Lý do chọn đề tài + Trên thế giới: Giáo dục không chỉ là công việc của nhà nước, của chính phủ, của bộ ngành nào mà GD là của toàn xã hội, phụ huynh có thể biết được mọi việc làm, mọi h
Trang 1_ _
TRẦN CÔNG THÀNH
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ PHƯỚC MINH
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội; Phòng Đào tạo sau Đại học và tập thể các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện, cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Phước Minh đã tận
tình trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục huyện Phú Xuyên, Sở GD&ĐT Hà Nội; UBND huyện Phú Xuyên, các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên các trường THPT ở huyện Phú Xuyên đã nhiệt tình, tạo điều kiện về thời gian, cung cấp số liệu, đóng góp ý kiến giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng do điều kiện nghiên cứu và năng lực quản lý của bản thân có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến chỉ dẫn quý báu của thầy cô, các nhà khoa học trong hội đồng khoa học cùng các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Công Thành
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, không trùng lặp với các đề tài và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Công Thành
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Cụm từ viết đầy đủ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục - đào tạo 6
1.1.2 Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục ở trường THPT 8
1.2 Các khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Khái niệm xã hội hóa giáo dục 13
1.2.2 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục 17
1.3 Mục tiêu, nội dung và phương thức xã hội hóa giáo dục 18
1.3.1 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục 18
1.3.2 Nội dung xã hội hóa giáo dục 20
1.3.3 Phương thức xã hội hóa giáo dục 22
1.3.4 Vai trò của các lực lượng giáo dục trong XHHGD trường THPT 26
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục THPT 30
1.5 Quản lý công tác Xã hội hoá giáo dục ở các cơ sở giáo dục trên địa bàn Huyện 35
1.5.1 Đặc điểm quản lý công tác Xã hội hoá giáo dục ở cơ sở giáo dục 35
1.5.2 Quản lý công tác Xã hội hoá giáo dục các trường THPT trên địa bàn Huyện 36
Trang 61.5.3 Biện pháp quản lý công tác Xã hội hoá giáo dục các trường THPT
trên địa bàn Huyện 36
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo 37
1.6.1 Các yếu tố khách quan 37
1.6.2 Yếu tố chủ quan 37
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 41
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Phú Xuyên 41
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên - dân cư 41
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
2.1.3 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện Phú Xuyên đến 2020, Định hướng đến 2030 (trích dẫn một số nội dung trong văn bản đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt theo quyết định số 3770/QĐ-UBND) 44
2.1.4 Những định hướng về xã hội hoá giáo dục ở huyện Phú Xuyên 46
2.2 Khái quát tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo tại huyện Phú Xuyên - thành phố Hà Nội 51
2.2.1 Về xây dựng cơ sơ vật chất 51
2.2.2 Tình hình phát triển các cơ sở giáo dục và các thành tựu đạt được ở huyện Phú Xuyên trong những năm qua 53
2.3 Thực trạng công tác quản lý Xã hội hoá giáo dục cơ sở giáo dục trong huyện Phú Xuyên 54
2.3.1 Chủ trương của cấp uỷ, chính quyền 54
2.3.2 Công tác tham gia quản lý chỉ đạo xã hội hoá của ngành giáo dục 56
2.3.3 Đánh giá thực trạng nhận thức về xã hội hoá giáo dục các cơ sở giáo dục Huyện Phú Xuyên 56
2.3.4 Thực trạng việc thực hiện nội dung Xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT Huyện Phú Xuyên 63
2.3.5 Thực trạng về triển khai các biện pháp quản lý Xã hôi hóa giáo dục ở các trường THPT Huyện Phú Xuyên trong những năm qua 66
2.4 Đánh giá kết quả thực trạng quản lý công tác Xã hội hoá giáo ở các trường THPT huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 71
Trang 72.4.1 Những thành tựu công tác Xã hội hoá giáo dục các cơ sở giáo dục ở
huyện Phú Xuyên 71
2.4.2 Những hạn chế, tồn tại của công tác Xã hội hoá giáo dục ở trường THPT huyện Phú Xuyên 72
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN PHÚ XUYÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79
3.1 Những nguyên tắc và cơ sở đề xuất biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Xuyên 79
3.1.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 79
3.1.2 Cơ sở đề xuất biện pháp 80
3.2 Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục THPT huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 81
3.2.1 Biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục THPT 81
3.2.2 Biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của 3 môi trường giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực 84
3.2.3 Biện pháp phát huy vai trò quản lý của nhà trường, đa dạng hóa các loại hình giáo dục THPT 87
3.2.4 Biện pháp thực hiện dân chủ hóa phát triển sự nghiệp GD THPT 91
3.2.5 Biện pháp xây dựng cơ chế quản lý, phối hợp, huy động các lực lượng xã hội tham gia quản lý công tác xã hội hóa giáo dục THPT 93
3.2.6 Biện pháp tổng kết rút kinh nghiệm tiên tiến về XHHGD phổ thông và có phương pháp nhân điển hình 97
3.3 Quan hệ giữa các biện pháp 99
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi các nhóm biện pháp quản lý tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục các trường THPT huyện Phú Xuyên 101
Tiểu kết chương 3 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
1 Kết luận 104
2 Kiến nghị 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Quy mô phát triển phòng học giao đoạn 2014-2016 51
Bảng 2.2 Quy mô phát triển phòng thư viện, thiết bị giai đoạn 2014-2016 52
Bảng 2.3 Quy mô phát triển chất lượng của đội ngũ giáo tại các cơ sở giáo dục 53
Bảng 2.4 Chất lượng của đội ngũ giáo viên THPT huyện Phú Xuyên năm 2015 - 2016 53
Bảng 2.5: Nhận thức về tầm quan trọng của XHHGD 57
Bảng 2.6: Nhận thức về mục tiêu của XHHGD THPT 58
Bảng 2.7 Nhận thức về lợi ích xã hội hóa giáo dục THPT 59
Bảng 2.8 Nhận thức về vai trò của Xã hội hóa giáo dục với tình trạng học sinh bỏ học 61
Bảng 2.9: Nhận thức về nguyên nhân tình trạng học sinh bỏ học hiện nay 61
Bảng 2.10: Đánh giá thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ XHHGD THPT 65
Bảng 2.11 Nhận thức tầm quan trọng của các biện pháp quản lý XHHGD THPT 67
Bảng 2.12: Số liệu thống kê HS tốt nghiệp 12 và thi đỗ đại học, cao đẳng năm học 2015- 2016 Tỉ lệ HS không có việc làm sau khi tốt nghiệp 68
Bảng 2.13 Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý XHHGD THPT 70
Bảng 3.1 Tổng hợp khảo sát mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý 101
Bảng 3.2 Tổng hợp khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý 102
Biểu đồ 2.1 Đánh giá việc thực hiện các chức năng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục THPT huyện Phú Xuyên 66
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
+ Trên thế giới: Giáo dục không chỉ là công việc của nhà nước, của chính phủ, của bộ ngành nào mà GD là của toàn xã hội, phụ huynh có thể biết được mọi việc làm, mọi hành động của con em mình ở trường và mọi lực lượng xã hội, tổ chức xã hội đều có thể cung ứng và đóng góp cho giáo dục hay nói cách khác công tác xã hội hoá giáo dục (XHHGD) đã thực hiện rất hiệu quả góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, văn minh của quốc gia
+ Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và nhà nước về XHHGD: Thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII, nghị quyết hội nghị trung ương II (khóa VI, VII), Đại
hội làn thứ IV, lần thứ X… về XHHGD là: phát huy truyền thống hiếu học
của dân tộc, xây dựng nền giáo dục hiện đại của dân, do dân, vì dân; giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững
+ Bộ GD&ĐT chính thức triển khai bộ chương trình giáo dục phổ thông mới từ 2002 đồng thời chỉ rõ: Công tác XHHGD là một công việc quan trọng và rất cần thiết để xây dựng một nền giáo dục hiện đại, tiên tiến phù hợp với sự phát triển của thời đại, giúp người học phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng động
+ Nhiều hội thảo diễn ra và cũng có nhiều đề tài đã làm bàn về vấn đề này: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về công tác XHHGD của Nguyễn Hữu Nam, hay biện pháp quản lý XHHGD của Nguyễn Văn Hiền nhằm khắc phục tình trạng bỏ học của học sinh ở Quảng Bình
+ Nghiên cứu XHHGD và tăng cường quản lý XHHGD đối với giáo dục Huyện Phú Xuyên không chỉ tìm kiếm lời giải phù hợp với điều kiện kinh
Trang 10tế - xã hội khách quan, đáp ứng nhu cầu nhận thức, mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Cung cấp cơ sở cho dự đoán và định hướng sự phát triển XHHGD trong giai đoạn hiện nay Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, của sở ngành công tác XHHGD đã được tiến hành dưới nhiều hình thức phong phú, cùng với cuộc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục Đặc biệt là các cơ sở giáo dục, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp gắn kết giáo dục nhà trường với cộng đồng xã hội Do vậy sự nghiệp giáo dục của huyện đã thu được những thành tựu tự hào về số lượng, chất lượng giáo dục và đào tạo, tuy nhiên việc thực hiện XHHGD vẫn còn gặp không ít khó khăn trở ngại như: Một số phường xã, cấp ủy, chính quyền đoàn thể, phụ huynh chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng đến sự quan tâm của gia đình, của các LLXH đến lứa tuổi học sinh
ở các cơ sở giáo dục trên địa bàn Huyện Việc xiết chặt kỷ cương, chống bệnh thành tích, đồng thời sự phân luồng lao động xã hội đã làm cho một số gia đình, các em học sinh có tư tưởng chán nản, không chú trọng việc học tập,
hoặc bỏ học để tham gia vào kiếm sống ngay ở lứa tuổi của học sinh; hơn nữa
không ít quan niệm khác nhau cho rằng nội dung chính của công tác XHHGD chỉ là huy động kinh phí trong nhân dân, hoặc có nơi cho rằng XHHGD là để dân lo là chính dẫn đến việc đầu tư nguồn lực cho phát triển giáo dục chưa được quan tâm đúng mức Mặt khác việc quản lý nhà nước về công tác XHHGD còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả Từ thực trạng trên và
khuôn khổ của luận văn, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội” làm
hướng nghiên cứu Với đề tài này mong muốn được góp phần đẩy mạnh sự phát triển toàn diện giáo dục của địa phương trong giai đoạn tiếp theo
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Với lí do ở trên đề tài có mục tiêu nhằm trên cơ sở phân tích thực trạng
và các biện pháp quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT huyện Phú Xuyên Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng dạy học
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác XHHGD và hoạt động quản lý công tác
XHHGD trong các cơ sở giáo dục
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý công tác XHHGD ở các trường THPT
huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Công tác XHH giáo dục ở các trường THPT huyện Phú Xuyên hiện nay
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy vậy, vẫn còn hạn chế trong công tác quản lý Nếu thực hiện có kết quả một số biện pháp quản lý công tác XHH ở các trường THPT huyện Phú Xuyên mà chúng tôi đề xuất trong luận văn này, thì giáo dục huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội nhất định sẽ phát triển hơn trong thời gian tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về quản lý giáo dục, xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục ở các trường THPT nói riêng
5.2 Khảo sát thực trạng quản lí công tác XHHGD ở các trường THPT huyện Phú Xuyên từ năm 2013 đến 2016 Phân tích xu hướng nguyên nhân giáo dục hiện tại và nguyên nhân công tác XHHGD hiện nay các trường THPT huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý tăng cường công tác XHHGD ở các trường THPT huyện Phú Xuyên
Trang 126 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề quản lý công tác XHHGD các trường THPT huyện Phú Xuyên,thành phố Hà Nội từ giai đoạn từ 2013 đến
2016 và tập trung nghiên cứu công tác XHHGD cơ sở giáo dục trên các mặt
cơ bản sự tham gia, đầu tư của các bộ phận bên ngoài trường
Nghiên cứu các biện pháp quản lý của Phòng GD&ĐT trong công tác
XHHGD cấp THPT các trường ở huyện Phú Xuyên - Hà Nội
Giới hạn địa bàn khảo sát: Khảo sát tại các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Xuyên, Hà Nội Việc khảo sát ngoài địa bàn hay với các hệ giáo
dục khác (công lập hoặc ngoài công lập) đề tài không nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp nghiên cứu các tài liệu lý luận về khoa học quản
lý giáo dục, quản lý nhà trường, luật giáo dục, các văn bản pháp quy, những quy định của ngành GD-ĐT, các loại sách báo có liên quan đến XHH, quản lý
XHHGD
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu
7.2.2 Phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn, phương pháp khảo nghiệm
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
7.4 Nhóm phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
8 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Trang 13- Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý XHHGD
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý XHHGD ở các trường THPT
huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội
- Chương 3: Biện pháp quản lý tăng cường công tác XHHGD các
trường THPT huyện Phú Xuyên,Thành phố Hà Nội
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục - đào tạo
Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã có từ rất lâu, đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu xem xét nó về bản chất Hoạt động xã hội hoá giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các chế độ
xã hội và thể chế chính trị Đảng ta luôn coi trọng vai trò của xã hội hoá giáo dục, xác định là một chủ trương lớn để phát triển giáo dục và được thực hiện
từ nhiều năm qua với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”
Tư tưởng: “lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển
của lịch sử và chân lý về vai trò của quần chúng nhân dân đã được khẳng
định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Sự nghiệp giáo dục của Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nêu cao khẩu hiệu: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân” Những tư tưởng đó đã trở thành định hướng, thành kim chỉ nam cho hành động và được vận dụng có hiệu quả trong công tác giáo dục ở Việt Nam [28]
Nhân dân ta đã có truyền thống coi trọng việc học Theo lịch sử hình thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, Nhà nước chỉ mở rất ít trường để dạy học cho con cháu của quan lại và một bộ phận con nhà giàu Vấn đề học tập của con em nhân dân đều do nhân dân lao động tự lo liệu, dưới hình thức các thầy đồ tự mở lớp (trường tư) hoặc nhân dân tự nguyện góp tiền tổ chức mời thầy dạy (dân lập) Trong hương ước của một số địa phương còn ghi rõ về chế độ học điền (ruộng dành cho việc học), chăm lo vật chất, khích lệ, cổ vũ người học, tôn vinh những người học hành
Trang 15thành đạt, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của xã hội đối với giáo dục Những điều đó đã trở thành truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới vấn đề dân trí, Người khẳng
định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành công, tháng 10 - 1945 Người ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”, phát động phong trào chống nạn mù chữ trong toàn quốc với phương châm:
“Những người đã biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm không biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ”[27] Người nhấn mạnh: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xoá nạn mù chữ” Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã vạch ra cương lĩnh hành động cho phong trào Bình dân học vụ, là cơ
sở để tạo lập và xây dựng một nền giáo dục toàn dân ngay sau khi đất nước giành được độc lập Từ năm 1946, đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng nền giáo dục Việt Nam vẫn duy trì và phát triển, góp phần đáng kể vào việc nâng cao dân trí, làm nền móng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mùa xuân năm 1975, khi đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục Giai đoạn này giáo dục Việt Nam đạt được một số kết quả nhất định trong việc thống nhất hệ thống giáo dục hai miền Nam - Bắc Song do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có để phát triển mạnh mẽ và bền vững Cơ sở vật chất của giáo dục
bị xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút kéo theo sự phát triển của nền giáo dục cả về số lượng và chất lượng Đảng và
Trang 16Nhà nước đã thực hiện các đợt cải cách giáo dục nhưng còn chắp vá, chất lượng giáo dục chưa được đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, nhất là vào thời điểm nhân loại đã bước trong thời kì khoa học và kĩ thuật phát triển mạnh; xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá, đa phương hoá là quy luật tất yếu để phát triển đất nước
Từ đó đến nay, tại các kỳ Đại hội Đảng, các Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định GD&ĐT là động lực, là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu KT-XH và xác định chủ trương thực hiện phát triển
GD&ĐT: “Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước và đẩy
mạnh xã hội hóa GD&ĐT” Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới
đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng đồng với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống Như vậy, xã hội hoá giáo dục là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi lực lượng nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, và giáo dục có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của xã hội đề ra.Nhiều tác giả trong nước đã tập trung nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục nhằm làm sáng rõ những quan điểm của Đảng, nêu lên những giải pháp tổ chức thực hiện
1.1.2 Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục ở trường THPT
Nghiên cứu xã hội hoá giáo dục ở trường THPT nước ngoài
Từ lâu, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao.Có thể khẳng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều có điểm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục Ở những nước tiên tiến, việc quan tâm đầu tư cho giáo dục qua quá trình huy động sức mạnh của nhà nước và các tầng lớp xã hội, nâng cao mặt bằng tri thức, đưa dân trí ngang
Trang 17tầm thời đại để con người làm chủ nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp Ở những nước đang phát triển, việc huy động các nguồn lực cho giáo dục là phương thức tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm phong phú tài năng, trí tuệ để phục vụ các mục tiêu phát triển KT-XH Việc đầu tư đúng mức cho con người sẽ tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển bền vững ở các nước đang phát triển Và chỉ có bằng cách ấy, các quốc gia này mới có thể “đi tắt” ,“đón đầu” góp phần phát triển KT-XH đạt đến trình độ hiện đại, hội nhập với các nước tiên tiến
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang thực hiện khá rộng rãi sự phân quyền, giao trách nhiệm từ cấp trung ương xuống cấp cơ sở, mở rộng quyền lực của cấp cơ sở trong việc giải quyết các vấn đề và ra quyết định Trong bối cảnh đó “Quản lý dựa vào nhà trường” (School-Based Management - SBM) xuất hiện như một nhu cầu tất yếu nhằm thu hút và tạo điều kiện cho mọi người, trong đó có giáo viên và học sinh được tham gia một cách dân chủ vào việc quản lý và ra quyết định những vấn đề liên quan đến nhà trường Theo xu hướng này, ở nhiều nước như: Mĩ, Anh, Australia, New Dilân, Canada, SBM xuất hiện theo các cách gọi khác nhau nhưng có hai tính chất cơ bản:
+ Tăng cường tự chủ cho nhà trường đổi với hoạt động tài chính, nhân
sự và chương trình dạy học;
+ Trường học là đơn vị có quyền ra quyết định, giải quyết các vấn đề nảy sinh ngay tại chỗ với sự tham gia đông đảo của các thành viên trong trường và những người có liên quan
Ở Inđônêxia: Ngoài hệ thống giáo dục nhà trường, họ coi trọng các loại hình giáo dục ngoài nhà trường; ở gia đình; xã hội; các doanh nghiệp; các trường đại học mở với nhiều chương trình đa dạng phục vụ phát triển cộng đồng và tầng lớp xã hội
Trang 18Ở Thái Lan: Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật,
tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phu chính quy có sự tham gia của các tầng lớp xã hội để thích ứng với nhu cầu nhận lực của thị trường lao động trong quá trình CNH đất nước
Đối với Trung Quốc: Chính phủ Trung Quốc đặt ra chiến lược: Làm cho đất nước giàu mạnh thông qua khoa học và giáo dục Với phương châm giáo dục phải thực hiện ba điều hướng tới đó là: Giáo dục phải hướng tới hiện đại hóa, hướng tới thế giới và hướng tới tương lai Chính sách phát triển giáo dục của Trung Quốc hiên nay có thể khái quát: Đầu tư chi phí cao cho giáo dục phải được coi là chính sách quốc gia hàng đầu, đầu tư cho GD phải xem như đầu tư phát triển cho sản xuất Phát triển GD chuyên nghiệp theo hướng đáp ứng nhu cầu nhân lực đủ chuẩn và phải đảm bảo sự tham gia rộng rãi của cộng đồng vào việc QLGD và đầu tư cho GD
Ở Nhật Bản: Nhật Bản đã đạt được những thành tựu khổng lồ về Kinh
tế - Kỹ thuật công nghiệp chủ yếu là do Nhật Bản đã phát huy cao độ, mạnh
mẽ nội lực của toàn dân tộc, thông qua chính sách GD&ĐT Đối với các trường Tiểu học thì sự “bình đẳng” là nguyên tắc tối cao, còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc tài năng là cao nhất Quan điểm này không những xóa bỏ những bất bình đẳng trong xã hội về GD, mà còn tạo
ra sự phát triển tiềm năng của con người và tất cả mọi người đều có quyền thụ hưởng giáo dục như nhau, không có sự phân biệt giữa các giai cấp
Nghiên cứu xã hội hoá giáo dục trường THPT ở Việt Nam
Xã hội hoá giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội với sự tác động, chi phối và có mối quan hệ mật thiết với các cơ sở giáo dục trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của bậc học, ở mọi loại hình công lập cũng như tư thục dưới sự quản lý và chỉ đạo chung của Nhà nước Thực hiện phân luồng
Trang 19làm cơ sở cho đào tạo nghề, là tiền đề cho quá trình hình thành một lực lượng lao động sau khi đào tạo chuyên nghiệp Đánh giá thực trạng giáo dục phổ thông nói chung và THPT nói riêng là công việc rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết để xác định đúng các mục tiêu chiến lược và các giải pháp khả thi Nhưng đó là một công việc rất phức tạp và khó khăn, bởi lẽ “sản phẩm” của hoạt động giáo dục là nhân cách được hình thành trong một quá trình qua nhiều giai đoạn, chịu nhiều chi phối của các yếu tố bên trong và bên ngoài của
hệ thống giáo dục, do đó không thể dễ dàng thấy được, đo lường được như sản phẩm của các quá trình sản xuất vật chất khác Chẳng hạn như ở nước ta hiện nay, để có được một học vấn THPT đầy đủ cần 12 năm; đào tạo chuyên nghiệp, đại học từ 2 đến 6 năm; còn đào tạo bồi dưỡng sau đại học thường diễn ra trong suốt thời gian hoạt động nghề nghiệp Như vậy những gì được tiến hành trong nhà trường hôm nay có khi phải hàng chục năm sau mới có điều kiện đánh giá đầy đủ, chính xác
Giáo dục THPT là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân; nó vừa bị chi phối, vừa có tác động qua lại với nhiều nhân tố khác như chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - công nghệ Những mối quan hệ này lúc trực tiếp, lúc gián tiếp, lúc tức thời, lúc lâu dài Do vậy, việc thực thi các chủ trương, chính sách về giáo dục THPT và kết quả mang lại của nó phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết một cách đúng đắn, hợp quy luật các mối quan
hệ này Từ năm 1986, đất nước ta bước vào giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế, từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI, VII đề ra, Nhà nước ta đã chuyển hệ thống giáo dục quốc dân từ mục tiêu phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
Trang 20phục vụ cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong thời
kỳ chuyển đổi này về giáo dục, Nhà nước đã có chủ trương:
- Đối với các cấp học trên tiểu học thì huy động sự đóng góp của nhiều tầng lớp dân cư
- Đào tạo không chỉ thoả mãn nhu cầu về nhân lực của kinh tế quốc doanh và biên chế nhà nước mà còn thoả mãn nhu cầu của nguồn nhân lực lao động của mọi thành phần kinh tế và nhu cầu của xã hội, đào tạo bằng nhiều nguồn tài chính và theo phương thức, kế hoạch mềm dẻo Người tốt nghiệp tự tìm, tự tạo việc làm
- Mở rộng cơ hội học tập để mọi người có thể cập nhật, đổi mới kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm việc
- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, thực hiện chính sách của nhà nước ta, mở cửa trong công tác đối ngoại, hợp tác với các nước trên thế giới ở các mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ Như vậy, xã hội hoá giáo dục THPT không nằm ngoài quy luật tất yếu trong xu thế phát triển của thời đại, khi đất nước ta bước vào thời kì hội nhập, thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì THPT là tiền đề quan trọng cung cấp nguồn nhân lực có trình độ học vấn, có sức khoẻ, có đạo đức tác phong công nghiệp nhưng vẫn mang bản sắc tốt đẹp của người Việt Nam
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thực tế hiện nay, xã hội hoá giáo dục nói chung và xã hội hoá THPT nói riêng đã có nhiều khởi sắc và thu được nhiều thành tựu đáng khích lệ Công tác xã hội hoá giáo dục THPT ở nước ta thực
sự phát triển cùng với tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh các trường THPT công lập đã có các trường THPT dân lập và tư thục được hình thành và đi vào hoạt động và đã huy động được nhiều thành phần xã hội tham gia vào hoạt động này Hoạt động giáo dục xã hội hoá THPT đã đa dạng
và phong phú hơn về loại hình, đáp ứng nhu cầu học tập của thanh thiếu niên trong độ tuổi và bước đầu tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo
Trang 21dục, từng bước thúc đẩy chất lượng giáo dục THPT nâng lên.Trong những năm gần đây, nhiều đề án, công trình nghiên cứu khoa học và nhiều giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa công tác giáo dục đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi, cụ thể như:
- Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục giai đoạn 2005 –2010 (QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/1/2005
của Thủ tướng chính phủ) [14]
- Công trình nghiên cứu: “Xã hội hóa công tác giáo dục” của tác giả
Phạm Minh Hạc.[24] Đề tài nghiên cứu về giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa công tác giáo dục có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu như: Giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Nguyễn Trung Kiên, Đại học Sư phạm Hà Nội) Tuy nhiên, công tác xã hội hoá giáo dục THPT vẫn chưa đáp ứng được các nhu cầu của người học và yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực sau THPT Do khả năng học tập, làm việc phù hợp với năng lực nhận thức và định hướng nghề nghiệp, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh THPT mong muốn được học nghề và có nhu cầu được đi làm sau khi tốt nghiệp, đại đa số học sinh THPT học lên Đại học Trong khi đó, hệ thống trường THPT của nước ta chưa có các trường THPT phân luồng và dạy nghề như giáo dục phổ thông ở một số nước tiên tiến nên vấn đề mấu chốt của “đầu
ra cho sản phẩm giáo dục” chưa được giải quyết nên những tác động tích cực của khía cạnh xã hội hoá chưa thực sự có hiệu quả
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm xã hội hóa giáo dục
1.2.1.1 Xã hội hoá
Thuật ngữ xã hội hoá (socialization) đã được các nhà xã hội học sử dụng để mô tả những phương pháp, cách thức mà con người học hỏi các giá trị, các chuẩn mực xã hội đề ra, tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách con
Trang 22người Đồng thời con người có đủ điều kiện để hoà nhập với xã hội đó, đảm bảo sự phổ quát, đại chúng và phù hợp
Xã hội hoá là quá trình qua đó cá nhân con người chịu tác động của các yếu tố của môi trường xã hội, hoà nhập vào cấu trúc nhân cách dưới ảnh hưởng của các tác nhân xã hội và những kinh nghiệm cá nhân, làm cho cá nhân thích nghi với môi trường xã hội Trong kinh tế - chính trị học, thuật ngữ
“xã hội hoá” đó là quá trình phát triển của lực lượng sản xuất từ trình độ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp tác có phân công, chuyên môn hoá cao trên phạm vi toàn xã hội.[24]
Từ đầu thế kỷ XX, EmiloDur Kheim (1858 - 1917) nhà xã hội học người Pháp cho rằng “ Giáo dục vừa có chức năng phân hoá vừa có chức năng xã hội hoá” Trong ba thập niên gần đây, khái niệm xã hội hoá được quan tâm thảo luận nhiều hơn, khái niệm “ xã hội hoá” chủ yếu được xem xét
và hiểu biết ở bình diện xã hội học Đây là một lý thuyết khoa học về sự hình thành và phát triển nhân cách
Năm 1968, trong cuốn “Giáo dục học”, Boloiview đã từng cho rằng:
“xã hội hoá là quá trình cá nhân hoà nhập vào xã hội hay vào một trong các nhóm của họ thông qua quá trình chuẩn mực và giá trị của từng nhóm xã hội” Năm 1989, theo G.E đrweit quan niệm “Xã hội hoá được hiểu chung như là quá trình biện chứng, trong đó, mỗi người với tư cách là thành viên xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội”
Đến năm 1994, F.W.Kron phát biểu: “Quá trình xã hội hoá được hiểu chung là quá trình biện chứng, trong đó mỗi người, với tư cách là thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đó và mặt khác, thông qua quá trình này, duy trì và tái sản xuất xã hội” Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt
Trang 23đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các
cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết vấn đề xã hội.[25]
Xã hội hoá là quá trình hội nhập của một cá nhân và xã hội hay một trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình học các chuẩn mực và các giá trị xã hội Đó cũng là quá trình tiếp thu và phê phán các giá trị chuẩn mực và khuôn mẫu hành động mà trong đó mỗi thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì được năng lực hành động xã hội Những quan điểm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản thuộc phạm trù xã hội hoá
Cho dù các định nghĩa có khác nhau nhưng cốt lõi của xã hội hoá là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng diễn
ra trong tất cả lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau; có thể hiểu xã hội hoá một cách đầy đủ nhất theo định nghĩa sau: Xã hội hoá là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo dục, giáo lý mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa
là cá thể vừa là một thành viên của xã hội
Khái niệm “xã hội hoá” nói trên không đồng nghĩa với khái niệm “xã hội hoá” một hoạt động nào đó (như xã hội hoá giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao) mà chúng ta đặt ra
1.2.1.2 Xã hội hóa giáo dục
Khái niệm xã hội hoá giáo dục là một hoạt động giáo dục có tính chất
đa dạng về mặt xã hội, có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều lực lượng trong xã hội Hoạt động giáo dục trong phạm trù xã hội hoá giáo dục không đơn thuần là hoạt động dạy của người thầy đối với hoạt động học của các đối tượng tham gia học tập mà hoạt động giáo dục còn hướng tới những yêu cầu, những nhu cầu tất yếu, cấp thiết trong xu thế phát triển của xã hội một cách đại chúng và phổ quát; ngược lại đối tượng được thụ hưởng quyền lợi giáo
Trang 24dục và có trách nhiệm tham gia mọi hoạt giáo dục không bó hẹp trong phạm
vi người học mà đó là quyền lợi của toàn xã hội nói chung và các đối tượng, các thành phần xã hội có liên quan trực tiếp tới hoạt động giáo dục nói riêng
Xã hội hoá giáo dục là một xu thế tất yếu mang tính quy luật trong sự phát triển của xã hội hiện đại, nó là một phạm trù thuộc phương thức làm giáo dục Khái niệm này có thể hiểu như hai tác động qua lại có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau
- Hoạt động giáo dục phải mang tính xã hội Xã hội hoá giáo dục được
quan niệm là sự thể hiện bản chất của những hoạt động mang tính xã hội cho hoạt động giáo dục Đây cũng là bản chất cơ bản phải được nhà trường đề cập đến trong mục tiêu chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình muốn vậy, quá trình giáo dục phải thể hiện sự phù hợp với đặc trưng và yêu cầu thực tế của
xã hội: “Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với sự tiến bộ của thời đại” [24] nhằm đào tạo nguồn nhân lực có đủ khả năng để phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển KT-XH của đất nước Chúng
ta phải hiểu một quy luật mang tính ngẫu nhiên rằng trong hoạt động giáo dục của nhà trường đã có bản chất xã hội Nhà trường không chỉ thực hiện công việc dạy học một cách độc lập, không thể tự khép mình trong phạm vi khuôn viên của mình, mà phải có sự hoà nhập đáp ứng các nhu cầu của xã hội, nếu chỉ đơn thuần thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo quy định, rồi tìm mọi cách đạt tỷ lệ cao về chuyển lớp, chuyển cấp, thi tốt nghiệp thì làm sao có thể
có bản chất xã hội và đáp ứng được mọi nhu cầu như mong muốn của xã hội?
Đó là vấn đề rất quan trọng mà các nhà quản lý giáo dục, trực tiếp là quản lý các trường học phải hết sức quan tâm
- Hoạt động giáo dục phải có sự đóng góp của toàn xã hội, nghĩa là
phải huy động toàn xã hội làm giáo dục Đó là những tác động về mọi mặt của
xã hội có tác động trở lại đối với hoạt động giáo dục vì giáo dục được coi là
Trang 25sự nghiệp của quần chúng, đó là việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân, các lực lượng xã hội đóng góp các nguồn lực cho giáo dục, góp phần xã hội hoá giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước Như vậy việc phát triển sự nghiệp giáo dục không chỉ lệ thuộc vào một
số quan điểm chủ quan của một số người làm công tác giáo dục mà còn phụ thuộc vào quan điểm và tác động của toàn xã hội Trong hai góc độ có tác động qua lại lẫn nhau trong hoạt động giáo dục mang tính chất xã hội hoá thì tác động của xã hội với giáo dục là quan trọng hơn Để xã hội hoá giáo dục được thực hiện một cách hiệu quả, đúng với bản chất và ý nghĩa của nó, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại cần hết sức chú ý thực hiện triệt để một nguyên tắc, một cơ sở của hoạt động xã hội hoá giáo dục, đó là vấn đề dân chủ trong giáo dục
1.2.1.3 Xã hội hóa giáo dục THPT
Xã hội hóa giáo dục THPT là quá trình huy động LLXH cùng làm công tác giáo dục THPT dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước Bản chất của XHH sự nghiệp GD THPT là động viên, lôi cuốn mọi LLXH phát triển GD THPT để thực hiện giáo dục cho học sinh trong độ tuổi Huy động các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng, các công ty, xí nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia sự nghiệp GD THPT dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước
1.2.2 Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo nhu cầu phát triển xã hội”.[1]
Xét từ phương diện quản lý giáo dục theo hướng xã hội hoá thì có thể hiểu đây chính là quản lý xã hội hoá giáo dục Cơ chế của chương trình xã hội hoá giáo dục là cơ chế “mềm” theo xu hướng “mở” Quản lý xã hội hoá giáo dục cũng là một dạng quản lý linh hoạt, tuy nhiên vẫn phải tuân thủ những
Trang 26nguyên tắc nhất định theo hướng tôn trọng sự vận động của xã hội, hướng vào GD-ĐT nhưng vẫn đảm bảo đúng luật pháp của Nhà nước
Quản lý xã hội hoá giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động xã hội hoá, tạo hành lang để hoạt động xã hội hoá đi đúng quỹ đạo theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra
Quản lý xã hội hoá giáo dục có những cách làm khác nhau, cũng giúp cho công tác quản lý có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể Nếu quản lý theo phương pháp máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hoá, làm thui chột tính năng động của hoạt động xã hội hoá Nếu quản lý nghiêng về phương pháp dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy xã hội hoá vào những sai lầm, nhất là trong việc huy động các nguồn thu Quản lý xã hội hoá giáo dục đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho Giáo dục
- Đào tạo
Quản lý xã hội hoá giáo dục không hoàn toàn là công việc của ngành Giáo dục - Đào tạo Với chức năng nhà nước của mình, ngành GD - ĐT chủ yếu làm công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về giáo dục, chia sẻ khó khăn với giáo dục, cộng đồng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển GD -ĐT Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, ngành GD - ĐT trực tiếp chỉ đạo và quản lý hoạt động xã hội hoá trong các nhà trường, giúp cho công tác xã hội hoá đi đúng hướng và có kết quả cao
1.3 Mục tiêu, nội dung và phương thức xã hội hóa giáo dục
1.3.1 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục
Mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của XHHGD được khẳng định tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 - khoá VIII, ngày 14 tháng 1
năm 1993: “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân
Trang 27dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”.
Mục tiêu đó được thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:
Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của GD -
ĐT trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói chung, cũng như trong phát triển KT - XH của mỗi địa phương, mỗi gia đình và toàn cộng đồng Trên cơ sở đó hình thành hệ tư tưởng xã hội về GD - ĐT theo quan điểm, đường lối của Đảng, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là tạo nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, trước hết là nguồn nhân lực con người Giáo dục không còn bó hẹp trong thế đơn độc của nhà trường mà có sự cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt trong giáo dục đạo đức và rèn luyện ý thức công dân cho học sinh
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là nhằm thực hiện phương châm giáo dục cho mọi người Trên cơ sở khai thác và phát huy tối đa các điều kiện và khả năng đáp ứng của xã hội cho giáo dục, vận động mọi thành viên trong cộng đồng, không phân biệt thành phần, lứa tuổi, vùng miền tham gia học tập; học ở nhà trường, học ở gia đình, học ở ngoài xã hội thông qua các hình thức chính quy, không chính quy nhằm đáp ứng yêu cầu: học để biết, học để làm, học để chung sống, để xây dựng sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đồng thời là chủ trương và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả cuộc vận động dân chủ hoá trong GD - ĐT Khi
mà giáo dục không còn bó hẹp trong giới hạn trách nhiệm của nhà trường, vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tổ chức quần chúng khác có ảnh hưởng nhất định đối với giáo dục, thì sự tham gia quản lý của các
tổ chức đoàn thể quần chúng, các lực lượng xã hội sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh không khí dân chủ trong giáo dục, tạo thêm động lực đổ nâng cao chất lượng
Trang 28giáo dục trong các nhà trường, những hạn chế, tiêu cực trong giáo dục cũng
được hạn chế, môi trường giáo dục trở nên lành mạnh và trong sạch hơn
1.3.2 Nội dung xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa sự nghiệp giáo dục bao gồm nhiều nội dung, nhưng có thể khái quát bằng 5 nội dung cơ bản:
- Giáo dục cho mọi người: Là các hình thức, nội dung, giải pháp tuyên
truyền vận động toàn dân tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời, học bằng mọi hình thức, học để trang bị những tri thức cần thiết cho cuộc sống, để làm việc tốt hơn, tạo ra khả năng thu nhập cao hơn, đảm bảo có cuộc sống tốt đẹp hơn và tham gia vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, đất nước Như vậy, giáo dục cho mọi người là tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong cộng đồng xã hội, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập
- Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh: Là xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh mà
mỗi người đều tự ý thức và xác định được trách nhiệm của mình trong việc tham gia, chăm sóc, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước; xóa bỏ quan niệm cho rằng việc đào tạo con người là thuộc trách nhiệm của nhà trường, của đội ngũ những người thầy Huy động cộng đồng tham gia phát triển giáo dục thực chất là thực hiện tốt nguyên lý 3 môi trường giáo dục: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo lập một không gian khép kín trong hoạt động giáo dục
- Đa dạng hóa loại hình: Là mở rộng các loại hình trường lớp, các hình
thức đào tạo, hình thức học tập Bên cạnh hệ thống trường học công lập được xây dựng và phát triển ổn định gần một nửa thế kỷ qua, phát triển thêm các loại hình trường ngoài công lập, bao gồm trường bán công, dân lập, tư thục ở tất cả các ngành học, bậc học, từ giáo dục Mầm non đến Cao đẳng và Đại học
Trang 29Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của xã hội, đa dạng hóa loại hình trường lớp còn là việc hình thành hệ thống các trung tâm, bao gồm các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên ngành (ngoại ngữ, tin học, điện tử viễn thông ), đặc biệt gần đây
là sự ra đời của các trung tâm học tập cộng đồng cấp xã, phường Đa dạng hóa loại hình trường lớp cũng có nghĩa là đa dạng hóa các hình thức học tập của người học: học theo hình thức chính quy, tập trung, học bổ túc, tại chức, học
từ xa, học theo nhóm chuyên đề
- Đa dạng hóa nguồn lực: Là việc mở rộng nguồn đầu tư cho phát triển
giáo dục Bên cạnh nguồn ngân sách chủ yếu của Nhà nước, giáo dục có thể tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ của các cơ quan kinh tế, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các cá nhân và cả cộng đồng về nhân lực, vật lực, tài lực, góp phần xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, cung cấp trang thiết bị phục vụ dạy
và học Mặt khác, đa phương hóa nguồn lực còn là việc thu hút sự tham gia công tác, quản lý của một bộ phận lao động không nhỏ bao gồm các nhà quản
lý giáo dục, các thầy cô giáo đã nghỉ hưu, các nhà đầu tư xây dựng bầu không khí dân chủ, năng động và hiệu quả trong các lĩnh vực hoạt động của giáo dục Nguồn lực tài chính theo hướng đa phương hóa có thể được phân loại như sau:
- Nguồn ngân sách của Nhà nước;
- Nguồn ngân sách của địa phương;
- Nguồn đóng góp của cha mẹ học sinh và người học;
- Nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất;
- Nguồn đóng góp của các tổ chức phi Chính phủ;
- Nguồn tài chính của cá nhân đầu tư cho giáo dục;
- Nguồn đóng góp của các nhà từ thiện, các nhà hảo tâm, các tôn giáo;
Trang 30- Nguồn đóng góp từ các hiệp hội thông qua các quỹ học bổng
- Thể chế hóa chính sách: Là xây dựng hệ thống các văn bản pháp quy
về mọi lĩnh vực liên quan đến Giáo dục- Đào tạo, bao gồm các Nghị quyết, Chỉ thị, Nghị định, Điều lệ, Quy chế, Quyết định của Đảng và Nhà nước, của địa phương Hệ thống văn bản này chính là hành lang pháp lý, là những trụ cột để GD&ĐT phát triển Hệ thống chính sách phải mang tính đồng bộ, khoa học, tránh chồng chéo giữa văn bản trước với văn bản sau, giữa chính sách của Nhà nước với chính sách của địa phương.Chính sách về xã hội hóa
sự nghiệp giáo dục cũng cần thiết phải có quy định cụ thể của Nhà nước nhằm tránh những cách làm tùy tiện, lợi dụng, dẫn đến những vi phạm, nhất là trong việc huy động các nguồn lực tài chính
1.3.3 Phương thức xã hội hóa giáo dục
Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục thực chất là nhằm xoá bỏ mọi hình thức áp đặt của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, khơi dậy tính năng động, sáng tạo, khơi dậy nguồn nội lực to lớn tiềm tàng trong mọi tầng lớp nhân dân để đẩy mạnh sự phát triển của Giáo dục - Đào tạo trong thời kỳ mới; là để phá vỡ thế đơn độc của giáo dục Vì vậy phương thức của xã hội hoá giáo dục là rộng mở, linh hoạt và sáng tạo, có 6 hướng đi cơ bản để thực hiện xã hội hoá giáo dục:
Dân chủ hoá quá trình tổ chức và quản lý: Đây là phương thức cơ bản
để thực hiện xã hội hoá nhằm biến hệ thống giáo dục và trường học như một thiết chế hành chính thành một thiết chế giáo dục hoàn toàn là của dân, do dân
và vì dân Dân chủ hoá là xoá bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống trường học nói riêng, tạo điều kiện để tất cả mọi người có
cơ hội nắm bắt những thông tin trong giáo dục, tham gia ý kiến, đóng góp công sức và tiền của vào sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục Dân chủ hoá giáo dục trước hết phải được thể hiện trong việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển giáo dục Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ cũng
Trang 31như hệ thống lãnh đạo quản lý từ Trung ương đến địa phương phải thực sự phát huy dân chủ, tập trung trí tuệ để xây dựng chiến lược quốc gia về GD-
ĐT Trên cơ sở đó hình thành các bước đi cho phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, từng giai đoạn lịch sử cụ thể Dân chủ hoá giáo dục ở các nhà trường thể hiện trong quá trình công khai hoá các mục tiêu, chương trình, giải pháp thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường; là quá trình thu hút sự tham gia quản lý và thực hiện các nội dung công tác của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng, hội cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác đối với sự phát triển của mỗi trường học Dân chủ hoá còn thể hiện ngay trong việc thực hiện và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của học sinh Học sinh không chỉ là đối tượng đánh giá, xếp loại của giáo dục mà thường xuyên cũng phải được tham gia vào các hoạt động quản lý, nhất là hoạt động tự quản, được tham gia đóng góp ý kiến đối với người dạy bằng nhiều hình thức, nhằm tác động trở lại để góp phần hoàn chỉnh chu trình dạy và học
Đa dạng hoá Giáo dục - Đào tạo: Đa dạng hoá giáo dục trước kết là đa
dạng hoá mục tiêu đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực phong phú và đa dạng cho các thành phần kinh tế Đa dạng hoá giáo dục là đa dạng hoá loại hình trường lớp, hình thức đào tạo mà bản chất của nó là đa dạng hoá nguồn đầu tư cho giáo dục Mục tiêu của lĩnh vực này là vừa mở rộng cánh cửa trường học, tạo nhiều cơ hội học tập cho nhân dân, vừa huy động được nhiều nguồn lực tham gia vào quá trình đẩy nhanh sự phát triển giáo dục, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới Mô hình trường lớp hiện nay không chỉ thu hẹp trong một kiểu trường công lập như trước đây mà được bổ sung nhiều loại trường như trường dân lập, tư thục, bán công, các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề Đặc biệt mô hình trung tâm học tập cộng đồng đang hình thành và phát
Trang 32triển ở các địa phương, tạo mọi điều kiện để người lao động được học tập Hình thức đào tạo hiện nay cũng rất đa dạng và linh hoạt Tuỳ theo khả năng
và điều kiện của người học, họ có thể tham gia theo các chương trình đào tạo chính quy, tại chức, đào tạo từ xa, chương trình ngắn hạn, dài hạn
Xây dựng và phát triển các tổ chức khuyến học: Khuyến học là một con
đường khá hiệu quả của xã hội hoá giáo dục Thông qua các hình thức khuyến học, người học được động viên bằng cả tinh thần và vật chất, từ đó củng cố thêm ý chí và động cơ học tập Phong trào hiến đất xây trường ở các tỉnh phía Nam, phong trào quyên góp xây dựng và ghi tên, gắn biển công trình trường học ở các tỉnh phía Bắc, các hình thức phân công tổ chức đoàn thể xã hội đỡ đầu, chăm lo xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm xanh - sạch - đẹp, vận động con em nhân dân đi học để thực hiện phổ cập, xoá mù chữ ở nhiều địa phương là hình thức khuyến học rất hiệu quả
Xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của 3 môi trường giáo dục: Nguyên
lý giáo dục của mọi quốc gia đều khẳng định: muốn phát triển giáo dục phải xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của 3 môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội Môi trường giáo dục nhà trường là môi trường trung tâm, chính yếu để xây dựng và phát triển nhân cách con người Sự tác động và chi phối toàn diện của nhà trường từ môi trường cảnh quan, nề nếp
kỷ cương, không khí vui chơi đến việc học tập, rèn luyện, tu dưỡng cũng như các hành vi ứng xử, quan hệ, tình cảm thầy trò, bạn bè thường để lại trong cuộc đời học trò những dấu ấn đậm nét, khó phai nhạt Tạo được môi trường giáo dục nhà trường tốt, học sinh sẽ được thụ hưởng những giá trị văn hoá đẹp đẽ, giàu tính nhân văn, tạo nền tảng cho quá trình định hình nhân cách về sau Môi trường giáo dục gia đình là nhân tố quan trọng, trực tiếp tác động tới hành vi đạo đức của học sinh Nếp sống gia đình, bao gồm văn hoá giao tiếp, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình và cộng
Trang 33đồng có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Môi trường giáo dục gia đình tốt là cơ sở giúp cho học sinh khi tiếp xúc với môi trường xã hội sẽ nhanh chóng hoà nhập và nắm bắt tri thức một cách
có hiệu quả Giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là hai môi trường giáo dục gần nhau có mối quan hệ hữu cơ, tương tác và ảnh hưởng trực tiếp, tích cực đến chất lượng giáo dục Môi trường giáo dục xã hội có tính phức tạp hơn
vì xã hội là sự tổng hoà các mối quan hệ
Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp: Tổ chức Đại hội giáo dục các cấp là một chủ trương mới do Bộ Giáo dục- Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam khởi xướng từ tháng 10 năm 1990 bằng Thông tư liên tịch số 35/TTLT, trong đó nêu rõ “Đại hội giáo dục tổ chức theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân và tổ chức vào năm học đầu tiên của nhiệm kỳ” đó nhằm:
- Cụ thể hoá mục tiêu đào tạo, nguyên lý giáo dục của Đảng và kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà nước vào mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây đựng
kế hoạch của các nhà trường trên địa bàn; động viên được sức mạnh tổng hợp của nhà trường - gia đình - xã hội để chăm lo việc học tập, giáo dục đạo đức, lao động, hướng nghiệp cho học sinh, xây dựng cơ sở vật chất, tôn tạo cảnh quan môi trường sư phạm, chăm lo đời sống cán bộ, giáo viên
- Tạo ra động lực khích lệ tinh thần lao động của đội ngũ trí thức ngành
GD - ĐT, khuyến khích tính hiếu học, động viên học sinh chăm ngoan học giỏi, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế của địa phương
- Củng cố hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường học:
Ban đại diện cha mẹ học sinh là một tổ chức quần chúng đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức của các nhà trường Thông qua hoạt động của Ban đại
Trang 34diện, các trường học không chỉ nhận được sự tham gia vào các lĩnh vực giáo dục của cha mẹ học sinh, đặc biệt là giáo dục đạo đức, xây dựng và hoàn thiện nhân cách học sinh mà còn được Ban đại diện cha mẹ học sinh tham gia vào công tác quản lý nhà trường, cùng chia sẻ gánh nặng với nhà trường trong việc đầu tư trang bị thêm cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ dạy và học
1.3.4 Vai trò của các lực lượng giáo dục trong XHHGD trường THPT
a) Bản chất của xã hội hoá giáo dục
Bản chất của xã hội hóa giáo dục thể hiện ở tính xã hội của giáo dục, bởi lẽ giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người Triết học Mác - Lênin đã khẳng định: Trong quá trình tồn tại, con người bao giờ cũng cải tạo tự nhiên, chinh phục tự nhiên để tự nhiên phục vụ cho mình, đồng thời con người cũng nhận thức chính mình, cải tạo chính mình và chinh phục chính mình để phục vụ cho mình Con người luôn sống trong các hoàn cảnh
xã hội nhất định và khi nói đến con người, tức là phải xem đó là con người
-xã hội
Trong quá trình phát triển của xã hội, giáo dục là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, là hạt nhân của mọi sự phát triển Điều này có nghĩa là không thể tách rời giáo dục ra khỏi xã hội, hay nói cách khác, không có giáo dục đứng ngoài xã hội, không có xã hội nào phát triển không gắn liền với vai trò lịch sử của một nền giáo dục
Sự tồn tại của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế -xã hội và ngược lại Điều này phản ánh tính chất xã hội của giáo dục Giáo dục mang bản chất xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò của giáo dục càng lớn
Tuy nhiên, tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa giáo dục không phải là một Bởi lẽ tự thân hoạt động giáo dục luôn có tính chất xã hội nhưng nếu biết phát huy tính chất xã hội trong giáo dục thì giáo dục sẽ phát triển
Trang 35nhanh và ảnh hưởng mạnh mẽ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Ở nước ta hiện nay, trung bình bốn người dân có một người đi học, gia đình nào cũng có người đi học Những tác động của việc học hành thường xuyên ảnh hưởng vào đời sống xã hội, đời sống của mỗi gia đình
Theo quan niệm của Mác “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, nhân cách con người hình thành dưới tác động của các mối quan hệ xã hội và thông qua các hoạt động giáo dục Đó là một căn cứ khoa học để chứng minh rằng xã hội hóa giáo dục là việc làm thích hợp để trả lại cho giáo dục bản chất xã hội sâu sắc vốn có của nó
b) Đặc trưng của xã hội hoá giáo dục
Giáo dục THPT là cấp học rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cấp học tiền đề nền móng khẳng định cho sự phát triển nhân cách, khả năng năng lực nghề nghiệp để các em bước vào cuộc sống và trở thành một nguồn lực cho xã hội Việc chú trọng đầu tư, tác động tích cực cho THPT phát triển là trách nhiệm của toàn xã hội, cụ thể là của các cấp chính quyền, của ngành giáo dục và các ngành liên quan, mọi gia đình, phụ huynh học sinh thực hiện xã hội hoá THPT dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước
Đặc trưng của xã hội hoá THPT là các cấp chính quyền phải có chủ trương thể hiện trong chương trình hành động cùng với cơ cấu chính sách tạo điều kiện cho xã hội hoá giáo dục bậc học phát triển Nói một cách hình tượng
là có một “cơ chế mở” để cho THPT đa dạng hoá các loại hình, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục trung học Tuy nhiên cơ chế mở đó phải được đạt trong sự quản lý của nhà nước bằng Luật
và các quy định cụ thể rõ ràng, trên cơ sở đó kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện
Một đặc trưng nữa của xã hội hoá giáo dục THPT là phân luồng mạnh
mẽ và định hướng nghề nghiệp cho học sinh dưới tác động của nhu cầu nguồn
Trang 36nhân lực cho sự phát triển của xã hội Hoạt động xã hội hoá giáo dục THPT đặc trưng trên các khía cạnh: cộng đồng trách nhiệm, đa dạng hoá các loại hình giáo dục THPT, đa dạng hoá thu hút các nguồn lực cho giáo dục THPT, thể chế hoá các quy định chế tài với nghĩa vụ trách nhiệm của các lực lượng
xã hội đối với việc tham gia giáo dục THPT
c) Vai trò của Xã hội hóa giáo dục trường THPT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT
Trong điều kiện đất nước đang mở cửa hội nhập đòi hỏi giáo dục THPT phải đổi mới để tạo tiền đề đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội Nhờ xã hội hoá giáo dục THPT mà cộng đồng có thể tham gia vào việc thực hiện các mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương và cá nhân, việc xã hội hoá
ở nhiều phương diện tác động tích cực cho hoạt động của các trường THPT tạo thành môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh, đa dạng và phong phú
Việc xã hội hoá giáo dục THPT còn làm giảm tải sức nặng kinh phí đè lên vai ngân sách Nhà nước Việc xã hội hoá giáo dục THPT còn tạo ra thế cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục Nhờ vậy mà chất lượng giáo dục được cải thiện Thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hoá giáo dục THPT còn góp phần tạo ra sự công bằng và dân chủ trong giáo dục, mọi người dân đều tham gia giáo dục và được biết về giáo dục thông qua đáp ứng và thoả mãn nhu cầu học tập của chính con em họ
Tóm lại, xã hội hóa giáo dục THPT là làm cho hoạt động giáo dục của bậc học mang tính phổ biến đại chúng và hiệu quả hơn dưới tác động của xã hội hoá giáo dục Huy động được mọi tiềm năng của xã hội về nhân lực, vật lực, tài chính giáo dục trong sạch lành mạnh, phong phú Xã hội hoá THPT tạo tiền đề cho phát triển nguồn nhân lực và là xu thế tất yếu của sự phát triển giáo dục nói riêng cũng như phát triển xã hội nói chung
Trang 37Các lực lượng giáo dục có vai trò rất quan trọng trong công tác xã hội hóa giáo dục nói chung và xã hội hóa giáo dục THPT nói riêng Chính các lực lượng giáo dục đã tạo ra môi trường giáo dục, nơi hình thành và hoàn thiện nhân cách của thế hệ trẻ
Gia đình (trong trường hợp bình thường) là nơi đầu tiên diễn ra quá trình xã hội hóa và có ảnh hưởng lâu dài tới nhân cách trong cuộc sống con người Gia đình là tế bào của xã hội, đảm bảo cho sự bền vững của cơ cấu xã hội Gia đình là một môi trường chính yếu hình thành và phát triển nhân cách con người Làm cho mỗi gia đình hiểu về tài sản vô giá của mình để lại cho con cái là tri thức thông qua giáo dục Do đó tạo điều kiện cho con đến trường, chăm lo sự học hành ở nhà cho con cái và đóng góp trong điều kiện
có thể xây dựng giáo dục địa phương Huy động cộng đồng tham gia công tác
xã hội hóa giáo dục THPT trước hết phải khơi dậy truyền thống hiếu học của dân tộc, của xã, thôn và của mỗi dòng họ, gia đình trong học tập của con cái Phải làm cho mỗi người thấy được trách nhiệm và quyền lợi đó
Nhà trường là môi trường văn hóa giáo dục của địa phương, nơi trực tiếp tiến hành công tác giáo dục và phối hợp với các môi trường gia đình và
xã hội để làm công tác giáo dục các lực lượng xã hội chăm lo xây dựng môi
trường nhà trường từ cảnh quan nhà trường, cơ sở hạ tầng, nề nếp kỷ cương, không khí học tập, niềm vui của học sinh đến trường, quan hệ lành mạnh, trong sáng, tình cảm “tất cả vì học sinh thân yêu” kính thầy, yêu bạn ngược lại nhà trường cũng là nơi tiếp nhận sự tham gia giám sát, đánh giá của gia đình và xã hội về chất lượng giáo dục và môi trường sư phạm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Môi trường xã hội có tác động rất lớn đến thế hệ trẻ Ở nước ta hiện nay, xã hội đang có rất nhiều biến động, cần khai thác mặt tốt của môi trường
xã hội Tuy nhiên cần hạn chế các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, các
Trang 38tệ nạn tham nhũng, bạo lực và các sinh hoạt thiếu lành mạnh những mặt không thuận lợi cho việc giáo dục thế hệ trẻ Cần phải huy động toàn xã hội,
từ tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể đến cá nhân tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh
Phát triển kinh tế xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống, đề cao giá trị xã hội chân chính, xây dựng nếp sống văn minh, tạo dư luận đúng đắn về giá trị học vấn, về động cơ thái độ học tập Sự phối hợp trên không đơn thuần là một hành động hỗ trợ nhất thời mà phải được xác định trong một môi trường dài hạn, được xây dựng trên cơ sở chiến lược con người nói chung và mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục nói riêng trên một địa bàn dân cư nhất định Sự huy động các lực lượng xã hội sẽ tạo được môi trường xã hội cần thiết cho công tác xã hội hóa giáo dục
1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục THPT
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù nền cộng hòa còn trong trứng nước với thù trong, giặc ngoài, song Đảng và Nhà nước, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý ngay đến việc xây dựng một nền giáo dục cách mạng, Người nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người kêu gọi
“Toàn dân tham gia diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết ai cũng phải học” Người xác định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước nhà là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ” Ngày 03 tháng 9 năm 1946, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về nhiệm vụ công tác giáo dục ở miền núi đã chỉ rõ phương châm “Thầy tìm trò, trường gần dân, quy mô nhỏ, Nhà nước và nhân dân phối hợp quyết tâm mở rộng cánh cửa nhà trường xã hội chủ nghĩa cho các dân tộc”
Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ nhất và xác định “Tính chất của nền giáo dục mới của ta là một
Trang 39nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng”
Văn kiện Hội nghị lần thứ 12 của Ban chấp hành Trung ương khóa II, tháng 3 năm 1957 về giáo dục đã khẳng định: “Lấy việc nâng cao chất lượng giáo dục làm chính, phải kết hợp và phục vụ sản xuất, phục vụ xây dựng kinh
tế quốc dân Chú ý dựa vào dân mà phát huy công tác giáo dục”
Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số NQ/TW về cải cách giáo dục đã xác định phương châm “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các
14-cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa VII đã nhấn mạnh
“Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hóa các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là
sự nghiệp của toàn xã hội”
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, xã hội hóa được Đảng ta xác định là cơ sở để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức
xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”
Trên tinh thần ấy, văn kiện Đại hội Đảng VIII về Giáo dục - Đào tạo đã nêu: “Cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa
sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, trước hết là vấn đề đầu tư phát triển và đảm bảo kinh phí hoạt động Ngoài ngân sách dành một tỷ lệ thích đáng cho sự phát triển Giáo dục - Đào tạo, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng,
Trang 40các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước, đi đôi với việc
sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho Giáo dục –Đào tạo Những doanh nghiệp sử dụng người lao động được đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào cho ngân sách Giáo dục - Đào tạo Đổi mới chế độ học phí phù hợp với sự phân tầng trong xã hội, loại bỏ những đóng góp không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục, đồng thời cải thiện điều kiện học tập cho học sinh nghèo”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn Nhà nước và của toàn dân Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời Phê phán thói lười học Mọi người phải chăm lo cho giáo dục Các cấp ủy và tổ chức kinh tế
xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể” “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân Kết hợp tốt giáo dục học đường và giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh Người lớn làm gương cho trẻ noi theo Phát động vai trò rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường, lớp và tự học suốt đời Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục
và các loại hình phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội ”[19]
Nghị quyết 90/NQ-CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục y tế, văn hóa Nội dung xã hội hóa giáo dục trong Nghị quyết bao gồm 5 nội dung chủ yếu: [11]
- Giáo dục hoá xã hội: Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn
xã hội; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động