL107, GL160, M14, HT18 Các giống lúa trên được tiến hành cấy khảo nghiệm đồng loạt ở vụ xuân, vụ mùa 2013 và vụ xuân 2014 tại cả 3 vùng canh tác đặc trưng của tỉnh là Hải Hậu, Nam Trực và

Vụ Bản Đây là những thành công cụ thể trong quan hệ hợp tác, liên kết giữa

Trang 33

nhà khoa học và người nông dân để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng nhằm đa dạng hóa và tạo ra nông sản hàng hóa chất lượng cao theo đúng định hướng tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh

Đối với địa bàn huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định các đánh giá và đưa ra các giải pháp cho việc sử dụng đất nông nghiệp còn chưa nhiều đặc biệt là những nghiên cứu và đưa ra giải pháp nâng cao sử dụng hiệu quả sử dụng đất trồng lúa chưa có công trình nào nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm

2010 đến nay Vì vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong những năm tới theo hướng phát triển bền vững của địa phương

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Hải Hậu là huyện đồng bằng ven biển thuộc châu thổ sông Hồng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, trong tọa độ địa lý từ 190 59’ đến 200 15’

vĩ độ Bắc và từ 1060 11’ đến 1060 21’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Trực Ninh, huyện Xuân Trường

- Phía Đông giáp huyện Giao Thủy

- Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ

- Phía Tây giáp huyện Nghĩa Hưng

Hải Hậu có diện tích tự nhiên là 22.895,59 ha; 33 km bờ biển và thềm lục địa rộng 6.900 km2; có nhánh sông Hồng chảy qua tạo ra sông Ninh Cơ và sông Sò bao quanh huyện

Toàn huyện có 32 xã và 3 thị trấn, 1 hải cảng, 1 khu du lịch nghỉ mát; thị trấn Yên Định là trung tâm huyện lỵ, nằm ở điểm giao quốc lộ 21B và quốc lộ 37B, cách thành phố Nam Định khoảng 35 km

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Hải Hậu có địa hình tương đối bằng phẳng có độ dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam và Bắc xuống Nam tạo thành vùng lòng chảo ở giữa huyện và ven biển, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ +0,3 đến +0,7 m Đất đai thuộc nhóm đất phù sa sông Hồng, thành phần là đất thịt và đất thịt nhẹ tương đối giàu dinh dưỡng, là điều kiện thuận lợi phát triển tiềm năng nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt và nuôi trồng thủy sản Nhìn chung điều kiện địa hình, thổ nhưỡng của huyện Hải Hậu đã tạo ra hệ sinh thái động, thực vật khá

Trang 35

phong phú, đa dạng đồng thời thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục

vụ phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội; song cần có những biện pháp kỹ thuật

và thủy lợi kịp thời để khắc phục những hạn chế của yếu tố địa hình, khai thác tài nguyên đất đai có hiệu quả

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu

Hải Hậu có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng của Đồng bằng Bắc Bộ

và ven biển, chia làm 4 mùa, trong đó mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đông có khí hậu trái ngược nhau; mùa hạ thời tiết nóng, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh và ít mưa Theo chế độ mưa có thể chia khí hậu của huyện thành hai mùa chính:

- Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng, ẩm và mưa nhiều Hướng gió thịnh hành là gió Đông – Nam với tốc độ

2 – 4 m/s, nhiệt độ trung bình cao 280C, lượng mưa từ 1.700 – 1.800 mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm Khi mùa lũ đến, mực nước biển, mực nước sông Ninh Cơ lên cao kết hợp với mưa lũ tập trung gây ngập úng cho phần lớn các vùng trũng, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông – diêm – ngư nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân

- Mùa khô: Bắt đầu từ tháng 11 đến cuối tháng 4 năm sau, có khí hậu khô lạnh, ít mưa, hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc, thường gây lạnh đột ngột và lượng mưa ít, chỉ đạt từ 15 – 20% lượng mưa cả năm

Sau đây là một số yếu tố khí hậu chính của huyện:

- Lượng mưa trung bình cả năm từ 1.700 – 1.800 mm, mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9 với gần 80% tổng lượng mưa trong năm Ngày có lượng mưa cao nhất lên đến 200 – 250 mm

- Nhiệt độ trung bình năm 23 – 340C

- Nắng: Số giờ nắng trung bình năm từ 1.650 – 1.700 giờ, thuận lợi cho sản xuất muối và nhiều loại cây trồng và gieo trồng được nhiều vụ trong năm

Trang 36

- Độ ẩm không khí trung bình trong cả năm dao động trong khoảng từ 85 – 86% Các tháng có độ ẩm không khí cao là tháng 2 và tháng 3 lên đến 92%, thấp nhất vào các ngày có gió Tây Nam, có khi xuống dưới 80%

- Gió, bão: Trong năm có 2 hướng gió thịnh hành:

+ Gió Đông Nam thổi vào mùa hạ với tốc độ 2 – 4 m/s

+ Gió Đông Bắc có tốc độ gió không lớn nhưng thường gây ra lạnh đột ngột vào những tháng mùa đông

+ Do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên trung bình mỗi năm bị ảnh hưởng

từ 4 – 6 cơn bão kèm theo mưa to và gió mạnh, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng

2.1.1.4 Tài nguyên đất

Hải Hậu có diện tích tự nhiên năm 2014 là 22.895,6 ha Đất đai Hải Hậu được chia thành 2 nhóm chính là đất phù sa được bồi hàng năm và đất mặn, đất cát vùng ven biển; trong đó nhóm đất phù sa chiếm ưu thế được hình thành từ phù sa sông Hồng thông qua sông Ninh Cơ ở các xã phía Bắc huyện,

là loại đất có độ phì nhiêu cao nhất, đặc biệt là những nơi được bồi hàng năm, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, khả năng giữ nước tốt cho quá trình bồi tụ không đều một số nơi trũng thấp; nhóm đất bị ảnh hưởng chua mặn đứng thứ 2 về diện tích, có độ phì tiềm năng cao, khi được rửa mặn thì cho năng suất cao

Về sử dụng đất: Năm 2014 huyện Hải Hậu có diện tích tự nhiên 22.895,6

ha, bằng 13,85% diện tích toàn tỉnh, mật độ dân số đạt 1.128 người/km2 (so với mật độ dân số toàn tỉnh là 1.113 người/km2) Diện tích đất bình quân đầu người, nhất là đất nông nghiệp của huyện thấp hơn mức bình quân của tỉnh Nam Định

Diện tích và cơ cấu các loại đất chính như sau:

+ Đất nông nghiệp: 15.613,1 ha, chiếm 68,19% diện tích tự nhiên

Trang 37

+ Đất chuyên dùng: 4.202,07 ha, chiếm 18,45% diện tích tự nhiên + Đất ở: 1.601,81 ha, chiếm 8,78% diện tích tự nhiên Huyện còn 249,1 ha đất chưa sử dụng và diện tích sông ngòi, chiếm 1,09% diện tích tự nhiên

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất trong huyện Hải Hậu

2 Đất phi nông nghiệp 6970,7 30,45 7.010,7 30,62 7033,4 30,72 2-1 Đất ở 1594,1 22,87 1.601,8 7,00 2010,1 28,58 2-2 Đất chuyên dùng 4164,6 59,74 4.202,1 18,35 4223,2 60,04 2-3 Đất sông suối và mặt nước 819,5 11,76 813,9 3,55 800,1 11,38 2-4 Đất phi nông nghiệp khác 392,5 5,63 393 1,72 395 5,62

3 Đất chưa sử dụng 249,1 1,09 249,06 1,09 249,1 1,09 3-1 Đất bằng chưa sử dụng 249,1 1,09 249,06 1,09 249,1 1,09 3-2 Đất đồi núi chưa sử dụng

(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường, chi cục thống kê huyện Hải Hậu) 2.1.1.5 Chế độ thủy văn, nguồn nước

Hải Hậu có hệ thống sông ngòi tương đối dày với các mạng lưới sông chính: Sông Ninh Cơ, sông Múc, sông Rộc, sông Ninh Mỹ, sông Đối, sông Doanh Châu, sông Phú Lễ, sông Trệ,… Do đặc điểm địa hình, các dòng chảy đều theo hướng Bắc – Nam đổ ra biển

Trang 38

Sông Ninh Cơ nằm ở phía Tây huyện, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Hải Hậu với huyện Nghĩa Hưng Sông Ninh Cơ là một nhánh của sông Hồng, chảy theo hướng Bắc – Nam qua địa bàn huyện với chiều dài khoảng 19 km Đây là con sông có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện, nhất là phát triển nông nghiệp Hàng năm sông trực tiếp bồi đắp lượng phù sa cho vùng đất bãi ngoài đê và thông qua các nhánh, hệ thống kênh mương, trạm bơm cung cấp nước tưới có hàm lượng phù sa lớn bồi đắp cho các cánh đồng Ngoài các tuyến sông chính, huyện còn có mạng lưới các sông ngòi nhỏ với các ao hồ, đầm là nguồn bổ sung và dự trữ rất quan trọng khi mực nước các sông chính xuống thấp, đặc biệt vào mùa khô hạn

Nguồn nước mặt: Được lấy chủ yếu từ sông Ninh Cơ, các sông nhánh và nước mưa được lưu giữ trong các ao hồ, kênh mương, mặt ruộng, về mùa khô nguồn nước mặt của huyện khá dồi dào, có khả năng cung cấp đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Về mùa mưa mực nước sông Ninh Cơ và các sông nhánh lên cao, lượng nước dư thừa đối với sản xuất nông nghiệp, huyện phải sử dụng các cống dưới đê để tiêu nước

Nguồn nước ngầm: Qua điều tra, khảo sát ban đầu cho thấy, nguồn nước ngầm của huyện tương đối phong phú, hàm lượng CL < 200mg/l, tầng khai thác phổ biến từ độ sâu 80 – 150 m; tuy nhiên hàm lượng sắt trong nước ngầm khá cao nên trước khi sử dụng cần qua xử lý làm sạch

2.1.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên huyện Hải Hậu

* Thuận lợi

Vị trí địa lý cùng với hệ thống giao thông phát triển khá hoàn chỉnh gồm

cả đường bộ, đường sông, đường biển; Hải Hậu có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - văn hóa- xã hội với các huyện trong tỉnh, tỉnh bạn và các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực, rất thuận lợi phát triển thị trường tiêu thụ lúa gạo trong nước và nước ngoài

Trang 39

Khí hậu Hải Hậu với các đặc điểm nhiệt đới gió mùa nắng và bức xạ mặt trời lớn thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi và điều kiện tốt cho thâm canh tăng vụ

* Khó khăn

Mật độ sông ngòi của huyện khá dày, chế độ thủy văn phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ thủy văn của biển và sông Ninh Cơ, về mùa mưa khi cường độ mưa lớn và tập trung, khả năng tiêu úng chậm đã gây ra ngập úng cục bộ cho các vũng thấp, trũng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Tính biến động mạnh mẽ với nhiều địa hình thấp ven biển gây ra lũ lụt, úng cục bộ đòi hỏi phải có các biện pháp phòng tránh kịp thời gây cản trở cho sản xuất lúa cũng như các hàng hóa nông sản của toàn huyện

2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Bảng 2.2: Dân số phân theo giới tính và khu vực từ năm 2012 - 2014

(người)

Chia theo giới tính Chia theo khu vực

2012 257.736 127.176 130.560 25.685 232.051

2013 258.193 127.652 130.541 25.885 232.308

2014 258.967 128.456 130.511 26.115 232.852

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hậu)

Hải Hậu là huyện đông dân, dân số của huyện năm 2014 có 258.967 người, bằng 14,08% dân số toàn tỉnh Nam Định Trong đó, dân số nông thôn tăng hơn so với năm 2013, chiếm 89,92% dân số toàn huyện, dân số thành thị tăng từ 25.885 người năm 2013 lên 26.115 người, chiếm 10,08% dân số toàn huyện

Trang 40

Từ năm 2012 đến nay, do thực hiện tốt chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình nên tỷ lệ sinh dân số đã liên tục giảm nhanh và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2014 giảm xuống chỉ còn 1,28% cao hơn mức tăng dân số toàn tỉnh (tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh là 1,05%)

Một trong những đặc điểm riêng có của huyện Hải Hậu là có tỷ lệ dân số theo đạo Thiên Chúa khá cao, khoảng 40% năm 2014, do vậy cần có chính sách để đồng bào sống “Tốt đời, đẹp đạo”, đoàn kết, phát triển kinh tế xã hội của huyện

Trong cân đối lao động xã hội, toàn huyện có 157.569 người đang làm việc trong các ngành kinh tế, chiếm 94,35% lực lượng lao động và cũng còn 0,7% số lao động chưa có việc làm (không kể số lao động trong độ tuổi đi học); đó là những áp lực đòi hỏi trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội từ nay đến năm 2020 cần có những biện pháp giải quyết

Bảng 2.3: Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và cơ cấu lao

động từ năm 2012 - 2014

Nông - Lâm - Thủy sản 116.338 114.356 113.869

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hậu)

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền (2001), “Quy trình công nghệ và bảo vệ đất dốc nông lâm nghiệp”, Tuyển tập hội nghị đào tạo nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình công nghệ và bảo vệ đất dốc nông lâm nghiệp”, "Tuyển tập hội nghị đào tạo nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho phát triển bền vững trên đất dốc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ, Bùi Huy Hiền
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Đỗ Nguyên Hải (2001), Đánh giá đất và sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên sơn – Bắc Ninh, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đất và sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên sơn – Bắc Ninh
Tác giả: Đỗ Nguyên Hải
Năm: 2001
3. Tạ Văn Hân (2012), Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Tạ Văn Hân
Năm: 2012
4. Đỗ Thị Tám (2001), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Đỗ Thị Tám
Năm: 2001
5. Đinh Quốc Trị (2009), Khảo nghiệm một số giống lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo nghiệm một số giống lúa chất lượng cao trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Đinh Quốc Trị
Năm: 2009
6. Hoàng Trần Trung (2014), Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất trồng lúa huyện Sơn Dương – Tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai, Trường Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa và đề xuất hướng sử dụng hợp lý đất trồng lúa huyện Sơn Dương – Tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Hoàng Trần Trung
Năm: 2014
7. UBND huyện Hải Hậu (2012 - 2015), Báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014
8. UBND huyện Hải Hậu (2012 - 2015), Báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Hậu giai đoạn 2012 - 2014
9. UBND huyện Hải Hậu, Phòng Thống kê huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Thông báo chính thức: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vụ xuân - vụ mùa và cả năm 2012, 2013 và 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng Thống kê huyện Hải Hậu
10. UBND huyện Hải Hậu (2013), Niên giám thống kê huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Hải Hậu
Tác giả: UBND huyện Hải Hậu
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất trong huyện Hải Hậu - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất trong huyện Hải Hậu (Trang 37)
Bảng 2.3: Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và cơ cấu lao - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.3 Lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và cơ cấu lao (Trang 40)
Bảng 2.4: Tổng giá trị sản xuất và tỷ trọng các ngành - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.4 Tổng giá trị sản xuất và tỷ trọng các ngành (Trang 43)
Bảng 2.5: Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất của huyện Hải Hậu - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.5 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất của huyện Hải Hậu (Trang 45)
Bảng 2.7: Biến động đất nông nghiệp và đất trồng lúa - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.7 Biến động đất nông nghiệp và đất trồng lúa (Trang 47)
Bảng 2.9: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Hải Hậu (2012- 2014) - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.9 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Hải Hậu (2012- 2014) (Trang 49)
Bảng 2.10: Diện tích, năng suất, sản lượng các giống lúa vụ xuân - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 2.10 Diện tích, năng suất, sản lượng các giống lúa vụ xuân (Trang 50)
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa (Trang 55)
Bảng 3.2: Thông tin cơ bản của các hộ điều tra năm 2014 - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.2 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra năm 2014 (Trang 56)
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha (Trang 58)
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha   các giống lúa vụ xuân – vụ mùa của xã Hải Long - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.6 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha các giống lúa vụ xuân – vụ mùa của xã Hải Long (Trang 63)
Bảng 3.7: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.7 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trên 1 ha (Trang 67)
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của các loại hình - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.9 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của các loại hình (Trang 69)
Bảng 3.11: Mức độ sử dụng phân bón ở cây lúa - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.11 Mức độ sử dụng phân bón ở cây lúa (Trang 72)
Bảng 3.12: Mức độ sử dụng một số loại thuốc trừ sâu - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng lúa trên địa bàn huyện hải hậu   tỉnh nam định
Bảng 3.12 Mức độ sử dụng một số loại thuốc trừ sâu (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm