1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Biện pháp quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên ở huyện lục nam, tỉnh bắc giang

114 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 546 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại ngày nay, xây dựng xã hội học tập đã trở nên đa dạng, phong phú với nhiều hình thức. Với phương châm “Cần gì học nấy, học trước khi làm; học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để chung sống”. Cùng bắt nguồn từ những nhu cầu, đòi hỏi thiết yếu nên mà mô hình giáo dục cộng đồng được phát triển rộng khắp. Nó không chỉ là công cụ thiết yếu để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở mà còn là công cụ quan trọng của các cấp uỷ, chính quyền địa phương thúc đẩy phát triển KTXH. Đây còn là mô hình hợp lòng dân, có sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng, có hiệu quả thực tế, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Một trong những đối tượng mà giáo dục cộng đồng hiện nay đặc biệt chú trọng quan tâm và khai thác đó là việc giáo dục cho trẻ em vị thành niên.Đặc trưng cơ bản của nhóm vị thành niên biểu hiện trước hết ở vị trí vai trò của nó trong đời sống xã hội cũng như trong chính cuộc đời của mỗi người. Nếu trong cuộc đời, tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng, giai đoạn bản lề có thể quyết định toàn bộ cuộc sống sau này của mỗi người thì trong xã hội, thế hệ vị thành niên bao giờ cũng đại diện cho một sự chuyển tiếp vào các thế hệ mới, hướng tới tương lai. Vị thành niên là độ tuổi chuyển tiếp giữa tuổi thơ ấu và tuổi trưởng thành. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ về thể chất và trí tuệ; là giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong việc định hình nhân cách con người. Nguồn nhân lực hiện nay cho sự phát triển của xã hội rất cần được bảo vệ, nuôi dưỡng từ tuổi trẻ em, bổ sung và hoàn thiện dần về thể chất, tri thức và nhân cách từ vị thành niên và bắt đầu thực sự đóng góp cho xã hội ở những giai đoạn sau đó.Ở nước ta, thực tế những năm thực hiện công cuộc đổi mới cho thấy, sự nâng cao bước đầu về đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là về mức sống đã khiến cho vị thành niên ở nước ta có những sự phát triển mạnh về thể chất. Bên cạnh sự phát triển về thể chất, việc mở rộng các điều kiện học tập sinh hoạt, vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá...cũng khiến cho các thế hệ vị thành niên hiện nay đã có được những sự phát triển mạnh mẽ về nhận thức, tình cảm, suy nghĩ và sức sáng tạo. Vị thành niên nước ta ngày càng chứng minh được trên thực tế tiềm năng to lớn, vị trí, vai trò của họ đối với sự phát triển của đất nước trong tương lai. Thêm nữa vị thành niên thoát dần từ phạm vi gia đình để hòa nhập vào tập thể và hoạt động của những người cùng trang lứa. Về đặc điểm giới tính, vị thành niên rất cần sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện để rèn luyện cả về các mặt đức, trí, thể, mỹ.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cơ sở lý luận

Bước sang thế kỷ XXI, với sự bùng nổ của tri thức, khoa học công nghệ

và đặc biệt là công nghệ thông tin, nền kinh tế thế giới đang phát triển theo xuhướng toàn cầu hóa và hội nhập mạnh mẽ Các nước trên thế giới đều nhận thấyvai trò to lớn có ý nghĩa quyết định của GD & ĐT đối với sự phát triển KT- XH

và sự hưng thịnh của quốc gia

Nhận thấy được vai trò quan trọng của giáo dục, Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Cùng với khoa họccông nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đạihóa đất nước" Chính vì vậy vấn đề giáo dục cho mọi thế hệ luôn được quantâm

Quyết định 112/2005/QĐ-TTg, ngày 18 tháng 05 năm 2005, Thủ tướngChính phủ khẳng định: “Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập vớitiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứatuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ởmọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp củatoàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chứcđều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xâydựng xã hội học tập”

Trong thời đại ngày nay, xây dựng xã hội học tập đã trở nên đa dạng,phong phú với nhiều hình thức Với phương châm “Cần gì học nấy, học trướckhi làm; học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để chung sống” Cùng bắtnguồn từ những nhu cầu, đòi hỏi thiết yếu nên mà mô hình giáo dục cộngđồng được phát triển rộng khắp Nó không chỉ là công cụ thiết yếu để xâydựng xã hội học tập từ cơ sở mà còn là công cụ quan trọng của các cấp uỷ,chính quyền địa phương thúc đẩy phát triển KT-XH Đây còn là mô hình hợp

Trang 2

lòng dân, có sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng, có hiệu quả thực tế, đặc biệtđối với vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số Một trongnhững đối tượng mà giáo dục cộng đồng hiện nay đặc biệt chú trọng quan tâm

và khai thác đó là việc giáo dục cho trẻ em vị thành niên

Đặc trưng cơ bản của nhóm vị thành niên biểu hiện trước hết ở vị trí vaitrò của nó trong đời sống xã hội cũng như trong chính cuộc đời của mỗingười Nếu trong cuộc đời, tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng, giaiđoạn bản lề có thể quyết định toàn bộ cuộc sống sau này của mỗi người thìtrong xã hội, thế hệ vị thành niên bao giờ cũng đại diện cho một sự chuyểntiếp vào các thế hệ mới, hướng tới tương lai Vị thành niên là độ tuổi chuyểntiếp giữa tuổi thơ ấu và tuổi trưởng thành Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ

về thể chất và trí tuệ; là giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong việc định hìnhnhân cách con người Nguồn nhân lực hiện nay cho sự phát triển của xã hộirất cần được bảo vệ, nuôi dưỡng từ tuổi trẻ em, bổ sung và hoàn thiện dần vềthể chất, tri thức và nhân cách từ vị thành niên và bắt đầu thực sự đóng gópcho xã hội ở những giai đoạn sau đó

Ở nước ta, thực tế những năm thực hiện công cuộc đổi mới cho thấy, sựnâng cao bước đầu về đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là về mức sống đãkhiến cho vị thành niên ở nước ta có những sự phát triển mạnh về thể chất.Bên cạnh sự phát triển về thể chất, việc mở rộng các điều kiện học tập sinhhoạt, vui chơi giải trí, giao lưu văn hoá cũng khiến cho các thế hệ vị thànhniên hiện nay đã có được những sự phát triển mạnh mẽ về nhận thức, tìnhcảm, suy nghĩ và sức sáng tạo Vị thành niên nước ta ngày càng chứng minhđược trên thực tế tiềm năng to lớn, vị trí, vai trò của họ đối với sự phát triểncủa đất nước trong tương lai Thêm nữa vị thành niên thoát dần từ phạm vi giađình để hòa nhập vào tập thể và hoạt động của những người cùng trang lứa

Về đặc điểm giới tính, vị thành niên rất cần sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ

và tạo điều kiện để rèn luyện cả về các mặt đức, trí, thể, mỹ

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 3

Trong những năm qua, thanh thiếu niên dành được sự quan tâm đặcbiệt từ xã hội Chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt đồng của toàn xã hội nhằmtác động đến lứa tuổi này như: Các chương trình, hội thảo về học tập, sứckhỏe, sinh sản, đời sống tình cảm, đạo đức…của các em.

Cụ thể, vấn đề quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên

ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã làm tương đối tốt, luôn quan tâm tớicông tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ Nhiều chủ trương và chínhsách mới đã được ban hành và thực hiện, bước đầu đã tập hợp được sự thamgia đông đảo của các cơ quan, tổ chức, chính quyền, đoàn thể, cộng đồng vàgia đình vào công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Các cấp, ngành vàđoàn thể đã tạo điều kiện cho các em chủ động và sáng tạo trong học tập, sinhhoạt, vui chơi giải trí và phát huy được những tiềm năng của mình Tuy nhiên,thực tế cũng lại cho thấy chúng ta còn chưa có được những sự quan tâm đầy

đủ và đúng mức tới nhóm tuổi vị thành niên

Bên cạnh những chính sách chung về trẻ em và thanh niên ngày càngđược hoàn thiện và có hiệu quả thiết thực thì những chính sách về tuổi vị thànhniên lại tỏ ra còn thiếu cụ thể, sự ảnh hưởng của các hoạt động nói trên còn chưađạt được hiệu quả sâu sắc và có hệ thống Sự lúng túng trong việc nhận thức về

vị trí, vai trò và những đặc điểm sinh học, tâm lý học và xã hội học của nhóm

vị thành niên trong xã hội hiện đại đã ảnh hưởng tới việc xây dựng các chínhsách cũng như cơ chế sát thực nhằm tăng cường việc chăm sóc, giáo dục,quản lý và phát huy vai trò của nhóm đối tượng này vì sự phát triển của địaphương

Các cấp chính quyền ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũng chưa tạođược một sự thống nhất chung trong nhận thức và hành động nhằm chăm sóc,giáo dục, quản lý đối tượng vị thành niên Trên thực tế mỗi cấp chính quyền đoànthể, địa phương, cộng đồng lại có những suy nghĩ và hành động khác nhau

Công tác tuyên truyền, giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên tuy đã

có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa được tổ chức rộng rãi trên các phương tiện

Trang 4

thông tin đại chúng và trong hoạt động của các quần thể quần chúng ở từng địaphương.

Nhóm trẻ vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũng giốngnhư ở các địa phương khác lớn lên trong hoàn cảnh xoá bỏ bao cấp về nhiềumặt, cuộc sống của cha mẹ, những người lớn tuổi trong gia đình và xã hộiphần nhiều đều tập trung vào những lo toan hàng ngày về kinh tế và đời sống,lại luôn phải sống và chứng kiến những mặt trái của cơ chế thị trường, những

tệ nạn xã hội Như vậy, nhóm nam nữ vị thành niên đã sinh trưởng và lớn lêncùng với rất nhiều tâm tư, suy nghĩ với những bộn bề của cuộc sống; hay cóthể gọi chung là những đe dọa, thách thức về nhiều mặt như: Bệnh tật, sự tổnthương về thể trạng và tinh thần, sự thiếu hiểu biết về thông tin giới tính, antoàn tình dục và kế hoạch hóa gia đình Rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ranhư: Tự tử, mại dâm, ma túy, tảo hôn, yêu theo kiểu “trào lưu”…

Đặc biệt, đối tượng bỏ học hoặc không được học hành đến nơi đếnchốn trong nhóm tuổi vị thành niên ở Bắc Giang chiếm tỷ lệ khá cao Theocác cuộc khảo sát về mức sống dân cư của cơ quan thống kê tại huyện LụcNam trong những năm gần đây thì số lượng vị thành niên có trình độ văn hoáthấp hiện nay ở mức đáng lo ngại Số trẻ vị thành niên bỏ học hoặc không thểthi đỗ vào trung học hoặc đại học cũng đã khiến cho tỷ lệ những người không

đi học ở nhóm vị thành niên cao hơn hẳn ở nhóm học sinh trẻ em Không cóđiều kiện để tiếp tục học tập ở tuổi chưa thành niên, lại không thể kiếm đượcviệc làm đã khiến cho các em dễ rơi vào các tệ nạn xã hội

Qua đó, chúng ta nhận thấy trong sự di chuyển dân cư và lao độngmạnh mẽ dưới tác động của cơ chế thị trường, số lao động vị thành niên đãchiếm một tỷ lệ khá cao Trong điều kiện không được sự quan tâm sát sao từgia đình, không được chăm sóc, quản lý, giáo dục đầy đủ, phải tự lập quá sớmlại thiếu kinh nghiệm sống, chưa đủ kiến thức và bản lĩnh để ứng xử, các emrất dễ bị bóc lột, lừa gạt, lôi kéo, ép buộc, rơi vào cạm bẫy của các tệ nạn xãhội hoặc vi phạm pháp luật

Trang 5

Dựa vào thực tế trên, cho thấy tình hình tệ nạn xã hội và vi phạm phápluật trong vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đang có xu hướngtăng lên Những trường hợp phạm pháp trầm trọng như giết người, cướp của,hiếp dâm, sử dụng vũ khí, bạo lực, tụ tập thành băng nhóm tội phạm ở tuổi vịthành niên đã diễn ra ngày càng nhiều, gây lo ngại cho địa phương

Chỉ có thông qua những kết quả nghiên cứu điều tra để nhận biết mộtcách đúng đắn hơn về những đặc trưng cơ bản của nhóm tuổi vị thành niên,chia sẻ với nhau những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, chúng tamới có thể đề xuất được các khuyến nghị và giải pháp quản lý giáo dục đốivới đối tượng vị thành niên ngày càng tốt, sát thực và hợp lý hơn; tạo điềukiện để nhóm vị thành niên có điều kiện trưởng thành; phát huy được hếtnhững tiềm năng sẵn có; đóng góp tích cực vào sự phát triển KTXH củahuyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong thế kỷ 21

Thực tiễn, mặc dù đã có các biện pháp tổ chức giáo dục cộng đồng ởhuyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nói riêng và trong cả nước nói chung đối vớinhóm vị thành niên, song các biện pháp này còn chưa hiệu quả và thiếu tínhđồng bộ, đôi khi còn lãng phí Vì vậy đòi hỏi phải có những biện pháp phùhợp, hiệu quả hơn

Từ những lí do nêu trên đề tài nghiên cứu được lựa chọn là “Biện pháp quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” Với mong muốn góp phần khiêm tốn của mình vào

việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vịthành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác quản lý giáo dục cộng đồngcho nhóm trẻ vị thành niên, đánh giá thực trạng giáo dục cộng đồng cho nhómtrẻ vị thành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường và quản lý giáodục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên không còn tham gia học tập trongnhà trường hiện nay ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất biện

Trang 6

pháp quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên không còn thamgia học tập trong nhà trường có hiệu quả.

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4 Giả thuyết nghiên cứu

Trong những năm qua, việc quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ

vị thành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường ở huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhấtđịnh song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Nếu đề xuất các biện pháp quản lígiáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên không còn tham gia học tậptrong nhà trường ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang một cách phù hợp vàđồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục cộng đồng chonhóm trẻ vị thành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường ở địa bànnày

5 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

5.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục cộng đồng chonhóm trẻ vị thành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường đangtriển khai và thực hiện ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất giảipháp quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên ở huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang

5.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trên địa bàn cộng đồng huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang

5.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu:

Trang 7

Đề tài tiến hành điều tra lấy ý kiến đánh giá của 106 cán bộ lãnh đạo,quản lý giáo dục và 120 trẻ vị thành niên trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh BắcGiang.

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vịthành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường

6.2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ

vị thành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường ở huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang

6.3 Xây dựng hệ thống các biện pháp giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vịthành niên không còn tham gia học tập trong nhà trường ở huyện Lục Nam,tỉnh Bắc Giang và khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đó

7 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn đềtài nêu trên, tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận bao gồm:

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa về khoahọc Quản lý, các tài liệu và các văn bản pháp quy của ngành, địa phương xácđịnh bản chất vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu các số liệu, tư liệu có liên quannhằm khái quát hoá các vấn đề nghiên cứu thành lý luận quản lý giáo dụccộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm

7.2.2 Phương pháp điều tra viết:

Trang 8

Mục đích: Thu thập những thông tin liên quan đến nhận thức, quanniệm của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý trong công tác giáo dục cho trẻ vịthành niên; kiểm chứng tính cần thiết, khả thi của các biện pháp một cáchkhách quan nhằm tránh những sai sót trong quá trình nghiên cứu.

Cách tiến hành:

+ Thiết kế phiếu hỏi

+ Điều tra, khảo sát các CB lãnh đạo, CB quản lý để tìm hiểu quanniệm, phương thức quản lý và cách thức tổ chức các hoạt động nhằm giáo dụccho trẻ vị thành niên

7.2.2 Phương pháp chuyên gia

Mục đích: Khẳng định tính khả thi của biện pháp được đề xuất sau khinghiên cứu

Cách tiến hành: Hỏi ý kiến các chuyên gia bằng phiếu hỏi về tính khảthi của các biện pháp đề xuất sau khi nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn sâu:

Mục đích: Thu thập thông tin cần thiết để làm cơ sở nghiên cứu, đềxuất biện pháp quản lý giáo dục cho nhóm đối tượng là trẻ vị thành niên

Cách tiến hành: Trò chuyện, tâm sự, hỏi thăm, phỏng vấn các CB lãnhđạo, CB quản lý cũng như các em trong độ tuổi vị thành niên của huyện LụcNam, tỉnh Bắc Giang về các vấn đề tâm tư tình cảm, nguyện vọng, đời sốngtinh thần, vật chất… khi tham gia các hoạt động giáo dục trên

7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết, đánh giá thực trạng vàhiệu quả của công tác giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên ở huyệnLục Nam, tỉnh Bắc Giang

7.2.5 Phương pháp khảo nghiệm

Khảo nghiệm các biện pháp đưa ra nhằm thấy được những thuận lợi vàkhó khăn của các biện pháp mang lại đối với nhóm trẻ vị thành niên

Nhóm phương pháp xử lí thông tin: sử dụng các công thức toán học để

xử lí kết quả khảo sát như tính số liệu %, tính điểm trung, xếp thứ bậc

+ Tính hệ số tương quan theo công thức : r = 1– [(6 Σ(R1- R2)2)/n(n2 –1)]

Trong đó: R1 : Thứ bậc đại lượng 1

Trang 9

-0, 49< r < -0,3 : Tương quan nghịch trung bình

-0,29 < r < -0,1 : Tương quan nghịch yếu

-0,09 < r < -0,01 : Tương quan không đáng kể

r = 0 : Không có mối tương quan

0,01 <r < 0,09 : Tương quan thuận không đáng kể

0,1 < r < 0,29 : Tương quan thuận yếu

0,3 < r < 0,49 : Tương quan thuận trung bình

0,5 < r < 0,69 : Tương quan thuận mạnh

r > 0,7 : Tương quan thuận rất mạnh

8 Đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa tri thức về lý luận về quản lý giáo dục cộng đồng chonhóm trẻ vị thành niên, đề xuất một số biện pháp khả thi về quản lý giáo dụccộng đồng cho nhóm trẻ vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục cộng đồng chonhóm trẻ vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

9 Cấu trúc Luận văn

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị

thành niên

Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm trẻ vị

thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Chương 3: Biện pháp quản lý quản lý giáo dục cộng đồng cho nhóm

trẻ vị thành niên ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG

CHO NHÓM TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

Trang 11

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu trong nước

1.1.2 Nghiên cứu ở khu vực và thế giới

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý:

Quản lý xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của xã hộiloài người Ở đâu có hoạt động chung, ở đó cần đến sự quản lý, như Các Mác

đã nói một cách hình tượng rằng: Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiểnmình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng

Có thể tiếp cận khái niệm quản lý theo những cách sau:

Theo quan niệm truyền thống Quản lý là quá trình tác động có ý thứccủa chủ thể vào một bộ máy ( đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêucho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đãxác định” [34, 5]

Với tác giả Mai Quang Huy: “ Thuật ngữ quản lý gồm hai quá trình tíchhợp nhau: Quá trình quản lý gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạngthái ổn định; quá trình quản lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ thốngphát triển” [23, 4]

“ Quản lý phải làm cho hệ thống ở trạng thái cân bằng vận động, vậnđộng phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa nhân

tố bên trong và các nhân tố bên ngoài Như vậy, quản lý là tác động có địnhhướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong tổ chức,làm cho tổ chức đó vận động và đạt được mục tiêu của tổ chức.” [23, 4]

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là sự tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động ( khách thểquản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.” [29, 43]

Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn: “ Quản lý là quá trình tác động củachủ thể quản lý đến khách thể thông qua các công cụ , phương tiện để đạtđược mục tiêu quản lý.” [30,33]

Trang 12

Theo F.Taylor: “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn ngườikhác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốtnhất và rẻ nhất” [33,89]

Harold Koonzt: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phốihợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm Mụctiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó conngười có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.[19, 33]

Như vậy, quản lý là một yêu cầu tất yếu của một tổ chức; là tác động cóđịnh hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạtmục tiêu đề ra Để quản lý tốt, nhà quản lý – chủ thể quản lý phải thực thinhững biện pháp cụ thể, khoa học, hợp qui luật

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục:

Quản lý và quản lý giáo dục là sự tồn tại song hành Nếu nói giáo dục

là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thểnói như thế về quản lý giáo dục Ở đây, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ranhững quan điểm của mình:

Theo Kôndakôp: “ Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kếhoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhauđến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cho thế hệ trẻ,đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sửdụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quátrình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em…”.[26, 94]

“ Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảngtrong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành tiến tớimục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục” [17, 25] Đó là ý kiến của tác giảĐặng Quốc Bảo khi bàn về quản lý giáo dục

Trang 13

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “ Quản lý giáo dục là hệ thốngtác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằmlàm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được cáctính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trìnhdạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiếnlên trạng thái mới về chất”.[29,12]

Tác giả Trần Kiểm đã đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục với nhiềucấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô

+ Cấp vĩ mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác ( có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đếntoàn bộ hệ thống ( từ trung ương, địa phương đến các cơ sở giáo dục là nhàtrường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáodục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích củachủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sửdụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệthống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằngvới môi trường bên ngoài luôn luôn biến động

Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủthể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách

có hiệu quả các nguồn lực giáo dục ( nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ chomục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

+ Cấp vi mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác ( có ýthức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lýđến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh vàcác lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Trang 14

Cũng có thể định nghĩa quản lý giáo dục thực chất là những tác độngcủa chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục ( được tiến hành bởi tập thể Giáoviên và Học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hìnhthành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo củanhà trường [24, 37]

* Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạtđộng dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông ViệtNam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa giáo dụccủa Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhândân, của đất nước [21,17]

Tóm lại: Theo các tác giả thì khái niệm quản lý giáo dục đều chứa đựngcác nhân tố đặc trưng bản chất như: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ

mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ, Sở, Phònggiáo dục, còn ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường Phải có hệthống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từtrung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giaiđoạn cụ thể của xã hội; Phải có một lực lượng đông đảo của xã hội nhữngngười làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tươngứng

Quản lý giáo dục có tính xã hội cao Bởi vậy, cần tập trung giải quyếttốt các vấn đề xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụcho công tác giáo dục Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất củaquản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lýquan trọng nhất

1.2.3 Quản lý giáo dục cộng đồng

1.2.3.1 Giáo dục cộng đồng

1.2.3.1.1 Giáo dục

Trang 15

Giáo dục là một hiện tượng xã hội Lúc đầu, giáo dục xuất hiện nhưmột hiện tượng tự phát diễn ra đơn giản, theo lối quan sát – bắt chước, về saugiáo dục trở thành một hoạt động có ý thức Con người dần biết xác định mụcđích, hoàn thiện về nội dung và tìm ra các phương thức để tổ chức quá trìnhgiáo dục có hiệu quả Ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổchức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình, có kế hoạch, nội dung,phương pháp hiện đại, diễn ra theo một nhịp độ khẩn trương và đã trở thànhđộng lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người.

Phân tích hiện tượng giáo dục trong lịch sử nhân loại về tất cả cácphương diện, nó có những tính chất cơ bản sau đây:

+ Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Giáodục xuất hiện, gắn bó cùng loài người Ở đâu có con người, ở đó có giáo dục(tính phổ biến) Khi nào còn loài người lúc đó giáo dục vẫn tiếp diễn (tínhvĩnh hằng)

+ Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của

xã hội loài người Về bản chất, giáo dục là sự truyền đạt và tiếp thu nhữngkinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ sau; về mục đích, giáo dục là sựđịnh hướng của thế hệ trước cho sự phát triển của thế hệ sau; về phương thứcgiáo dục là cơ hội giúp mỗi cá nhân đạt tới hạnh phúc và là cơ sở đảm bảocho sự kế thừa, tiếp nối và phát triển những thành quả văn minh của xã hộiloài người

+ Giáo dục là hiện tượng có tính lịch sử, giáo dục ra đời theo nhu cầucủa lịch sử xã hội, một mặt nó phản ánh trình độ phát triển của lịch sử, mặtkhác nó lại tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử Ở mỗi giai đoạnphát triển của xã hội có một trang lịch sử của giáo dục

+ Trong xã hội có giai cấp, giáo dục được sử dụng như một công cụ củagiai cấp cầm quyền nhằm duy trì quyền lợi của mình thông qua mục đích, nộidung và phương pháp giáo dục Do vậy, giáo dục có tính giai cấp

Trang 16

+ Mỗi quốc gia có một truyền thống lịch sử, có nền văn hóa riêng, chonên giáo dục ở mỗi nước cũng có những nét độc đáo, những sắc thái đặc trưngthể hiện trong mục đích, nội dung, phương pháp và trong sản phẩm giáo dụccủa mình Do vậy, giáo dục có tính dân tộc.

Từ những phân tích trên, chúng tôi đi đến kết luận: Giáo dục là mộthiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế

hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được thừakế,bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên

Trong giáo dục học, khái niệm giáo dục ở cấp độ xã hội được hiểu theonghĩa rộng và nghĩa hẹp:

+ Theo nghĩa hẹp:

Khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp ở cấp độ xã hội là khái niệm chỉ quátrình tác động, gây ảnh hưởng đến ý thức và hành vi người khác Theo nghĩahẹp, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩmchất đạo đức thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu Ở cấp

độ này, khái niệm giáo dục ngang hàng với khái niệm dạy học

1.2.3.1.2 Cộng đồng và cộng đồng xã hội

* Cộng đồng:

Trang 17

Xã hội loài người được bắt đầu từ những bầy, đàn, nhóm người cùngnhau chung sống và lao động Cộng đồng là một thuộc tính của xã hội loàingười ngay từ lúc sơ khai và khái niệm cộng đồng đã tồn tại từ lâu trong lịch

sử Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm này mãi đến cuối thế

kỉ XIX mới được các nhà xã hội học tiến hành, một trong số những người tiênphong là nhà xã hội học người Đức F Tonnies Từ đó đến nay, đã có nhiềuđịnh nghĩa về cộng đồng như sau:

- Cộng đồng là một tập hợp những thành viên gắn bó với nhau bằngnhững giá trị chung Cộng đồng có sự kết nối nội tại không phải do nhữngquy tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn, mà do những liên kết sâu hơn nhưhuyết thống, truyền thống… Khái niệm cộng đồng hiện được dùng rộng rãitrong các lĩnh vực và chính trị.Ở các lĩnh vực này, cộng đồng mang những giátrị chung mà ở đó mỗi thành viên trong các quan hệ hợp tác với nhau để manglại lợi ích cao nhất do chính mình cũng như cho cả cộng đồng

- Cộng đồng là một kiểu tổ chức xã hội được hình thành trong một quátrình lịch sử lâu dài, dựa trên cơ sở của sự thống nhất, sự câu kết với nhau vềlợi ích, quyền lợi, nghĩa vụ, những nhu cầu cùng tồn tại và phát triển của mọithành viên sống và làm việc trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

- Cộng đồng là một tập hợp người sống trên một phạm vi lãnh thổ, cónhững nét chung về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, có những mối quan tâm,những lợi ích cùng chia sẻ

- Cộng đồng là một mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân được quyếtđịnh bởi sự liên hệ giữa các lợi ích nhờ sự giống nhau về các điều kiện tồn tại

và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó Sự giống nhaunày có thể kể đến các hoạt động vật chất, sản xuất, quan điểm, tín ngưỡng,quan điểm về sự sống

- Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có chung một lợiích và cùng chung sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sốnggần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của mộtnhóm các cá nhân và không thực hiện chức năng như một thể thống nhất

Trang 18

- Nguyễn Sinh Huy đã nhấn mạnh rằng, khái niệm cộng đồng có nhiềucách định nghĩa khác nhau, nhưng cần chú ý đến những yếu tố cơ bản sauđây:

*Cộng đồng xã hội:

Xét về một khía cạnh nào đó có thể quan niệm cộng đồng là một cấutrúc vi mô, còn cấu trúc vĩ mô chính là xã hội Xã hội là một thuật ngữ rấtthông dụng để chỉ một tập hợp những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội chặt chẽ với nhau

Theo quan điểm xã hội học, cộng đồng xã hội là một khái niệm kháphức tạp, mặc dù trên thực tế chúng ta nói đến từ này rất nhiều mà không cầngiải thích Tuy nhiên, điều quan trọng là phải chỉ ra những đặc điểm bản chấtnhất của nó như sau:

- Thứ nhất là đặc điểm về lãnh thổ

- Thứ hai là đặc điểm liên quan đến tái sản xuất và dân cư Điều này cóchức năng tạo ra những thành viên mới cho xã hội

Trang 19

- Thư ba là đặc điểm có liên quan tới hệ thống pháp luật, văn hóa vàbản sắc dân tộc.

Trong thực tế chúng ta cũng thường gặp khái niệm “cộng đồng xã hội”

để chỉ tập người có đặc điểm giao thoa như vừa phân tích ở trên

1.2.3.1.3 Giáo dục cộng đồng (GDCĐ)

Trên thế giới khái niệm GDCĐ (Community Education) được sử dụng

từ cuối thế kỉ XIX Ở Việt Nam, khái niệm này cũng đã được triển khai một

số loại hình giáo dục mang tính chất GDCĐ trước khi nói đến GDCĐ

Có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm GDCĐ này như sau:

- Theo tuyên bố về sứ mạng của Hiệp hội GDCĐ quốc tế: GDCĐ làquá trình làm cho cộng đồng có đủ khả năng kiểm soát sự phát triển và cảithiện chất lượng cuộc sống của cộng động thông qua việc học tập suốt đời

Nó tạo thêm sinh lực và nguồn lực tự nguyện để xây dựng, cải thiện cộngđồng thông qua việc xác định và đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng Nótrao quyền cho mọi người để họ có thể quyết định và hành động vì sự pháttriển của cộng đồng mình

- GDCĐ là phương thức giáo dục không chính quy tạo cơ hội cho cácđịa phương, các nhà trường cộng đồng, chính quyền, đoàn thể trở thànhnhững đối tác chủ động và tích cực trong việc giải quyết những mối quan tâm

về giáo dục, cũng như những mối quan tâm chung của cộng đồng Nó làm chocác thành viên của cộng đồng xích lại gần nhau, cùng nhau xác định và liênkết những nhu cầu và nguồn lực của cộng đồng theo cách thức giúp mọingười là tự giúp mình để nâng cao chất lượng cuộc sống trong cộng đồng Nógiúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự phát triển để tạo ra những thayđổi

- GDCĐ là những hoạt động có tính chất giáo dục nhằm tạo cơ hội chocác thành viên của cộng đồng trở thành những đối tác tích cực và chủ độngtrong việc giải quyết những vấn đề của cộng đồng thông qua việc cung cấpkiến thức, vui chơi giải trí, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ xãhội, định hướng nghề nghiệp, rèn luyện kĩ năng sống, kỹ năng lao động sảnxuất… cho người dân ở mọi lứa tuổi

Trang 20

Tích hợp những cách hiểu trên đây, chúng ta có thể đưa ra nội dung cơbản của khái niệm này như sau:

GDCĐ là một phương thức giáo dục, đào tạo không chính quy hoặcnhững hoạt động mang tính giáo dục diễn ra tại cộng đồng nhằm:

+ Tạo thêm cơ hội và lựa chọn về những vấn đề cần học tập cho mọi

cư dân của cộng đồng, không phân biệt lứa tuổi

+ Làm cho người dân trong cộng đồng, nhà trường cộng đồng, chínhquyền, các đoàn thể trở thành những đối tác tích cực và chủ động liên kết cácnhu cầu và nguồn lực để giải quyết những vấn đề chung của chính cộng đồngmình

+ Giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển cộng đồng

Hay có thể hiểu:

GDCĐ là nền giáo dục vì mọi người, diễn ra ở mọi địa điểm và vớinhiều hình thức học tập khác nhau: Chính quy, không chính quy, học tập ở nơilàm việc, ở các cơ sở đào tạo kỹ thuật và dạy nghề, đào tạo giáo viên và cả ởcác tổ chức cộng đồng và xã hội dân sự địa phương, GDCĐ đòi hỏi dự tiếpcận giáo dục đổi mới, từ chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm vàkiểm tra đánh giá

GDCĐ là giáo dục hiện đại theo đuổi mục tiêu xây dựng và phát triểncác năng lực cho cá nhân và cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho công dân đưa

ra các quyết định dựa trên cộng đồng, sự khoan dung xã hội, việc cai quảnmôi trường, lực lượng lao động có khả năng thích ứng và chất lượng cuộcsống GDCĐ liên kết chặt chẽ và phù hợp môi trường và văn hóa địa phương;dựa trên những nhu cầu, nhận thức và điều kiện của địa phương, ưu tiên giảiquyết các vấn đề địa phương trong bối cảnh chung, cục diện toàn cầu

1.2.4 Quản lý giáo dục cộng đồng đối với trẻ vị thành niên

1.2.4.1 Quản lý giáo dục cộng đồng

Trang 21

Quản lý giáo dục cộng đồng là hoạt động điều hành, phối hợp các lựclượng xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của dân cư trong cộng đồng theophương châm “Cần gì học nấy” Đó là hệ thống những tác động, những biệnpháp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu giáodục đề ra.

Nội dung quản lý nhằm phát triển giáo dục cộng đồng bao gồm:

- Quản lý các đối tượng tham gia học tập tại các lớp GDCĐ

GDCĐ là nơi tiến hành các hoạt động GDTX với mục đích học tập đápứng những nhu cầu học tập cụ thể của các nhóm đối tượng khác nhau ViệcGDCĐ giúp cho mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời.Không những thế nó còn là cơ hội học tập cho tất cả các đối tượng xã hội, từtrẻ em thất học đến người lớn chưa biết chữ; từ những cán bộ công chức nhànước đến những công dân, nông dân; từ những thanh niên không có cơ hộihọc tập trong nhà trường đến cả những người đang được đào tạo chính quycần học thêm các chương trình bổ trợ và các kỹ năng sống khác; từ nhữngthanh niên vi phạm pháp luật cần được giáo dục lại và cần được sự quan tâm,

hỗ trợ của cộng đồng để làm lại cuộc đời… Như vậy ta thấy GDCĐ làphương thức giáo dục mềm dẻo, linh hoạt, đa dạng về đối tượng, phong phú

về nội dung chương trình Do đó cần tạo môi trường học tập thoải mái chongười học

- Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, hướng dẫn viên, báo cáo viên thựchiện tổ chức các hoạt động GDCĐ:

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, hướng dẫn viên, báo cáo viên của trung tâmchủ yếu là những người tình nguyện của cộng đồng, của các ban, ngành đoànthể và các nhà trường; ở họ có sự nhiệt tình, hiểu biết, có năng lực, có tâmhuyết sẵn sàng tự nguyện tham gia giảng dạy vì sự phát triển của cộng đồng

Đó là các cán bộ chuyên môn, kỹ sư các ban ngành, đoàn thể ở Trung ương,tỉnh, huyện vã xã; đội ngũ giáo viên mẫu giáo, tiểu học, THCS tại các xã và

Trang 22

của TTGDTX; những người sản xuất giỏi, có nghề truyền thống, những thanhniên, phụ nữ tiêu biểu có trình độ và nhiệt tình ở cộng đồng địa phương.

- Quản lý chương trình GDCĐ:

Các chương trình của GDCĐ là các hoạt động học tập được tổ chứcnhằm đáp ứng nhu cầu cần gì học nấy của cư dân trong cộng đồng Tại cácCuộc hội thảo về việc phát triển GDCĐ, cụ thể là các TTHTCĐ do Bộ GD &

ĐT phối hợp với hội Khuyến học Việt Nam tổ chức tại Hà Nội đã thống nhất

+ Chương trình bồi dưỡng văn hóa cơ bản, ngoại ngữ, tin học…

- Quản lý các phương thức và hình thức tổ chức học tập tại các lớpGDCĐ:

Phối kết hợp là phương thức học tập chủ yếu của các lớp GDCĐ nhằmhuy động nguồn lực (kinh phí, con người, nội dung hoạt động…) để duy trì vàphát triển các chương trình hoạt động giáo dục mang tính cộng đồng Nộidung hoạt động của các lớp giáo dục cộng đồng phải do cộng đồng và tất cảcác ban ngành, đoàn thể cùng xây dựng, cùng tổ chức thực hiện, cùng lo kinhphí, tài liệu, báo cáo viên, giảng viên

GDCĐ là hình thức giáo dục không chính quy Do vậy, việc tổ chứchọc tập, xây dựng các chương trình mang tính cộng đồng này phải đảm bảotính đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo với nội dung học tập thiết thực, phù hợp vớiđiều kiện của đối tượng và địa phương; thủ tục học đơn giản nhưng phải đảmbảo nguyên tắc quản lý nhà nước về giáo dục

Hình thức tổ chức các chương trình GDCĐ rất đa dạng: Các lớp họctheo cấp lớp; có quy chế chặt chẽ để lấy các văn bằng như các lớp XMC; bổ

Trang 23

túc tiểu học; bổ túc trung học cơ sở; các lớp học theo chuyên đề; các buổi nóichuyện, các lớp tập huấn chuyển giao khoa học, kĩ thuật; các hội thảo trao đổikinh nghiệm với các chủ đề khác nhau; các câu lạc bộ; xem phim video; thamgia thực tế; tổ chức hội thi; các buổi tư vấn; tổ chức triển lãm…

- Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng GDCĐ:

Để đảm bảo chất lượng của các chương trình GDCĐ, ngoài việc quản

lý tốt các chương trình học tập, cần phải quản lý tốt các yếu tố sau đây: độingũ CBQL và GV; nguồn lực tài chính; CSVC và các phương tiện dạy học

+ Đội ngũ CBQL phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng,

có kinh nghiệm quản lý, có tâm huyết, có thời gian và nhiệt tình; có đội ngũ

GV, hướng đẫn viên, báo cáo viên rất đa dạng nhưng phải đảm bảo chấtlượng, có sức thuyết phục cao

+ Cơ sở vật chất để tiến hành cho các hoạt động GDCĐ sẽ do cấp ủy,chính quyền xây dựng, phải sử dụng và quản lý tốt nguồn ngân sách hỗ trợ đểmua sắm các trang thiết bị cần thiết cho việc dạy học, giáo dục này

- Kiểm tra, đánh giá:

Với chương trình đào tạo, hình thức học tập và đối tượng đa dạng, linhhoạt và mềm dẻo như vây đòi hỏi việc quản lý, kiểm tra, đánh giá cũng phải

đa dạng

1.2.4.2 Quản lý giáo dục cộng đồng đối với nhóm trẻ vị thành niên

Nhóm trẻ vị thành niên

 Khái niệm Trẻ em

Theo công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc “trẻ em có nghĩa là

mọi người dưới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổitrưởng thành được quy định sớm hơn" Trong trường hợp ở Việt Nam, luậtpháp qui định tuổi trưởng thành là 18 tuổi nên trẻ em được định nghĩa theođúng như khoảng tuổi của công ước quốc tế [38]

Trẻ vị thành niên

Trang 24

- VTN (người sắp đến tuổi trưởng thành) là những em đang ở giai đoạnchuyển tiếp từ ấu thơ sang trưởng thành trong độ tuổi từ 10- 19 (theo quy địnhcủa Tổ chức Y tế Thế giới) Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ vàphức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người Biểu hiện của nó là xảy ra đồngthời một loạt những thay đổi bao gồm: Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sựbiến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhâncách nên nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác.

- Tuổi VTN còn được chia ra ba nhóm:

* Nhóm VTN sớm (10-13 tuổi)

* Nhóm VTN giữa (14-16 tuổi)

* Nhóm VTN muộn (17-19 tuổi)

- Sự phân chia các nhóm như vậy là dựa trên sự phát triển thể chất, tâm

lý xã hôi của từng thời kỳ, sự phân chia này cũng chỉ có tính chất tương đối

Vì trong thực tế, yếu tố tâm sinh lý, phát triển thể lực của mỗi em có nhữngđặc điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng như sự phân định

Vậy quản lý giáo dục cộng đồng đối với trẻ vị thành niên là việc tổ

chức, hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động, chương trình, dự án…có sự tham giacủa cộng đồng xã hội dành cho đối tưởng trẻ vị thành niên với mục tiêu rènluyện, dạy dỗ, giúp đỡ và tạo cơ hội học tập tốt nhất cho nhóm trẻ này

1.3 Đặc điểm của giáo dục cộng đồng

1.3.1 Đặc trưng cơ bản của giáo dục cộng đồng

Đặc trưng cơ bản của giáo dục cộng đồng là hướng những hoạt độngcủa cơ sở giáo dục và đào tạo vào việc làm thỏa mãn mọi nhu cầu giáo dục vàđào tạo cho từng cá nhân và cộng đồng dân cư trong vùng kinh tế - xã hội cónhững đặc thù riêng (về cấu trúc xã hội, trình độ phát triển kinh tế, sản xuất,bản sắc và văn hóa truyền thống)

Hiệp hội HTCĐ ở British Columbia cho rằng HTCĐ có 8 đặc điểmchính như sau:

- Có sự tham gia của các cư dân trong cộng đồng vào giải quyết vấn đề

và ra quyết định, thông thường qua hội đồng cộng đồng

Trang 25

- Tìm kiếm và tạo cơ hội học tập suốt đời cho người học ở mọi lứatuổi.

- Sử dụng các nguồn lực của cộng đồng cho các chương trình giáo dục

- Có cơ hội cho các cha mẹ tham gia vào quá trình học tập của con cái

và cuộc sống học tập

- Sử dụng tối đa các phương tiện giáo dục có trong cộng đồng

- Có sự phối kết hợp và cộng tác của nhiều cơ quan, tổ chức để cungcấp dịch vụ giáo dục về xã hội, kinh tế, văn hóa, giải trí… cho mọi thành viêncủa cộng đồng

- Có quan hệ đối tác giữa doanh nghiệp, các nhà kinh doanh và nhàtrường cộng đồng để cải thiện bầu không khí học tập

- Có các tình nguyện viên giúp đỡ để cung cấp, phân phát dịch vụ chocộng đồng

1.3.2 Đối tượng của giáo dục cộng đồng

Đối tượng của giáo dục cộng đồng là sự giáo dục cho tất cả con ngườiViệt Nam và trên khắp thế giới, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngônngữ, địa vị, trình độ kinh tế- xã hội, giới tính, nghề nghiệp

Khi tìm hiểu một cách sâu sắc và trên từng phương diện giáo dục thì cóthể thấy đối tượng của giáo dục cộng đồng rất đa dạng Cụ thể như sau:

- Người lớn, những người đang công tác, có vị trí nghề nghiệp xã hộinhưng vẫn có những nhu cầu học tập, bồi dưỡng thêm

- Những trẻ em có hoàn cảnh, không đủ điều kiện để tham gia học tậptrong môi trường học tập chính quy

- Những cá nhân, tập thể đã từng vi phạm pháp luật cần được uốn nắn,giúp đỡ từ cộng đồng

Đặc biệt, hiện nay giáo dục cộng đồng đang hướng tới và tập trung chủyếu vào đối tượng là trẻ em, đặc biệt là trẻ em vị thành niên Bởi lẽ đây là lứatuổi hiếu động và có nhiều vấn đề phức tạp nhất của giai đoạn phát triển củacon người chúng ta

Trang 26

Dựa vào đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này cũng như hiện nay, tìnhtrạng vị thành niên có những hành vi vi phạm pháp luật đang là một vấn đềhết sức nghiêm trọng Đặt ra từ nhu cầu thực tế đó, thiết yếu trẻ em cần đượctiếp cận nền giáo dục một cách thường xuyên, liên tục trong những môitrường giáo dục kết hợp từ cả ba phía chủ thể là nhà trường, gia đình và cộngđồng xã hội.

Vì vậy, đề tài của tôi chủ yếu nghiên cứu tập trung các hoạt động giáodục cộng đồng đối với đối tượng là nhóm trẻ vị thành niên

1.3.3 Nội dung của giáo dục cộng đồng

GDCĐ là sự giáo dục mới với địa điểm học tập thuận lợi, các hình thứchọc tập đa dạng, phù hợp đặt tại từng xã, phường với nội dung đáp ứng đượcnhu cầu cần gì học lấy của nhân dân Không chỉ vậy, GDCĐ còn có khả năngtạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân trong cộng đồng Do đó, việcphát triển phương thức GDCĐ là cần thiết và trở thành xu thế tất yếu của thờiđại nhằm phát triển cộng đồng

Hiện nay, GDCĐ đang hoạt động với chương trình, nội dung hết sứcphong phú và đa dạng, xuất phát từ nhu cầu của người lao động như: Xóa mùchữ, giáo dục giới tính, bổ túc văn hóa, tin học, ngoại ngữ, các hoạt độngchuyên đề, phổ biến thời sự, pháp luật chính sách mới của Đảng và nhà nước,chuyển giao tiến bộ KH – KT, hướng nghiệp học nghề, văn nghệ, thể thao,môi trường, kiến thức phòng chống tệ nạn xã hội, các dịch bệnh…

Như vậy, Giáo dục cộng đồng được hiểu là:“ Phương thức GD khôngchính quy do người dân trong cộng đồng (phường/ xã) tự tổ chức nhằm đápứng nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của những người không đủ điềukiện theo học các lớp chính quy (chức năng chủ yếu là thông tin, tư vấn, phổcập những kiến thức thiết thực với từng đối tượng học)” (từ điển GDH)

GDCĐ có những nội dung hoạt động sau:

1.3.3.1 Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng

Trang 27

Những thành viên trong tổ chức cộng đồng phải tiến hành tìm hiểu yêucầu về nội dung mà người dân muốn học Từ đó, lập kế hoạch thực hiện cácnhu cầu ưu tiên về thời gian, địa điểm, số người tham gia học tập, phươngpháp tổ chức, dự kiến nhân lực, giáo viên, kinh phí cho từng hoạt động Việc

hệ thống hóa những nhu cầu học tập do người dân đăng ký sẽ giúp cho nhữngthành viên trong cộng đồng xác định được những chương trình hoạt động củatừng quý và cả năm, quan trọng nhất là xã định được mục tiêu trong từngchương trình khung

1.3.3.2 Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp

Nhằm cập nhật kiến thức và kỹ năng lao động kỹ thuật cho người dân;giúo học tiếp cận với những công nghệ sản xuất mới giúp cho người lai độngđược đào tạo nghề nghiệp, giải quyết việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo,làm tăng năng suất lao động, giúp người có những thay đổi trong cách thứclàm ăn, thích ứng được với cơ chế thị trường

1.3.3.3 Phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật

Việc nâng cao nhận thức cho người dân về đường lối, chủ trương, chínhsách pháp luật của Đảng và Nhà nước, chủ trương của cấp ủy, chính quyền cơ

sở, từng bước xây dựng lối sống có văn hóa trong cộng đồng, làm tăng thêm

sự hiểu biết lẫn nhau, tạo được sự đồng thuận của người dân trước chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước, thực hiện nguyên tắc: “Dân biết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra”, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường mốiliên hệ, gắn bó giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể với quần chúng Trở thànhmột công cụ thiết yếu trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.1.3.3.4 Bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng

Ngày nay mọi người học không chỉ để biết mà chủ yếu học để làm việc,học để tồn tại và học để cùng chung sống Nhận thức được tầm quan trọng,vai trò của việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ, cập nhật cho mọi người nhữngkiến thức, kỹ năng sống cần thiết, việc GDCĐ không chỉ dạy chữ, dạy vănhóa mà ngày càng coi trọng việc cung cấp các kỹ năng sống cần thiết thông

Trang 28

qua việc mở các Trung tâm học tập cộng đồng với các lớp học chuyên đề, cáclớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật… Việc cập nhật kiến thức và các

kỹ năng lao động kỹ thuật cho người dân, giúp họ tiếp cận với những côngnghệ sản xuất mới, mang lại cho họ những thông tin cần thiết để thay đổi cáchnghĩ, cách làm theo truyền thống, có tác dụng giúp người dân tăng thu nhập,xóa đói giảm nghèo, góp phần cải thiện nền kinh tế cộng đồng

1.3.3.5 Nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm

Việc nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm là việc hết sức quan trọng.Dựa trên cơ sở đó, để đánh giá những điểm thành công và chưa thành công vềnội dung, phương pháp, kết quả học tập, hứng thú học tập, môi trường họctập Phân tích nguyên nhân thành công và chưa thành công, rút ra bài họckinh nghiệm để áp dụng vào việc tổ chức và xây dựng nội dung hoạt độngphù hợp cho giai đoạn tiếp theo

1.3.4 Phương thức cơ bản của giáo dục cộng đồng

Giáo dục cộng đồng là mô hình giáo dục mới, hoạt động theo phươngthức giáo dục không chính quy Mang tính tự phát trên cơ sở căn cứ vào cácnhu cầu thiết yếu của người dân

Phương thức giáo dục cộng đồng rất đa dạng, có thể giáo dục thông quacác chương trình giảng dạy Hoặc thông qua các chương trình, hoạt động giáodục ngoại khóa ở địa phương, các tụ điểm

1.3.5 Kiểm tra, đánh giá giáo dục cộng đồng

Kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho cáchoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức Đánh giá có liên quan chặt chẽ vớikiểm tra, dựa vào kiểm tra và là kết quả của kiểm tra

Giáo dục cộng đồng là phương thức giáo dục không chính quy chưa cótiền đề kinh nghiệm quản lý nên việc kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm vềquản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động của GDCĐ cần được coi trọng

Các tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, tổ chức, điều hành, giám sát cáchoạt động của giáo dục cộng đồng cần tổ chức các cuộc họp định kỳ để kiểm

Trang 29

điểm, đánh giá rút kinh nghiệm những hoạt động đã được tiến hành, cùngnhau bàn bạc, giải quyết khó khăn và đề ra những chiến lược hoạt động phùhợp, có hiệu quả cho cộng đồng dân cư Cần coi trọng công tác liên kết, phốihợp với lãnh đạo chính quyền các cấp, các đoàn thể, tổ chức, cá nhân… ở địaphương nhằm tạo ra được những hoạt động giáo dục cộng đồng có ý nghĩathiết thực, hữu ích cho người dân.

Tóm lại ta thấy, việc kiểm tra, đánh giá là cơ sở người lãnh đạo, tổ chứccác hoạt động GDCĐ có thể đánh giá được những việc đã làm được, chưađược, từ đó điều chỉnh lại nội dung hoạt động và tiến hành xây dựng nhữngchương trình hoạt động cho phù hợp với đối tượng, với tình hình thực tế địaphương

1.4 Đặc điểm của nhóm trẻ vị thành niên

1.4.1 Đặc điểm tâm lý

1.4.1.1.Trẻ vị thành niên muốn được tự do và tự lập

Đứa trẻ bắt đầu muốn được cha mẹ cho mình cái quyền tự do về tinhthần, chẳng hạn như được phát biểu ý kiến và muốn được quyền có luật lệriêng tư thí dụ như cha mẹ vào phòng của chúng phải báo trước hay gõ cửa,không được mở thư gửi đề tên chúng ra xem

Theo các chuyên viên tâm lý thì hành động và thái độ đòi hỏi sự tự do

và độc lập như thế xảy ra khi đứa trẻ bước vào ngưỡng cửa bắt đầu học làmngười lớn ấy không có gì là bất thường cả Trái lại, điều này giúp cho trẻ con

có tinh thần tự tin vào chính mình hơn

Một số em từ 13, 14 tuổi đã bắt đầu chứng tỏ sự trưởng thành của mìnhkhi biết chăm chỉ học hành, giúp cha mẹ chăm sóc nhà cửa Nghĩa là các em

tự biết mình có bổn phận với chính đời sống của mình và gia đình, thế nhưng

số trẻ như vậy rất hiếm hoi

1.4.1.2 Trẻ vị thành niên muốn được tôn trọng

Ở tuổi này, trẻ vị thành niên muốn được tôn trọng như người lớn vàmuốn mọi người chung quanh nhìn thấy em là một cá thể riêng biệt Các em

Trang 30

không bao giờ muốn bị so sánh hoạch bị phê bình, chỉ trách trước mặt ngườikhác Trẻ vị thành niên tỏ vẻ khó chịu khi bị so sánh, chê bai.

Ở tuổi vị thành niên, đứa trẻ bắt đầu có những suy nghĩ và ý thíchriêng

Trẻ vị thành niên cũng muốn được tự mình hoàn thành một công việcđược giao phó theo cách riêng của mình Các em muốn cha mẹ tin tưởng làcác em biết nhận trách nhiệm

Khi ở tuổi này, trẻ vị thành niên cũng rất dễ tự ái và tổn thương khi bị

la rầy hơn là lúc chúng còn nhỏ

1.4.1.3 Trẻ vị thành niên thách thức thẩm quyền của cha mẹ

Như đã nói ở trên, với những thay đổi về tâm lý cộng thêm những kiếnthức thu nhận từ trường học, từ xã hội, trẻ vị thành niên ngày nay hiểu biếthơn và biết lý luận để bênh vực những hành động của mình

1.4.1.4 Trẻ vị thành niên nhận ra được khuyết điểm của cha mẹ

Ở tuổi vị thành niên, các em bắt đầu nhận biết rằng cha mẹ không phảilúc nào cũng đúng, hoặc biết tất cả mọi việc như các em tưởng khi còn nhỏtuổi hơn Nhờ trường học, nhờ mạng lưới thông tin mở rộng và những khảnăng sử dụng hệ thống điện tử thành thạo, trẻ vị thành niên ngày nay cónhững hiểu biết hơn cha mẹ của chúng ở tuổi này vào những thập niên trướcrất nhiều

Trẻ vị thành niên đã có những phán đoán và nhận xét về thái độ sốngcủa người lớn nên nếu cha mẹ sống không ngay thẳng hay giả dối thì các emcũng nhận biết ngay

Các giai đoạn phát triển tâm lý tuổi vị thành niên:

Giai đoạn đầu (gần với tuổi thiếu niên) Nam: 12-14 tuổi; Nữ: 10-12

tuổi Những biến đổi tâm lý đặc trưng như:

- Chú ý đến quan hệ bạn bè, coi trọng mối quan hệ bạn bè

- Xuất hiện những tình trạng lưỡng cực (mâu thuẫn), vừa gắn bó tuânthủ cha mẹ, vừa chống đối muốn tách khỏi sự bảo hộ của cha mẹ

Trang 31

- Nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, khuynh hướng tìm định cái tôi cá nhân.

- Nhu cầu tự khám phá cơ thể (hay để ý, băn khoăn với những thay đổicủa cơ thể)

- Thích khám phá, thử nghiệm những hành vi tình dục cùng giới

- Bắt đầu suy nghĩ trừu tượng

Tuổi thiếu niên vẫn còn mang nhiều đặc trưng của một đứa trẻ, phụthuộc nhiều vào gia đình, quan tâm nhiều đến những thay đổi của cơ thể, haysuy tư về hình ảnh cơ thể, dễ băn khoăn lo lắng, buồn rầu về những nhượcđiểm của cơ thể Mối quan tâm đến bạn bè bắt đầu nổi lên như là một đáp ứngchuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới

Giai đoạn giữa vị thành niên – tương đương với tuổi thiếu niên lớn:

Nam: từ 15-17 tuổi; Nữ: từ 13 -16 tuổi

- Nỗ lực cao nhất tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha

mẹ (vì vậy hay có xung đột với cha mẹ)

- Phát triển mạnh cá tính và sự xã hội hóa

- Có xu hướng lý tưởng hóa, vị tha (định hướng vào cái tôi xã hội)

- Tiếp tục quan tâm đến hình ảnh của cơ thể (thích chăm sóc cơ thể)

- Thích hò hẹn, khám phá giới kia (nhu cầu hấp dẫn, chinh phục bạnkhác giới), nhóm bạn có vị trí quan trọng số 1, đặc biệt là bạn khác giới

- Biểu lộ mạnh mẽ xúc cảm yêu đương, hay nhầm lẫn ngộ nhận giữaxúc cảm bạn bè khác giới và tình yêu, dễ yêu, dễ thất vọng (hay có hành vitrầm cảm, tự sát)

- Tiếp tục phát triển mạnh tư duy trừu tượng

Tuổi thiếu niên lớn nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự quản lýkiểm soát của gia đình Trẻ em ở tuổi này hay phê phán cha mẹ chúng, đócũng có thể là một cách làm giảm đi quyền lực đặc trưng của cha mẹ Nhưngcác em rất cần cha mẹ với tư cách là chỗ dựa tin cậy, chỗ để tranh luận, “bắtbẻ” hay cãi lý, có thể bằng cách này các em ít nhiều thỏa mãn nhu cầu đượclàm người lớn, được đối xử như người lớn Các nhà nghiên cứu giả thiết rằng

Trang 32

“chúng cần cha mẹ có một cái gì đó sai để chúng có thể ít nhất cảm nhậnmình là người đúng, tách khỏi bố mẹ và có tính độc lập”.

Tuổi thiếu niên lớn nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình,hướng tới những người bạn đồng lứa Tuổi này có nhu cầu đặc biệt về tìnhbạn, cảm nhận được những tinh tế trong tình bạn Nhu cầu tình bạn trở thànhcấp thiết và quan trọng nhất, đặc biệt là nhu cầu về người bạn khác giới: các

em rất sợ cô đơn, sợ bị bạn tẩy chay… Bạn không phải là người cùng chơi,cùng hoạt động, cùng sở thích hứng thú… mà là đối tượng để tâm tình, chia

sẻ những bất an… để nhận xét phê phán, đồng nhất mình với bạn

Tuổi thiếu niên lớn tràn đầy xúc cảm, dễ xúc động, khó kềm chế xúccảm bộc phát, dễ bị tổn thương Trạng thái tình cảm của các em thất thường,không ổn định, thoắt vui rồi lại thoắt buồn, khó kiểm soát xung tính, dễ bịkích động (dễ nổi nóng, dễ nản ở con trai… dễ khóc, dễ tủi thân ở con gái)

Đây là lứa tuổi phát triển những xúc cảm yêu đương: dễ rung độngtrước người bạn khác giới, có nhu cầu cao về sự hấp dẫn quyến rũ tình dục,nhưng cũng dễ nhầm lẫn giữa bản năng tình dục, xúc cảm yêu đương với tìnhyêu

Các em có nhu cầu thử nghiệm muốn khám phá các năng lực trongquan hệ tình dục và có không ít những vấp ngã, song đó là cách để các emchuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo (học cách bày tỏ và kiểm soát xúccảm, phát triển năng lực biết yêu và được yêu)

Tuổi tiếu niên lớn thích sưu tầm danh ngôn, thích văn thơ triết lý, nhucầu thần tượng hóa cũng nổi rõ, nhưng các em cũng hay cực đoan trong ýnghĩ và hành động Không ít những chàng trai hay các cô gái tuổi này thíchnhững hành động “anh hùng” phiêu lưu, mạo hiểm vì vậy chúng hay bị lôikéo vào các hoạt động của nhóm bạn xấu, hay bị kẻ xấu lợi dụng Nhà tâm lýhọc Mỹ nổi tiếng Fountain đã tóm tắt thành 5 đặc điểm tâm lý của tuổi thiếuniên lớn (15-17 tuổi) làm cho các em khác với người lớn:

Trang 33

- Lứa tuổi này có khuynh hướng bộc lộ sự căng thẳng và tính hay thayđổi của tình cảm với sự dao động lên xuống bất thường của việc lựa chọn đốitượng Trẻ ở tuổi này có nhu cầu tìm kiếm những kinh nghiệm cảm xúc vàhình như điều này buộc nó phải đi ra ngoài con đường quen thuộc của nó đểtìm kiếm những xúc cảm mới lạ.

- Lứa tuổi này có nhu cầu về sự hài lòng thường xuyên và ngay lập tức.Các em luôn khổ sở vì những chuyện không đâu (những chuyện người lớncho là vớ vẩn, không quan trọng), các em thường có cảm giác không thể chịuđựng nổi nhiều nỗi lo lắng và có nhu cầu phải giữ được hứng thú thườngxuyên

- Lứa tuổi này có thể không hiểu được những hậu quả có thể có củanhững hành vi của mình (vì vậy hay hành động bất chấp những hậu quả) và

dễ hiểu sai tình cảm, hành vi của người khác

- Trẻ ở tuổi này hay có những thất bại về sự tự phê phán, đó là nhữngthất bại trong việc nhận biết tính mâu thuẫn, tính không thích hợp và tính vô

lý của chính mình

- Nhận thức của tuổi này về thế giới xung quanh khác với nhận thứccủa người lớn Các em có một thế giới về mình với những quyền lợi, điều tốt,điều phải riêng của chúng Các em ít có khả năng nhận biết rõ ràng mối quan

hệ giữa bản thân nó với người khác và ít có khả năng nhận biết rõ các sự kiện

mà chúng không liên quan trực tiếp đến chính bản thân

Giai đoạn cuối tuổi vị thành niên, tương đương với lứa tuổi đầu thành niên: Nam: từ 18-20 tuổi; Nữ: từ 17-19 tuổi.

Đây là giai đoạn sau dậy thì, thường có những biến đổi tâm lý đặctrưng sau:

- Khẳng định (tuyên bố) sự độc lập

- Tạo dựng hình ảnh tương đối ổn định về bản thân

- Tình yêu thực tế hơn, phát triển sự cam kết

- Nhóm bạn trở nên ít quan trọng hơn, kén chọn bạn hơn

Trang 34

- Phát triển những cấu trúc tâm lý tương đối bền vững về các giá trị đạođức, đạo lý, về các mục đích sống của bản thân.

- Có khả năng suy nghĩ trừu tượng

- Hay suy nghĩ về quá khứ và tương lai

Giai đoạn lứa tuổi đầu thanh niên, các em đã trở nên giống người lớnhơn về nhiều phương diện Các em đã có cách suy nghĩ, nhận xét, cam kết,chín chắn của người lớn trong quan hệ với công việc, trong quan hệ với ngườikhác Các em giống người lớn hơn trong sự thống nhất bên trong, trong đánhgiá về bản thân, các giá trị đạo đức, đạo lý, về các mục đích sống của bản thân

ở các em có tính thực tế hơn Các em được thừa nhận về mặt xã hội nhưngười lớn (có quyền bầu cử, có quyền nhận bằng lái xe…) Tuy nhiên, các emvẫn cần một khoảng thời gian nữa để thực sự thành người lớn – người trưởngthành

Việc phân chia các giai đoạn phát triển trên đây chỉ có tính tương đối.Trong bất kỳ trường hợp nào bản thân tuổi tác chỉ là một chỉ báo nghèo nàn

về sự chín muồi và sự trưởng thành là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học, xãhội, văn hóa và tâm lý Sự trưởng thành xảy ra với tốc độ khác nhau, sẽ không

có gì ngạc nhiên khi ta thấy có sự khác biệt rất lớn giữa các nền văn hóa khácnhau, các gia đình khác nhau và giữa các cá nhân

1.4.2 Đặc điểm sinh lý

Thời kỳ trưởng thành sinh dục, nghĩa là bắt đầu có khả năng sinh con.Nơi trẻ nữ, khi bắt đầu tuổi dậy thì là trẻ nữ có kinh nguyệt lần đầu, và nơi trẻnam, là lần đầu tiên phóng tinh trùng lỏng

Vào tuổi này, nam nữ bắt đầu có sự trưởng thành của cơ quan sinh dục

và bắt đầu có khả năng thụ thai nếu có quan hệ tình dục

Sự phát triển mất cân bằng giữa tim và mạch máu đã gây ra sự thiếumáu từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm hoạt động của hệ tim mạch

bị rối loạn: tim đập nhanh, huyết áp tăng, hay chóng mặt, nhức đầu, dễ mệtmỏi, dễ bị kích thích, dễ nổi nóng…

Trang 35

Tuyến nội tiết hoạt động mạnh làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trungương,dễ gây nên những cơn xúc động mạnh, những phản ứng vô cớ, nhữnghành vi bất thường ở các em Các quá trình hưng phấn ở vỏ não mạnh vàchiếm ưu thế, các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm, do đó nhiềuthanh thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chếđược các xúc động mạnh.

Hưng phấn vỏ não lại mang tính lan toả nhiều hơn nên các em thường

có những cử chỉ, động tác phụ của tay chân, đầu, mình mỗi khi có một phảnứng nào đó nhất là các em trai Những sự mất cân bằng trên là điển hình củatrẻ vị thành niên, nhưng chúng chỉ tạm thời và sẽ qua đi theo sự trưởng thànhdần lên của các em

Ở tuổi này, con người đang hình thành những hứng thú và thay đổi mới,

có xu hướng tư tưởng hoá, vị tha, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển các

kỹ năng nói, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường

xã hội ngày một mở rộng (phát triển mạnh mẽ cá tính và xã hội hoá)

1.5 Lý luận về quản lý giáo dục cộng đồng

1.5.1 Lý luận về quản lý

1.5.1.1 Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo các khuynh hướng sau:

Trang 36

Thứ nhất, nghiên cứu quản lý theo quan điểm của điều khiển học và lýthuyết hệ thống Theo đó, quản lý là một quá trình điều khiển, là chức năngcủa những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau(sinh học, kỹ thuật, xã hội,…)

nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lý là tácđộng hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển

Thứ hai, nghiên cứu quản lý với tư cách là một hoạt động, một lao độngtất yếu trong các tổ chức của con người Theo đó, quản lý là sự tác động liêntục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý(người quản lý hay tổ chứcquản lý) lên đối tượng quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phươngpháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự pháttriển đối tượng Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thểquản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành vàđạt được mục đích của tổ chức Hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tíchhợp với nhau: đó là quá trình “quản” và quá trình “lý” Quá trình “quản” baogồm sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” bao gồm

sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đưa hệ thống vào thế phát triển Nếuchỉ lo việc “quản” tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ; nếu chỉ lo việc “lý” tổ chức đó sẽrơi vào thế mất cân bằng, mất ổn định Như vậy, quản lý chính là hoạt độngtạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới

có chất lượng mới cao hơn

Thứ ba, nghiên cứu quản lý với tư cách là một quá trình trong đó cácchức năng quản lý được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau Theo hướngnày, quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các côngviệc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồnlực phù hợp để đạt được các mục đích xác định Quản lý là quá trình đạt đếnmục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổchức, chỉ đạo và kiểm tra

Từ những phân tích trên và theo thực tiễn công tác quản lý, chúng tôi

sử dụng định nghĩa của nhóm tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - ĐặngQuốc Bảo: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thểquản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[16, tr 12]

Trong định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xácđịnh

Trang 37

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đốitượng quản lý, đây là quan hệ lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắtbuộc.

- Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm cácthành phần:

+ Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu, dẫndắt điều khiển các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu

+ Đối tượng quản lý (khách thể quản lý): Con người (được tổ chứcthành một tập thể, một xã hội); thế giới vô sinh (trang thiết bị kỹ thuật); thếgiới hữu sinh vật nuôi, cây trồng,…)

+ Cơ chế quản lý: Những phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lýđược thực hiện

+ Mục tiêu chung cho cả đối tượng quản lý và chủ thể quản lý là căn cứ

để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp vớiquy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý vàngược lại

Thực chất quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cáchvận dụng các chức năng: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Chứcnăng quản lý chính là những nội dung, phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ

đó trong quá trình quản lý sử dụng nó tác động tới đối tượng quản lý để thựchiện mục tiêu quản lý

1.5.1.2 Chức năng của quản lý:

Quản lý có bốn chức năng cơ bản:

- Chức năng kế hoạch hóa,

- Chức năng tổ chức thực hiện,

- Chức năng chỉ đạo,

- Chức năng kiểm tra

Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và bổ sung hỗtrợ cho nhau trong quá trình quản lý Chức năng quản lý là một trong nhữngvấn đề cơ bản của lý luận quản lý, nó giữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản

lý Chức năng quản lý và chu trình quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạtđộng của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý Chính vì vậy việc thực

Trang 38

hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một chu trình quản lý là cơ sở đảmbảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý Việc thực hiện chu trìnhquản lý có hiệu quả hay không là nhờ có thông tin, thông tin vừa là điều kiện,vừa là phương tiện tổng hợp các chức năng trên, các chức năng có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau theo sơ đồ sau:

Hình 1: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu và các chức năng quản lý

1.5.2 Lý luận về quản lý giáo dục

Trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thểxem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường Tác giả Trần Kiểm có viết: “Quản

lý trường học là quản lý hoạt động dạy học….Có tổ chức được hoạt động dạyhọc, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hộichủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dụccủa Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhândân, của đất nước”[17, tr12]

Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là một dạng củaquản lý xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác,lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản

lý theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thựchiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự

ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hộiđặt ra đối với giáo dục.[27, tr15]

Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy: Quản lý giáo dục là mộtdạng của quản lý xã hội, vì thế nó có đầy đủ các đặc điểm của quản lý nóichung, quản lý xã hội nói riêng

Trang 39

Do tính đặc thù của quản lý giáo dục mà những đặc điểm của quản lýgiáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lý xãhội khác Chẳng hạn: (1) Tính chất quản lý nhà nước được thể hiện rõ néttrong quản lý giáo dục ngay cả với quản lý tác nghiệp tại trường học và các

cơ sở giáo dục,(2) Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người, nhưng quản lýcon người trong quản lý giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn luyện, giáo dụccon người, tạo dựng cho họ khả năng thích ứng được với các vai trò xã hội mà

họ đã và sẽ đảm nhận…

Khi xem xét quản lý giáo dục với tư cách là hệ thống, có thể nhận thấy:Khách thể của quản lý giáo dục tổng thể là hệ thống giáo dục quốc dân;đối tượng của quản lý giáo dục tổng thể là tất cả những thành tố của hệ thốnggiáo dục như nhân sự, chương trình giáo dục, hoạt động giáo dục, người học,nguồn lực giáo dục và học liệu, môi trường giáo dục và cơ sở giáo dục, cácquan hệ giáo dục; mục tiêu của quản lý giáo dục là phát triển các thành tố của

hệ thống giáo dục trên các mặt quy mô, cơ cấu và chất lượng của chúng; Chủthể quản lý giáo dục là nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ quanquản lý, là những người chịu trách nhiệm trước nhà nước về giáo dục như cácnhà giáo, các cán bộ giáo dục khác và cả chính người học

Định nghĩa khái quát như trên cho phép xác định những thành tố cơ bảncủa hệ thống quản lý giáo dục, tuy nhiên với tính đa dạng của giáo dục cầnthiết phải có sự khu biệt phạm vi phản ánh của khái niệm này

Hệ thống giáo dục cũng có đặc trưng như các hệ thống khác, đó là tínhchất “chồng chéo về cơ cấu” Theo đó, cơ cấu của hệ thống giáo dục có thểđược xem xét theo phương diện quản lý, theo trình độ học vấn và bằng cả sựtích hợp của hai phương diện trên Với mỗi phương diện người ta đều xácđịnh được những phân hệ của hệ thống giáo dục, và những phân hệ nàyđương nhiên cũng phải được quản lý Tình hình này dẫn đến những khó khănkhi đưa ra một định nghĩa chung nhất về khái niệm quản lý giáo dục

Giải pháp của vấn đề trên là khu biệt khái niệm quản lý giáo dục theophạm vi phản ánh của khái niệm giáo dục Khái niệm giáo dục theo nghĩarộng chỉ giáo dục xã hội với hệ thống giáo dục được phân bổ rộng khắp trongphạm vi lãnh thổ theo những cấp bậc học cụ thể Khái niệm “Quản lý giáodục” với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa này là quản lý giáo dục vĩ mô.Theo nghĩa hẹp, giáo dục được giới hạn trong phạm vi trường học và các cơ

sở giáo dục khác với tư cách là phần tử của hệ thống giáo dục Khái niệm

Trang 40

“quản lý giáo dục” với khái niệm giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý giáodục vi mô.

Như vậy, khi đề cập đến quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đếnviệc quản lý toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt quy mô, cơ cấu và chấtlượng Đó là quản lý nhà nước về giáo dục Còn khi đề cập đến quản lý giáodục ở cấp độ vi mô, là đề cập đến quản lý tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục

mà trường học là hạt nhân Trọng tâm của quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô làquản lý trường học và tất cả các hoạt động, các quan hệ trên - dưới, các hoạtđộng có liên quan đến nhà trường Quản lý tác nghiệp tại trường học là quản

lý giáo dục ở cơ sở với trọng tâm là quản lý các hoạt động dạy học và giáodục Có thể mô tả các cấp độ của khái niệm quản lý giáo dục như hình dướiđây:

Hình 2: Sơ đồ các cấp độ của khái niệm Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục, xét về bản chất là một khoa học và một nghệ thuậttrong việc điều khiển, phối kết hợp các bộ phận, phân hệ và các cá nhân trong

QUẢN LÝ GIÁO DỤC VĨ MÔ – QUẢN LÝ TÁC NGHIỆP TẠI TRƯỜNG HỌC/CƠ SỞ GIÁO DỤC

Quản lý của nhà nước từ trung ương đến địa phương

Hệ thống giáo dục với các phân hệ từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học

Quản lý của lãnh đạo nhà trường/cơ sở giáo dục

Quản lý của các

tổ chuyên môn

Trường học/cơ sở giáo dục

Hoạt động dạy học và giáo dục

Quản lý của người dạy và người học

Ngày đăng: 26/08/2017, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w