Làm thế nào để nâng cao nhận thức về trách nhiệm của các tổ chức xã hội nhằm giúp nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện cho 100% trẻ được tới lớp, tới trường đúng độ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC _
TRẦN THỊ KIM TUYẾN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC _
TRẦN THỊ KIM TUYẾN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết
HÀ NỘI – 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Giáo dục – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Tuyết đã tận tình và hết lòng giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn Sở Giáo dục& Đào tạo tỉnh Hà Nam, Phòng Giáo dục & Đào tạo thành phố Phủ Lý, đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, dù đã rất cố gắng, song luận văn này vẫn còn nhiều thiếu sót, tác giả mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Kim Tuyến
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH- BHYT Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế
Trang 5UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt ii
Mục lục iv
Danh mục bảng viii
Danh mục sơ đồ và biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Khái niệm quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 14
1.2.3 Quản lý nhà trường 15
1.2.4 Xã hội hoá 17
1.2.5 Xã hội hoá giáo dục 17
1.2.6 Xã hội hóa giáo dục mầm non 19
1.2.7 Quản lý xã hội hóa giáo dục 21
1.2.8 Quản lý XHH giáo dục mầm non 22
1.2.9 Biện pháp quản lý công tác XHHGDMN 23
1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của trường Mầm non 23
1.4 Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục của trường Mầm non 24
1.4.1 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD 24
1.4.2 Vai trò của công tác XHHGDMN trong giai đoạn hiện nay 26
1.4.3 Bản chất xã hội hoá giáo dục mầm non 27
1.4.4 Đặc điểm quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non 27
1.4.5 Nguyên tắc quản lý công tác xã hội hóa giáo dục 28
1.4.6 Nội dung xã hội hóa giáo dục mầm non 29
1.4.7 Con đường thực hiện xã hội hoá giáo dục Mầm non: 30
Trang 71.5 Nội dung công tác quản lý xã hội hóa giáo dục của Ban lãnh đạo trường Mầm
non 31
1.5.1 Quản lý nâng cao nhận thức của các lực lượng xã hội trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non 32
1.5.2 Quản lý việc huy động toàn xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục thuận lợi cho giáo dục mầm non 32
1.5.3 Quản lý về huy động tiềm năng của cộng đồng xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục mầm non 32
1.5.4 Quản lý việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hoá các hình thức học tập và các loại hình giáo dục mầm non 32
1.5.5 Quản lý phát huy tác dụng của trường Mầm non vào đời sống cộng đồng 33
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác XHHGD ở trường Mầm non 33
1.6.1 Các yếu tố khách quan 33
1.6.2 Các yếu tố chủ quan 33
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM 35
2.1 Khái quát về thành phố Phủ Lý 35
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 35
2.1.3 Tình hình phát triển Giáo dục và Đào tạo thành phố Phủ Lý 36
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 39
2.2.1 Mục đích khảo sát 39
2.2.2 Nội dung khảo sát 39
2.2.3 Phương pháp khảo sát 39
2.2.4 Đối tượng khảo sát 40
2.2.5 Xử lý kết quả 40
2.3 Khái quát về trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 41
2.3.1 Quy mô số lớp học, quy mô học sinh của trường Mầm non Hai Bà Trưng 41
2.3.2 Quy mô đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của trường Mầm non Hai Bà Trưng 42
Trang 82.3.3 Quy mô về cơ sở vật chất của trường Mầm non Hai Bà Trưng 43
2.3.4 Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ của trường Mầm non Hai Bà Trưng 44
2.3.5 Tình hình tài chính chi cho giáo dục mầm non của trường Mầm non Hai Bà Trưng 45
2.4 Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 46
2.5 Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 48
2.5.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 48
2.5.2 Tổ chức chỉ đạo và triển khai thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 49
2.5.3 Thực trạng quản lý các nguồn lực tham gia xã hội hóa giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 51
2.5.4 Thực trạng thực hiện các nguyên tắc quản lý XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 53
2.5.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá các hoạt động xã hội hóa giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 54
2.6 Đánh giá thực trạng hiệu quả thực hiện các biện pháp quản lý công tác XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 56
2.7 Đánh giá chung 58
2.7.1 Ưu điểm 58
2.7.2 Hạn chế, tồn tại 59
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRƯỜNG MẦM NON HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM 63
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 63
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 63
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 63
Trang 93.2 Một số biện pháp quản lý công tác XHHGDMN trường Mầm non Hai Bà
Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam 64
3.2.1 Biện pháp 1: Quản lý tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGDMN 64
3.2.2 Biện pháp 2: Quản lý việc huy động tích cực sự đóng góp của các lực lượng XH nhằm tăng cường nguồn lực cho nhà trường 67
3.2.3 Biện pháp 3: Quản lý sự phối hợp 3 môi trường giáo dục: Nhà trường -gia đình - xã hội 69
3.2.4 Biện pháp 4: Quản lý đổi mới phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ quản lý trong nhà trường về công tác XHHGDMN 72
3.2.5 Biện pháp 5: Quản lý việc thực hiện dân chủ hóa, xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường 74
3.2.6 Biện pháp 6: Quản lý nâng cao kỹ năng thực hiện XHHGD cho các lực lượng trong và ngoài nhà trường 77
3.2.7 Biện pháp 7: Quản lý tốt việc thực hiện công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương và PGD về việc ban hành và ủng hộ thực hiện chủ trương XHHGDMN 80
3.3 Quan hệ giữa các biện pháp 82
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 83
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 83
3.4.2 Các bước tiến hành khảo nghiệm 83
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 83
3.4.4 Nhận xét 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 98
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô số lớp học, số trẻ của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03
năm học (2013 - 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 42
Bảng 2.2 Quy mô đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013-2014, 2014-2015, 2015-2016) 43
Bảng 2.3 Quy mô về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013 - 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 43
Bảng 2.4 Tình hình tài chính chi cho giáo dục mầm non của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013-2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 45
Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ nhận thức về công tác XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 46
Bảng 2.6 Thực trạng công tác lập kế hoạch hoạt động XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 48
Bảng 2.7 Thực trạng triển khai công tác XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 50
Bảng 2.8 Đánh giá các đối tượng tham gia thực hiện công tác XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý 52
Bảng 2.9 Đánh giá thực hiện các nguyên tắc quản lý XHHGD tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 53
Bảng 2.10 Thực trạng kiểm tra, đánh giá các hoạt động xã hội hóa 55
giáo dục tại trường Mầm non Hai Bà Trưng 55
Bảng 2.11 Thực trạng nhận thức mức độ cần thiết các biện pháp quản lý 56
Bảng 2.12.Thực trạng nhận thức mức độ thực hiện các biện pháp quản lý 57
Bảng 3.1: Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý công tác XHHGDMN 83
Bảng 3.2: Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý công tác XHHGDMN 85
Bảng 3.3: Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý công tác XHHGDMN 87
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý 14 Biểu đồ 2.1: Quy mô số lớp học, số trẻ của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013 - 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 42 Biểu đồ 2.2: Chất lượng chăm sóc trẻ của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013 - 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 44 Biểu đồ 2.3: Chất lượng giáo dục trẻ của trường Mầm non Hai Bà Trưng trong 03 năm học (2013 - 2014, 2014 - 2015, 2015 - 2016) 44
Trang 12sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Muốn đạt được mục tiêu trên thì phải bắt đầu
từ việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Do đó, giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác giáo dục thì mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả Hay nói một cách khác, mỗi quốc gia cần làm tốt công tác XHHGD thì mới huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham gia làm giáo dục, đồng thời được hưởng lợi ích từ giáo dục
Hiện nay XHHGD đang là vấn đề được quan tâm của Đảng và Nhà nước
và cũng là chủ đề được bàn luận đến nhiều trong sự nghiệp phát triển giáo dục Điều
12 của Luật giáo dục đã nêu “Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục” Theo tinh thần của
Luật, công tác phát triển GDMN, cụ thể là các trường mầm non phải gắn chặt với công tác vận động mọi lực lượng trong xã hội vào việc chăm sóc giáo dục trẻ, coi
đó là mục tiêu, là sức mạnh để góp phần phát triển GDMN một cách căn bản và có chất lượng Như vậy, muốn nâng cao chất lượng GDMN thì các trường mầm non phải có biện pháp quản lý công tác XHHGD để huy động mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục
Nhận thức rõ tầm quan trọng của XHHGD đối với sự phát triển đi lên của đất nước, lợi ích, quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong xã hội đối với
sự nghiệp phát triển giáo dục, XHH GD&ĐT đã được nhiều cơ sở giáo dục quan tâm thực hiện trong thời gian vừa qua Nhưng mục tiêu, nội dung XHHGD cũng như công tác QLXHHGD phải được hiểu như thế nào? Các biện pháp tổ chức XHHGD cũng như công tác QLXHHGD ở các bậc học, ngành học trong hệ thống
Trang 13giáo dục quốc dân phải được tiến hành ra sao? Nội dung và tính chất của các biện pháp tổ chức và quản lý trong thực tiễn ? Các vấn đề trên nếu được lý giải một cách khách quan, khoa học thì không những làm sáng tỏ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD mà còn góp phần giúp các tổ chức
cơ sở Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể quần chúng, các cơ sở giáo dục có định hướng phát triển XHHGD và QLXHHGD có hiệu quả
Quán triệt tư tưởng xã hội hoá giáo dục được định hướng từ các Nghị quyết Đại hội Đảng những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Phủ Lý, công tác XHHGD trên địa bàn thành phố được tiến hành tích cực với nhiều hình thức phong phú, cùng với việc vận động xã hội đóng góp nhân lực, vật lực, huy động các nguồn đầu tư cho giáo dục Đặc biệt là bậc học Mầm non thực hiện mở rộng, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, gắn kết giáo dục nhà trường với cộng đồng xã hội để huy động học sinh đến trường lớp Do vậy, sự nghiệp GDMN của thành phố Phủ Lý cũng đã thu được những thành tựu đáng tự hào về sự phát triển quy mô, số lượng và chất lượng giáo dục và đào tạo
Tuy nhiên, việc thực hiện XHHGDMN ở thành phố Phủ Lý vẫn còn gặp không ít khó khăn Không ít quan niệm đã cho rằng nội dung chính của XHHGD là huy động kinh phí trong nhân dân hoặc có nơi quan niệm XHHGD là để dân lo đó chính là dẫn đến việc đầu tư nguồn lực cho phát triển giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, đồ dùng đồ chơi theo quy định so với thông tư 01/cá nhân trẻ còn thiếu rất nhiều
Trong quá trình công tác ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ
Lý, tôi nhận thấy hoạt động quản lý công tác XHHGDMN còn thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả Chính vì những lý do đó tôi rất băn khoăn và trăn trở một vấn đề là làm thế nào để khắc phục được sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, huy động các nguồn lực xây dựng và phát triển nhà trường? Làm thế nào để nâng cao nhận thức về trách nhiệm của các tổ chức xã hội nhằm giúp nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện cho 100% trẻ được tới lớp, tới trường đúng độ tuổi, và được học theo chương trình phát triển của độ tuổi, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường?
Xuất phát từ lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Biện pháp quản lý công tác xã hội
Trang 14hóa giáo dục trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và đánh giá thực trạng việc quản
lý công tác XHHGD ở trường Mầm non Hai Bà Trưng, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác XHHGD ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận, XHHGD và quản lý công tác XHHGD
3.2 Khảo sát, phân tích thực trạng XHHGD và công tác quản lý XHHGD ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác XHHGDMN ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam; khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đưa ra
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác xã hội hoá giáo dục ở trường Mầm non
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
5 Giả thuyết khoa học
Hiện tại, ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
đã áp dụng một số biện pháp quản lý nhằm thực hiện chủ trương XHHGDMN, tuy nhiên, các biện pháp quản lý này chưa phát huy hết các khả năng xã hội đóng góp cho sự nghiệp phát triển GDMN trong nhà trường Do vậy, nếu đề xuất được những biện pháp quản lý công tác XHHGDMN phù hợp và khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ mầm non ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và góp phần đổi
mới giáo dục và đào tạo trong thời gian tới
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu:
Trang 15Nghiên cứu thực trạng về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam trong thời gian 3 năm gần đây (2013-2016)
6.2 Về địa bàn nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện ở trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ
Lý tỉnh Hà Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành với 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các vấn đề về lý luận cơ bản của đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác XHHGDMN trường Mầm non Hai
Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động XHHGD ở trường Mầm non Hai
Bà Trưng để thu thập số liệu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp Hiệu trưởng, CBQL, GV, NV nhà trường nhằm tìm hiểu kỹ thực trạng công tác XHHGDMN, quản lý XHHGDMN và đánh giá kết quả đạt được, xác định nguyên nhân của vấn đề
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở
để đánh giá thực trạng công tác XHHGDMN và quản lý XHHGD trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay Đối tượng khảo sát sẽ là CBQL, GV, NV, CMHS trong nhà trường và cán bộ quản lý địa phương
- Phương pháp chuyên gia: khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý XHHGD mầm non được đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin:
Sử dụng một số công thức toán học để xử lý kết quả khảo sát, điều tra
8 Cấu trúc luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác XHHGDMN
Trang 16- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác XHHGDMN ở trường Mầm non
Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
- Chương 3: Biện pháp quản lý công tác XHHGDMN trường Mầm non Hai
Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam
- Kết luận, khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC MẦM NON TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới đã coi phát triển giáo dục là Quốc sách hàng đầu và
đã đầu tư rất lớn cho giáo dục Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy XHHGD là cách làm giáo dục phổ biến ở các nước trên thế giới, kể cả những nước công nghiệp hiện đại, có nền kinh tế phát triển cao Tuy nhiên, thuật ngữ họ dùng
không phải là “Xã hội hoá giáo dục” mà là “Sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục” Rõ ràng là thuật ngữ này về mặt ngữ nghĩa đã thể hiện được nội dung cơ bản
của XHHGD
- Theo nghiên cứu của Trần Anh Phương [44], mục tiêu chính của cải cách giáo dục hiện nay ở Hàn Quốc là nhằm xây dựng một nền giáo dục mở, tạo cơ hội cho mọi người được học tập suốt đời Để đạt được mục tiêu này, Hàn Quốc đã xác định trách nhiệm cải cách, nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của riêng Bộ Giáo dục và Phát triển nhân lực mà là của cả bộ máy Chính phủ, là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi gia đình, mỗi công dân Riêng đối với GDMN: Trách nhiệm về GDMN ở Hàn Quốc đang được chuyển từ Chính phủ Trung ương sang các chính quyền địa phương, sang các công ty, các tổ chức xã hội và cha mẹ học sinh Cha mẹ chia sẻ những chi phí về giáo dục như là thức ăn cho trẻ và các chi phí phụ khác Hơn nữa cha mẹ trẻ em có yêu cầu cao hơn trong mối quan hệ liên quan đến giáo dục con cái họ Họ muốn con cái họ được giáo dục bởi những giáo viên có chất lượng, với những chương trình và thiết bị hiện đại Do vậy, cha mẹ và xã hội hướng tới các trường mẫu giáo bán công và tư nhân, những nơi họ cho rằng sẽ cung cấp được các dịch vụ GDMN có chất lượng Có thể nói, cuộc cải cách giáo dục lần này của Hàn Quốc là cuộc cải cách toàn diện, năng động, có quy mô lớn và được xã hội hóa cao nhất so với tất cả các cuộc cải cách giáo dục trước đây
- Nghiên cứu của Vụ Giáo dục Trung học - Bộ Giáo dục và Đào tạo [52] cho thấy Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống giáo dục thống nhất trên toàn quốc, chính phủ đóng vai trò là nhà đầu tư chính và các đối tác xã hội là các nhà đồng đầu
tư Bộ Giáo dục là cơ quan nắm quyền quản lý cao nhất, chịu trách nhiệm thực thi
Trang 18các văn bản luật liên quan, các quy định, các hướng dẫn và các chính sách của trung ương; lập kế hoạch phát triển ngành giáo dục; tích hợp và điều phối các sáng kiến
và chương trình giáo dục cấp quốc gia; hướng dẫn thực hiện cải cách giáo dục trên toàn quốc Chính quyền cấp tỉnh có vai trò xây dựng các kế hoạch, ban hành các quyết định và điều lệ liên quan trực tiếp đến địa phương, phân bổ các nguồn quỹ tới các địa khu, và quản lý một số trường trung học điểm Chính quyền cấp địa khu có vai trò phân bổ các nguồn quỹ đến các huyện, giám sát hoạt động giáo dục, giảng dạy và quản lý trường THPT, các trường sư phạm, các trường sư phạm tại chức, các trường nghề nông nghiệp, cùng với trường tiểu học và THCS điểm ở địa phương Chính quyền cấp huyện có vai trò quản lý các trường còn lại gồm THCS, tiểu học
và mẫu giáo Đặc biệt, giáo dục mẫu giáo được coi là một bộ phận của giáo dục XHCN Bộ Giáo dục và các Vụ Y tế đảm nhận trách nhiệm về chăm sóc sức khoẻ,
vệ sinh ở các nhà trẻ, còn vấn đề đào tạo cô nuôi dạy trẻ, quản lý nhà trẻ thì gắn với GDMN Nguồn kinh phí cho các nhà trẻ, trường mẫu giáo do Nhà nước, các tập thể doanh nghiệp và cha mẹ trẻ em cùng chịu trách nhiệm Việc quản lý có sự khác nhau, một số tỉnh nhà trẻ thuộc Vụ giáo dục, một số tỉnh khác lại do Hội phụ nữ quản lý Mẫu giáo nhận trẻ từ 3-6 tuổi, do Vụ giáo dục địa phương quản lý Chính sách nhận trẻ linh hoạt gắn với các loại hình mẫu giáo để đáp ứng điều kiện KT-XH
và đời sống của người lao động Trẻ em có thể học 3 năm, 2 năm, 1 năm, học bán trú, nội trú, có mẫu giáo nửa ngày hoặc chương trình linh hoạt theo vụ mùa ở nông thôn Ngoài ra, nhà nước mở ra hình thức không chính quy qua radio, ti vi cho cả trẻ
em và cha mẹ, gắn với giáo dục gia đình do Hội phụ nữ đảm nhiệm, phát triển sân chơi, thư viện với các sách đồ chơi, hình thức nhà trẻ -mẫu giáo chủ nhật do cha mẹ tình nguyện làm, khuyến khích các công ty, nhà xuất bản, doanh nhân tặng các sản phẩm hoặc tiền, giảm giá thuế,
Ở Nhật Bản, hệ thống giáo dục được chuẩn hóa và thống nhất trên cả nước với đa số là các trường công lập Đối với GDMN (dành cho trẻ từ 3 - 5 tuổi) là cấp học không bắt buộc Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích tăng cường mở rộng và phát triển nhà trẻ, mẫu giáo theo hướng XHH nhằm tạo điều kiện cho các
bà mẹ có thể yên tâm đi làm nên tỷ lệ trường Mầm non tư thục chiếm khá cao so với các cấp học khác (Trường Mầm non tư khoảng 58%, trường tiểu học tư chỉ có khoảng 1%)
Trang 19- Theo nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Toản [47], hệ thống giáo dục của
Mỹ rất đa dạng các loại hình trường lớp: Trường công, trường tư, trường bán công, các doanh nghiệp, công ty đại học, trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, giáo dục gia đình Ở Mỹ, trong GDMN không có các chương trình GDMN công lập do Chính phủ quản lý Chính phủ Liên bang chỉ có các chính sách trợ cấp cho các gia đình có thu nhập thấp để họ tự tìm kiếm nơi gửi con phù hợp
Đối với GDMN, quan điểm về GDMN và XHHGDMN ở các nước còn nhiều
ý kiến khác nhau, nhưng về phương thức, giải pháp thực hiện nhiệm vụ GDMN đều
có sự giống nhau cơ bản Đó là việc huy động mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức
xã hội, cá nhân cùng với nhà nước thực hiện các quá trình giáo dục, là việc huy động nhiều nguồn vốn, đa dạng hoá nhiều loại hình GDMN Có thể nói, xu thế XHHGDMN, tăng cường các nguồn đầu tư cho GDMN, quan tâm đến GDMN đã mang tính toàn cầu
Tìm hiểu về XHHGDMN của các nước phát triển và một số nước gần gũi, chúng ta thấy hình thức XHHGDMN ở các nước rất đa dạng: đa dạng về loại hình GDMN (công lập, tư thục, dựa vào cộng đồng, gia đình, lớp mẫu giáo nằm trong trường tiểu học, nhà chùa/nhà thờ…); họ cũng xuất phát từ thực tiễn để xây dựng các chương trình phát triển trẻ thơ; dựa vào cộng đồng để phát triển GDMN có sự hỗ trợ kinh phí của Nhà nước; tạo môi trường, cơ sở pháp lý thuận lợi cho phát triển GDMN
tư thục; đề cao sự phối hợp, trách nhiệm và vai trò của gia đình và cộng đồng
Như vậy, vấn đề XHHGD nói chung và XHHGDMN nói riêng ở mỗi quốc gia dân tộc là sự lựa chọn mang tính chất sống còn cho các mô hình phát triển độc đáo của mình Từ đó có thể nói rằng XHHGD là quy luật tất yếu để phát triển giáo dục cho mỗi quốc gia Tuy vậy quá trình vận động để cho quy luật này phát triển còn phụ thuộc vào chính thể ở mỗi quốc gia Điều quan trọng là tìm ra cách làm tốt nhất, có hiệu quả phù hợp với điều kiện và truyền thống dân tộc của mỗi nước
1.1.2 Trong nước
Ở nước ta, tư tưởng XHHGD đã được hình thành và nuôi dưỡng từ rất sớm trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, qua mỗi giai đoạn nó càng được phát triển lên với một trình độ mới, cao hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Từ khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin, nền kinh tế tri thức như hiện nay, chúng ta ngày càng có điều kiện
Trang 20thuận lợi hơn để phát triển sự nghiệp giáo dục Xác định vai trò của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) của Ban chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” [10] Đây cũng là trọng trách, đồng
thời cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và Nhà nước giao phó cho ngành GD-ĐT Vì vậy, hơn bao giờ hết, lúc này ngành GD-ĐT cần có các biện pháp hữu hiệu khắc phục những khó khăn bất cập trong thời gian qua, trong đó đẩy mạnh XHHGD được coi là chủ trương quan trọng
Đại hội VIII của Đảng nêu rõ về chủ trương XHH [4]:“…Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội" Một lần
nữa XHHGD lại được đặt lên một tầm cao mới, sâu rộng hơn Thể chế hoá các chủ trương trên, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 90/CP và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP,
ngày 19/8/1999 về “phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá” [18] Tại phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 2004, Chính phủ đã
đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 90 và Nghị định số 73 và tiếp tục ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao [20] Ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá
XI đã thông qua Luật giáo dục (2005) [9, tr.10], trong chương 1, điều 12: Xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục, ghi rõ vai trò của các đối tượng tham gia XHHGD: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục ” Quyết định số
20/2005/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về
việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2010” [11] Các văn bản này đều xác định rất rõ vai trò chủ đạo, mang tính toàn
2005-diện, thống nhất của Nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng trong xã hội để phát triển giáo dục XHHGD có thể coi đây là một chiến lược của Đảng và Nhà nước ta bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
Trang 21Từ những khái quát trên có thể hiểu khái niệm XHHGD: Đó là việc lôi cuốn, thu hút, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội tham gia cùng làm giáo dục; Việc huy động và động viên đó mang tính chất là những phong trào quần chúng, đảm bảo cơ chế hoạt động là dưới sự quản lý, chỉ đạo của Nhà nước, xác định vai trò của mọi tổ chức xã hội, mọi người dân đều có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi tham gia làm giáo dục
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là bậc học đầu tiên Theo tinh thần của Luật giáo dục, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển GDMN cần phải gắn bó với công tác vận động xã hội mới đem lại hiệu quả cao Tính phong trào vừa là đặc điểm riêng vừa là quy luật phát triển của GDMN, vì vậy phải phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và toàn thể xã hội thì mới phát triển được bậc học này GDMN cũng như
sự nghiệp giáo dục cả nước đã và đang có những bước chuyển biến đáng kể Có được kết quả đó là nhờ thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục Mầm non trong đó phải kể đến một phần quan trọng trong vận dụng đúng đắn chủ trương XHHGDMN
Từ thực tiễn GDMN có thể nói đây là bậc học được XHH cao hơn bất kỳ bậc học nào GDMN thể hiện sinh động sự phối hợp hài hoà nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm
Thực hiện chiến lược phát triển GDMN đến năm 2020; nhằm phát triển GDMN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) [10] và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX [26], ngày 25/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị bàn về công tác GDMN Hội nghị đề ra những giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện pháp XHHGDMN, đa dạng hoá các loại hình GDMN Ngày15/11/2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển GDMN [19, tr.2] và khẳng định
rõ ở điều 1, nhiệm vụ phát triển GDMN đến 2010: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư phát triển GDMN, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp GDMN, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường, lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,…” Quyết định này
thực sự mở đường cho GDMN phát triển Để việc thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có hiệu quả, Bộ Giáo dục - Đào tạo,
Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư liên tịch số BNV-BTC, ngày 24/2/2003 hướng dẫn một số chính sách phát triển GDMN [50], trong đó chỉ ra các bước của việc thực hiện quy hoạch mạng lưới trường lớp mầm non công lập, ngoài công lập, thực hiện XHHGD đối với GDMN
Trang 2205/2003/TTLT/BGD&ĐT-Trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu về XHH GDMN đã được sự quan tâm ở nước ta trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Theo nghiên cứu “Phát triển giáo dục ngoài công lập - thực hiện chủ trương XHH giáo dục” của tác giả Bùi Tiến Hanh [31] thì phát triển giáo dục ngoài công
lập (bán công, dân lập, tư thục) là biện pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục Trong những năm qua sự phát triển giáo dục ngoài công lập đã đạt được một số thành tựu đáng kể
Nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác XHH GDMN Tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh [35] cho biết:
Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ chức GDMN bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng kinh tế Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em Vì vậy, XHHGDMN nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng GDMN, tạo tiền
đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học Việc huy động các nguồn lực cho GDMN sẽ góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng chăm sóc, giáo dục, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng GDMN
Theo tác giả Đào Thanh Âm, trong bài viết “Nhận thức cho đúng khái niệm XHH công tác GDMN” [2] đã cho rằng XHH sự nghiệp GDMN là một bài học
thành công trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống GDMN của nước ta Đây cũng là một tư tưởng giáo dục lớn của Đảng và chủ trương của Nhà nước nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để giáo dục tạo ra lớp người lao động mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo để đáp ứng đòi hỏi của nền công nghiệp hóa nước ta vào năm 2020 vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và IX đã nêu ra
Với những suy tư, trăn trở về giáo dục, tác giả Hồ Thiệu Hùng, trong bài viết
“Để GDMN vững bước trên con đường XHH” [33] cho biết: Muốn XHH GDMN
thành công thì cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý công tác này từ nhiều phía: Nhà nước (từ trung ương đến địa phương), các tổ chức kinh tế - xã hội, người dân, gia đình và bản thân ngành giáo dục
Trang 23Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đỗ Thị Bích Loan (2012) với đề tài "Xã hội hóa giáo dục thực trạng và giải pháp" Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam [54] cho thấy
về quản lý công tác XHH GDMN đã: Phát triển đa dạng hơn, số lượng các trường ngoài công lập tăng nhanh đã lôi cuốn sự tham gia của các lực lượng xã hội, ban ngành hỗ trợ thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non Quy mô trường mầm non ngoài công lập tiếp tục được củng cố và phát triển Tỷ lệ giữa trường, học sinh và giáo viên của giáo dục mầm non phát triển mạnh và hợp lý trong giai đoạn 2000-2005 và giảm sau đó trong giai đoạn 2006-2010
Nguyễn Võ Kỳ Anh (2014) trong đề tài: Xã hội hóa giáo dục mầm non góp phần nâng cao chất lượng nòi giống và đào tạo nhân tài cho đất nước, Viện Nghiên
cứu giáo dục phát tiềm năng con người (IPD), Trung tâm Giáo dục môi trường và sức khỏe cộng đồng (CECHC) [1] Tác giả với quan điểm quản lý công tác XHH GDMN phải thực hiện chăm lo cho giáo dục mầm non là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội, có thể khẳng định giáo dục mầm non là cấp học xã hội hóa cao hơn các cấp học khác Cho đến nay giáo dục mầm non đã và đang tồn tại đủ các quy mô trường, lớp, nhóm với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Loại hình trường tư thục đang trên đà phát triển ở các thành phố, thị xã và những nơi có nền kinh tế phát triển Loại hình bán công đang dần được chuyển sang loại hình trường công lập
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề ra nhiều giải pháp quản lý cho cho công tác XHHGD, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của công tác XHH đối với sự nghiệp phát triển GDMN trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Tuy nhiên các đề tài nghiên cứu đề cập chưa thật đầy đủ về những biện
pháp quản lý XHHGD mầm non nên còn mờ nhạt, đó là cơ sở để đề tài “Biện pháp quản lý công tác XHHGD trường Mầm non Hai Bà Trưng thành phố Phủ Lý tỉnh
Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các biện pháp
quản lý XHHGD mầm non có hiệu quả ở địa phương
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau, đã có nhiều cách hiểu về quản lý Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra một vài quan niệm của một số nhà khoa học để đi đến thống nhất quan niệm về quản lý
Trang 24Theo nhà tâm lý học Xô viết Iu A Tikhômirôp cho rằng: “Quản lý là tác động có hướng đích, dựa trên nhận thức những quy luật khách quan của hệ quản lý đến các quá trình đang diễn ra nhằm đạt mục đích tối ưu mục đích đặt ra”
Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý đã nêu ra: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung, Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác” [15, tr.176]
Theo các nhà khoa học Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản
lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [23, tr.16]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [16,
tr.17]
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt lại có quan điểm: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [43]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu
đã đề ra” [53]
Qua những khái niệm trên, có thể khái quát những nét đặc trưng cơ bản về bản chất của hoạt động quản lý như sau:
Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể và khách thể quản lý Chủ thể quản lý
có thể là một người hoặc một tổ chức Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức hay là sự vật cụ thể, cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại,
tương hỗ lẫn nhau: Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý
Trang 25Chủ thể quản lý thực hiện các tác động thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Như vậy, Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của người quản
lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Có thể sơ đồ hóa mô hình quản lý bằng sơ đồ 1.1 dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý 1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Theo học giả M.I.Kônđacôp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp, tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính… nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả
về mặt số lượng lẫn chất lượng [42]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất” [45]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát, là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ
sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội” [13, tr.17]
Trang 26Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất
cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [39]
Tác giả Bùi Văn Quân [46] khái quát: quản lý giáo dục là một dạng quản lý
xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động lập kế hoạch, khai thác, lựa chọn, tổ chức thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để định hướng, dẫn dắt, gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu của xã hội đối với giáo dục
Theo Nguyễn Thị Tuyết Hạnh và Lê Thị Mai Phương [36], quản lý giáo dục
ở cấp độ quản lý trường học (cơ sở giáo dục): là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, nhân viên, người dạy, người học, cha mẹ người học hay người đỡ đầu, các LLXH trong và ngoài nhà trường để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, và cơ hội nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu giáo dục
Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ vĩ mô và vi mô Đối với cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động có ý thức, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu của hệ
thống nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục Đối với cấp độ vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác của chủ thể
quản lý đến các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu của giáo dục
1.2.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục, nhà trường chính là nơi tiến hành giáo dục , đào tạo có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [40, tr 242]
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [45, tr 34]
Quản lý nhà trường do các chủ thể trong nhà trường thực hiện, quản lý bao gồm: Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm lớp, Bí thư Đoàn trường Trong đó vai trò của hiệu trưởng rất quan trọng, bởi vì hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường như: Quản lý chương trình giáo dục; quản lý giáo viên, học sinh; quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học ; quản lý tài chính ; quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
Do vậy, quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các bộ phận khác, tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, cũng như các lực lượng xã hội đóng góp hoặc vốn đầu tư tự có của nhà trường, hướng vào đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến đến một trạng thái mới
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm
vi xác định của một đơn vị giáo dục, nền tảng đó là nhà trường Do đó, quản lý nhà trường cũng phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để xây dựng mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo Quản lý nhà trường được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, nhưng đồng thời lại có những nét đặc thù riêng của quản lý nhà trường, được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội, được xã hội thừa nhận
Có thể nói, quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích , có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (đứng đầu là hiệu trưởng) đến khách thể quản lý (giáo viên, nhân viên, người học…) nhằm đưa các hoạt động dạy và học đạt được mục tiêu giáo dục
Trang 281.2.4 Xã hội hoá
Xã hội hoá- thuật ngữ này được các nhà kinh tế học, xã hội học, giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX sử dụng, nhằm biểu đạt một số những vấn đề thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của mình
XHH là một khái niệm của nhân học, xã hội học và tâm lý học nhân cách được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời, qua đó cá nhân phát triển các năng lực của con người và học hỏi các mẫu văn hoá trong cộng đồng Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu nền văn hoá xã hội hình thành và phát triển nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên XHH là quá trình con người hoà nhập vào môi trường xã hội thông qua hoạt động, giao tiếp, giáo dục và tự giáo dục Trong quá trình đó xã hội chuyển giao và
cá nhân nhập tâm các chuẩn mực, giá trị, nhân cách được hình thành và phát triển
XHH cũng được dùng để chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội vào một ngành, một hoạt động, dịch vụ có ý nghĩa sống còn với sự phát triển như
XHHGD và XHH y tế
Trong những năm đổi mới đất nước, thuật ngữ “Xã hội hoá” được dùng
chính thức trong văn kiện của Nhà nước Đó là một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo lớn của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Từ quan điểm trên đã nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm XHH Định
nghĩa đó có được đề cập ở mức độ khác nhau nhưng cốt lõi của vấn đề cho rằng: Xã hội hoá là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, giao lưu, giao tiếp, tiếp thu giáo dục…
mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là thành viên của xã hội
1.2.5 Xã hội hoá giáo dục
Theo Từ điển Giáo dục học (Bùi Hiền) Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội
2001 định nghĩa "XHHGD là chủ trương, biện pháp biến sự nghiệp giáo dục trong nhà trường thành công việc chung của toàn xã hội để thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục thế hệ trẻ tuỳ theo chức năng, điều kiện của mình [51, tr 481]
Trang 29Xã hội hoá giáo dục là quá trình phát huy mối quan hệ hai chiều giáo dục xã hội; cụ thể hơn XHHGD là quá trình, một mặt GD - ĐT phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội và trên cơ sở xã hội (mọi nguời) được hưởng thụ lợi ích của giáo dục, mọi người phải có trách nhiệm về tinh thần và vật chất để phát triển giáo dục
XHHGD cũng có thể hiểu một cách đơn giản là quá trình tạo ra một xã hội học tập khi mọi người được hưởng thụ giáo dục thì mọi người, mọi gia đình, toàn
xã hội phải có trách nhiệm tinh thần và vật chất đối với giáo dục
XHHGD là hoạt động giáo dục của đời sống xã hội được lan toả, hoà nhập vào đời sống xã hội, vào cộng đồng, được xã hội và cộng đồng tiếp nhận như chính công việc của họ, do họ và vì họ
Bản chất của XHHGD là sự tham gia trực tiếp của xã hội vào giáo dục trên
cả hai mặt tiếp nhận GD và đóng góp vào sự phát triển của giáo dục XHHGD là một công cụ để tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục cho mọi người, giảm ngân sách của nhà nước đầu tư vào GD và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập
Quan niệm XHHGD được hiểu rất đa dạng ở nhiều quốc gia khác nhau Ngoài nội dung cơ bản như huy động cộng đồng cùng tham gia giáo dục có sự quản
lý của nhà nước, XHHGD còn liên quan tới nhiều yếu tố như công bằng xã hội trong giáo dục, bình đẳng trong đánh giá và tiếp nhận giáo dục, mọi người có cơ hội học tập và được học tập suốt đời Cộng đồng tham gia vào giáo dục được hiểu là tạo
cơ hội quyền được học, được tiếp cận giáo dục cho mọi người và mọi người cũng phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với giáo dục cũng như sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước
XHHGD là quá trình tương tác giữa giáo dục và xã hội Giáo dục hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng Xã hội tiếp nhận giáo dục như công việc của mình, vì mình, do mình Đây là mối quan hệ biện chứng XHHGD có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hoá con người, xã hội hoá cá nhân
Giáo dục là bộ phận không thể tách rời hệ thống xã hội XHHGD tức là đưa giáo dục trở về đúng với vị trí, vai trò của nó Giáo dục cùng với khoa học- công nghệ
là động lực rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Thực hiện XHHGD tức là thực hiện mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng Thiết lập mối quan
hệ này làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội XHHGD gồm hai nội dung: Mọi người có nghĩa vụ chăm lo cho giáo dục để GD phục vụ mọi người; mọi
Trang 30người được quyền đi học, học thường xuyên, học suốt đời Như vậy, chúng ta cần hiểu
rõ hai vấn đề: mỗi người phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với GD (XHH trách nhiệm, nghĩa vụ với GD); Mỗi người đều được hưởng lợi từ GD (XHH quyền lợi về GD) học thường xuyên, học suốt đời Hai vấn đề trên nêu rõ hai yêu cầu của XHHGD là phải XHH trách nhiệm, nghĩa vụ với GD và phải XHH quyền lợi về GD của mọi người Chúng có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và thực hiện kết hợp đồng thời Yêu cầu thứ hai là hệ quả của yêu cầu thứ nhất, là biện pháp thúc đẩy yêu cầu thứ nhất Yêu cầu thứ hai nâng cao tính mục đích của XHHGD Trong một thời gian dài chúng ta thường nhìn nhận yêu cầu thứ nhất làm tiêu chí để đánh giá thành tích về XHHGD Lý do của việc đánh giá này là điều kiện kinh tế - xã hội chưa cho phép thực hiện yêu cầu thứ hai
XHHGD là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn giữa tính XH của công tác GD
và thế đơn độc của nhà trường, là trả lại bản chất XH cho GD, bởi vì GD là một hiện tượng XH, một hoạt động XH Giáo dục là hoạt động của toàn XH
Để giáo dục phát triển mạnh cần phải thực hiện XHHGD Đây không phải là giải pháp tình thế mà là tư tưởng chiến lược lâu dài Nó huy động sức mạnh của toàn xã hội nhưng đòi hỏi GD phát triển có chất lượng và hiệu quả Chúng ta đã phải khẳng định GD là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì XHHGD là chìa khoá để mở cánh cửa giáo dục phát triển trên quy mô toàn diện Quan điểm này chỉ đạo sự phát triển giáo dục lâu dài XHHGD không phải chỉ là cách làm giáo dục ở nước ta mà là cách làm giáo dục của nhiều nước trên thế giới Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm “xã hội hoá giáo dục” được sử
dụng với ý nghĩa là thuật ngữ quy ước để chỉ: cách nghĩ, cách làm, cách thực hiện hoạt động giáo dục bằng con đường giác ngộ, tổ chức, và huy động tổng lực sức mạnh của toàn dân, làm cho hoạt động giáo dục không chỉ được thực hiện bởi ngành giáo dục, làm cho mọi người dân đều được hưởng thụ lợi ích do giáo dục đem lại, từ đó nhận thấy đó là nhiệm vụ của chính mình nên đều tự nguyện, tự giác
và tích cực phối hợp hành động thực hiện
1.2.6 Xã hội hóa giáo dục mầm non
Trên cơ sở phân tích khái niệm XHHGD, XHHGDMN được hiểu là: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước, để mọi trẻ em trong độ tuổi đều được
Trang 31chăm sóc và giáo dục” Việc CSGD trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các
trường, lớp mầm non, của cả gia đình trẻ và cộng đồng Cần huy động và tạo điều kiện để gia đình và cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục mầm non GDMN phải đáp ứng được nhu cầu của xã hội, cộng đồng, đảm bảo mọi trẻ em đều được CSGD ở các loại hình giáo dục khác nhau, được hưởng thụ từ các dịch vụ GDMN
Từ đặc thù của GDMN mà XHHGDMN có những đặc điểm sau:
- GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em Tương lai của mỗi gia đình, của mỗi đất nước phụ thuộc trước hết vào sự phát triển của lứa tuổi mầm non này Vì vậy, phải thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng CSGD trẻ trên cơ sở một sự phát triển đa dạng và ổn định, phải đổi mới phương thức nuôi dạy bằng các cải cách cơ bản và toàn diện
- Xét về phân đoạn của quá trình XHH thì XHH ở giai đoạn trẻ mầm non là giai đoạn XHH sớm nhất, được bắt đầu từ khi trẻ sinh ra cho đến khi đi học Mối quan hệ giữa XHH cá nhân, phát triển nhân cách và giáo dục trong bậc học mầm non có nhiều nét tương đồng
- Chất lượng hiệu quả của quá trình XHHGDMN phụ thuộc vào sự lựa chọn phương thức hoạt động CSGD đối với trẻ em, sao cho vừa khai thác tối ưu các nguồn lực đảm bảo mục tiêu phát triển GDMN cả về quy mô và chất lượng, đồng thời vừa tạo
ra những cơ hội nhiều mặt để phát triển tiềm năng của trẻ
- Trẻ ở lứa tuổi mầm non là đối tượng quan tâm của nhiều ngành (Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Lao động-Thương binh-Xã hội, Phụ nữ ), nhiều chương trình cùng đồng thời thực hiện việc CSGD trẻ mầm non, nên việc tham gia vào GDMN là một trong những nhiệm vụ của ngành, các lực lượng xã hội Nó là sự phối hợp chặt chẽ
giữa gia đình - nhà trường - xã hội, đó cũng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc: Dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Phải tiếp cận quan điểm đa ngành mới đảm
bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu GDMN
- GDMN có nhiều loại hình, nhiều chương trình mang tính xã hội cao như: Các loại hình mầm non công lập, bán công, dân lập, tư thục; Các nhóm, lớp mầm non tư thục, dân lập, nhóm trẻ gia đình, nhóm tuổi thơ; các chương trình chính quy thực hiện tại nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non là chương trình chỉnh lý
Trang 32nhà trẻ, chương trình cải cách mẫu giáo, chương trình đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo, chương trình GDMN mới; Chương trình với mục tiêu ưu tiên: chương trình CSGD ở nhóm trẻ gia đình, chương trình giáo dục các bậc cha mẹ, chương trình mẫu giáo chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào Tiểu học Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào XHHGDMN từ đó có nhiều thuận lợi, nhất là trong việc thực hiện đa dạng hóa các loại hình, đa phương hóa các nguồn lực
- GDMN là bậc học không bắt buộc nên sự tồn tại, phát triển phụ thuộc rất nhiều vào sự quan tâm của ác cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, vào sự nhận thức của nhân dân
Từ đó để thực hiện có hiệu quả công tác XHHGDMN cần quán triệt đầy đủ bốn vấn đề sau:
- Cộng đồng hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể trong XHHGDMN
- Đa dạng hóa loại hình GDMN
- Đa phương hóa thu hút các nguồn lực cho GDMN từ: Nhà nước, nhân dân,
Trung ương, địa phương, trong ngành giáo dục, các ngành hữu quan, nguồn lực trong nước và ngoài nước
- Thể chế hóa các quy định, chế tài đối với quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm
của các lực lượng xã hội đối với việc tham gia vào GDMN
1.2.7 Quản lý xã hội hóa giáo dục
Quản lý XHHGD thực chất là việc tổ chức thực hiện công tác XHHGD
"Bản chất của xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự là của dân, do dân và vì dân"
Mặc dù còn tương đối mới mẻ, nhưng chúng ta cần nhận thức đầy đủ hơn về những đặc điểm xã hội hóa, từ đó tổ chức thực hiện quản lý XHHGD có hiệu quả là:
- XHH không phải là buông lỏng sự quản lý hoặc từ bỏ chức năng quản lý thống nhất của Nhà nước mà thực chất là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật
Trang 33- XHH gắn liền với mở rộng dân chủ, khuyến khích, động viên tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của mọi cá nhân và tổ chức đoàn thể xã hội Khắc phục dần tính thụ động, thờ ơ, phó mặc mọi công việc cho cơ quan chính quyền nhà nước
- XHH là thu hút mọi tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia thực hiện các dự án phát triển của Nhà nước
- Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa được Nhà nước Việt Nam tiến hành theo các bước phù hợp sau:
+ Xóa bỏ dần chế độ bao cấp, cơ chế, "xin cho"
+ Tách dần hoạt động quản lý kinh doanh khỏi hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan chức năng Nhà nước
+ Nhà nước không ngừng củng cố các cơ quan dịch vụ công
+ Nhà nước xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.8 Quản lý XHH giáo dục mầm non
Điều 12, Luật Giáo dục (2005), ghi rõ “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh,…Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển
sự nghiệp giáo dục” [9, tr.10]
Theo quy định của Luật, nội dung quản lý nhà nước trong việc thực hiện XHHGD là :
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch XHHGD
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm về XHHGD, về tổ chức Đại hội giáo dục các cấp, về cơ chế phối hợp các ngành, các cấp; về huy động,
sử dụng các nguồn lực giáo dục; về tổ chức nhân sự,…
- Quy định nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn của các ngành, các cấp, các tổ chức KT-XH, các cá nhân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục
- UBND các cấp chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, giám sát các lực lượng xã hội làm giáo dục dựa vào chủ trương của cấp trên, Nghị quyết của HĐND các cấp về XHHGD Để thực hiện các chủ trương, các chương trình, kế hoạch về XHHGD, UBND các cấp cần dựa vào tham mưu của ngành giáo dục, của các nhà trường, của Hội đồng giáo dục cấp cơ sở; đồng thời có trách nhiệm huy động, tổ chức sự tham
Trang 34gia của các lực lượng trong cộng đồng; quán triệt cơ chế: Đảng lãnh đạo, Chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ
Tóm lại, quản lý nhà nước trong việc thực hiện XHHGD được hiểu là trách nhiệm của chính quyền các cấp về các vấn đề:
- Hình thành thể chế XHHGD (văn bản, chế định pháp luật)
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHGD
- Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai và thực hiện XHHGD
Ba nhóm vấn đề trên có quan hệ chặt chẽ với nhau; nếu tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHGD là mấu chốt, thì việc tạo thể chế là tiền đề pháp lý, là chỗ dựa cho việc triển khai quản lý nhà nước, còn việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra là xác định trình độ
và mức độ thực hiện XHHGD của toàn xã hội dưới sự quản lý của Nhà nước
1.2.9 Biện pháp quản lý công tác XHHGDMN
Biện pháp công tác XHHGDMN là cách thức, phương pháp, cách giải quyết một vấn đề nào đó của chủ thể - chủ thể chịu trách nhiệm nhằm thoá gỡ, giải tỏa các khách thể được quản lý vận động và phát triển theo những định hướng và mục tiêu
đã định
Biện pháp quản lý XHHGDMN là các nội dung, cách thức tiến hành giải quyết cụ thể của các chủ thể quản lý GDMN, nhằm tác động, giải quyết làm biến đổi các nhân tố trong kết cấu GDMN vận hành và phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể đặt ra theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Các biện pháp quản lý XHHGDMN không thể là ý tưởng chủ quan, được đề
ra một cách tuỳ tiện duy ý trí Mà phải dựa trên sự phân tích, hoàn cảnh cụ thể Tìm
ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng, cản trở đến tiến trình vận hành của cơ sở GDMN trong việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, định hướng đã đặt ra Chỉ có như vậy những biện pháp quản lý công tác XHHGDMN mới thực sự khoa học và cách mạng
1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của trường Mầm non
Tại Quyết định số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24/12/2015 của Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định về việc hợp nhất Điều lệ trường mầm non [7] có quy định:
1 Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trang 352 Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Hằng năm, tự kiểm tra theo tiêu chuẩn quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản
3 Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em
4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật
5 Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn
6 Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em
7 Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
8 Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định
9 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.4 Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội hóa giáo dục của trường Mầm non
1.4.1 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về XHHGD
a Văn kiện Đại hội IX đề ra yêu cầu tiếp tục triển khai thực hiện XHHGD [26]: “Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng Các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục” Tăng đầu tư cho GD từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh XHHGD&ĐT Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển GD ở tất cả các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của XH Ngân sách nhà nước tập trung nhiều hơn cho các bậc GD phổ cập, cho vùng nông thôn, miền núi bảo đảm điều kiện học tập cho con em người có công và gia đình nghèo
b Nghị định 05/2005/NĐ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ [20] về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao
Nội dung của Nghị định này đề cập đến vấn đề về XHHGD như sau:
Huy động nguồn lực của các ngành, các cấp, các tổ chức KT-XH và cá nhân
để phát triển GD&ĐT
Trang 36Tăng cường quan hệ của nhà trường và gia đình, nhà trường và xã hội, huy động trí tuệ, nguồn lực của toàn ngành, toàn xã hội vào việc đổi mới nội dung, chương trình, thực hiện giáo dục toàn diện
Ban hành cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm của ngành địa phương, các tổ chức KT-XH và người sử dụng lao động tham gia xây dựng trường, lớp học, hỗ trợ kinh phí cho người học, thu hút nhân lực đã đào tạo và giám sát các hoạt động giáo dục
c Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTC-BNV ngày 17 tháng 01 năm
2006 của liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ [8] hướng dẫn thực hiện Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước
d Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ [22] về phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012- 2020” đã đề ra các quan
điểm chỉ đạo như sau: Trong xã hội học tập, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao, học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc, học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại
Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập
và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời
Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa GD chính quy và GD thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi
e Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) [5] “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”: Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh
XHH, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng GD ở vùng khó khăn, vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách
xã hội trong giáo dục
Trang 37g Nghị quyết số: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo” [5] có nhấn mạnh đến
nhiệm vụ và giải pháp: “Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại
hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư”
1.4.2 Vai trò của công tác XHHGDMN trong giai đoạn hiện nay
1.4.2.1 XHHGDMN góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Mầm non
XHHGDMN huy động được các nguồn lực cho GDMN góp phần tạo nên những chuyển biến căn bản về chất lượng giáo dục Nhờ XHHGDMN mà cộng đồng có thể tham gia vào việc cụ thể hoá mục tiêu GD phù hợp với yêu cầu của địa phương và cộng đồng Giáo dục hình thành và phát triển nhân cách góp phần tạo ra
“nguồn lực người” qua các thành tố tri thức, thái độ, hành động kỹ năng cuộc sống
1.4.2.2 XHHGDMN sẽ huy động được các nguồn lực, tiềm năng của xã hội, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển cơ sở giáo dục Mầm non
XHHGDMN sẽ mang lại nhiều nguồn lực phục vụ cho mọi hoạt động của GDMN Huy động các nguồn và đa dạng hoá các nguồn lực là tính đến một phạm vi rất rộng rãi Những nguồn lực này sẽ góp phần giải quyết được mâu thuẫn, khắc phục những khó khăn của quá trình phát triển GDMN
1.4.2.3 XHHGDMN tạo ra sự công bằng, dân chủ trong hưởng thụ và trách nhiệm xây dựng giáo dục Mầm non
Nghị quyết lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã chỉ rõ
“Thực hiện công bằng trong giáo dục người đi học phải đóng học phí, người sử dụng qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo, có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học”
XHHGDMN tạo điều kiện cho các LLXH, gia đình và cộng đồng phát huy tinh thần làm chủ, thực hiện quyền và trách nhiệm đối với các hoạt động GDMN như quyền hưởng thụ lợi ích và dịch vụ chăm sóc GDMN, tham gia phát triển giáo dục Mầm non
Nhờ thực hiện dân chủ hoá GDMN mà các thành phần tham gia công tác GDMN không chỉ bó hẹp trong phạm vi ngành GD mà trở nên đông đảo, rộng khắp
Trang 38trong địa phương, cộng đồng và như vậy thì XHHGDMN chính là con đường để thực hiện trong giáo dục Mầm non
1.4.2.4 Xã hội hoá giáo dục Mầm non sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy truyền thống giáo dục của dân tộc
Thực hiện XHHGDMN sẽ góp phần khắc phục được những khó khăn giải quyết những mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển GDMN Qua đó càng thấy
rõ vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện XHHGDMN trong giai đoạn hiện nay
1.4.3 Bản chất xã hội hoá giáo dục mầm non
Bản chất của XHH là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng XH, tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề XH thực sự là của dân, do dân và vì dân Mặt khác, giáo dục cũng cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với XH Chính vì vậy các trường MN phải quan tâm XD môi trường GD lành mạnh, phát huy vai trò tích cực của mình tới cộng đồng địa phương, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội
1.4.4 Đặc điểm quản lý xã hội hoá giáo dục Mầm non
Quản lý XHHGD là một bộ phận của QLGD, QLXH Cũng như công tác QLGD nói chung, việc quản lý con người cũng là yếu tố trung tâm của công tác QLGDMN Trình độ và năng lực của con người CBQLGD thể hiện trước hết ở khả năng làm việc với những con người, biết đánh giá, bồi dưỡng và phát huy những khả năng của mỗi con người, động viên tự giác, tích cực, với tinh thần trách nhiệm cao
Xuất phát từ tính thống nhất của mục tiêu GDMN Công tác quản lý GDMN cũng có tính thống nhất, thể hiện ở kế hoạch chỉ đạo thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, giữa gia đình, nhà trường và xã hội với các
trường Mầm non ở địa phương
Quản lý xã hội hoá giáo dục Mầm non:
Phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc quy chế “Nhà nước thống nhất quản lý”
và “Tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục” Quản
lý xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non là quản lý sự phối hợp các lực lượng xã hội tham gia các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ trên từng địa bàn dân cư Thể hiện các cấp chính quyền, các cơ sở giáo dục, các tổ chức chính trị - xã
Trang 39hội phải được tham gia hoạch định xã hội hoá sự nghiệp giáo dục từ khâu: kế hoạch hoá, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và chỉ đạo, kiểm tra, hạch toán, tính toán, đánh giá hiệu quả
Quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách của Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước
Quản lý công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, các hoạt động ngoài xã hội của giáo viên trên cơ sở kết hợp 3 môi trường giáo dục: Gia đình - nhà trường - xã hội
Việc phân cấp quản lý giữa Trung ương, địa phương, cơ sở là sự thể hiện dân chủ hoá trong quản lý giáo dục Đồng thời tạo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và
năng động của địa phương, của các cơ sở giáo dục
1.4.5 Nguyên tắc quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Nguyên tắc này là những điều cơ bản được Nhà nước hoặc một tổ chức xã hội định ra, đòi hỏi các thành viên trong xã hội hoặc các thành viên trong một tổ chức phải tuân theo trong các việc làm của mình Chỉ đạo thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục Mầm non phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Lợi ích: Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều phải xuất phát từ nhu cầu và
lợi ích của cả hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều cần tìm thấy lợi ích chung của cá nhân, tập thể cũng như của cả dân tộc
- Chức năng nhiệm vụ: Nhà trường cũng như các LLXH, các tổ chức đều có
những chức năng và trách nhiệm riêng Để khai thác, phát huy, khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó thì phải phát hiện và nhằm đúng chức năng,
trách nhiệm của đối tác
- Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng về
GD và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHHGD để mối quan hệ giữa NT-GĐ-XH phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực
- Luật pháp: XHHGD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần dựa
trên cơ sở pháp lý Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội cũng cần
có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động nguồn lực cho giáo dục
Trang 40- Phù hợp và thích ứng: CBQLGD phải biết lựa chọn thời gian thích hợp
nhất để đưa ra một chủ trương XHHGD.Tuy nhiên, để thực hiện nguyên tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang tính định hướng, thực tế
- Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu học,
tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn của mỗi gia tộc, dòng
họ, niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm lo cho sự nghiệp GD&ĐT
- Kết hợp ngành- lãnh thổ: cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương
và ngành giáo dục, “nhà trường gắn liền với xã hội”
- Giao tiếp: Có hai con đường giao tiếp đó là con đường chính thức (các văn
bản, công văn, đề nghị ) và con đường không chính thức (thông qua nguyên tắc truyền thống và tình cảm)
- Kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là một trong bốn chức năng quản lý và là một
chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người Hiệu trưởng Kế hoạch XHHGD được xây dựng trên một số yếu tố sau: Mục tiêu của việc huy động
XH, xác định đối tượng huy động, kết quả dự kiến đối với từng đối tượng, thời gian thích hợp, sự phân công một số thành viên trong chủ thể huy động, chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể
XHHGD phải đặt trong sự QL của Nhà nước, đây là một nguyên tắc bất di bất dịch Nhà nước QL các hoạt động GD thông qua hệ thống pháp luật, thông qua các cơ chế chính sách, tạo mọi điều kiện để các tổ chức XH, các doanh nghiệp và các cá nhân có thể tham gia đóng góp vào phát triển giáo dục
1.4.6 Nội dung xã hội hóa giáo dục mầm non
Nội dung thứ nhất: Huy động toàn xã hội tham gia thực hiện mục tiêu, nội
dung giáo dục Mầm non, tạo ra sự đồng thuận về nhận thức, tư tưởng và hành động của từng gia đình, từng cộng đồng dân cư, các tổ chức chính trị- xã hội, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước đối với sự nghiệp chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ ở lứa tuổi mầm non
Nội dung thứ hai: Xây dựng môi trường tốt nhất cho giáo dục Mầm non, môi
trường đó bao gồm: Gia đình, nhà trường, xã hội và sự kết hợp đồng bộ, thống nhất của ba môi trường đó Môi trường gia đình, nhà trường, xã hội kết hợp hài hoà sẽ là