1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá hiện nay

68 1,9K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 326,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chuyên ngành học là Công tác xã hội, cùng với những kiến thứcđã học, tôi chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và N

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Bốn năm học trong trường Đại học Sư phạm là quãng thời gian thậtđẹp và ý nghĩa đối với tôi Tham gia học ở trường, tôi không những đượctrau dồi kiến thức để làm hành trang, nền tảng cho bước đường sự nghiệpcủa mình mà hơn thế nữa, tôi cũng như các bạn sinh viên còn được nhận sựquan tâm, yêu thương, dạy dỗ nhiệt tình từ phía các thầy cô trong trường,trong khoa Giáo dục Chính trị - những người đầy tâm huyết với học trò củamình

Công tác xã hội là một ngành mới của trường nên chúng tôi - nhữngviên gạch nền tảng đầu tiên của ngành Công tác xã hội của trường Đại học

Sư phạm Hà Nội; những đứa con đầu lòng của Khoa Giáo dục Chính trị cũngđược tiếp xúc với một môi trường giảng dạy thật mới mang đậm phong cáchCông tác xã hội: năng động, nhiệt huyết và luôn sống vì mọi người cùng vớiđội ngũ giảng viên trẻ, nhiệt thành với công việc Vì là ngành học mới, lại làlớp sinh viên đầu tiên nên trong quá trình nghiên cứu học tập, chúng tôi cũnggặp không ít khó khăn về tài liệu học tập, giáo trình chuyên môn và nhữngbăn khoăn về nghề nghiệp tương lai Nhưng, với lòng yêu người, yêu nghềcùng với sự tư vấn về đầu ra của ngành học từ phía thầy cô đã giúp chochúng tôi đi đúng hướng và yên tâm với nghề nghiệp mình mà mình đã chọn.Các thầy cô trong khoa, đặc biệt là các thầy cô tổ Công tác xã hội đã luôn sátcánh, tiếp thêm sức mạnh cho sinh viên để đến hôm nay, chúng tôi đã cóthành quả tri thức riêng của mình

Khoá luận tốt nghiệp đại học là công trình nghiên cứu khoa học củasinh viên mang tính tổng hợp, thể hiện kết quả học tập và khả năng nghiêncứu khoa học của sinh viên suốt thời gian theo học trong trường đại học.Khoá luận tốt nghiệp đại học tập trung nghiên cứu một vấn đề cụ thể thuộcchương trình đào tạo của từng ngành

Trang 2

Với chuyên ngành học là Công tác xã hội, cùng với những kiến thức

đã học, tôi chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người

có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá hiện nay” làm

khoá luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành của mình

Để hoàn thành khoá luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tìnhcủa thầy giáo - tiến sỹ Phạm Văn Dũng Thầy đã cung cấp tài liệu và góp ýchỉnh sửa cho tôi những sai sót mà tôi gặp phải Trong quá trình làm việccùng thầy, tôi thật sự cảm phục thầy với kiến thức chuyên môn uyên thâm;phong cách làm việc khoa học, nghiêm túc cùng với những kỹ năng trongcông việc mà một nhân viên Công tác xã hội tương lai như chúng tôi cầnphải học tập nơi thầy

Vinh quang thuộc về thuộc về thầy cô, tương lai là của sinh viên,những lời nói trên giấy không thể bộc lộ hết lòng biết ơn của tôi cũng nhưcác bạn đối với thầy cô Chúng tôi xin hứa sẽ là nhân viên Công tác xã hộitốt, có ích cho xã hội và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp, đáplại công dạy bảo của thầy cô

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Giáo dục Chínhtrị, tổ Công tác xã hội của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là thầygiáo - Tiến sĩ Phạm Văn Dũng đã tận tình hướng dẫn và cung cấp tài liệu đểtôi hoàn thành khoá luận này Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tàinhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực người có công chưa thực sựchuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên khoá luận không tránhkhỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn củathầy cô để khoá luận của tôi được hoàn chỉnh và chất lượng hơn

Sinh viên thục hiện

Lê Thị Hương

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công tác xã hội hiện nay đang là một ngành nghề khá mới mẻ ở ViệtNam nói chung và ở các lĩnh vực xã hội nói riêng nên nó đã và đang đượcnhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Có ý kiến cho rằng, Công tác xã hội

là việc thực hiện các công việc từ thiện, nhân đạo nhưng bên cạnh đó cũng

có ý kiến Công tác xã hội là một nghề nghiệp chuyên môn, trợ giúp nhữngđối tượng yếu thế trong xã hội khi họ không tự giải quyết được vấn đề củamình Đối tượng của Công tác xã hội bao gồm có nhiều nhóm người yếu thếkhác nhau như người già cô đơn, lang thang không nơi nương tựa; Trẻ em cóhoàn cảnh khó khăn; Người khuyết tật; Thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ;Gái mại dâm, người nghiện ma túy và những người bị ảnh hưởng bởi HIV…Nói chung, đối tượng cần sự trợ giúp của Công tác xã hội là rất nhiều và đadạng nhưng trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi xin đê cập và làm rõ vaitrò của nhân viên Công tác xã hội đối với đối tượng Thương bệnh binh, giađình liệt sỹ và gia đình có công với cách mạng

Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm nhưng những tàn dư của nó để lại thìvẫn mãi còn tồn tại đến hôm nay Chiến tranh không chỉ phá hủy về kinh tế,làm xáo trộn xã hội mà nó còn để lại thương tích, bệnh tật trên cơ thể conngười cả về thể xác lẫn tinh thần, làm ảnh hưởng thậm chí hủy hoại cả nòigiống Những người tham gia trận chiến khi đó chỉ biết cống hiến, chiên đấuhết mình vì độc lập của Tổ quốc chứ không mảy may suy nghĩ là mai này sẽđược hưởng những chế độ ưu đãi gì Và đến nay khi hòa bình lập lại thì họ lànhững người mất sức lao động, bệnh tật hoặc tàn tật do ảnh hưởng của chiếntranh

Chúng ta đã biết, việc hoạch định ra được một chính sách xã hội đúngđắn đã khó nhưng để đưa chính sách xã hội đó vào cuộc sống, được cuộcsống chấp nhận và đạt được mục tiêu đề ra lại càng khó khăn hơn Đảng vàNhà nước ta đã có những chính sách ưu đãi dành cho đối tượng này nhưng

Trang 4

đa phần cuộc sống của họ còn gặp nhiều khó khăn và họ cần hơn nữa sự trợgiúp của cộng đồng xung quanh Thực trạng này đã và đang diễn ra ở nhiềunơi trên đất nước ta mà đơn cử đó là huyện Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh Hóa, đốitượng thương bệnh binh, gia đình có công với cách mạng chưa được hưởngchính sách ưu đãi và sự quan tâm thỏa đáng của chính quyền địa phương,phần nhiều những gia đình thuộc đối tượng này đều sống ở mức nghèo, đờisống gặp rất nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần; Vì vậy, ở đây, tôimuốn phát huy hết vai trò của nhân viên xã hội trong việc trợ giúp đối tượngnày.

Với lý do trên, tôi xin chọn đề tài “ Vai trò của nhân viên công tác xãhội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước tađối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá”làm khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong thời gian qua đã có rất nhiều chương trình, phong tràohoạt động thực hiện những chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đốitượng người có công trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá nhưphong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” hay “Uống nước nhớ nguồn” hoặc chươngtrình “Giúp thương binh làm kinh tế” song chưa có đề tài nào gắn với vai tròcủa công tác xã hội trong việc trợ giúp đối tượng này cũng như vai trò củanhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách củaĐảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng nên nên đề tài

“Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá hiện nay” là một đề tài mới.

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả thực

hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cáchmạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá hiện nay

Trang 5

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về người có công với cách

mạng ở huyện Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về thực trạng thực hiện chính sách xã hội đối vớingười có công và đưa ra một số giải pháp để phát huy vai trò của nhân viêncông tác xã hội trong việc thực hiện chính sách xã hội đối với những người

có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Đi vào tìm hiểu những nội dung cơ bản trong chính sách của Đảng

và Nhà nước ta đối với người có công

+ Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của cácgia đình thương binh liệt sỹ ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá

+ Xem xét việc thực thi chính sách xã hội của địa phương đối vớingười có công với cách mạng

+ Nêu rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc xây dựng,triển khai, bổ sung và hoàn thiện chính sách của Đảng, Nhà nước đối vớingười có công với cách mạng

+ Từ thực tiễn ở địa bàn khảo sát, đưa ra các giải pháp và kiến nghị đểgiúp cho những người làm công tác chính sách xã hội ở huyện Vĩnh Lộc -tỉnh Thanh Hoá thấy được thực trạng để điều chỉnh, bổ sung và làm tốt hơnnữa công tác “Đền ơn đáp nghĩa” ở địa phương mình

+ Đề tài cũng nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách xã hội cóđược cái nhìn đúng đắn hơn về đời sống của các gia đình thương binh liệt sĩnói riêng và các đối tượng chính sách nói chung Từ đó họ hoạch địnhnhững chính sách phù hợp với từng đối tượng xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật

biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đường

Trang 6

lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cáchmạng làm cơ sở để nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài

liệu, phương pháp trưng cầu ý kiến qua bảng hỏi, phương pháp quan sát,phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lôgíc - lịch sử…

6 Đóng góp về khoa học của đề tài

-Đóng góp về mặt lý luận:

Đề tài đưa ra quan niệm về người có công, về chính sách của Đảng vàNhà nước ta đối với người có công với cách mạng trên phạm vi cả nước nóichung và ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá nói riêng Đồng thời, đề tài chỉ

ra những nét cơ bản nhất về ngành Công tác xã hội và vai trò của nhân viênCông tác xã hội trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội

- Đóng góp về mặt thực tiễn:

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách

xã hội đối với người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc tỉnh ThanhHoá, đề tài đưa ra một số phương hướng và giải pháp cơ bản để phát huy vàitrò của nhân viên ngành công tác xã hội trong việc nâng cao hiệu quả thựchiện chính sách xã hội đối với người có công trong quá trình đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

7 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài có kết cấu 3 chương, 6 tiết

Trang 7

Chương 1: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở NƯỚC TA

1.1 NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

1.1.1 Tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về người có công với cách mạng

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về người có công với cách mạng

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm hào hùng, xuấthiện nhiều anh hùng dân tộc, nhiều tấm gương hy sinh thân mình vì đạinghĩa chống giặc ngoại xâm Sự hy sinh của đông đảo quần chúng, của chiến

sĩ, anh hùng kế tiếp nhau trong lịch sử đã xây đắp nên giang sơn, gấm vócngày nay, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Máu đào của các liệt

sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói Sự hy sinh anh dũng của liệt

sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do” [12;20]

Vì vậy, nhân dân ta luôn ghi nhớ công lao của những người đã hy sinhcho Tổ quốc Lòng biết ơn này thể hiện ở sự tôn vinh và noi gương các anhhùng, liệt sĩ Đây là đạo lý, sự tri ân, “lòng hiếu thảo”- một biểu hiện cốt lõicủa đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam Khái quát điều này, Bác Hồ đãdạy: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải ra sức giữ lấynước” Truyền thống dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồngcây” là một trong những nguồn gốc hình thành tư tưởng, đạo đức Hồ ChíMinh nói chung, tình cảm, tư tưởng của Người đối với thương binh, liệt sĩnói riêng và trong thực tiễn, Người chính là hiện thân, là tấm gương sáng của

tư tưởng nhân văn đó Từ nhận thức, từ lòng yêu thương, Người đã thể hiệnbằng những hành động cụ thể và đấy chính là một trong những cơ sở cốt yếucho việc xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối vớinhững người có công với nước

Trang 8

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị lấy ngày 27-7-1947 làm “ Ngàythương binh toàn quốc” đầu tiên để bày tỏ tình cảm thắm thiết, lòng biết ơnsâu sắc của nhân dân đối với những người bị thương tật đã không tiếc máuxương, cống hiến hết mình cho Tổ quốc Sinh thời, cứ đến ngày 27-7, Bác

Hồ đều gửi thư cho cán bộ chủ quản các cấp Đảng, chính quyền, đoàn thểquần chúng dặn việc chăm lo công tác thương binh, liệt sĩ Người cũng gửithư, tặng quà, thăm các gia đình thương binh và viếng các nghĩa trang liệt sĩ

Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh không chỉ nâng caonhận thức cho các thế hệ tiếp sau mà đã và đang phát huy mạnh mẽ trongcuộc sống hằng ngày bằng những hành động cụ thể đối với thương binh, liệt

sĩ Để khắc sâu và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh

về “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, chúng ta tìm hiểu một vàiđặc trưng cơ bản trong tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người đối vớithương binh, liệt sĩ

Đặc trưng nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ

là chủ nghĩa nhân văn mà cốt lõi là lòng thương người Lòng thương ngườicủa Hồ Chí Minh thể hiện ở sự đồng cảm với những người thân trong giađình bị mất con, em vì hy sinh cho Tổ quốc, song rất đỗi tự hào vì được “Tổquốc ghi công” Thật vô cùng xúc động và cảm kích khi đọc thư của Chủtịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Phạm Đình Tụng, khi được tin con trai ông hysinh: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái NướcViệt Nam là gia đình của tôi Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi.Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột Nhưng cháu và anh

em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước Thế là họ đã làmrạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất

họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam”[13;261]

Trước lúc đi xa, Bác Hồ còn viết trong chúc thư để dặn dò: "Việc quantrọng sau chỉnh đốn Đảng là phải chăm lo đối với những người đã dũng cảm

Trang 9

chiến đấu, hy sinh một phần xương máu và những người đã trở thành liệt sĩcùng thân nhân của họ, quyết không để họ đói rét" [13;273] Tư tưởng và chỉđạo của Người là quan tâm, chăm lo đến thương binh, bệnh binh, thân nhângia đình liệt sĩ không phải làm một ngày, một tháng hay một năm mà làthường xuyên “trước đã giúp đỡ, sau này cũng sẵn sàng giúp đỡ mãi” vì họ -Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sỹ là nhữngngười có công với Tổ quốc, với nhân dân Cho nên bổn phận chúng ta làphải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ Nên coi đó là một nghĩa vụ củanhân dân đối với các chiến sỹ bị thương bị bệnh, không nên coi đó là mộtviệc làm phúc.

Người còn căn dặn: “Ðối với những người đã dũng cảm hy sinh mộtphần sương máu của mình (cán bộ, chiến sỹ, dân quân, du kích, thanh niênxung phong….), Ðảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ

có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợpvới mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh” Ðối với cha mẹ vợcon của thương binh - liệt sỹ mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chínhquyền địa phương, nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nôngnghiệp phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họđói rét [13;284]

Nói chung, tư tưởng của Người nói chung, về thương binh, liệt sỹ nóiriêng đã thấm sâu trong tâm khảm ý thức và đã trở thành mục tiêu, hànhđộng của nhân dân

Quan niệm về người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

Người có công với cách mạng là những người đã chiến đấu, đã trảiqua các cuộc kháng chiến oanh liệt, có những cống hiến rất to lớn trong sựnghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là lực lượng cáchmạng tuyệt đối trung thành với Đảng; có công giúp đỡ cách mạng

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn vinh, ghi nhận và đánh giá cao sự

hy sinh, cống hiến to lớn của những đối tượng là người có công với cách

Trang 10

mạng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làmnhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đảng và Nhà nước ta quy định về người có công với cách mạng baogồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đếntrước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945; Liệt sỹ; Bà mẹ Việt Namanh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động;Thương binh,người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; Ngườihoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cáchmạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; Người hoạt động khángchiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người cócông giúp đỡ cách mạng 5]

Theo quy định tại Điều 32, Pháp lệnh Người có công với cách mạngnăm 2005, Người có công với cách mạng là những người:

1 Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng

"Có công với nước";

2 Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chươngkháng chiến [5]

Điều 29, Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cáchmạng quy định chi tiết:

“ Người có công giúp đỡ cách mạng là người được tặng Kỷ niệmchương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; người được tặngHuân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến; người trong giađình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng "Có côngvới nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người trong gia đình đượctặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến có đủ điềukiện xác nhận là người có công giúp đỡ cách mạng theo quy định của phápluật về thi đua khen thưởng.” [2]

Trang 11

Như chúng ta đã biết, chiến tranh đã qua đi, đất nước hoà bình, nhưngnhững đau thương mất mát mà chiến tranh để lại thì không gì bù lấp được.

Có lẽ, trên thế giới không có dân tộc nào phải chịu những tổn thất nặng nềnhư dân tộc ta, trải qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ với 1,1 triệu liệt sĩ;

600 ngàn thương bệnh binh; 300 ngàn người mất tích; gần 2 triệu người bịnhiễm chất độc màu da cam hệ luỵ từ thế hệ này sang thế hệ khác; trên 2triệu người mang thương tật ít còn khả năng lao động; nhiều người con ngãxuống vẫn còn nằm đâu đó trên quê hương đất mẹ, nhiều người là chiến sĩ vôdanh [1] Họ hy sinh quên bản thân mình để cho Tổ quốc được sống, vìnền độc lập tự do của Tổ quốc Trải qua hàng chục năm ròng chiến đấu cho

lý tưởng “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ

ra, hàng triệu đồng bào, đồng chí đã hy sinh cả cuộc đời mình, hàng chụcvạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình, mất mát ấy không thể

bù đắp được Vì vậy, chúng ta vô cùng biết ơn những người quên bản thân,lợi ích của mình vì đất nước, vì nhân dân Thực hiện lời di huấn cùng những

tư tưởng của Người về đối tượng có công với cách mạng, Đảng và Nhà nước

đã ban hành nhiều chính sách, chương trình thể hiện trách nhiệm, tình cảmcủa Đảng và Nhà nước đối với người có công với nước

1.1.2 Một số nội dung cơ bản trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng

Chính sách đối với người có công với cách mạng không chỉ là vấn đềđạo lý truyền thống mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng, tình cảm, một vấn

đề xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài Một số nội dung cơbản trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công vớicách mạng bao gồm:

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng - một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta

Trong sự nghiệp đổi mới, với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dântộc và thể hiện sự thống nhất xuyên suốt trong đường lối, Đảng và Nhà nước

Trang 12

ta đã luôn quan tâm đến chính sách người có công với cách mạng Nhờ đó,đến nay kể từ ngày 27/7/1947, ngày được Bác Hồ lần đầu tiên ký sắc lệnh vềchế độ lương hưu thương tật đối với thương binh và chế độ tuất đối với liệtsỹ; chính sách ưu đãi người có công đã từng bước được hoàn thiện, pháttriển, pháp luật hoá và trở thành một hệ thống chính sách ưu đãi lớn, chiếm

vị trí quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Nhà nước ta

Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng có ý nghĩa chínhtrị, xã hội to lớn, trở thành một nguyên tắc hiến định ghi nhận ở Điều 67-Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong Cương lĩnhxây dựng đất nước (năm 1991), Đảng ta cũng khẳng định rõ: “Không chờkinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ngay trong từngbước và trong suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền vớitiến bộ và công bằng xã hội” [7] Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng tiếptục khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từngbước và từng chính sách phát triển Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên

cơ sở phát triển kinh tế Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có côngvới nước, vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa,

nâng cao mức sống về mặt vật chất tinh thần của người có công ” [8] Đặc

biệt là trong những năm đổi mới và hội nhập quốc tế, chính sách ưu đãingười có công đã từng bước được luật hóa, cải cách toàn diện, trở thành mộtchính sách lớn, chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã

hội của Đảng và Nhà nước ta.

Theo chính sách hiện hành, đối tượng người có công được hưởng chế

độ trợ cấp ưu đãi của Nhà nước bao gồm: người hoạt động cách mạng trướctháng Tám năm 1945 (lão thành cách mạng và tiền khởi nghĩa); Bà mẹ ViệtNam Anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách nhưthương binh; người giúp đỡ cách mạng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhândân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; người hoạt động cáchmạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; người hoạt động kháng

Trang 13

chiến giải phóng dân tộc đã được Nhà nước khen tặng huân chương, huychương tổng kết thành tích kháng chiến [6].

Mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn nhưng chính sách trợ cấp ưu đãidành cho người có công với cách mạng luôn được điều chỉnh, nhằm phấnđấu làm cho những người và gia đình có công với cách mạng yên ổn về vậtchất, vui vẻ về tinh thần Chính sách ưu đãi người có công từng bước đượcđổi mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao mức sống các đốitượng thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng

Hiện nay, Chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước ta đang ngày cànghướng tới bao phủ hầu hết diện đối tượng, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bảntrong chế độ ưu đãi; Từng bước mở rộng đối tượng, chính sách ưu đãi người

có công liên tục đổi mới và hoàn thiện

Nếu tính mốc từ năm 1947, năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnhlương hưu thương tật đối với thương binh và chế độ tuất đối với liệt sĩ, lànăm khởi điểm của chính sách ưu đãi người có công bắt đầu với 2 chính sáchcho thương binh và liệt sĩ với 3 đối tượng được thụ hưởng thì đến nay chínhsách ưu đãi người có công đã mở rộng tới 10 nhóm chính sách ưu đãi với 13diện đối tượng được hưởng Tính chất ưu đãi cũng thay đổi theo điều kiệnkinh tế của đất nước, từ định tính sang định lượng, từ những phong tràomang tính vận động sang thể chế hóa một cách cụ thể

Nếu ở thời kỳ chống Pháp, chế độ đối với thương binh và gia đình tử

sĩ chỉ mang tính trợ cấp khó khăn, đến giai đoạn 1954 - 1964, chế độ đối vớithuơng binh được bổ sung thêm, ngoài chế độ trợ cấp, tùy theo điều kiệnthương binh về gia đình hay ở trại nuôi dưỡng còn được bổ sung thêm chế độphụ cấp sản xuất, miễn giảm thuế nhà nước, được hưởng chế độ tuyển dụng,

ưu tiên đi học

Năm 1964, Chính phủ ban hành Điều lệ ưu đãi đối với quân nhân khi

bị ốm đau, bị thương, bị mất sức lao động, về hưu hoặc chết Quân nhân dự

bị, dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc bị chết khi làm nhiện vụ quân sự

Trang 14

đều được hưởng chế độ Từ năm 1966, chế độ ưu đãi đã mở rộng đối với lựclượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước và dân công hỏa tuyếnphục vụ các chiến trường, lực lượng vận tải bốc xếp, sơ tán hàng hóa, cán bộchủ chốt xã, cán bộ y tế cấp cứu hàng không Những đối tượng trên khilàm nhiệm vụ bị thương hoặc hy sinh được xác nhận là người được hưởngchính sách như thương binh và liệt sĩ.

Giai đoạn từ 1975 - 1985, đất nước thống nhất, chính sách đối vớingười có công tập trung vào việc giải quyết tồn đọng và bổ sung thêm nhiềuquy định về tiêu chuẩn đối với thương binh, liệt sĩ, bổ sung thêm đối tượngngười có công giúp đỡ cách mạng vào đối tượng thụ hưởng chính sách ưuđãi của Nhà nước; thống nhất 2 chế độ thương binh, 6 hạng của thời kỳchống Pháp và 8 hạng của thời kỳ chống Mỹ thành một chế độ thương binh 4hạng Giai đoạn này do điều kiện kinh tế đất nước khó khăn nên chính sách

ưu đãi cũng mới chỉ giải quyết một phần khó khăn trước mắt trong đời sốngngười có công

Từ năm 1995, công cuộc đổi mới của đất nước bước vào giai đoạnphát triển, chính sách đối với người có công được Đảng, Nhà nước ta chăm

lo một cách toàn diện hơn

Mở đầu là việc ban hành Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cáchmạng và Pháp lệnh phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng Với haiPháp lệnh trên, đối tượng được mở rộng đến người hoạt động cách mạngtrước và từ 1-1-1945 đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 (cán bộ tiềnkhởi nghĩa), người hoạt động cách mạng bị địch bắt tù đày, người có côngvới cách mạng, người hoạt động kháng chiến, giải phóng dân tộc bảo vệ Tổquốc được thưởng huân, huy chương Trong giai đoạn này cùng với sự chútrọng, đề cao, tôn vinh sự hy sinh to lớn, những cống hiến lớn lao của người

có công đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, chính sách ưu đãi đã bắtđầu tính đến đáp ứng bước đầu những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống củangười có công

Trang 15

Năm 2005, trên cơ sở kế thừa và phát triển các chính sách ưu đãi quacác thời kỳ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãingười có công (sửa đổi), trong đó quy định một cách hệ thống cả về đốitượng, điều kiện, tiêu chuẩn và chế độ ưu đãi cho phù hợp với từng thời kỳcách mạng Theo Pháp lệnh (sửa đổi) đối tượng hưởng trợ cấp được mở rộng(13 diện đối tượng), mức trợ cấp, phụ cấp hằng tháng đối với người có công

và thân nhân của họ được nâng lên, đảm bảo tương xứng với mức tiêu dùngbình quân của toàn xã hội Công tác quản lý và thực hiện cũng được kiệntoàn cơ bản, như xác định cụ thể trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nướccác cấp, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổchức, cá nhân trong việc thực hiện chính sách đối với người có công

Gần đây, ngày 18-6-2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông quaPháp lệnh sửa đổi bổ sung ưu đãi người có công với cách mạng lần thứ 3.Theo đó, “người có công với cách mạng đã chết mà chưa được hưởng chế

độ lần nào sẽ được hưởng ưu đãi một lần” Với các chính sách trên, đến nay

cả nước có khoảng 8,1 triệu người với 13 diện đối tượng hưởng chế độ ưuđãi và chăm sóc, cơ bản đã bao phủ toàn diện chính sách của Đảng và Nhànước đến hầu hết các đối tượng có công với cách mạng Trong đó khoảng1,5 triệu người hưởng trợ cấp hằng tháng, gần 4,2 triệu người hưởng trợ cấpmột lần [3]

Song song với việc hoàn thiện chính sách, chế độ Đảng và Nhà nước

ta cũng đặc biệt quan tâm công tác tuyên truyền nhằm tôn vinh các anh hùngliệt sĩ, biểu dương những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người cócông với cách mạng vượt lên khó khăn, đạt nhiều thành tích xuất sắc trongcuộc sống Đồng thời làm cho các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ tầmquan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và người có công, nhận thức rõchủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng những nỗ lựccủa các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân trong và ngoàinước, từ đó phát huy tốt hơn nữa các nguồn lực trong nhân dân tham gia

Trang 16

đóng góp tích cực vào hoạt động của công tác này Với mục đích này, Ban

Tư tưởng-Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương), đã banhành hướng dẫn tuyên truyền Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về tăngcường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sĩ, người có công,phong trào đền ơn, đáp nghĩa

Ngoài chính sách trợ cấp ưu đãi thường xuyên, Nhà nước còn banhành nhiều chính sách ưu đãi khác đối với người có công với cách mạngnhư:

- Chính sách ưu đãi về đất đai, nhà ở dành cho người có công Bà mẹViệt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Laođộng, thương bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên,thân nhân của liệt sỹ đang hưởng tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng được hỗtrợ toàn bộ tiền sử dụng đất, Các mức hỗ trợ khác (80%, 90% ) được ápdụng tuỳ theo đối tượng Các mức nêu trên được tính trong định mức đất ở

do UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quy định và tính trên sốtiền sử dụng đất mà người được hỗ trợ phải nộp

- Chính sách ưu đãi trong giáo dục,đào tạo đối với con người có công.Chế độ ưu đãi đối với con của người có công đang theo học ở nhà trườngthuộc hệ thống giáo dục quốc dân; người có công đang hưởng trợ cấp thườngxuyên (hoặc đã mất) thì con của họ đang theo học ở nhà trường được hưởngchế độ trợ cấp mỗi năm một lần mua đồ dùng, sách vở, dụng cụ học tập,được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác, học sinh học ở cáctrường chuyên nghiệp, dạy nghề, dân tộc nội trú được hưởng trợ cấp hàngtháng

Bên cạnh đó còn có chính sách chăm sóc sức khoẻ; chính sách ưu tiênvay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; chínhsách hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người cócông, tạo điều kiện cho con em họ có việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộcsống

Trang 17

Phong trào đền ơn đáp nghĩa - chính sách nhân văn của Đảng,Nhà nước ta

“Đền ơn đáp nghĩa” những người có công với cách mạng, nhữngngười đã từng chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập, tự do cho Tổ quốc là chínhsách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Mặc dù nguồn lực của đất nướccòn hạn chế, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm cải thiện đờisống của người có công Những năm gần đây, hệ thống chính sách đối vớingười có công với nước ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, làm cơ sở chophong trào xã hội “Đền ơn đáp nghĩa” lan rộng và đi vào chiều sâu Các địaphương đã có nhiều việc làm thiết thực, với những hình thức phù hợp giúp

đỡ các gia đình có công với cách mạng Nhiều cơ quan, đơn vị, doanhnghiệp, nhà hảo tâm nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, đỡ đầu conthương binh, liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn, xây dựng nhà tình nghĩa tặng cácgia đình chính sách

Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” với năm chương trình hành động cụthể đã trở thành phong trào cách mạng sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân vàtoàn quân ta Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được sử dụng hiệu quả trong việc xâydựng, cải tạo nhà tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ, phụng dưỡng suốt đời

Mẹ Việt Nam Anh hùng, thăm hỏi tặng quà và giúp đỡ thương binh, bệnhbinh, gia đình người có công với cách mạng

“Đền ơn đáp nghĩa” những người có công với cách mạng là tráchnhiệm và tình cảm của mỗi người chúng ta Nhiều hình thức, biện pháp vàcách làm sáng tạo của các ngành, đoàn thể và địa phương trong việc chăm locuộc sống gia đình có công với cách mạng chính là thiết thực phát huytruyền thống và đạo lý dân tộc, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, cũng như trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hàng vạn người đã lên đường đi chiếnđấu, nhiều người đã ngã xuống hoặc để lại một phần xương máu nơi chiến

Trang 18

trường, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc Với đạo lý “Uốngnước nhớ nguồn”, trong những năm qua, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hộicòn nhiều khó khăn, nhưng cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân trong

cả nước luôn phấn đấu thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước đối với người có công với cách mạng, quan tâm chăm lo đời sốngcho các đối tượng và đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, coi đó làviệc làm tri ân đối với những người và gia đình có công với cách mạng

Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Đảng và Nhà nước ta phát độngngày càng nhận được sự hưởng ứng sâu rộng của toàn xã hội Các phong tràotình nghĩa trong cả nước thời gian qua đạt hiệu quả thiết thực Nhờ nhữnggiải pháp giúp đỡ sáng tạo như cho vay vốn ưu đãi, giúp giống cây trồng, vậtnuôi và công lao động, hướng dẫn cách làm ăn, nhiều gia đình chính sách đã

nỗ lực vượt qua đói nghèo Bên cạnh đó, các phong trào "Đền ơn, đápnghĩa", "Uống nước, nhớ nguồn", chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ,phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng của các tổ chức xã hội và cá nhân đãđược khơi dậy mạnh mẽ, sôi nổi và đi vào chiều sâu trong toàn quốc, tạothành một nét đẹp văn hóa của dân tộc ta trong tri ân những người có côngvới nước Qua các phong trào đó đã huy động được một nguồn lực xã hội tolớn vào công tác chăm sóc thương binh liệt sĩ và người có công

Trong những năm qua, được sự quan tâm hưởng ứng của các bộ,ngành, đoàn thể và nhân dân cả nước, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã đư-

ợc thực hiện sâu rộng với các chương trình: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; Nhàtình nghĩa; Vườn cây tình nghĩa; Sổ tiết kiệm tình nghĩa; Chăm sóc bố, mẹliệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi; Phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam Anhhùng Phong trào đã phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cộng đồng dân

cư, góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thươngbệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công

Hằng năm bên cạnh hàng nghìn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước chăm

lo cho đối tượng người có công, bằng nguồn vốn vận động từ cộng đồng, cả

Trang 19

nước đã xây mới được 245.412 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa 104.125 nhà vớitổng số tiền trên 2.389 tỉ đồng; tiếp nhận sự ủng hộ đóng góp của toàn xã hộilên tới 3.950 tỉ đồng; 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được các cơ quan,đơn vị, cá nhân nhận phụng dưỡng đến cuối đời; trên 32.000 bố, mẹ liệt sĩgià yếu cô đơn được các đoàn thể, cá nhân nhận giúp đỡ, chăm sóc chu đáo;hơn 20.000 thương binh, bệnh binh nặng được giúp đỡ ổn định sức khỏe vàđời sống, trên 604.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa được trao tặng cho gia đìnhchính sách khó khăn [1] Hằng năm Quỹ "Đền ơn, đáp nghĩa" Trung ươnghuy động được trên 1.584 tỉ đồng, trên 12.000 vườn cây tình nghĩa được traotặng và tạo lập, 9.636 xã, phường được ủy ban nhân dân các tỉnh công nhậnhoàn thành 6 chỉ tiêu về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công Đếnnay, đã có 1.784.186 gia đình/1.963.593 gia đình chính sách đạt mức sốngtrung bình hoặc khá hơn so với đời sống ở khu dân cư Nhiều tỉnh, thành phốđạt 100% số gia đình chính sách có mức sống tốt như Hà Nội, Thành phố HồChí Minh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Phú Thọ, Đà Nẵng, Bến Tre, Bạc Liêu [1].

Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cán bộ,đảng viên và nhân dân trong cả nước, được tổng kết và nhân rộng điển hình

từ khu dân cư đến xã, phường, nơi hội tụ sức mạnh to lớn của lòng dân, ýĐảng, và trở thành phong trào xây dựng xã phường làm tốt công tác thươngbinh, liệt sĩ và người có công

Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, từ đầu năm

2008 đến tháng 6-2009, các địa phương trong cả nước đã xây dựng mới gần

10 nghìn nhà tình nghĩa và sửa chữa gần 8000 nhà cho các gia đình chínhsách khó khăn về nhà ở, với tổng trị giá khoảng 175 tỉ đồng; nâng tổng sốnhà tình nghĩa trong cả nước lên hơn 310 nghìn nhà Các tỉnh, thành phố xâymới, sửa chữa được nhiều nhà tình nghĩa thời gian qua là: Tuyên Quang xâymới 279 nhà, sửa chữa 147 nhà; Hải Phòng xây mới, sửa chữa 449; QuảngNinh xây mới 209, sửa chữa 261; Hà Tĩnh xây mới 203, sữa chữa 268;

Trang 20

Quảng Ngãi xây mới 409, sửa chữa 124; Đồng Nai xây mới 274; Long Anxây mới 401; Vĩnh Long xây mới 503; Trà Vinh xây mới 1529 [1].

Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” của cả nước đã trở thành nguồn lựcthúc đẩy, động viên các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công vươnlên tự khắc phục khó khăn Chúng ta luôn trân trọng và tự hào về nhữngthành tựu đã đạt được bởi những việc làm đó đã góp phần thực hiện mục tiêu

“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”

“Đền ơn đáp nghĩa”-một phong trào mang đậm nét nhân văn và gópphần ổn định chính trị - xã hội trên cả nước, có tác dụng giáo dục các thế hệtrẻ lòng yêu nước, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Tính nhân văn trong công tác Đền ơn đáp nghĩa chính là sự kế thừatruyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, là truyền thống yêu nước, yêu quêhương; là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự đùm bọc, sẻchia, giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn, khó khăn Đó là nét đẹp truyềnthống nhân nghĩa của dân tộc ta, là tình cảm và trách nhiệm của Đảng, Nhànước và cộng đồng xã hội đối với những cống hiến và sự hy sinh to lớn củathương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng Các cấp ủyĐảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội,địa phương, cơ quan, đơn vị cần bồi dưỡng, giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu rõnhững cống hiến hy sinh to lớn, rất đỗi tự hào của các anh hùng, liệt sỹ,thương binh, người có công với cách mạng, để phát huy, tiếp nối truyềnthống anh hùng của cha anh với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hômnay, đó là cách kỷ niệm và đền ơn đáp nghĩa thiết thực nhất Thực hiện tốtcông tác “Đền ơn đáp nghĩa” là góp phần tạo sự ổn định về chính trị-xã hội,bảo đảm an sinh xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới đất nước, xứng đángvới sự hy sinh to lớn của các thế hệ cha anh đi trước

Chính sách về chế độ điều dưỡng người có công với cách mạng

Liên Bộ Tài chính, Bộ Y tế và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hộivừa ban hành Thông tư liên tịch số 25/2010/TTLT-BTC-BYT-BLĐTBXH

Trang 21

hướng dẫn chế độ chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng.Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành từ ngày 25-10-2010.

Thông tư liên tịch quy định 6 đối tượng hưởng chế độ điều dưỡng mỗinăm một lần gồm: 1- Người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945; 2-Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19tháng Tám năm 1945; 3- Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 4- Thương binh, ngườihưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B (gọi chung là thươngbinh), bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật

từ 81% trở lên đang sống tại gia đình; 5- Người có công giúp đỡ cách mạngđược Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Cócông với nước”; 6- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa họcsuy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên [4]

Ngoài ra, còn có chế độ điều dưỡng luân phiên 5 năm một lần dànhcho 6 đối tượng khác gồm: 1- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ,người có công nuôi dưỡng liệt sĩ’; 2- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhândân, Anh hùng Lao động trong kháng chiến; 3- Người có công giúp đỡ cáchmạng trong kháng chiến; 4- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độchóa học suy giảm khả năng lao động dưới 81%; 5- Thương binh, bệnh binh

có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật, bệnh tật dưới 81% đangsống tại gia đình; 6- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bịđịch bắt tù, đày [4]

Liên Bộ cũng quy định 2 chế độ điều dưỡng Điều dưỡng tại các cơ sởđiều dưỡng, thời gian tối đa là 10 ngày (không kể thời gian đi và về) với mức chi điều dưỡng 1.500.000 đồng/người/lần Đối với điều dưỡng tại giađình, mức chi điều dưỡng là 800.000 đồng/người/lần [4]

Thông tư nêu rõ, về chế độ bảo hiểm y tế, người có công với cáchmạng và thân nhân của họ được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định củapháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng và pháp luật về bảo hiểm ytế

Trang 22

Trước đó, ngày 6-4-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 35/2010/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cáchmạng Theo đó, tất cả các mức trợ cấp, phụ cấp hàng tháng đối với từng đốitượng người có công đều sẽ tăng so với quy định cũ Cụ thể, người hoạt độngcách mạng trước ngày 1-1-1945 thuộc diện thoát ly được hưởng mức trợ cấp

là 861.000 đ/tháng (trước là 767.000đ) và hưởng thêm phụ cấp 146.000đ/thâm niên (trước là 130.000đ); diện không thoát ly là 1.462.000đ/tháng(trước là 1.302.000 đ) Thân nhân liệt sĩ được trợ cấp hàng tháng từ770.000đ đến 1.376.000đ/tháng (trước là 685.000đ - 1.225.000đ); Anh hùngLực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong kháng chiến được trợcấp 646.000đ/tháng (trước là 575.000đ) [2]

Cùng với các chính sách của Nhà nước, chính sách về chế độ điềudưỡng dành cho người có công với cách mạng có ý nghĩa rất quan trọng đốivới việc ổn định và nâng cao mức sống của thương binh, gia đình liệt sỹ,giúp cho họ có mức sống đầy đủ hơn, góp phần hoàn chỉnh hệ thống chínhsách của Đảng và Nhà nước ta dành cho người có công với cách mạng

1.2 VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG THỰC THI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

Công tác xã hội là một khoa học xã hội ứng dụng, một nghề nghiệpchuyên môn được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX Cùng với sựvận động và phát triển của xã hội loài người, Công tác xã hội không ngừngđược bổ sung, hoàn thiện trên cỏ phương diện lý thuyết và thực hành nhằmđáp ứng những nhu cầu của cuộc sống Công tác xã hội có những đóng góptích cực, to lớn đối với việc hướng tới xây dựng xã hội tiến bộ, bình đẳng,công bằng, văn minh mà ở đó mỗi thành viên có được một đời sống an toàn,đảm bảo nhu cầu thiết yếu về vật chất, tinh thần, được tôn trọng và tạo điềukiện phát triển toàn diện Công tác xã hội ngày càng trở nên cần thiết, khôngthể thiếu và có ý nghĩa quan trọng trong xã hội hiện tại [10]

Trang 23

Xuất phát từ nhu cầu của xã hội và mục đích hoạt động của ngànhCông tác xã hội, dựa trên đặc thù nghề nghiệp là trợ giúp các đối tượng yếuthế, thiệt thòi, giải quyết các vấn đề xã hội, Nhân viên xã hội có khả năng tácnghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến vấn đề của đối tượngnhư : kinh tế, pháp luật, tâm lý, tình cảm , sức khoẻ, văn hoá, giáo dục, mốiquan hệ gia đình và quan hệ xã hội

Nhân viên Công tác xã hội đã đảm trách nhiệm vụ chuyên môn, pháthuy vai trò, chức năng của mình trong việc trợ giúp những đối tượng yếu thế,thiệt thòi và giải quyết các vấn đề xã hội Trong hệ thống nghề nghiệp và tổchức cấu trúc thành phần với tư cách là những lực lượng xã hội, nhân viên xãhội có vị trí độc lập đồng thời có mối liên hệ với nhiều nghề nghiệp khác

Trong hoạt động của mình, bên cạnh việc là cầu nối, khai thác, liên kếtcác cơ quan, tổ chức Công tác xã hội với các nguồn lực hỗ trợ khác nhằmgiải quyết vấn đề của đối tượng, nhân viên xã hội còn có vai trò rất quantrọng trong việc trợ giúp các đối tượng yếu thế cũng như góp ý kiến xâydựng các chính sách và đưa các chính sách đó vào trong cuộc sống

Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc thực thi chính sáchcủa Đảng, Nhà nước ta đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có côngvới cách mạng với mục đích cao nhât là nhằm mang lại công bằng xã hội,nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầnglớp nhân dân đối với người có công với cách mạng, phát huy truyền thốngyêu nước trong các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ

Và cụ thể ở đây, vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong việc thựcthi chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cáchmạng được thể hiện qua những việc làm sau đây :

1.2.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc xây dựng chính sách đối với người có công với cách mạng

Thực hiện chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh Côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong những năm qua, Đảng và Nhà

Trang 24

nước ta đã ban hành và chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp đồngthời xây dựng và hoàn thiện nhiều chính sách đối với người có công với cáchmạng nhằm ngày càng kiện toàn hơn hệ thống chính sách của Đảng và Nhànước ta đối với đối tượng này Để việc xây dựng chính sách dành cho người

có công với cách mạng đạt được kết quả cao và phù hợp với nguyện vọngcủa người dân nhất thì cần có sự tham gia của nhiều ban ngành đoàn thể và

ở đây, nhân viên xã hội có vai trò rất quan trọng

Nhân viên xã hội có vai trò tham mưu cho các ban ngành liên quantrong việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách Thươngbinh, liệt sỹ và người có công đồng thời nhân viên xã hội cũng tham mưucho các cơ quan liên quan để xây dựng chương trình, kế hoạch dài hạn vàhàng năm về lĩmh vực người có công với cách mạng

Việc xây dựng chính sách, pháp luật đối với người có công là mộttrong những lĩnh vực công tác trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta Nhânviên Công tác xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng: thẩm tra, giámsát, kiến nghị, những hoạt động đó của nhân viên xã hội đã có vai trò tíchcực đến việc xây dựng các thể chế và chính sách này như kịp thời phát hiệnnhững sai lầm, thiếu sót trong việc soạn thảo và thực hiện chính sách để từ

đó nhanh chóng giúp các nhà xây dựng chính sách sửa đổi, bổ sung và khắcphục những sai phạm đó

Trong việc xây dựng chính sách đối với người có công với cách mạng,nhân viên Công tác xã hội có vai trò, trọng trách nghiên cứu chính sách vàquản lý, bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy trong tổng kết và nghiên cứu khoahọc, tham mưu giúp Chính phủ cải cách sửa đổi chính sách trong lĩnh vựcngười có công theo hướng tiếp cận với những tiêu chí mới về nội dung, cảicách triệt để những thủ tục gây phiền hà cho đối tượng, gây tiêu cực trongquản lý Nhân viên Công tác xã hội còn có trách nhiệm giúp cấp uỷ, chínhquyền định hướng chủ trương, đưa ra kế hoạch, biện pháp và phối hợp với

Trang 25

các ngành, đoàn thể chăm, lo cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của người có công với cách mạng.

Bên cạnh đó, nhân viên Công tác xã hội còn giúp Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội phân cấp triệt để đến địa phương công tác xác nhậnngười có công, công tác giới thiệu giám định bổ sung thương tật; công táccấp lại Bằng Tổ quốc ghi công Quy định rõ mức trợ cấp ứng với từng đốitượng trong các văn bản hướng dẫn nhằm tránh nhầm lẫn và tiêu cực trongviệc chi trả chế độ cho đối tượng

Ngoài ra, nhân viên xã hội có cơ hội, điều kiện tiếp xúc trực tiếp vớingười dân vì thế họ là những người có khả năng nắm bắt kịp thời những tâm

tư, tình cảm, nguyện vọng của đối tượng Như vậy, điều này sẽ giúp chonhững nhà hoạch định chính sách cũng như nhân viên xã hội đưa ra đượcnhững chính sách phù hợp với mong muốn của người có công với cáchmạng

Hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng đã quántriệt tư tưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thực hiện công bằng

xã hội, lành mạnh hoá xã hội Cùng với tăng cường việc xây dựng chính sáchdành cho đối tượng có công với cách mạng, nhân viên xã hội đã trở thànhchiếc cầu nối giữa chính sách của Nhà nước với nhân dân và các đối tượngthụ hưởng chính sách

1.2.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc triển khai thực hiện chính sách với người có công với cách mạng

Nhân viên xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức thực hiệncác chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công vớicách mạng Chúng ta có thể khẳng định rằng chính sách của Nhà nước đốivới người có công có được thực hiện chu đáo hay không, đời sống của họ cóđược ổn định hay không một phần hết sức quan trọng là do nhân viên xã hội

có làm tốt vai trò của mình hay không?

Trang 26

Trong việc triển khai thực hiện chính sách đối với người có công vớicách mạng, nhân viên xã hội có vai trò giải thích cho mọi người, đặc biệt làđối tượng người có công với cách mạng hiểu rõ các chính sách của Đảng vàNhà nước dành cho đối tượng trên Thực hiện đầy đủ, chu đáo các chínhsách, chế độ dành cho người có công với cách mạng, nhân viên xã hội sẽgiúp cho mọi người thấy được sự quan tâm và cố gắng của Đảng, Nhà nước

và nhân dân đối với những người đã hy sinh vì dân, vì nước; Đảm bảo đờisống hàng ngày của người hưởng chính sách, trước hết là những người cóthương tật, bệnh tật nặng (như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ mất sức laođộng 81% trở lên), những người có nhiều hy sinh cống hiến như lão thànhcách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Nhân viên xã hội có vai trò tiến hành, phối hợp với các ngành, cáccấp, các đoàn thể xây dựng và phát triển các hình thức bảo trợ xã hội; hướngdẫn và tổ chức các phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, quản lý và sử dụng quỹ

“đền ơn đáp nghĩa” ở các cơ sở cộng đồng dân cư theo quy định của Chínhsách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Bên cạnh đó, trong việc triển khai,thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng, nhân viên xã hộicòn theo dõi và kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ người có côngtrên địa bàn dân cư để từ đấy tổ chức tập huấn, hướng dẫn cán bộ cơ sở thựchiện những chế độ chính sách mới và tham mưu công tác đào tạo, bồi dưỡng,nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm côngtác thực hiện chính sách người có công ở cơ sở

Đối với lĩnh vực triển khai thực hiện chính sách, nhân viên xã hội cònđóng vai trò trong việc kết nối các ban – ngành – tổ chức đoàn thể từ các cấptới cơ sở vì làm tốt điều đó sẽ là động lực để đưa chính sách về lĩnh vựcThương binh và xã hội vào trong cuộc sống, thể hiện sức mạnh tổng hợp củatoàn hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước ta

Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối vớingười có công với cách mạng, nhân viên Công tác xã hội còn có vai trò kiên

Trang 27

quyết điều tra, xử lý nghiêm minh các tiêu cực, thiếu tinh thần trách nhiệm,quan liêu, tham nhũng, cố ý làm trái trong quá trình thực hiện chính sách ưuđãi đối với người có công Đồng thời, qua tổ chức thực hiện các chính sách,nhân viên xã hội cũng đã kịp thời kiến nghị với ban lãnh đạo các cấp đểnghiên cứu bổ sung một số chính sách chưa hợp lý.

Như vậy, để triển khai thực hiện chính sách dành cho người có côngvới cách mạng trong thực tiễn không bị sai lệch với chủ trương, đường lốicủa Đảng và Nhà nước thì vai trò của nhân viên xã hội rất quan trọng Họkhông chỉ đơn thuần là người đưa những chính sách vào trong thực tế màcòn là sợi dây kết nối mọi nguồn lực với nhau, thể hiện sự quan tâm củaĐảng, Nhà nước và nhân dân ta dành cho những người có công với cáchmạng

1.2.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc bổ sung và hoàn thiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dành chothương binh, liệt sĩ và gia đình người có công với cách mạng sự quan tâmchăm sóc cả về vật chất, lẫn tinh thần thể hiện qua việc xây dựng, sửa đổi, bổsung hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công ngày càng hoànthiện hơn phù hợp với các đối tượng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước

Cùng với việc bổ sung chính sách, việc thực hiện chính sách ưu đãingười có công còn không ngừng được cải cách về cơ chế, thủ tục nhằm huyđộng sự đóng góp của cộng đồng, động viên sự vươn lên của đối tượng, đảmbảo sự ổn định lâu dài đời sống của người có công Để cho hệ thống văn bảnngày càng hoàn thiện, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người cócông thực sự không bị bỏ sót, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của Nhânviên xã hội trong việc bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách với người

có công với cách mạng

Trang 28

Nhân viên xã hội là người trực tiếp tiếp xúc với người dân nên hơn aihết, họ rất hiểu tâm tư và nguyện vọng của từng đối tượng Cùng với quátrình triển khai thực hiện những chính sách với người có công với cách mạngcủa Đảng và Nhà nước, nhân viên xã hội đã phát hiện một số thiếu sót trong

hệ thống chính sách, kịp thời cùng với những nhà xây dựng chính sách bổsung để hoàn thiện cho phù hợp với đối tượng

Chẳng hạn như, khi đưa một số chính sách, pháp lệnh vào trong cuộcsống, nhân viên xã hội thấy còn nhiều điều cần kiến nghị với cơ quan banhành chính sách để bổ sung cho phù hợp như: cần sớm có văn bản xác nhậnthương binh, liệt sĩ trong điều kiện hoàn cảnh mới (đấu tranh chống tộiphạm, dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốcphòng an ninh, dũng cảm cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân, thươngbinh chết do vết thương tái phát…); Một số chế độ ưu đãi về giáo dục đàotạo, về chăm sóc sức khỏe, trang cấp dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng,chế độ trợ cấp… cũng cần phải sửa đổi, bổ sung để việc ưu đãi xã hội đồng

bộ, đầy đủ và có tính khoa học hợp lý hơn….; Cần mở rộng hơn diện người

và gia đình có công, từ đó mở rộng hơn diện đãi ngộ Chẳng hạn, cần mởrộng diện đãi ngộ với dân quân, du kích, công an xã, cán bộ xã, thanh niênxung phong, các gia đình vì che giấu, bảo vệ cán bộ, ủng hộ cách mạng màphải hy sinh, thương tật, những người bị chất độc da cam và di chứng đauthương trong gia đình họ, những người không trực tiếp ở chiến trường nhưngchiến đấu nhiều năm ở vùng vô cùng ác liệt trong chiến tranh phá hoại…Nếu mở rộng tới những diện vừa kể, sẽ có thêm hàng chục triệu người đượccách mạng đãi ngộ vì công lao của họ

Nhân viên xã hội còn có vai trò tham mưu với các ban ngành liên quan

bổ sung, hoàn thiện các chính sách cho gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnhbinh và những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc da cam, nhữngngười có công với nước Đảm bảo 100% gia đình chính sách đều có mứcsống tốt hơn

Trang 29

Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản và các địa phương đã có nhiều

nỗ lực nhưng hiện giờ vẫn còn nhiều gia đình, nhiều trường hợp người cócông chưa được hưởng các chính sách ưu tiên Trong những trường hợp vậy,nhân viên xã hội có vai trò nêu lên nguyện vọng của người dân Hiện nay,mức trợ cấp hàng tháng đối với người có công đã được đổi mới khá nhiềunhưng cơ quan ban hành chính sách cần tính toán trên cơ sở tương ứng vớimức tiêu dùng xã hội Tức là chế độ đãi ngộ với người có công cần được cảithiện tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế của đất nước

Tư tưởng chỉ đạo của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về công tácthương binh, liệt sỹ là tiếp tục hoàn thiện chính sách, chế độ ưu đãi đối vớingười có công, cải thiện và từng bước nâng cao hơn nữa cuộc sống củathương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển của đất nước Thay đổi, bổ sung để hoàn thiện hệthống chính sách đối với người có công với cách mạng tất cả cũng vì mụctiêu công bằng cho mọi đối tượng trong xã hội và ở đây, nhân viên xã hội cóvai trò là “sứ giả” trong việc thực hiện mục tiêu ấy

Trang 30

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở HUYỆN VĨNH LỘC - TỈNH THANH HOÁ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HOÁ –

XÃ HỘI VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở HUYỆN VĨNH LỘC

- TỈNH THANH HOÁ

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá –

xã hội ở huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá

Điều kiện tự nhiên:

Huyện Vĩnh Lộc nằm trong vùng đồng bằng sông Mã Trung tâmhuyện lỵ cách thành phố Thanh Hoá 45 Km về phía Tây- Bắc theo quốc lộ

45, cách thị xã Bỉm Sơn 40 km về phía Tây theo quốc lộ 217 Phía Bắc giáphuyện Thạch Thành, phía Nam giáp huyện Yên Định, phía Tây giáp huyệnCẩm Thuỷ, phía Đông là huyện Hà Trung

Có diện tích tự nhiên 157,58 Km2, dân số trung bình 88.200 người(năm 2006); mật độ dân số 559 người/km2; có hai dân tộc là Kinh và Mường;

có các tôn giáo: Phật giáo và Thiên chúa giáo [11;7]

Khí hậu thời tiết: Là huyện nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa Hạkhí hậu nóng ẩm và có chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng Mùa Đôngkhô hanh có sương giá, sương muối Xen kẽ giữa hai mùa chính là khí hậuchuyển tiếp: Giữa Hạ sang Đông là mùa Thu ngắn thường có bão lụt GiữaĐông sang Hạ là mùa Xuân không rõ rệt thường có mưa phùn.Nhiệt độkhông khí trung bình là 23,40C Từ tháng 5 đến 9 nhiệt độ trung bình lớn hơn

250C, cá biệt có những thời điểm nhiệt độ trên 400C [11;8]

Lượng mưa trung bình năm từ 1600 -1700 mm, hàng năm có khoảng

137 ngày có mưa, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 9 xấp xỉ 400 mm,thấp nhất là tháng 01 dưới 20 mm

Tình hình phát triển kinh tế

- Khái quát chung:

Trang 31

Với lịch sử khai thác từ lâu đời, Vĩnh Lộc được biết đến với các hoạtđộng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cùng các sản phẩm nổi tiếng là SâmBáo, được coi là nhân sâm, đặc sản của núi Báo xã Vĩnh Hùng (Tốt nhưnhân sâm chứ không phải là nhân sâm) Thuốc cam sài, điệp (còn gọi là SoàiĐiệp) chữa bệnh sài mòn (suy dinh dưỡng) của trẻ em, gia truyền ở làngSoài, làng Cổ Điệp - xã Vĩnh Phúc chè lam Phủ Quảng đã nổi tiếng cả vùngvới đặc điểm cứng, giòn, mang đậm hương vị thơm ngoncủa gạo nếp cổtruyền, vị cay của gừng, vị bùi của lạc và ngọt ngào của mật mía làng Còng(Vĩnh Hưng) Đá đỏ, đá hoa cương ở núi Bền xã Vĩnh Minh Ngoài ra còn cócác nghề làm mật, trồng dâu và nuôi tằm, đan lát.

Từ cơ cấu thuần nông, lâm trước kia, đến năm 2008, huyện đã có cơcấu kinh tế Nông nghiệp: 49,8 %- công nghiệp: 19 %- dịch vụ: 31,2% Bìnhquân GDP trên đầu người đạt 500 USD/năm.Tuy nhiên, về cơ bản Vĩnh Lộcvẫn là huyện nông nghiệp, nằm xa các vùng kinh tế động lực, kết cấu hạ tầngcòn nhiều khó khăn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, nhiều tiềm năng chưađược phát huy, tỷ lệ hộ nghèo còn tới 22,8% (theo tiêu chuẩn nghèo mới)

2008 [11;13]

Những năm tới, cùng với việc xây dựng những cánh đồng có giá trịthu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm, phát triển cơ sở hạ tầng Vĩnh Lộc sẽ tậptrung vào việc phát triển mạnh mẽ du lịch, công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp Đặc biệt là nghiên cứu xây dựng công trình phân lũ, chặn lũ và sốngchung với lũ vùng sông Bưởi

- Nông - lâm - thuỷ sản:

Nông - lâm - thuỷ sản là ngành kinh tế chủ đạo của huyện Cơ cấunông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá và sản xuất hànghoá Diện tích đất nông nghiệp của huyện là 6.587,7 ha chiếm 41,85% diệntích tự nhiên Trồng trọt là ngành chủ đạo trong nông nghiệp với các câytrồng chính hiện nay là: lúa nước, ngô, khoai, sắn, rau quả thực phẩm, ớt, lạc,mía, đậu tương Trước kia huyện còn trồng nhiều bông nhưng hiện nay

Trang 32

không trồng nữa Gần đây huyện đang chú ý trồng giống cây lúa nếp cái hoavàng và tám thơm.

Diện tích cây lương thực có hạt tăng từ 11.094 ha năm 2000, lên14.652,9 ha năm 2008 Lúa nước được trồng trên các loại đất được thuỷ lợihoá Diện tích trồng lúa cả năm ổn định ở mức 9.000 ha Các giống lúa caosản đang được đưa vào trồng nhiều Huyện có 2 vụ chính là Chiêm Xuân vàThu mùa với diện tích tương đương nhau nhưng vụ lúa Thu mùa có năngsuất thấp hơn vụ Chiêm Xuân Năng suất lúa đã tăng hai lần trong vòng 20năm qua và đạt 57,97 tạ/ha năm 2008 cho sản lượng đạt 61.742 tấn Vùnglúa trọng điểm phân bố ở phía ở các xã ven sông Mã - nơi có mật độ dân cưcao và hệ thống thuỷ lợi phát triển [11;14]

Chăn nuôi là ngành truyền thống và đang được chú ý phát triển Tổngđàn trâu, bò có 14702 con năm 2000 và 20.104 con năm 2008 được chănnuôi ở tất cả các xã trong huyện Đàn lợn được nuôi ở tất cả các xã và ổnđịnh trên 30 ngàn con Đàn gia cầm tăng nhanh với các loại chủ yếu là gà,vịt, ngan Ngoài ra một số gia đình còn nuôi dê và đã ra đời trang trại nuôi đàđiểu với số lượng trên 300 con [11;14]

Lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 3,53 % diện tích đất tựnhiên và tập trung ở phía Đông Bắc và Tây Bắc của huyện Hiện nay côngtác trồng rừng được đẩy mạnh theo Dự án 661 (quy hoạch 1.569 ha) và táithiết Đức (quy hoạch 1.700 ha) Các cây lâm nghiệp chủ yếu là thông, bạchđàn, keo, tràm

Thuỷ sản: Diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản nước ngọt là 197 ha, chosản lượng là 563 tấn (năm 2006) với các loại chính là: cá mè, cá trôi, cátrắm, cá chép, cá chim trắng Ngoài ra, trên các dòng sông Mã, sông Bưởicòn có 78 lồng, bè cá Năm 2008 toàn huyện có trên 133 trang trại, gia trại,Trong đó: 7 trang trại trồng cây lâu năm; 89 trang trại chăn nuôi; 15 trangtrại nuôi trồng thuỷ sản và 22 trang trại tổng hợp

- Công nghiệp, dịch vụ:

Trang 33

Công nghiệp được phát triển chủ yếu dựa trên nguồn nguyên liệu tạichỗ (nông sản, khoáng sản) và nguyên liệu nhập từ các huyện miền núi (lâm,sản) Tổng số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trên lĩnh vực công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp là: 836, trong đó có 17 doanh nghiệp và 819 cơ sở sản xuấtkinh doanh Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 1994) 10.523triệu đồng năm 1995 tăng lên 56.775 triệu đồng năm 2008.

Thương mại: Thị trấn Vĩnh Lộc là trung tâm thương mại lớn Ngoài

ra, Vĩnh Lộc còn có 9 chợ phân bố ở các xã Trong đó, một số chợ tiêu biểu

là chợ Giáng có tiếng từ xa xưa, nay thuộc thị trấn Vĩnh Lộc quản lý, chợBồng có tiếng từ xa xưa, nay thuộc xã Vĩnh Tân quản lý, chợ Tây giai cũng

là một chợ lớn của huyện nằm ở phía Tây thành Nhà Hồ Các mặt hàng chủyếu: Lúa gạo, ngô, rau, đậu, thực phẩm, đá ốp lát, đá mỹ nghệ, mía, thuốc lá,ớt các mặt hàng mua vào chủ yếu là điện, nhiện liệu, vật tư, nông nghiệp,thiết bị, máy móc, hàng tiêu dùng

- Tài chính ngân sách:

Năm 2008, Tổng thu NSNN ước đạt: 123.529 triệu đồng Trong đó:Thu tại địa bàn: 10.939 triệu đồng

Tình hình văn hoá - xã hội

-Về giáo dục - đào tạo huyện có 3 trường THPT và 1 trương tâm giáodục thường xuyên; có 16 trường THCS, 17 trường tiểu học và 16 trườngmầm non Đến năm 2008 có 21 trường đạt chuẩn quốc gia

- Về y tế: Huyện có 1 trung tâm y tế, 1 bệnh viện đa khoa và 16 trạm y

tế xã Đến năm 2008 có 13 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

- Về văn hoá: Phong trào xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoáđược cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ hưởng ứngđến nay toàn huyện có 146 đơn vị khai trương xã, làng, cơ quan văn hoá,trong đó có 5 xã văn hoá Hệ thống truyền thanh được tăng cường, đài truyềnthanh huyện được xây dựng mới và lắp đặt máy phủ sóng FM phủ sóng toànhuyện

Trang 34

Thể dục thể thao: Huyện có 1 sân vận động trung tâm có diện tích 1,2

ha và nhà thi đấu trung tâm có khả năng tổ chức các giải thi đấu cấp tỉnh.Ngoài gia còn có 146 sân vận động ở các xã phục vụ việc tập luyện và thiđấu các môn: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông

2.1.2 Đặc điểm về đội ngũ người có công với cách mạng ở huyện Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh Hoá hiện nay

Hiện nay, trên toàn huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá có 4904 người

có công với cách mạng, trong đó cụ thể là: Tổng số Bà mẹ Việt Nam anhhùng là 35 người, số người còn sống là 3 người; số thương binh hạng 1 là 52người; số thương binh hạng 2 đến hạng 4 : 1063 người; số bệnh binh hạng 2

và hạng 3 : 546 người; thương binh hưởng mất sức : 68 người; lão thànhcách mạng hiện còn sống : 12 người; cán bộ tiền khởi nghĩa hiện còn sống :

8 người; ân nhân cách mạng hiện còn sống : 21 người; thân nhân liệt sỹ : 996người; thân nhân hai liệt sỹ : 26 người; chế độ hoá học : 205 người; đốitượng 07: 916 người [14] Đây là huyện bị ảnh hưởng, chịu tổn thất nhiềunhất về người qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ Nhưng với bảnchất kiên cường của người lính cụ Hồ, những người chiến sỹ cách mạng nămxưa đã cố gắng khắc phục khó khăn của bản thân để xây dựng cuộc sống

Trở về sau chiến tranh, mỗi người mỗi gia cảnh, mỗi mức độ thươngtật khác nhau nhưng ở họ vẫn có chung một lòng quyết tâm, một khao khátcống hiến phần sức lực còn lại cho gia đình, cho xã hội Đặc điểm nổi bậtnhất của đội ngũ người có công ở huyện Vĩnh Lộc đó là ý thức tự vượt khó

để thoát khỏi khó khăn, xây dựng dựng gia đình

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “Thương binh tàn mà không phế”nhiều thương binh trên địa bàn huyện Vĩnh Lộc đã khắc phục khó khăn,thương tật, có nhiều thành tích trong lao động sản xuất và tham gia tích cựccác hoạt động xã hội ở địa phương Nhiều gia đình thương, bệnh binh, ngườimất sức lao động đã trở thành nhân tố làm kinh tế giỏi, họ không chỉ giúp gia

Ngày đăng: 09/03/2015, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (2010), Báo cáo tổng kết Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” trong cả nước (2008 – 2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội
Năm: 2010
6. Chính phủ, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, 2005, 2006, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1991
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Nguyễn Duy Nhiên (2007), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Phúc (2009), Các giai đoạn phát triển của huyện Vĩnh Lộc trong thời kỳ đổi mới, Nxb Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn phát triển của huyện Vĩnh Lộc trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb Thanh Hoá
Năm: 2009
12. Tư tưởng Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Tư tưởng Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. UBND huyện Vĩnh Lộc (2010), Báo cáo của UBND huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về thực hiện Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” trong 5 năm (2005 – 2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của UBND huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về thực hiện Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa
Tác giả: UBND huyện Vĩnh Lộc
Năm: 2010
3. Chính phủ (2007), Pháp lệnh số 35/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Khác
5. Chính phủ (2005), Pháp lệnh người có công với cách mạng Khác
14. UBND huyện Vĩnh Lộc (2010), Báo cáo của Phòng Lao động – thương binh – xã hội huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá về công tác chăm sóc người có công thời gian từ 2006 – 2010 Khác
1. Bác (cô, chú) tham gia phục vụ cách mạng vào thời gian nào, ở đâu ạ Khác
2. Hiện nay, gia đình bác (cô, chú) có được nhận trợ cấp ưu đãi của Nhà nước không? Nếu có thì gia đình nhận được bao nhiêu một tháng Khác
3. Ngoài việc được nhận trợ cấp ưu đãi của Nhà nước thì gia đình bác (cô, chú) có được hưởng thêm những chế độ ưu đãi nào nữa không ạ Khác
4. Những chính sách của Nhà nước dành cho đối tượng người có công với cách mạng có giúp gia đình cải thiện hơn cuộc sống hiện tại không Khác
5. Chính quyền cũng như người dân địa phương có quan tâm tới đời sống và hoàn cảnh của những gia đình chính sách không ạ Khác
6. Bác (cô, chú) có suy nghĩ gì về việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện ta Khác
7. Nếu được nói lên tâm tư, nguyện vọng hay yêu cầu của mình về chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho người có công với cách mạng thì bác (cô, chú) có ý kiến gì ạ?Cảm ơn bác (cô, chú) đã trả lời những câu hỏi của chúng tôi Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w