1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUẢN lý CÔNG tác xã hội hóa GIÁO dục THCS

77 244 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược được Đảng và Nhà nước ta xác định ngay từ khi hình thành nền giáo dục cách mạng. Quan điểm đó được Đảng chỉ đạo xuyên suốt qua đường lối phát triển giáo dục và được khẳng định là xây dựng mét nền giáo dục “Của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng”. Từ sau các mạng tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146 SL ngày 1081946, trong đó khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người kêu gọi “Toàn dân tham gia diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết… ai còng phải học”. Người xác định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước nhà là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phông sù lý tưởng quốc gia và dân chủ”. từ đó đến nay tư tưởng này đã được Đảng ta khẳng định qua nhiều văn kiện. Ngày 11 tháng 01 năm 1979, bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14NQ TW về cải cách giáo dục và đã xác định phương châm “ Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Phê phán thói lười học. Mọi người chăm lo cho giáo dục. Các cấp ủy và tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục Đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong cộng đồng, trong tập thể ”. Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta dành tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển giáo dục đào tạo. Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho giáo dục đào tạo. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển giáo dục đào tạo”. Như vậy xã hội hóa giáo dục chính là tạo điều kiện cho toàn dân được tham gia học tập và học tập suốt đời, toàn dân chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục và toàn dân làm giáo dục theo tinh thần giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Theo quan điểm và định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta, Xã hội hóa giáo dục được thực hiện trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều ban ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội nhằm huy động mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục. Một trong những công tác cấp thiết của xã hội hóa giáo dục hiện nay là công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học, cấp học; bởi vì trường học, với cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh là cơ sở ban đầu, là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của sự nghiệp giáo dục.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

 LUẬN VĂN THẠC SĨ

ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC THCS

Ở HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Võ Nguyên Du Sinh viên thực hiện: Phùng Văn Tuấn

Kon Tum, tháng 11 năm 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược được Đảng và Nhà nước taxác định ngay từ khi hình thành nền giáo dục cách mạng Quan điểm đó đượcĐảng chỉ đạo xuyên suốt qua đường lối phát triển giáo dục và được khẳng định là

xây dựng mét nền giáo dục “Của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên nguyên

tắc khoa học, dân tộc và đại chúng” Từ sau các mạng tháng 8 năm 1945, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146/ SL ngày 10/8/1946, trong đó khẳng

định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người kêu gọi “Toàn dân tham gia

diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết… ai còng phải học” Người xác định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước nhà là

“Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phông sù lý tưởng quốc

gia và dân chủ” từ đó đến nay tư tưởng này đã được Đảng ta khẳng định qua

nhiều văn kiện

Ngày 11 tháng 01 năm 1979, bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-NQ/

TW về cải cách giáo dục và đã xác định phương châm “ Phối hợp những cố gắng

đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng

định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Mọi

người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong cộng đồng, trong tập thể ”.

Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta

dành tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển giáo dục - đào tạo.

Trang 3

Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho giáo dục - đào tạo Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển giáo dục - đào tạo”

Như vậy xã hội hóa giáo dục chính là tạo điều kiện cho toàn dân được thamgia học tập và học tập suốt đời, toàn dân chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục vàtoàn dân làm giáo dục theo tinh thần giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhànước và của toàn dân

Theo quan điểm và định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta, Xã hội hóagiáo dục được thực hiện trên nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, có liên quan đếnnhiều hoạt động, nhiều ban ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và các tổ chức

xã hội nhằm huy động mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển sự nghiệp giáodục Một trong những công tác cấp thiết của xã hội hóa giáo dục hiện nay là côngtác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học, cấphọc; bởi vì trường học, với cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên vàhọc sinh là cơ sở ban đầu, là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của sự nghiệpgiáo dục

Trong những năm qua, công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường đạtchuẩn quốc gia ở huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã được nhân dân đồng tìnhhưởng ứng và thực sự đi vào cuộc sống Quy mô giáo dục và đào tạo khôngngừng phát triển Nhiều trường học đã được tầng hóa, kiên cố hóa, khang trang,sạch đẹp Nhiều trường Mẫu Giáo, Mầm Non, Tiểu học và THCS đạt chuẩn quốcgia đã xuất hiện và phát triển Số lượng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở huyệnChư Pưh, tỉnh Gia Lai hiện nay có thể nói là có bước khởi đầu tốt đẹp Tuy nhiên

số lượng trường THCS đạt chuẩn còn quá ít so với tổng số trường THCS tronghuyện nói riêng và trong toàn tỉnh nói chung Đa số các trường THCS đạt chuẩnquốc gia đều nằm ở các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội tương đối phát triển và

có nhiều thuận lợi Số trường còn lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tácxây dựng và phát triển giáo dục, nhất là công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốcgia Vì vậy để việc xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở huyện Chư Pưh,

Trang 4

tỉnh Gia Lai trong những năm tới đạt được kết quả tốt hơn cần phải có những biệnpháp tích cực hơn Một trong những biện pháp tích cực nhất đó là thực hiện tốtbiện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường THCS đạtchuẩn quốc gia.

Công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia

ở huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai là sự đòi hỏi bức thiết để đẩy mạnh sự phát triểngiáo dục theo tình hình thực tế của địa phương hiện nay Bởi lẽ, điều kiện kinh tế

xã hội của huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đang còn nhiều khó khăn, vì vậy cần phải

có các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục thật tốt để huy động mọinguồn lực tham gia xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung vàtrường THCS đạt chuẩn quốc gia nói riêng

Thực tế hiện nay, nhiều người nhận thức chưa đúng, thậm chí còn hiểu sai

về khái niệm và bản chất của xã hội hóa giáo dục, họ cho rằng xã hội hóa giáodục chỉ là đóng góp các loại tiền cho giáo dục, chỉ là sự huy động vật lực mà thôi

Ở một số địa phương, cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chưahiểu được ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của công tác xã hội hóagiáo dục, còn coi đó là trách nhiệm của nhà trường

Thực trạng của giáo dục huyện Chư Pưh hiện nay chưa đáp ứng được sựphát triển của đất nước Vấn đề đặt ra là phải đổi mới giáo dục Muốn làm chogiáo dục trở lại với bản chất xã hội đích thực của nó và phù hợp với tình hìnhthực tiễn của đất nước ta phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, cần huy độngsức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của nhân dân vì giáo dục là sự nghiệp củatoàn Đảng, toàn dân, của mọi nhà, mọi người Làm sao cho mỗi con người đềuđược thụ hưởng thành quả từ giáo dục và ngược lại mọi người cũng phải có tráchnhiệm chăm lo cho giáo dục, đóng góp sức lực, trí tuệ, tiền của cho giáo dục Theo các văn kiện và nghị quyết của Đảng ta về xã hội hóa giáo dục, thì việcxây dựng các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trườngTHCS đạt chuẩn quốc gia ở huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai hiện nay là sự phù hợp

Trang 5

và đáp ứng các chủ trương của Đảng và Nhà nước Trong Quyết định số20/2005/QĐ-BGD & ĐT ngày 24 tháng 6 năm 2005 về việc phê duyệt Đề

án “Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có ghi: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thựchiện liên kết các lực lượng xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên Đoàn Lao ĐộngViệt Nam, Đoàn TN CS HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân,Hội Khuyến học, Hội Cựu chiến binh, Ban đại diện cha mẹ học sinh, …) để tạo raảnh hưởng tích cực đối với giáo dục và đào tạo, tập hợp các lực lượng xã hộitham gia xây dựng môi trường nhà trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp kỷcương dạy - học đến các mối quan hệ bên trong nhà trường và quan hệ nhà trườngvới xã hội, hỗ trợ nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa … Củng cố vàphát triển diễn đàn Đại hội giáo dục các cấp để thu thập ý kiến đóng góp của mọilực lượng xã hội, thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp phát triểngiáo dục.”

Với những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục THCS ở huyện Chư Pưh tỉnh Gia Lai”.

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ởcác trường THCS huyện Chư Pưh tỉnh Gia Lai để thực hiện quan điểm phát triểnGiáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội

Nâng cao kết quả giáo dục THCS và xây dựng xã hội học tập

3 Khách thể, đối tượng và giới hạn nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lý công tác xã hội hoá giáo dụcTHCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dụcTHCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

3.3 Giới hạn nghiên cứu:

Trang 6

+ Nội dung nghiên cứu: Đề xuất một số biện pháp quản lý của Phòng Giáodục và Đào tạo để nâng cao kết quả quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở cáctrường THCS trên địa bàn nghiên cứu.

+ Phạm vi khảo sát: Quá trình quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở 07trường THCS huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

4 Giả thuyết khoa học:

Quá trình quản lý công tác xã hội hoá giáo dục các trường THCS củaPhòng Giáo dục và Đào tạo huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai trong thời gian qua đãthu được những thành quả đáng ghi nhận Tuy nhiên trong quá trình quản lý nàycòn bộc lộ một số bất cập, hạn chế nhất định

Nếu xác định được cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng quản lý côngtác xã hội hoá giáo dục các trường THCS huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai thì có thể

đề xuất các biện pháp quản lý quá trình này của Phòng Giáo dục và Đào tạo mộtcách hợp lý và khả thi góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục THCS trên địabàn nghiên cứu trong hoàn cảnh hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về xã hội hoá giáo dục THCS và quản lý củaPhòng Giáo dục và Đào tạo đối với công tác xã hội hoá giáo dục ở bậc THCS

5.2 Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý của Phòng Giáo dục và Đàotạo huyện về công tác xã hội hoá giáo dục các trường THCS huyện Chư Pưh, tỉnhGia Lai

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạohuyện về công tác xã hội hoá giáo dục bậc THCS huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

6 Phương pháp nghiên cứu:

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trang 7

- Phương pháp đọc, nghiên cứu tài liệu

- Sử dụng các thao tác của phương pháp logic: phân tích, tổng hợp, kháiquát hoá, trừu tượng hoá

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn

- Phương pháp điều tra;

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm;

- Phương pháp khảo nghiệm

6.3 Các phương pháp sử dụng số liệu:

- Phương pháp thống kê toán học;

- Phương pháp mô hình hoá

7 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý công tác xã hội hóa giáo dục

các trường THCS huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục và quản lý công tác xã

hội hóa giáo dục các trường THCS của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện ChưPưh, tỉnh Gia Lai

Chương 3: Biện pháp quản lý của Phòng Giáo dục và Đào tạo về công tác

xã hội hóa giáo dục các trường THCS huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai

Trang 8

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

Ở BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề:

GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh dấunấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử Sự tồn tại và phát triểncủa GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, và ngược lại với chứcnăng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao độngcho xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người,tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế xã hội Chính vì điều đó mối quan hệbiện chứng giữa GD và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng vớiquá trình phát triển của xã hội loài người

Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay GD luôn được coi là quốc sách hàngđầu của nhiều quốc gia Việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực và mọiđiều kiện cho phát triển GD là sách lược lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới.Mặc dù bản chất của GD ở các nước có khác nhau nhưng đều cho thấy XHH sựnghiệp GD là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại

- kinh tế phát triển cao

XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc lâu đời và

là bước phát triển của một chủ trương phát triển GD được thực hiện từ nhiều nămqua Với tư tưởng ''lấy dân làm gốc'', ''Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng'' đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sựphát triển nền GD nước nhà

Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ mởrất ít trường học, chủ yếu trường học được mở ra cho con em quý tộc phong kiến

Trang 9

và con nhà giàu Con em lao động không được chính quyền quan tâm, người dânmuốn được học phải tự lo dưới hình thức học ở trường tư do các thầy đồ tự mởlớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù chữ Cách mạng thángtám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực hiện các quan điểm ''giáodục là sự nghiệp của quần chúng'' Ngay từ những ngày đầu của nước Việt Namđộc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra ''Lời kêu gọi chống nạn thất học'' Trong lờikêu gọi, Người đã nêu rõ phương châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn

mù chữ ''Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết chữ thìchồng bảo, em chưa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người

ăn người làm chưa biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học tưgia dạy cho những người chưa biết chữ'' {25} Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạnthất học của Hồ Chủ Tịch, cả nước đã trở thành một xã hội học tập Tiêu biểu, sôiđộng nhất đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miềnxuôi đến miền ngược, từ hậu phương cho đến nơi tiền tuyến người người đi học,nhà nhà đi học; trường lớp chỉ là những nhà, lán đơn sơ Tư tưởng giáo dục ''aicũng được học hành'' của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống

Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một

hệ thống giáo dục và đã đạt được những thành quả nhất định Song do cơ chế tậptrung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác triệt để bàihọc phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD Thay vì thực hiện sự''quản lý GD của nhà nước'', chúng ta đã ''nhà nước hoá GD'' làm cho GD rơi vàothế bị động, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào cáchoạt động GD Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục xuống cấp, lạc hậu, sựphát triển của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội củađất nước, chưa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại

Sự định hướng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tếquốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển giáo dục

Trang 10

Đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị trí,vai trò của mình trong công cuộc đổi mới đất nước Bên cạnh đó, việc đa dạnghoá phát triển GD lại một lần nữa ngày càng phát huy ưu thế của nó Việc ''huyđộng toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xâydựng nền GD quốc phòng toàn dân dưới sự quản lý của nhà nước'' đã trở lên vôcùng bức thiết Đảng ta đã khẳng định ''xã hội hoá'' là một trong những quan điểm

để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội Nghị quyết lần 2 Ban chấp hànhtrung ương Đảng khóa VIII (tháng 12-1996) chỉ rõ: ''Giáo dục và đào tạo là sựnghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân'' [4] Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX,Đảng ta khẳng định: ''Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hộihọc tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tụcphát triển giáo dục'' [5] Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng(tháng 4-2006) đã chỉ rõ: ''Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồn lựcvật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặtchẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội

- nghề nghiệp để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viêntrong xã hội'' [6]

Để thực hiện chủ trương XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CPngày 21/8/1997 về Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáodục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách XHH, nhằmkhuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức thuộcmọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH lĩnh vực giáo dục, y tế,văn hoá, thể thao Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dụcthể thao [20] Bộ GD&ĐT ban hành một số văn bản hướng dẫn thực hiện côngtác XHHGD; xây dựng đề án ''Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn2005-2010'' [14] vv

Trang 11

Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tư, Nghịquyết của Đảng, Nhà nước về công tác GD; các cơ quan Liên Bộ, các nhà khoahọc, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về vấn đề XHHGD.Nguyên Bộ trưởng Phạm Minh Hạc đã khẳng định: ''Xã hội hoá công tác giáo dục

là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đườngphát triển giáo dục nước ta''[35;16]; tác giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh:Phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá và đề cao việc huy động toàn dânvào sự nghiệp cách mạng, coi đó là tư tưởng chiến lược của Đảng Tư tưởng đóđược tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trởthành một nguyên lý cách mạng của Việt Nam

Vấn đề XHHGD cũng đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn Cónhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD như nhóm tác giả Bùi GiaThịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn thanh Bình trong cuốn "Xã hội hoá giáo dục nhậnthức và hành động" Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái Duy Tuyên,Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn công tácXHHGD Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập và nêu ra nhiềugiải pháp công tác XHHGD như: Luận văn của tác giả Phạm Thuý Hiền với đềtài: ''vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự nghiệp phát triển giáo dục'';Luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về ''Biện pháp tăng cường công tác xã hộihoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Ninh''

1.2 Các khái niệm chính của đề tài

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo

đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dụcthường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua

tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy

Trang 12

nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáodục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểuhọc, giáo dục trung học, và giáo dục đại học.

Giáo dục với tư cách là một ngành khoa học không thể tách rời nhữngtruyền thống giáo dục từng tồn tại trước đó Trong xã hội, người lớn giáo dụcngười trẻ những kiến thức và kỹ năng cần phải thông thạo và cần trao truyền lạicho thế hệ tiếp theo Sự phát triển văn hóa, và sự tiến hóa của loài người, phụthuộc vào lề lối trao truyền tri thức này Ở những xã hội tồn tại trước khi có chữviết, giáo dục được thực hiện bằng lời nói và thông qua bắt chước Những câuchuyện kể được tiếp tục từ đời này sang đời khác Rồi ngôn ngữ nói phát triểnthành những chữ và ký hiệu Chiều sâu và độ rộng của kiến thức có thể được bảotồn và trao truyền gia tăng vượt bậc Khi các nền văn hóa bắt đầu mở rộng kiếnthức vượt quá những kỹ năng cơ bản về giao tiếp, đổi chác, kiếm ăn, thực hànhtôn giáo, v.v , giáo dục chính quy và việc đi học cuối cùng diễn ra

1.2.2 Quản lý

Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, từ nền văn minh môngmuội, đến nền văn minh lúa nước, nền văn minh công nghiệp và hiện nay xã hộiloài người đang bước vào nền văn minh tri thức thì hoạt động quản lý càng trở lênphổ biến và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sốngcon người

Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tùy theo các quan điểmtiếp cận:

Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K

Mác (1818-1883): “Một nghệ sỹ vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc

thì cần nhạc trưởng”.

Trang 13

Theo H Fayor (1841-1925), tác giả của thuyết tổng quát, định nghĩa như

sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các

hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [14].

Theo M.P Follett (1868- 1933), đại diện của thuyết hành vi trong quản lý

cho rằng: “Quản lý là quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại.

Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong giải quyết đó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [14].

Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổchức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lênkhách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằngmột hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biệnpháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm:

“Hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận

dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [13, tr 9]

Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là các tác động cóđịnh hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản

lý (người bị quản lý)- trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạtđược mục đích của tổ chức” Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của ngườiquản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệthống các mục tiêu giáo dục

1.2.3 Biện pháp

Biện pháp là cách thức, phương pháp , cách giải quyết một vấn đề nào đócủa chủ thể, chủ thể chịu trách nhiệm tháo gỡ, giải toả khách thể quản lý vậnđộng và phát triển theo những định hướng và mục tiêu đã định Tuỳ theo tính chất

Trang 14

và mức độ của khách thể được quản lý mà chủ thể quản lý có những biện phápchiến lược lâu dài hoặc những biện pháp có tính tình thế nhất thời, thời kỳ, giaiđoạn.

Biện pháp quản lý XHH GDTHCS là các nội dung, cách thức tiến hành,giải quyết cụ thể của chính quyền, cơ quan quản lý giáo dục, cán bộ quảnlý nhằm tác động làm biến đổi các nhân tố trong kết cấu của giáo dục THCS,vận hành và phát triển đạt được mục tiêu đề ra theo đúng đường lối, chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước

Các biện pháp quản lý XHH GDTHCS không thể là ý tưởng chủ quan,được đề ra tuỳ tiện, duy ý chí, mà biện pháp giải quyết phải dựa trên sự phân tích,hoàn cảnh cụ thể, dựa trên mâu thuẫn nội tại, những bước đi trệch hướng của sựphát triển Tìm ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng, cản trởtiến trình vận hành của các cơ sở GDTHCS trong việc thực hiện mục tiêu, kếhoạch.đặt ra Đảm bảo các biện pháp quản lý XHHGD thực sự khoa học và cáchmạng

Ở nghĩa này Côlin Fasen đã chỉ rõ: Xã hội hoá là một quá trình động viênmọi tầng lớp nhân dân tham gia tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội nào

đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước và củanhân dân nhằm đạt được mục tiêu phát triển xã hội

Xã hội hoá dùng để chỉ quá trình chuyển biến từ con người sinh vật sangcon người xã hội Ví dụ quan niệm của G.En Daweit cho rằng: Xã hội hoá được

Trang 15

hiểu chung như là một quá trình biện chứng, trong đó mỗi người với tư cách làmột thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội và mặtkhác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội.

Xã hội hoá là một quá trình thông qua đó con người hình thành nên tínhcách của mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm Nói cáchkhác, chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã hội.Như vậy, xã hội hoá bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi conngười không còn tồn tại

Nhờ quá trình xã hội hoá, rất hiếm khi chúng ta phải giải đáp ý nghĩa củacác hành vi trong những tiếp xúc xã hội thông thường - đối với chúng ta, hầu hếtmọi hành động dường như hoàn toàn dễ hiểu vào thời điểm chúng xảy ra – bởi vìchúng ta đã học được các quy luật mà người khác cũng đang phải tuân thủ Nóicách khác, chúng ta có thể dự đoán cái gì đang xảy ra trong phần lớn các trườnghợp do ý thức rằng những quy luật sẽ phải tuân theo Ví dụ, chúng ta luôn quenvới việc bác sỹ trong bệnh viện phải mặc áo blouse trắng, cảnh sát phải mặc quânphục, và nếu điều đó không xảy ra sẽ khiến chúng ta rất ngạc nhiên Bên cạnh đó,chúng ta trông đợi mọi cá nhân trong các trường hợp cụ thể phải thực hiện đúngvai trò của mình

1.2.5 Xã hội hoá giáo dục

Khái niệm XHHGD được hiểu từ ý nghĩa thứ nhất của xã hội hoá Đề cậpđến ý nghĩa này, tháng 10 năm 1998, Hội thảo quốc gia xây dựng chiến lược vậnđộng xã hội cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường do Bộ Y tế -Unicef tổ chức, cho rằng: Xã hội hoá là một quá trình tập hợp tất cả các liên minh

xã hội nhằm nâng cao nhận thức và nhu cầu của người dân về một chương trìnhphát triển trong một lĩnh vực nhất định để hỗ trợ cho việc cung ứng các nguồn lực

và dịch vụ và để tăng cường sự tham gia của cộng đồng một cách tự lực và bềnvững

Trang 16

GD được coi như là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, nó vừa nằmtrong lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội, kiến trúc thượng tầng, vừa nằm trongcác mối quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở Sự tồn tại và pháttriển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế-xã hội và ngược lại, vớichức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức laođộng xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi conngười, tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

XHHGD thực chất là xã hội hoá các hoạt động GD, XHH sự nghiệp giáodục XHH sự nghiệp giáo dục là quá trình hướng mọi hoạt động giáo dục thamgia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời xã hội tiếp nhận GD như làcông việc của chính mình và của mọi cá nhân, các tổ chức đoàn thể, các cấpchính quyền đều có trách nhiệm tham gia Có thể nói một cách khái quát: Xã hộihoá giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáodục Trong đó mọi tổ chức ,gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sựnghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựngmôi trường giáo dục lành mạnh và an toàn

XHHGD, thuật ngữ này cho dù ở cấp độ nào đó đồng nghĩa với thuật ngữ''xã hội học tập'' hai thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo củaUNESCO có tựa đề ''Học để tồn tại; thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai'' Nộidung của nó bao gồm hai khía cạnh song hành, quan hệ mật thiết với nhau Thứnhất: Mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của mình đều có thểcung ứng cơ hội học tập cộng đồng Thứ hai: Mọi người dân trong cộng đồng đều

có thể tận dụng cơ hội để có thể có cơ hội học tập và tham gia phát triển giáo dụccộng đồng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân

Trang 17

XHHGD không phải là một giải pháp tình thế nhất thời chỉ được tổ chứcthực hiện trong một thời gian nhất định mà là một tư tưởng cách mạng chiến lượclâu dài Điều 12, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: Phát triển giáo dục, xây dựng xã hộihọc tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân; thực hiện đa dạng hoá các loạihình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để

tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục

Bản chất xã hội của XHHGD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền GD xãchủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Giảm bớt được gánh nặng và sự ''khoán trắng''

về đầu tư ngân sách cho GD Bên cạnh đó XHHGD chính là ''giáo dục cho tất cảmọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp GD'', đó là đưa GD gắn với xã hội, vớicộng đồng; GD phục vụ mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng Cơ sở tư duy củaXHHGD là đặt GD vào đúng vị trí của nó GD là bộ phận không thể tách rời của

hệ thống xã hội GD cùng với khoa học công nghệ là động lực phát triển kinh tế xãhội

Nội dung hoạt động XHHGD được Đảng, Nhà nước đề cập hết sức phongphú, như từ việc huy động các LLXH đầu tư các nguồn lực bao gồm vật lực, tàilực ; tham gia vào quá trình đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, các loại hìnhhọc tập; tạo lập và đẩy mạnh phong trào học tập rộng khắp trong xã hội, mọi thànhviên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ đứng trong xã hội đềuđược học, học thường xuyên, học suốt đời; huy động các LLXH tham gia xâydựng môi trường GD lành mạnh và QLGD có hiệu quả Quá trình này thể hiện tínhchất dân chủ và bình đẳng của nền GD nước ta Sự gắn kết giữa 3 môi trườngtrong GD: Nhà trường - gia đình - xã hội, làm cho mọi người, mọi tổ chức chính trị

- xã hội, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhậnthức và tổ chức thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển

GD và QLGD Xây dựng môi trường GD lành mạnh, đổi mới cơ chế QLGD sẽ lànhững biện pháp hữu hiệu để chống lại 4 tiêu cực trong ngành GD hiện nay, baogồm: Tiêu cực trong thi cử; bệnh thành tích trong giáo dục; học sinh ngồi ''nhầmlớp'' và vi phạm đạo đức nhà giáo

Trang 18

Chủ trương XHHGD của Đảng và Nhà nước đã và đang thu hút được sựquan tâm nghiên cứu của các Vụ, Viện, các Ban ngành của Bộ GD&ĐT và các banngành có liên quan Nhiều chuyên gia có tâm huyết đã có những bài viết, côngtrình nghiên cứu xung quanh vấn đề XHHGD; Nguyên Bộ trưởng Phạm Minh Hạctrong cuốn Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI đã khẳng định: Sựnghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi ngườicùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáodục.

Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt trong bài ''Xã hội hoá giáo dục'', sau khi nêurõ: XHHGD là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, bảođảm sự thành công của cải cách giáo dục, tác giả đã khẳng định: XHHGD có nghĩa

là Nhà nước tạo ra không gian xã hội, pháp luật và chính trị cho việc hình thànhmột khu vực GD mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp cho sự nghiệp GD, thựchiện sự cạnh tranh về chất lượng GD, tức là GD phải thuộc về xã hội Tác giả còn

đề cập và nhấn mạnh: XHHGD không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồnđầu tư cho GD&ĐT, mà quan trọng nhất là đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá,hiện đại hoá chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã hội

Như vậy, XHHGD là một tư tưởng chiến lược của Đảng và Nhà nước, bảnthân tư tưởng đó qua mỗi giai đoạn được phát triển, mở rộng phong phú cả về hìnhthức và nội dung XHHGD là một nhân tố mới đã và đang phát huy sức mạnh đốivới sự nghiệp phát triển GD, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệpCNH-HĐH đất nước Chính XHH công tác GD lại tạo ra những điều kiện, nhữngtác nhân làm xuất hiện những nhân tố mới trong quá trình đi lên của phong trào

GD Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn thực hiện XHHGD, trên cơ sở đónâng cao sự đổi mới tư duy GD, giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra của sựnghiệp phát triển GD&ĐT

Trong thời đại ngày nay, không chỉ riêng ở Việt Nam mà nhiều nước trên thếgiới, kể cả những nước đang phát triển cũng như các nước có nền kinh tế phát triểnđều nhấn mạnh chính sách phát triển dựa vào GD&ĐT, dựa vào khoa học và công

Trang 19

nghệ Có thể nói, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và truyền thốngvăn hoá giáo dục mà mỗi nước có những đặc điểm về cơ cấu hệ thống, loại hìnhđào tạo, phân chia thời gian các bậc học, yêu cầu chất lượng của người học ở cáccấp học khác nhau Nhưng nhìn chung, hệ thống GD các nước đã và đang pháttriển theo hướng hiện đại hoá và xu hướng hội nhập GD&ĐT và kinh tế xã hộigiữa các nước, khu vực và toàn thế giới.

Ở Indonexia: Ngoài hệ thống GD nhà trường, họ còn coi trọng các loại hình

GD ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh nghiệp; các trường Đại học mởvới nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng và mọi tầng lớp xãhội

Thái Lan: Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách

đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiềuloại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng nhu cầu nhân lựccủa thị trường lao động trong quá trình CNH đất nước

Đối với Trung quốc: Chính phủ Trung Quốc đặt ra chiến lược: Làm cho đấtnước giàu mạnh thông qua khoa học và GD Với phương châm GD phải thực hiện

ba điều hướng tới đó là: Giáo dục phải hướng tới hiện đại hoá, hướng tới thế giới,hướng tới tương lai Chính sách phát triển GD của Trung Quốc hiện nay có thểkhái quát: Đầu tư chi phí cao cho GD phải được coi là chính sách quốc gia hàngđầu, đầu tư cho GD phải được xem như đầu tư phát triển cho sản xuất Phát triển

GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực đủ chuẩn, phát triển GDtheo hoàn cảnh địa phương Đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việcQLGD và đầu tư cho GD

Nhật Bản: Đã đạt được những thành tựu ''khổng lồ'' về mặt kinh tế - khoahọc công nghệ, chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ, mạnh mẽ nội lực củatoàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT Từ năm 1971, Nhật Bản đã thành lập

Bộ Giáo dục và thành lập hệ thống GD mới, hệ thống GD đã đề ra chính sách: Đốivới các trường Tiểu học bắt buộc thì sự ''bình đẳng'' là nguyên tắc tối cao Còn đốivới các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng là cao nhất Quan điểm

Trang 20

này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội về GD, mà còn tạo ra sựphát triển tiềm năng của con người.

Điểm qua tình hình GD một số nước trong khu vực để thấy rằng, các quốcgia trong khu vực cũng như trên thế giới đã có sự nhận thức tương đồng về giáodục, coi giáo dục là con đường để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa họccông nghệ

1.2.6 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường (cơ sở giáo dục) là một bộ phận trong quản lý giáo dục.Trường học là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước – xã hội, trực tiếp làmcông tác giáo dục – đào tạo, thực hiện chức năng giáo dục cho thế hệ đang dần lớnlên Nhà trường là tế bào cơ sở, là đối tượng quản lý của tất cả các cấp quản lý giáodục từ trung ương đến các địa phương Đồng thời nhà trường lại là tổ chức giáodục có tính độc lập tương đối và tự quản của xã hội Do đó quản lý trường học nhấtthiết phải có tính nhà nước, tính xã hội và tính sư phạm [12]

Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường chính là xây dựng mộtquan hệ hợp lý giữa các hình thức công tác tập thể đối với các học sinh và giáoviên Do con đường giáo dục lâu dài, đặc biệt hàm xúc về trí tuệ và cảm xúc, docác tình huống trong đời sống nội tại, tâm hồn, đời sống tập thể trong nhà trường

có sự biến đổi liên tục Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản

lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý các quá trình giáo dục – đào tạo, việc xây dựng

cơ sở vật chất kỹ thuật tổ chức sư phạm và các điều kiện khác của lao động, củagiáo viên và học sinh

Quản lý trực tiếp ở nhà trường bao gồm quản lý chương trình, quản lý quátrình dạy học, tài chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục Nhàquản lý ở mỗi loại hình nhà trường, ở mỗi bậc học sẽ phải đảm bảo vấn đề cốt yếulà: xác định mục tiêu quản lý của nhà trường, xác định cụ thể các mục tiêu quản lý

và có các biện pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu[7]

Các nghiên cứu về tổ chức trường học đã khái quát những nhân tố cấu trúccần quan tâm khi tổ chức nhà trường như dưới đây

Trang 21

Điều kiện đào tạo(Đ).

Môi trường đào tạo (môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) (Mô)

Bộ máy đào tạo (Bô)

Quy chế đào tạo (Qi)

Trang 22

Để dễ dàng hình dung, ta có thể bố trí mười nhân tố trên trong một hình sao(sơ đồ hình 1.1) mà nút bấm quản lý ở trung tâm ngôi sao Quản lý liên kết cácnhân tố làm cho chúng vận động tạo ra sự phát triển toàn vẹn của quá trình đào tạo.

Hình 1.1 Mối liên hệ các yếu tố cấu thành quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường mà trong đó có quản lý đào tạo được hiểu là quản lýmức độ đạt được mục tiêu giáo dục và thỏa mãn nhu cầu của người học; là quản lýkết quả của quá trình giáo dục được biểu hiện ở mức độ nắm vững kiến thức, hìnhthành những kỹ năng tương ứng, những thái độ cần thiết và được đo bằng nhữngchuẩn mực xác định [7]

1.3 Các chức năng của quản lý và các quan điểm về mô hình quản lý giáo dục

1.3.1 Các chức năng của quản lý

Quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểmtra

Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối

với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạtđược mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:a) xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; b) xác định và đảm bảo (có tínhchắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu

Trang 23

này; c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêuđó[13, tr 12].

Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá

những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực Một tổ chức lành mạnh sẽ có ýnghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá như thế Xét về mặt chức năng quản lý, tổchức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các

bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch vàđạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu lực, người quản

lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu củamột tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồnlực này sao cho có hiệu quả và có kết quả [13, tr 13]

Lãnh đạo - Chỉ đạo: Chỉ đạo là phương thức hoạt động thực hiện mục tiêu

kế hoạch Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sựcan thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lựclượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ratrong kỷ cương trật tự Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành,nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đõ đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Hiểnnhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đãhoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia [13, tr13]

Kiểm tra: Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong quá trình quản lý và cũng

là điểm khởi đầu làm tiền đề cho việc ra quyết định, lập kế hoạch… Đó là côngviệc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, là việcđánh giá kết quản thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm tìm ra những mặt ưuđiểm, mặt hạn chế để điều chỉnh việc kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo [13, tr 13]

1.3.2 Mô hình quản lý giáo dục

Trang 24

Thực tiễn giáo dục thì đã có từ lâu nhưng lý luận về quản lý giáo dục thì mớichỉ manh nha xuất hiện từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, và cũng đã có nhiềuquan điểm khác nhau về các mô hình quản lý giáo dục:

Quan điểm hiệu quả: là quan điểm ra đời vào thập niên đầu của thế kỷ XX,

theo quan điểm này thì quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữađầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải cực đại Quan điểm hiệu quả đượcxuất phát từ những tư tưởng quản lý kinh tế áp dụng cho giáo dục

Quan điểm kết quả: là quan điểm chú ý đến đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn

chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó Quan điểm hiệu quả ra đời vào những năm 20của thế kỷ XX, dựa trên cơ sở là khoa học tâm lý sư phạm

Quan điểm đáp ứng: Ra đời trong những năm 60 của thế kỷ XX, hướng tới

việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đấtnước, phát triên xã hội Quan điểm đáp ứng dựa trên cơ sở khía cạnh chính trị củagiáo dục

Quan điểm phù hợp: Ra đời những năm 70 của thế kỷ XX, quan điểm này

hướng tới đạt mục tiêu phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huytruyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Cơ sở của quan điểm này dựa trên vấn đềvăn hóa [17]

1.4 Lý luận về xã hội hóa giáo dục và quản lý quá trình xã hội hóa giáo dục

1.4.1 Xu thế phát triển giáo dục của Việt Nam trong thế kỷ 21

Bước vào thế kỷ 21, khoa học và công nghệ đã có những phát triển mạnh mẽvới đòi hỏi cao của nền kinh tế tri thức Cục diện chính trị và kinh tế trên thế giới

đã có những thay đổi cơ bản Xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa trong kinh tế vàtrên nhiều lĩnh vực khác là một thực tế khách quan Sự toàn cầu hóa trong kinh tếtạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia Để phát triển kinh tế, các quốc giađều phải cần đến nguồn nhân lực được đào tạo và đặc biệt là nguồn nhân lực cótrình độ cao Vì lẽ đó, nhiều nước đã coi giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ làquốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển Giáo dục

Trang 25

đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng không chỉ cung cấp nguồn nhânlực tại chỗ cho mỗi quốc gia mà còn cung cấp nguồn nhân lực xuất khẩu Xuhướng toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục đại học đã tạo điềukiện cho nền giáo dục đại học Việt Nam phát triển, hội nhập Đó là thời cơnhưng cũng là thách thức lớn đối với giáo dục đại học nước nhà.

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa giáo dục, giáo dục cuối thế kỷ 20 và đầuthế kỷ 21 được xây dựng trên nền tảng triết lý: lấy học tập thường xuyên, học suốtđời làm nền tảng hướng tới xây dựng một “xã hội học tập”, với mục tiêu học đểbiết, học để làm, học để cùng sống với nhau và học để làm người Triết lý giáo dục

đó đã tạo ra sự đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Sự đổi mới đó

đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục từ quan niệm về chất lượng giáodục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức hệ thống giáo dục Nhàtrường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn

bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, công nghệ và ứng dụng Phương pháp đàotạo ở trường đại học cũng đã có những thay đổi cơ bản từ chỉ truyền đạt tri thứcđộc thoại chuyển sang phân tích và tổng hợp Đầu tư cho giáo dục từ chỗ đượcxem là phúc lợi xã hội đã chuyển sang quan niệm là đầu tư phát triển

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực phát triển và năng động trên thếgiới đang tham gia tích cực vào qúa trình hội nhập quốc tế Sau khi gia nhập WTO,

uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao Chính sách đổi mớiđặc biệt là sự năng động về mặt kinh tế đã thu hút được sự đầu tư của nhiều nướctrên thế giới Sự cạnh tranh mạnh mẽ về mặt kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải đào tạonhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực trong lĩnh vựckhoa học công nghệ và lĩnh vực kinh tế

Đảng và Chính phủ Việt Nam đã coi giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ làquốc sách hàng đầu Vì vậy, đầu tư cho giáo dục được tăng dần Công cuộc đổimới giáo dục đã đạt được nhiều thành tựu Quy mô và cơ cấu đã có những thay đổilớn Công tác xã hội hóa giáo dục tăng quyền tự chịu trách nhiệm cho các trườngđại học được thực hiện ngày càng có kết quả tốt Lĩnh vực kinh tế và công nghệ

Trang 26

luôn được Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Mục tiêu chiến lược phát triểngiáo dục 2010-2020 của Nhà nước đã chỉ rõ “Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạonhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao” Nghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng nhấn mạnh “Phát triển khoa học vàcông nghệ phải đi ngay vào công nghệ hiện đại, chú trọng phát triển công nghệ cao

để tạo đột phá Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu cơbản định hướng ứng dụng, phát triển công nghệ cao nhất là công nghệ thông tin,công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tàinguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên, chủ động phòng chống thiên tai vàtìm kiếm cứu nạn”

1.4.2 Vai trò của giáo dục ở bậc THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

1.4.2.1 Hệ thống giáo dục quốc dân

Trải qua 1.000 năm bắc thuộc và gần 100 năm dưới ách thực dân Pháp Sựphát triển của nền GD cũng bị chi phối bởi các thể chế chính trị và các điều kiệnkinh tế chính trị của bối cảnh cụ thể

Dựa vào tài liệu " Thử tìm hiểu hệ thống GD Việt Nam " của GS.TS PhạmMinh Hạc có thể phác hoạ vài nét về lịch sử hệ thống GD của Việt Nam qua cácthời kì lịch sử : Thời kì bắc thuộc, Thời kì độc lập dân tộc, thời kì thuộc Pháp vàcủa nước Việt Nam độc lập

Song song với 2 xu hướng cựu Nho và Tân Âu một trào lưu GD duy tân yêunước cũng được phát động trong thời kỳ này có phong trào Đông du Trào lưu nàykhởi đầu cho khuynh hướng thực học, sử dụng chữ quốc ngữ trong dạy học, tiếpcận với khoa học tự nhiên và kỹ nghệ Với sự ra đời của Đảng cộng sản ĐôngDương hội truyền bá quốc ngữ phát triển mạnh và tiếp tục sau này là tư tưởng “Aicũng được học hành” của chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày nay hệ thống GD QD củaViệt nam được quy định như sơ đồ sau:

Trang 27

Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

1.4.2.2 Vai trò của giáo dục ở bậc THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, mục tiêu phát triển giáodục nước ta đến năm 2020 là:

Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cậnvới trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn VN, phục vụ thiết thực cho

sự phát triển KT -XH của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tớimột XH học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậutrên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực

Ưu tiên nâng cao chất lượng đo tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực KH

- CN trình độ cao, cán bộ quản lý, công nhân giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghềtrực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền KT; đẩy nhanh tiến độ thựchiện phổ cập THCS

Trang 28

Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấpbậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăngquy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy - học; đổimới quản lý giáo dục đo tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục.

Trong Hệ thống Giáo dục quốc dân, trường THCS được thu nhận trẻ từ 11đến 15 tuổi và có từ lớp 6 đến lớp 9 THCS là cấp học nối liền bậc Tiểu học và bậctrung học phổ thông Học sinh ở lứa tuổi THCS với đặc điểm tâm lý cơ bản là đangvươn lên làm người lớn Đây là đặc điểm khiến cho những người làm công tác giáodục ở bậc THCS phải có những phẩm chất năng lực riêng biệt Trường THCS gắnliền với địa bàn dân cư xã (thị trấn) và được sự giúp đỡ tạo điều kiện của chínhquyền địa phương

Trong đó, giáo dục ở bậc phổ thông mà cụ thể là cấp THCS giữ một vai trònền tảng quan trọng Ở cấp học này, cần thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí,thể, mỹ Cung cấp học vấn phổ thông, cơ bản, hệ thống, có tính hướng nghiệp; tiếpcận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúngđắn , phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểubiết , năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống Cung cấp chohọc sinh những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phânluồng sau THCS , tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sốnglao động

Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,đảm bảo cho học sinh những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng việt, toán, lịch sửdân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học,ngoại ngữ, có những hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp

Nhiệm vụ của giáo dục THCS là:

+ Thực hiện các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình, kế hoạchgiáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành

+ Tổ chức giáo dục lao động hướng nghiệp và chuẩn bị nghề cho học sinh

Trang 29

+ Tổ chức cho giáo viên và học sinh tham gia các hoạt động văn hoá, vănnghệ, thể dục thể thao, phổ biến khoa học, bảo vệ môi trường, tuyên truyền phápluật, vận động nhân dân xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh góp phần thựchiện mục tiêu giáo dục Thực hiện dạy chữ, dạy người, bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước.

Phương pháp giáo dục ở trường THCS: Phải phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học,bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứngthú học tập cho học sinh

1.4.3 Xã hội hóa giáo dục THCS:

- Quan điểm của Đảng:

Trong Nghị quyết TW4 khóa VII đã nêu rõ: “ Huy động toàn xã hội làm giáodục, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sựquản lý của nhà nước” Đến Đại hội Đảng khóa VIII thì xã hội hóa trở thành mộtquan điểm để hoạch định một chính sách xã hội: “ Các vấn đề chính sách xã hộiđều được giải quyết các tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồngthời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân

và các tổ chức nước ngoài tham gia giải quyết các vấn đề xã hội”

Thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, năm 1997 Chính phủ đã raNghị định 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa của giáo dục, y tế,văn hóa Năm 2005 Chính phủ có Nghị quyết 05 về “ Đẩy mạnh xã hội hóa giáodục….” với sự tăng cường của quản lý nhà nước, sức khuyến khích huy động vàtạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục

Theo Nghị định của Chính phủ số 90/CP ngày 31/8/1997 về phương hướng

và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa: “ Xã hội hóa là mởrộng nguồn đầu tư, khai thác mọi tiềm năng về nhân lực, trí lực trong xã hội Pháthuy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạtđộng giáo dục, y tế, văn hóa phát triến nhanh, có chất lượng hơn, cao hơn.Là chính

Trang 30

sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước”.

Từ đó chúng ta có thể hiểu xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là:

Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào

sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo

ra môi trường giáo dục lành mạnh

Đa dạng hóa các loại hình hoạt động giáo dục và đào tạo, mở rộng cơ hộicho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng cho các hoạt động đó

Mở rộng các nguồn đầu tư khai thác tiềm năng và nguồn nhân lực, vật lực,tài lực trong xã hội Phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hoạtđộng giáo dục và đào tạo phát triển nhanh, có chất lượng cao hơn

Từ những vấn đề cơ bản nêu trên, có thể hiểu một cách đơn giản đó là quátrình tạo ra một xã hội học tập và khi mọi người được hưởng thụ giáo dục thì mọingười, mọi gia đình, toàn xã hội phải có trách nhiệm về tinh thần và vật chất đốivới giáo dục

- Ý nghĩa của xã hội hóa:

Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện ởhai nội dung chính: Một là giáo dục phát triển quy mô, đa dạng loại hình trườnglớp, đa dạng hình thức học để đáp ứng nhu cầu học tập của tất cả trẻ em, của mọingười lao động và mọi người dân, với nội dung và phương pháp giáo dục đáp ứngnhững đòi hỏi phát triển kinh tế xã hội và phục vụ đời sống Hai là huy động mọilực lượng xã hội, mọi người dân tham gia vào quá trình giáo dục đồng thời đónggóp công sức, vật chất và tiền của cùng nhà nước chăm lo xây dựng cơ sở vật chất

và các điều kiện cho hoạt động giáo dục

Những đổi mới về loại hình trường lớp, về nội dung giáo dục trong chươngtrình và trong sách giáo khoa, về phương pháp giáo dục với tinh thần lấy học sinh

là trung tâm, những nội dung trong cuộc vận động “Trường học thân thiện, họcsinh tích cực” và nhiều nội dung khác chính là thể hiện xã hội hoá giáo dục Cuộc

Trang 31

vận động nói trên đang tạo nên phong trào thi đua sôi nổi, tạo nên chuyển biến tíchcực ở cả vùng thấp và vùng cao Tuy nhiên, dư luận xã hội vẫn băn khoăn vìchương trình học còn quá tải, học sinh ít được vui chơi, ít được hoạt động xã hội, ítđược học tập trong đời sống thực tế Nội dung rèn luyện kỹ năng sống còn hạn chế,hiệu quả chưa cao Vì vậy, việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục sẽ cònphải tiếp tục đẩy mạnh, nhằm phục vụ thiết thực cho đời sống xã hội trước mắt vàlâu dài.

Xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục bao gồm hai nội dung: Đó là sựtham gia phối hợp giáo dục bằng những hoạt động giáo dục của gia đình, của cácđoàn thể, các hoạt động xã hội, sự tham gia giám sát và thẩm định hiệu quả Mặtkhác, xã hội cần tham gia đóng góp công sức, tiền của và vật chất để cùng nhànước xây dựng cơ sở trường lớp và phương tiện cho dạy và học

Trên thực tế, sự phối hợp giáo dục của gia đình, của các đoàn thể và các hoạtđộng xã hội đã góp phần to lớn vào việc giáo dục thế hệ trẻ và phát triển loại hìnhhọc không chính quy, hướng tới xây dựng xã hội học tập

Cộng đồng xã hội, các nhà hảo tâm đã hỗ trợ công sức, vật liệu, kinh phí đểgóp phần tạo nên trường lớp ngày càng khang trang hơn, các phương tiện dạy vàhọc ngày càng đầy đủ hơn, điều kiện sinh hoạt của trẻ em tại trường ngày càngđược cải thiện

Thực tế xã hội hoá giáo dục đã tạo nên nguồn lực tinh thần và vật chất quantrọng để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Công tác Khuyến học với nhiệm

vụ khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục góp phần tích cực vào chủ trương xãhội hoá giáo dục với nội dung toàn diện nói trên

Hiện nay, Nhà nước đã dành một tỷ lệ kinh phí khá lớn để đầu tư cho giáodục đào tạo, chương trình kiên cố hoá trường lớp đã đem lại sự đổi thay to lớn về

cơ sở vật chất trường học Tuy nhiên, sự đầu tư đó chưa thể đáp ứng đầy đủ nhữngyêu cầu ngày càng cao về điều kiện cho dạy và học Phương pháp giáo dục mới đòihỏi tăng cường các phương tiện hỗ trợ như thiết bị thí nghiệm, thiết bị nghe nhìn,máy tính, thư viện, phương tiện cho hoạt động văn nghệ, thể thao và vui chơi

Trang 32

Trường lớp không chỉ cần phòng học mà còn cần các phòng chức năng, sân chơi,bãi tập, khuôn viên, vườn hoa, bồn hoa, cây cảnh, trường lớp học hai buổi cần cóphương tiện phục vụ ăn ngủ cho học sinh Vì vậy sự đóng góp của cộng đồng vàcủa gia đình người học càng trở nên quan trọng Mặt khác, đời sống của nhân dân

đã nâng cao, một bộ phận dân cư có đời sống khá, cho nên mong muốn con mìnhđược học tập và sinh hoạt ở trường lớp có điều kiện vật chất khá hơn

Sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, vận động của Hội Khuyến học, của Hộicha mẹ học sinh đã huy động được những nguồn lực to lớn hỗ trợ cơ sở vật chấtcho nhà trường Nhiều gia đình ở nông thôn hiến đất để mở rộng diện tích trường.Nhiều doanh nghiệp ủng hộ hàng trăm triệu đồng xây dựng trường lớp Nhiều nhàhảo tâm ủng hộ tiền, vật liệu và nhân công làm tường rào, sân trường, cổng trường

Bà con nông thôn các vùng ủng hộ tre gỗ, cát sỏi, ngày công để làm thêm lớp học,làm nhà bán trú cho học sinh và nhà ở giáo viên Các xã vùng cao ủng hộ lươngthực giúp học sinh bán trú khi giáp hạt Các thày giáo cô giáo cũng góp từ đồnglương hạn hẹp của mình để tham gia đóng góp cùng nhân dân Công đoàn Giáodục vận động đoàn viên đóng góp xây nhà ở cho giáo viên vùng cao Thành phốLào Cai có phong trào ủng hộ các thôn bản Tả Phời, Hợp Thành Trường nào cũngnhận được sự ủng hộ của nhà hảo tâm, của phụ huynh để tăng cường cơ sở vật chấttrường lớp Những sự đóng góp nói trên đã tạo nên nguồn lực to lớn bổ sung cùng

sự đầu tư của nhà nước, góp phần làm nên những thành tựu quan trọng trong việcgiáo dục thế hệ trẻ

- Mục tiêu, nội dung, hình thức, nguyên tắc xã hội hóa:

Phát triển các trường ngoài công lập Chuyển một số trường công lập thànhtrường ngoài công lập khi có đủ điều kiện thích hợp

Củng cố và nâng cao chất lương GD của các trương ngoài công lập Nâng tỷ

lệ học sinh học nghề (ngắn hạn và dài hạn) ngoài công lập

Mở rộng các quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ GD , khuyến khích cá nhân và tậpthể đầu tư phát triển GD ; đổi mới chế độ học phí của các trương ĐH, CĐ công lập

và ngoài CLập theo hương đảm bảo tương xứng với chất lương và các dịch vụ GD

Trang 33

Mở rộng và tăng cương các mối quan hệ của nhà trương với các ngành, địaphương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức KT - XH tạo điều kiện để xãhội có thể đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, góp ý kiến cho quy hoạch phát triểnnhà trương.

Xây dựng nhà trương trở thành trung tâm văn hoá, môi trương GD lànhmạnh, GD toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo,nêu cao phẩm chất nhà giáo, làm tốt công tác GD chính trị tư tương, phấn đấu đểcác nhà giáo thực sự là những ngươi mẫu mực về mọi mặt, là tấm gương sáng cho

HS

Nâng cao nhận thức, tăng cương sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự giámsát của Hội đồng ND, sự quản lý của UBND các cấp; phát huy vai trò của các tổchức Công đoàn, Hội Phụ nữ, Đoàn TN, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh,Hội Cha mẹ học sinh, Hội khuyến học và các tổ chức đoàn thể, tổ chức XH kháctrong việc huy động nguồn lực XH tham gia phát triển sự nghiệp GD

Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội làm cho nền giáo dục củachúng ta thành một mặt của quần chúng được phát huy và đang tạo ra điển hìnhmới, những nhân tố mới trong giáo dục

Bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ:

“Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng hóa các hình thứcđào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chứckhuyến học, bảo trợ giáo dục” (Văn kiện Đại hội IX)

Những quan điểm trên là cơ sở tiền đề cho xã hội hóa giáo dục và đây cũng

là giải pháp tốt nhất cho giáo dục và đào tạo của đất nước phát triển trong thời kìcông nghiệp hóa- Xã hội hóa đất nước, xã hội hóa giáo dục không chỉ xuất phát từđiều kiện kinh tế-xã hội mà cũng xuất phát từ đặc thù của Giáo dục và Đào tạo

1.4.4 Nội dung và nguyên tắc chỉ đạo xã hội hóa giáo dục THCS

Trang 34

GDTHCS nằm trong Giáo dục phổ thông bao gồm việc thực hiện mục tiêu,nội dung, phương pháp, đã được ghi rõ ở Điều 27,28,29 Luật Giáo dục năm 2005

Nội dung Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở

Thứ nhất: Huy động toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội dung

GDTHCS Tạo ra sự đồng thuận về nhận thức, tư tưởng, hành động của từng giađình, cộng đồng dân cư; các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng,các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước đối với sự nghiệp giáo dục thế hệtrẻ ở lứa tuổi THCS

Thực tiễn cho thấy, từ những năm 1990 đến nay, với chủ trương phát triểncác loại hình giáo dục không chính quy bên cạnh những loại hình chính quy, nênnhiều loại hình mới đã xuất hiện trong giáo dục THCS

Thứ hai: Xây dựng môi trường tốt nhất cho GDTHCS, môi trường đó bao

gồm: Gia đình, nhà trường và xã hội kết hợp hài hoà sẽ là tác động tốt nhất làmcho trẻ được quan tâm giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc sống của trẻ sẽđược nâng cao hơn về thể lực, trí tuệ và nhân cách, chuẩn bị cho các em bước vàolớp 10 THPT

* Môi trườ ng gia đình : Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, là một tổ chứctập hợp bao gồm các thành viên cùng huyết thống và dựa trên yếu tố quan hệ đặc

biệt về mặt tình cảm và định hướng cuộc sống Bác Hồ đã từng nói: Gia đình cộng

lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình càng tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt.

Cha mẹ và mọi thành viên - tổ ấm gia đình có nghĩa vụ thương yêu, dànhnhững điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng tạo cho trẻ phát triển lành mạnh thể chất trítuệ và đạo đức Tuy nhiên, hiện nay do điều kiện kinh tế và một số điều kiện khác,một số bộ phận gia đình thiếu kiến thức nuôi dưỡng chăm sóc và dạy bảo trẻ mộtcách có phương pháp khoa học, cho nên Nhà nước và các tổ chức xã hội có tráchnhiệm tạo điều kiện giúp các gia đình nắm được, hoặc hỗ trợ về kinh tế, kiến thức

kỹ năng sống

Trang 35

Về vai trò nhà trường, Luật Giáo dục (2005) đã quy định rõ: Giáo dục THCS

nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; có trình

độ học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Nội dung giáo dục THCS là: Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những

nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, có những hiểu biết tối thiểu về kỹ thuật

và hướng nghiệp.

Phương pháp giáo dục ở trường THCS: Phải phát huy tính tích cực, tự giác,

chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Vì thế, môi trường nhà trường hết sức quan trọng, nhà trường giữ vai trò chủđạo trong việc phối hợp với gia đình và xã hội, tạo môi trường giáo dục, cung cấpkiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách Bên cạnh đó môi trường xã hội củngảnh hưởng rất lớn tới môi trường giáo dục, những điều kiện về phát triển kinh tế,

xã hội, mở rộng dân chủ, tự chủ tác động lớn đến việc hình thành nhân cách

Sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội có tầm quan trọng đặc biệtđối với giáo dục phổ thông nói chung cũng như giáo dục THCS nói riêng Songhiện nay nhiều địa phương do khó khăn về kinh tế, sự nhận thức chưa thấu đáo vềmôi trường giáo dục và mặt trái của nền kinh tế thị trường Dẫn đến tình trạng sựphối hợp giữa gia đinh - nhà trường - xã hội còn lỏng lẻo; tình trạng bạo hành tronggia đình; các hiện tượng ứng xử không tốt trong quan hệ giáo viên - học sinh, tìnhtrạng vi phạm đạo đức nhà giáo đã ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cáchcho trẻ em Do đó, cần huy động lực lượng toàn xã hội tham gia xây dựng môi

Trang 36

trường xã hội, môi trường giáo dục có ý nghĩa rất lớn đối với lứa tuổi học sinhTHCS.

Thứ ba: Huy động toàn xã hội đầu tư các nguồn lực cho GDTHCS Việc

đầu tư các nguồn lực cho GDTHCS có rất nhiều ý nghĩa, nó không chỉ thể hiệntính ưu việt của chế độ xã hội, mà nó còn là một nhân tố hết sức quan trọng đểnâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Từ trước đến nay, hàng năm việc đầu tưnguồn vốn của Nhà nước cho giáo dục ngày càng tăng, nhưng chưa đủ đáp ứng yêucầu sự phát triển Điều đó được thể hiện ở việc điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết

bị ở các trường THCS còn hết sức thiếu thốn, đặc biệt với miền núi, vùng cao,vùng thường xuyên gặp thiên tai bão, lụt, hạn hán càng trở nên khó khăn Các địaphương đã từng bước tháo gỡ song mới chỉ khắc phục phần nào ở bậc mầm non,tiểu học và THPT Chính vì vậy, phải quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả cáckhoản kinh phí đầu tư hàng năm từ ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ của các tổchức quốc tế, các khoản thu từ học phí của học sinh Đồng thời phải thực hiện cuộcvận động rộng lớn ''Nhà nước và nhân dân cùng làm'' để phát triển các loại hìnhGDTHCS, với phương thức động viên sự đóng góp của nhân dân để xây dựngtrường sở, đổi mới trang thiết bị dạy học Huy động mọi lực lượng xã hội phát huytiềm năng về vật lực, tài lực, tham gia vào quá trình xã hội hoá giáo dục trung học

cơ sở

Thứ tư: Xây dựng, mở rộng hệ thống trường lớp và đa dạng hoá các loại

hình giáo dục trên cơ sở mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục được BộGD&ĐT quy định Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và có tính chiến lượclâu dài của XHHGD nói chung và XHHGD THCS nói riêng Với tiêu chí tạo mọiđiều kiện để trẻ em lứa tuổi THCS được thụ hưởng sự chăm sóc, giáo dục vớinhững loại hình thích hợp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc, giáodục

Chủ trương của Bộ GD&ĐT là tiếp tục duy trì ổn định hệ thống giáo dụcchính quy đồng thời phát triển các loại hình giáo dục không chính quy, xây dựng

hệ thống trường lớp dân lập, tư thục Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của

Trang 37

từng địa phương, từng doanh nghiệp mà có các hình thức phát triển trường lớpthích hợp, phải cố gắng vươn lên nâng cao chất lượng giáo dục THCS, tạo ra sựcạnh tranh lành mạnh giữa các trường công với trường dân lập, tư thục

Sự đa dạng các loại hình GDTHCS có ý nghĩa rất to lớn, một mặt nó tậptrung mọi nguồn lực trong xã hội, mặt khác các bậc cha mẹ học sinh có thể lựachọn các loại hình trường học, lớp học phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh gia đình,làm cho các bậc cha mẹ học sinh quan tâm đến con cái hơn Trong quá trình tổchức thực hiện, mở rộng hệ thống trường, lớp, nâng cao chất lượng, lựa chọn cácloại hình giáo dục, tập trung mọi sự quan tâm của xã hội đối với GDTHCS đã nảysinh rất nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, đó là công tác quản lý, chỉ đạo cáchình thức tổ chức giáo dục, phương hướng, quy mô, hình thức phát triển Sự tácđộng của xã hội hoá GDTHCS đến các trường THCS như thế nào? quản lý, chỉ đạonhư thế nào, hiệu quả ra sao ? Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm rõ

và tuân thủ các nguyên tắc chỉ đạo thực hiện XHH GDTHCS

Một số nguyên tác chỉ đạo thực hiện Xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở

Nguyên tắc là những điều cơ bản được nhà nước hoặc một tổ chức xã hộiđịnh ra, đòi hỏi các thành viên trong xã hội hoặc các thành viên trong một tổ chứcphải tuân theo trong các công việc làm của mình Quá trình tổ chức, quản lý, chỉđạo thực hiện XHH GDTHCS phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

Thứ nhất: Nguyên tắc lợ i ích đối vớ i mọ i chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm

thực hiện XHH giáo dục THCS

XHHGD nói chung cũng như XHHGD THCS nói riêng chỉ có ý nghĩa mộtkhi nó mang đến lợi ích thiết thực, cụ thể, thiết thân đối với từng gia đình, các tổchức xã hội và tương lai của đất nước Đó chính là động lực lôi cuốn, thu hút cácLLXH, các tổ chức chính trị - xã hội và các cá nhân tham gia phối hợp tổ chứcthực hiện với các hình thức và mức độ khác nhau Do vậy, hoạt động hợp tác, hợplực của các LLXH tham gia đóng góp vào sự nghiệp GD đều có điểm xuất phát -

đó là nhu cầu, lợi ích thiết thân của cả các bên, mỗi bên tham gia đều tìm thấy, đều

hy vọng thoả mãn lợi ích của mình

Trang 38

Xét về mặt tâm lý, mỗi người dân, mỗi gia đình với những hoàn cảnh, điềukiện và ước vọng khác nhau đều có những nhu cầu riêng về lợi ích Cho nên XHHGDTHCS phải quan tâm đầu tiên và ưu tiên việc thoả mãn nhu cầu của các bậc cha

mẹ, của gia đình để đảm bảo con em mình được dạy dỗ trong một môi trường giáodục lành mạnh để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ Ở

đó con em mình được giáo dục trong trường, lớp khang trang, có đủ thiết bị dạy vàhọc, đội ngũ giáo viên có năng lực và nhiệt tình với nghề nghiệp Con em được họchành, được giáo dục một cách toàn diện là niềm hạnh phúc lớn lao của những bậclàm cha làm mẹ Đối với những gia đình chính sách, gia đình khó khăn được ưuđãi, miễn giảm học phí; mọi trẻ em đến trường được hưởng phúc lợi xã hội, quyềnlợi về GD Môi trường GD lành mạnh, tốt đẹp là điều kiện để các bậc cha mẹ yêntâm công tác, làm việc và không tiếc tiền của, công sức đóng góp, đầu tư cho sựphát triển hệ thống trường THCS Đồng thời nâng cao trách nhiệm của mỗi giađình, mỗi thành viên trong xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục

Ở các địa phương, các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo cũng thấy lợi ích thiếtthực từ công tác XHH GDTHCS, sẽ phải đào tạo ra những công dân tốt, có ích,phục vụ cho những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước.Chính ngay bản thân GDTHCS cũng xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của mình màtiến hành XHHGD, làm hết trách nhiệm của mình trước yêu cầu, nhu cầu đòi hỏi

về nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai

Các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, các

tổ chức kinh tế phải coi sự tham gia phát triển GDTHCS là nghĩa vụ và tráchnhiệm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính trị của mình Mặt khác, từcác gia đình đến các doanh nghiệp cũng phải tính toán kinh tế, tính sự lỗ lãi từnhững đóng góp cho giáo dục, để có thể đem lại hiệu quả kinh tế, nhân văn và chochính sự phát triển của tổ chức đó

Trên cơ sở của nguyên tắc này, các cơ quan giáo dục, các trường nhà trườngTHCS phải có những biện pháp, hình thức vận động, khuyến khích những mặt tíchcực, huy động mọi thành viên trong xã hội chăm lo cho sự nghiệp phát triển GD,

Ngày đăng: 26/08/2017, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w