Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -
TẬP BÀI GIẢNG
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
(DÀNH CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG NGÀNH 2 GIÁO DỤC CÔNG DÂN)
Tác giả: Nguyễn Thị Như Nguyệt
NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 NHẬP MÔN ĐẠO ĐỨC HỌC 4
1.1 Khái niệm Đạo đức, Đạo đức học 4
1.2 Đối tượng, nhiệm vụ, chức năng và phương pháp nghiên cứu của Đạo đức học 7
1.3 Nguồn gốc của đạo đức 9
1.4 Đạo đức trong các chế độ xã hội 11
1.5 Vai trò của đạo đức……… 16
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC ……… 19
2.1 Khái niệm và đặc điểm của phạm trù Đạo đức học……… 19
2.2 Một số phạm trù cơ bản của Đạo đức học………20
CHƯƠNG 3 ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC 35
3.1 Khái niệm và đặc trưng của truyền thống dân tộc 35
3.2 Những truyền thống đạo đức cơ bản của dân tộc Việt Nam 35
CHƯƠNG 4 HỌC TẬP, TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 44
4.1 Lòng yêu nước nồng nàn, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc 44
4.2 Chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ 44
4.3 Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư 44
4.4 Khiêm tốn, giản dị, học tập rèn luyện suốt đời 44
CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 45
5.1 Tính tất yếu của việc giáo dục đạo đức ở trường THCS 45
5.2 Mục tiêu, nội dung, nguyên tắc giáo dục đạo đức ở trường THCS 46
5.3 Người giáo viên trong quá trình giáo dục đạo đức 53
CHƯƠNG 6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 60
6.1 Khái niệm 60
6.2 Phân loại các phương pháp tổ chức giáo dục đạo đức ở trường THCS 60
6.3 Hoạt động giáo dục đạo đức ngoài giờ lên lớp 64
6.4 Thực hành 65
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện Một con người hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường Có thể nói, việc hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ của nhà trường nói riêng, của ngành giáo dục nói chung cần phải thực hiện Giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học cơ sở là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho học sinh những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, người khác và đối với Nhà nước, Tổ quốc Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục
mà là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ trẻ
Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành biên soạn Tập bài giảng Đạo đức và giáo dục đạo đức với tổng số 06 chương vừa cung cấp cho sinh viên – là những giáo viên tương lai - những vấn đề cơ bản về đạo đức vừa tìm hiểu phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS hiện nay
Mặc dù đã hệ thống hóa một cách cô động những nội dung cơ bản tuy vậy không thể tránh khỏi những bổ sung và chỉnh sửa Rất mong các đồng nghiệp và sinh viên đóng góp ý kiến để bài giảng hoàn thiện hơn
Quảng Bình, tháng 05 năm 2017
Nguyễn Thị Như Nguyệt
Trang 4Chương 1 Nhập môn đạo đức học
1.1 Khái niệm Đạo đức, Đạo đức học
- Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã được xuất hiện cách đây hơn 2.600 năm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp cổ đại
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) – lề thói (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lí” được xem như đồng nghĩa với “đạo đức” có gốc
từ tiếng Hi Lạp là ethicos – lề thói, tập tục Khi nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm: moral là đạo đức còn ethicos là Đạo đức học
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, trong đó những quan niệm về đạo và đức của họ được biểu hiện khá rõ nét Đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm này được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội
Khái niệm đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được
người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc, luân lí Như vậy, có thể nói đạo đức theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrat (469-399 TCN) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học Đạo đức học Còn Arixtốt (384-322 TCN) đã viết bộ sách Đạo đức học với 10 cuốn, trong
đó ông đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người Nội dung của phẩm hạnh chính là chỗ biết định hướng đúng, biết làm việc thiện Ông nói: Chúng ta bàn về đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà là để trở thành con người có đức hạnh
Trong lịch sử Đạo đức học, Êpiquya (341-271 TCN) là người đầu tiên đưa ra phạm trù lẽ
sống vào Đạo đức học và là một trong những người có công luận giải về sự tự do của con
người
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
- Khái niệm Đạo đức học
Đạo đức học là môn khoa học nghiên cứu về đạo đức, về những quy luật phát sinh, phát triển, tồn tại của đời sống đạo đức con người và xã hội Nó xác lập nên hệ thống những khái niệm, phạm trù, những chuẩn mực đạo đức cơ bản, làm cơ sở cho ý thức đạo đức và hành vi đạo đức của con người
Trang 5Đạo đức học là khoa học cùng với Loogic học và Mĩ học tạo thành ba bộ phận khoa học nghiên cứu cái chân, cái thiện và cái mĩ Nếu Logic học nghiên cứu nhận thức đúng sai; Mĩ học nghiên cứu cái thẩm mĩ; thì Đạo đức học nghiên cứu cái thiện và cái ác
Đạo đức học là một khoa học đã xuất hiện từ thời cổ đại Nhiệm vụ của Đạo đức học là xây dựng các lí thuyết về đạo đức Trong lịch sử phát triển của các khoa học, quan niệm về đạo đức như thế nào thì có các lí thuyết về đạo đức như vậy
- Sự khác biệt giữa đạo đức và Đạo đức học
Đạo đức thuộc ý thức xã hội, là trình độ phát triển cao của các tư tưởng đạo đức, là một
bộ phận của thế giới quan con người Còn Đạo đức học là một khoa học triết học, là triết học của đời sống thực tiễn
Ý thức đạo đức là tồn tại xã hội được ý thức Nó biểu hiện qua những giá trị khách quan của đời sống đạo đức con người, trải qua các thời kì lịch sử và cuộc sống hiện thực, nó được phản ánh thành ý thức đạo đức Còn Đạo đức học là khoa học nghiên cứu về đời sống đạo đức,
là tri thức khoa học về đạo đức (bao hàm cả những cái đã biết và những cái đang tìm kiếm) của con người Dù chúng có chung một đối tượng phản ánh là tồn tại khách quan của các quan hệ đạo đức và thực tiễn đạo đức của con người, nhưng mỗi lĩnh vực có sự phản ánh khác nhau Sự khác nhau giữa Đạo đức học và đạo đức chính là sự khác nhau giữa một khoa học và đối tượng của khoa học này
- Cấu trúc của đạo đức
Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức được hợp thành từ hai yếu tố là ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nếu xét nó trong quan hệ giữa người với người thì ta nhìn ra quan hệ đạo đức Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
+ Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức
Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với
những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Mặt khác, nó còn bao hàm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người
Trong quan hệ giữa người với người đều có ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức Đó
là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỉ và tinh thần tập thể Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện, ăn bám bóc lột là vô nhân đạo Ngay cả trong hành vi thiện, mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang hàng, mà nó cũng có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được) Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những nguyên tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức con người Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt
cấu trúc) gồm tri thức đạo đức, tình cảm và ý chí đạo đức
Mọi ý thức đạo đức được thể hiện thông qua thực tiễn đạo đức
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo
đức, là quá tình hiện thực hóa ý thức đạo đức trong cuộc sống Ở đây, các hành vi đạo đức vừa
là biểu hiện của nhận thức và tình cảm đạo đức cá nhân, vừa bị chi phối bởi các chuẩn mực và quy tắc của xã hội Quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác là
Trang 6tiền đề của hành vi đạo đức cá nhân Sự lựa chọn tự do trong ứng xử giữa người này với người khác là do những tính cách quyết định
Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức của con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử
Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội
và ngăn ngừa cái ác Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức
+ Quan hệ đạo đức
Hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội
về mặt đạo đức là quan hệ đạo đức Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiện thực của bản chất xã hội của con người Các quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân mà còn giữa cá nhan với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với văn hóa tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến lợi ích, chứa đựng trong các mối quan hệ này
Quan hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những quy luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong những quan hệ xã hội Quan
hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời kì lịch sử và chính
nó là một trong những cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức
Tóm lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố tạo nên cấu trúc của đạo đức Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập mà liên hệ tác động lẫn nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức
+ Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng động nhằm hình thành, phát triển, hoàn thiện tồn tại xã hội ấy
Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng Nó tồn tại như là hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng
Đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ánh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội về lợi ích và hoạt động của các cá nhân
Trong quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân
Trước mắt cá nhân, đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện
Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất Đạo đức cá nhân là biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội Mỗi
cá nhân lĩnh hội, tiếp thu đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau Đạo đức xã hội không thể là tổng số giản đơn của đạo đức các cá nhân, mà nó là tổng hợp
Trang 7những nhu cầu phổ biến được đúc kết từ đạo đức cá nhân Đạo đức xã hội trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và củng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi và phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hội
Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong xã hội với những phẩm chất hành vi, những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lí tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân
1.2 Đối tượng, nhiệm vụ, chức năng và phương pháp nghiên cứu của Đạo đức học
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của đạo đức học
Đạo đức học Mác – Lênin là một khoa học triết học, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu sự vận động của các quan hệ đạo đức giữa con người và con người, giữa con người và tự nhiên, coi các vấn đề chuẩn mực và thiện ác
là trung tâm, lợi ích là khâu cơ bản, nhân cách đạo đức là biểu hiện tập trung nhất
Dựa trên cơ sở của CNDVBC và CNDVLS, Đạo đức học Mác – Lênin trở thành bộ phận hợp thành hữu cơ của triết học Mác-Lênin Nó nghiên cứu các quan hệ đạo đức trong toàn bộ sự phát triển của con người Nó nghiên cứu sự vận động của các quan hệ đạo đức chính là nghiên cứu các quan hệ giữa chủ thể đạo đức và đối tượng đạo đức Đó là những quan hệ phổ biến về đạo đức trong đời sống xã hội Đó là các vấn đề của đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân Trước hết, đó là các chuẩn mực, các giá trị do sự chung sống, sự quy định giữa con người với con người tạo thành
Đạo đức học Mác – Lênin nghiên cứu đạo đức như là một hệ thống trọn vẹn có logic vận động và phát triển của riêng mình, có “cuộc sống” riêng của mình với những quy luật đặc thù, với những hình thức và chất lượng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện thời đại và cộng đồng khác nhau Đồng thời, nó còn nghiên cứu các giá trị đạo đức của đời sống xã hội mà đặc biệt là nghiên cứu đạo đức cộng sản chủ nghĩa – đạo đức của giai cấp công nhân cách mạng, luận chứng cho vai trò cải tạo cách mạng của đạo đức này
“Đạo đức học Mác – Lênin là khoa học về bản chất của đạo đức, về các quy luật xuất hiện và phát triển lịch sử của đạo đức, đặc biệt là của đạo đức cộng sản, về chức năng đặc trưng của đạo đức, về các giá trị đạo đức của đời sống xã hội” (M.Ackhanghenxki, Các bài
giảng về Đạo đức Mác-Lênin, NXB Trường CĐ, Matxcơva, 1974(tiếng Nga))
Ở đây, có giá trị đạo đức được sáng tạo ra không chỉ tồn tại trong ý thức mà điều quan trọng phải được thể hiện trong đời sống xã hội Vì vậy, Đạo đức học Mác – Lênin nghiên cứu không chỉ ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức mà còn nghiên cứu cả thực tiễn đạo đức
Có thể nói, Đạo đức học Mác – Lênin có một phạm vi nghiên cứu rất rộng, là khoa học nghiên cứu bản chất xã hội và các quy luật phát triển của đạo đức như một hình thái ý thức xã hội đặc biệt; là khoa học nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển và tiến bộ đạo đức gắn với
sự tiến bộ xã hội Đạo đức học Mác – Lênin khẳng định đạo đức của chủ nghĩa xã hội cao hơn hẳn đạo đức của CNTB về các vấn đề giải quyết cái thiện, cái ác, về các vấn đề lợi ích cá nhân
và lợi ích cộng đồng Đạo đức học Mác – Lênin là một giai đoạn phát triển mới của các học thuyết đạo đức trọng lịch sử phát triển của loài người
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Đạo đức học
Trang 8Thứ nhất, xỏc định ranh giới giữa sự khỏc nhau về bản chất của quan hệ đạo đức so với
cỏc quan hệ xó hội khỏc
Thứ hai, vạch ra tớnh tất yếu về nguồn gốc, bản chất đặc trưng và chức năng của đạo đức
trong đời sống xó hội, nờu lờn con đường hỡnh thành và phỏt triển của đạo đức Đồng thời nú tỏi tạo lại đời sống đạo đức dưới hỡnh thức lớ luận và đạt tới trỡnh độ nhất định
Thứ ba, gúp phần hỡnh thành đạo đức mới trong đời sống xó hội, nú khẳng định những
giỏ trị của đạo đức XHCN; đồng thời phờ phỏn, đấu tranh chống lại những khuynh hướng tàn
dư đạo đức cũ, những biểu hiện đạo đức khụng lành mạnh, đi ngược lại lợi ớch chõn chớnh của con người Đạo đức học Mỏc – Lờnin mang bản chất khoa học và cỏch mạng Bởi vỡ những tri thức của nú là chõn lớ, nú là cụng cụ khụng thể thiếu trong sự nghiệp giỏo dục đạo đức núi riờng
và giỏo dục con người núi chung
Cỏc nhiệm vụ này của Đạo đức học Mỏc – Lờnin gắn bú mật thiết với nhiều lĩnh vực quan trọng của đời sống xó hội tạo thành Đạo đức học lao động, Đạo đức học giao tiếp và Đạo đức học giỏo dục
Trong cỏc nhiệm vụ của Đạo đức học Mỏc – Lờnin ở nước ta hiện nay cú một nhiệm vụ trung tõm là gắn giỏo dục đạo đức với xõy dựng, phỏt triển KTTT định hướng XHCN
1.2.3 Chức năng của Đạo đức
+ Chức năng giáo dục
Con ng-ời là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Con ng-ời sinh ra lĩnh hội hệ thống đạo đức xã hội Hệ thống ấy tác động
đến con ng-ời bằng thực tiễn đạo đức và nhận thức đạo đức
Từ nhận thức đạo đức-ý thức đạo đức-hành vi đạo đức Các hành vi đạo đức nó đ-ợc lập đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân dần trở thành thói quen, phong tục tập quán đạo đức
Đạo đức là cái gốc của mỗi con ng-ời, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một việc làm quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách toàn diện Có tài mà không có đức là ng-ời vô dụng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó
Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của con ng-ời nh-ng để trở thành con ng-ời có đạo đức tức là luôn suy nghĩ và hành động theo lẽ phải, làm điều thiện, tránh điều ác thì phải hiểu biết, phải đ-ợc tác động, phải đ-ợc giáo dục về các quy tắc, chuẩn mực đạo đức Đạo đức giúp cho con ng-ời có khả năng
để lựa chọn, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức trong đời sống xã hội Mặt khác, khi con ng-ời thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức sẽ đ-ợc xã hội ủng
hộ, tôn vinh, điều đó có tác dụng thôi thúc con ng-ời hành động theo lẽ phải, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội
Thông qua giáo dục và tự giáo dục làm tính tích cực trong mỗi con ng-ời đ-ợc nhân lên, xác định trách nhiệm của mình trong cuộc sống và xã hội Hiệu quả của giáo dục đạo đức phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức giáo dục, mức độ tự giác của chủ thể và đối t-ợng giáo dục trong quá trình giáo dục
Trang 9+ Chức năng điều chỉnh hành vi
Trên cơ sở các quy tắc, chuẩn mực đạo đức và sự tác động của d- luận xã hội, chủ thể đạo đức tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức Thiếu sự điều chỉnh đó con ng-ời không thể hoàn thiện nhân cách, thậm chí sai lầm, bị d- luận xã hội lên án.Yếu tố giúp con ng-ời tự điều chỉnh hành
vi cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội đó là sức mạnh của l-ơng tâm và danh dự Ng-ời ta cho rằng, con ng-ời khi không còn sự điều chỉnh của l-ơng tâm trở thành ác thú hơn mọi ác thú Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức đ-ợc thực hiện bằng hai hình thức khen và chê Đó là, xã hội - tập thể tạo ra d- luận để khen ngợi chủ thể có hành vi đạo đức và phê phán những biểu hiện không lành mạnh, gây ảnh h-ởng xấu đến con ng-ời, xã hội
+ Chức năng kiểm tra, đánh giá
Chủ thể đạo đức căn cứ vào quy tắc, chuẩn mực đạo đức đối chiếu với việc thực hiện của bản thân từ đó tự đánh giá mức độ thực hiện của mình, qua đó tự điều chỉnh hành vi Mặt khác, chuẩn mực đạo đức giúp mỗi ng-ời căn cứ vào đó nhận xét đánh giá hành vi của ng-ời khác, từ đó tôn vinh những hành vi hợp đạo
đức, lên án loại trừ những hành vi trái đạo đức
1.2.4 Phương phỏp nghiờn cứu Đạo đức học
- Phương phỏp luận nghiờn cứu Đạo đức học
Đạo đức học cũng như cỏc khoa học khỏc phải lấy phương phỏp duy vật biện chứng và phương phỏp duy vật lịch sử làm phương phỏp nghiờn cứu của mỡnh Nghĩa là, trong quỏ trỡnh tỡm hiểu, nghiờn cứu Đạo đức học phải vận dụng triệt để, nhất quỏn những nguyờn lớ, quy luật của triết học Mỏc-Lờnin, đặc biệt là phương phỏp luận của CNDVLS mới khắc phục được hạn chế, những sai lầm cực đoan của chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa duy lớ, duy thần học
- Phương phỏp liờn ngành
Đạo đức học là mụn khoa học xó hội, vỡ thế nghiờn cứu nú phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với những thành tựu của cỏc bộ mụn khoa học xó hội khỏc như: Luật học, Mĩ học, Chớnh trị học, đặc biệt là Giỏo dục học, Tõm lớ học Bởi vỡ cỏc mụn đú vừa là phương thức thực hiện chức năng thực hành đạo đức vừa là ngọn nguồn, bộ phận của đạo đức
- Phương phỏp lịch sử, so sỏnh
Đạo đức học là một phạm trự lịch sử, nú phỏt dinh, tồn tại, phỏt triển trong từng giai đoạn lịch sử xó hội nhất định Do đú, quan niệm về đạo đức trong lịch sử phải được xem như những nấc thang giỏ trị nhất định của xó hội loài người Nú luụn luụn bị phủ định, lọc bỏ, kế thừa để phỏt triển khụng ngừng với sự tiến bộ xó hội núi chung Mỗi hiện tượng đạo đức hiện thực đều cú cội nguồn từ cơ sở của quỏ khứ, truyền thống lịch sử, đồng thời đạo đức hiện tại là tiền đề để phỏt triển trong tương lai như là quỏ trỡnh phủ định biện chứng Vỡ thế phương phỏp lịch sử, so sỏnh giỳp ta thấy được cỏi logic bản chất hiện tượng đạo đức trong tiến trỡnh lịch sử
xó hội
1.3 Nguồn gốc của đạo đức
1.3.1 Cỏc quan điểm trước C.Mỏc và ngoài mỏc xớt về nguồn gốc của đạo đức
Trang 10- Quan điểm tôn giáo:
Xuất phát từ nguyên lí “Đấng sáng thế” trong giáo lí của tôn giáo, những nhà lí luận tôn giáo và các tín đồ hoặc là ngộ nhận hoặc cố tình khẳng định đạo đức có nguồn gốc tôn giáo
Thiên chúa giáo cho rằng Thượng đế đã ban phước lành và cứu rỗi loài người Hạnh phúc trong cuộc sống của con người là do Chúa ban phát Vì vậy, con người phải có bổn phận thực hiện nghĩa vụ của mình trước Thượng đế Quan niệm của Ôguytxtanh (254-430) về đạo đức, thể hiện trong Kinh Thánh như sau: Chúa hãy cho chúng con những gì mà Chúa cai quản, Chúa hãy sai khiến chúng con làm gì mà Chúa muốn
Phật giáo thì quan niệm đạo đức bắt nguồn từ triết lí nhân sinh của Phật, thể hiện tập trung ở “Tứ diệu đế” (bốn chân lí huyền diệu): Khổ đế là chân lí về cuộc đời – bể khổ của chúng sinh; Tập đế là chân lí đề cập nguyên nhân gây ra nỗi khổ (thập nhị nhân duyên); Diệt đế
là chân lí khẳng định nỗi khổ có thể diệt được để đạt tới “cõi niết bàn”; Đạo đế là chân lí về con được giải thoát khỏi nỗi khổ - đó là con đường tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân Giải thoát là
cơ sở để hình thành các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, đồng thời là cơ sở của lương tâm, hạnh phúc, danh dự của cá nhân
Còn Nho giáo lại có hai quan điểm đối lập nhau “Nhân chi sơ tính bản thiện” và “Nhân chi sơ tính bản ác” Theo quan điểm của Nho giáo thì tính thiện – ác của con người, sự sướng – khổ của đời người là do mệnh trời (thiên định)
Như vậy, theo quan điểm tôn giáo, đạo đức nảy sinh từ lòng tin tôn giáo Mọi nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức của con người là sự ban phát, sự quy định của Thần thánh, Thượng đế, Chúa trời Đó là quan điểm đồng nhất giữa tôn giáo và đạo đức
- Quan điểm tự nhiên:
Những người theo quan điểm tự nhiên đều cho đạo đức bắt nguồn từ bản năng động vật Quan điểm của thuyết S.Đacuyn xã hội cho rằng ở động vật bậc cao có những hiện tượng bản năng giống như tình cảm đạo đức ở con người Họ đi từ lí giải những hiện tượng tình cảm như sinh con, nuôi con, bảo vệ con, buồn vui của động vật để suy ra con người cũng là một sinh vật nên tất yếu phải phục tùng quy luật tự nhiên Như vậy, quan điểm của thuyết Đácuyn xã hội
đã đồng nhất “tiền đề lịch sử tự nhiên của tình cảm đạo đức” với tình cảm đạo đức của con người
Quan điểm duy vật nhân bản với đại biểu tiêu biểu là L.Phoiơbắc Ông là nhà duy vật lớn nhất trước C.Mác, nhưng khi bàn về đạo đức thì ông lại rơi vào quan điểm tự nhiên, ông chỉ thấy một mặt tự nhiên mà không thấy mặt xã hội, lịch sử trong con người Con người cũng như đạo đức của con người theo quan điểm của L.Phoiơbắc là bắt nguồn từ tự nhiên và mang tính tộc loài
- Quan điểm duy tâm xã hội:
Các quan điểm duy tâm xã hội đều lí giải đạo đức là sản phẩm của ý thức, tư tưởng con người hoặc của những lực lượng tinh thần siêu tự nhiên như “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”
Các đại biểu tiêu biểu: Platon, Hêghen
Trang 11Tóm lại, các quan điểm trước C.Mác và ngoài mácxít do hạn chế lịch sử bởi thế giới quan duy tâm, phương pháp siêu hình và lợi ích giai cấp thống trị bóc lột nên đã không lí giải được một cách khoa học về nguồn gốc đạo đức
1.3.2 Quan điểm mác xít về nguồn gốc đạo đức
- Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái ý thức xã hội nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, do cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quyết định
- Lao động sản xuất vật chất là nguồn gốc xét đến cùng của đạo đức
- Quan hệ sản xuất là quan hệ vật chất nền tảng quyết định sự hình thành, biến đổi của đạo đức trong lịch sử
Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chúng ta khẳng định rằng xét đến cùng mọi thuyết đạo đức
đã có từ trước tới nay là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” Như vậy, đạo đức là sản phẩm và là biểu hiện của nền sản xuất vật chất Trên cơ sở phát triển của nền sản xuất vật chế mà đạo đức nảy sinh và hoàn thiện
XH CSNT: trình độ lao động thấp kém, công cụ lao động thô sơ, LLSX chưa phát triển
đã quy định QHSX dựa trên chế độ công hữu về TLSX mang tính sơ khai Tình hình kinh tế đó
đã quyết định đạo đức của XHCSNT là hết sức trong sáng và tốt đẹp
XH CHNL: dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX nên đời sống đạo đức xã hội cũng có sự thay đổi căn bản, đó là sự xuất hiện các tư tưởng ăn bám, xuất hiện hành vi chiếm đoạt thành quả lao động của người khác, thói lừa gạt, chủ nghĩa cá nhân vị kỉ nảy sinh và ngày càng phát triển đạt đến mức đỉnh cao của nó trong XH TBCN
XH XHCN: đạo đức xã hội có sự thay đổi về chất Đó là lối sống mình vì mọi người, mọi người vì mình dần được hình thành với tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, chủ nghĩa tập thể được xác lập, lao động tự giác sáng tạo trở nên phổ biến Nghĩa là nội dug đạo đức không ngừng được hoàn thiện để dẫn đến một kiểu đạo đức ngày càng mang tính nhân đạo hiện thực
- Ngoài ra, đạo đức nảy sinh, phát triển còn chịu sự tác động của những yếu tố như: điều kiện hoàn cảnh sống của con người, những phương thức điều chỉnh khác của xã hội, triết học, pháp luật, nghệ thuật, khoa học…
1.4 Đạo đức trong các chế độ xã hội
1.4.1 Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy
Khi xã hội loài người mới xuất hiện, con người còn sống cuộc sống bầy đàn, ăn lông, ở
lỗ và hoàn toàn phụ thuộc vào giới tự nhiên bên ngoài, chưa có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng người bóc lột người Cùng với sự phát triển của xã hội, con người từng bước ý thức được sự cần thiết phải hợp tác, tương trợ nhau trong cuộc sống săn bắt, hái lượm Việc ý thức được sự cần thiết này làm nảy sinh khát vọng về sự công bằng, nguyên tắc về sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội với nhau Sự ý thức đó dần dần được nội tâm hóa, trở thành nhu cầu bên trong, thành thói quen, tình cảm đạo đức Lúc đó tính tất yếu trở thành tự do Đây chính là những biểu hiện đầu tiên của các giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức trong XH CSNT
Nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển, mối quan hệ giữa người với người ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng và phong phú hơn trong sự chế định tự nhiên của đời sống cộng đồng
Trang 12Điều đó đã làm nảy sinh những chuẩn mực đạo đức mới, biểu hiện ở những hành vi giao tiếp, ứng xử trong các điều cấm kị: không được lấy phần của nhau, không được đàn áp lẫn nhau, không được nói dối Ngoài ra, trong XH CSNT (đặt biệt là giai đoạn đầu), thông qua các phong tục, tập quán, lễ nghi tôn giáo các quy ước, chế định có tác dụng điều chỉnh hành vi con người
đã mang ý nghĩa, giá trị đạo đức Các quy ước, chế định đó được hình thành trong quá trình hoạt động tập thể và từng bước trở thành các chuẩn mực được xã hội thừa nhận Có thể xem đây
là một trong những dấu hiệu xuất hiện của đạo đức trong XH CSCN Những phẩm chất của con người được xã hội đề cao trong giai đoạn này gắn liền với điều kiện sinh sống của họ Đó là: sức khỏe, lòng dũng cảm, chí kiên cường, chịu đựng gian khổ, dám hi sinh vì tập thể, đoàn kết
và thông cảm với nhau
Đạo đức trong XH CSNT có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Trước hết, trong XH CSNT, ý thức đạo đức xuất hiện trong sự xuất hiện của một ý thức
chung ở dạng tổng hợp, chưa được phân chia thành một hình thái ý thức xã hội riêng biệt Trong
xã hội đó, ý thức đạo đức tiềm ẩn, chứa đựng trong ý thức xã hội nói chung, đặc biệt là trong ý thức tôn giáo (đạo đức ngẫu tượng giáo), điều này do chính đời sống kinh tế - xã hội lúc bấy giờ qui định Phù hợp với trình độ phát triển thấp kém của LLSX, ý thức của con người lúc này
“cũng mang tính động vật như chính đời sống xã hội ở giai đoạn ấy; đó là một ý thức quần cư đơn thuần” Mầm móng đạo đức đã xuất phát từ chính những hoạt động chung của thị tộc với những chế định tự nhiên của chúng Những chế định tự nhiên này xét về mặt nào đó chính là những chế định có tính chất đạo đức Nói cách khác, đó là những hình thức đầu tiêu bộc lộ ý thức và quan hệ đạo đức Việc coi trọng, tuân thể các hành vi giao tiếp, ứng xử và hoạt động cụ thể của cộng đồng là biểu hiện đặc điểm rõ nét của ý thức đạo đức của người nguyên thủy Mọi thành viên thực hiện bất kì một hành vi đạo đức nào bao giờ cũng theo thói quen
Thứ hai, trong XH CSNT, đạo đức mang tính cụ thể - cảm tính, trực quan và kinh
nghiệm Đặc điểm này cũng do chính điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ qui định Trong xã hội đó, việc tuân thủ một cách nghiêm ngặt các hành vi giao tiếp, ứng xử và hoạt động cụ thể - cảm tính của cá nhân và cộng đồng được coi là hợp đạo đức Các chế định đạo đức đầu tiên bao giờ cũng là sự lặp lại các kinh nghiệm thực tiễn trong dạng trực quan sinh động, không đòi hỏi phải suy xét, cân nhắc có tính logic, tính phản tư lí luận Chính vì vậy, đối với người nguyên thủy, việc bắt chước các mẫu hành vi đạo đức của người đi trước được coi là một yêu cầu có tính nguyên tắc, bắt buộc, đòi hỏi mọi người phải tuân theo Thông qua sự đòi hỏi có tính bắt buộc này mà các phong phú, tập quán trong lao động và sinh hoạt; các điều cấm kị và lễ nghi tôn giáo được giữ gìn và tồn tại một cách cụ thể - cảm tính trong đời sống cộng đồng
Thứ ba, trong đạo đức CSNT hành vi thể hiện cái thiện bao hàm nhiều ý nghĩa: cái tốt,
cái có ích, cái chân thật, trong đó sự hợp tác, sự công bằng giữ vai trò nền tảng Sự hợp tác giản đơn trong điều kiện kinh tế tự nhiên củngười nguyên thủy là yếu tố hàng đầu tạo nên hiệu quả trong lao động tập thể Tính công bằng trong hưởng thụ vật phẩm và các quan hệ xã hội đã tạo
ra sự ổn định hợp lí và bình đẳng xã hội trong điều kiện chưa có sản phẩm dư thừa Không có
sự hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau này, con người không thể đủ sức để chống chọi lại thiên nhiên, thú dữ Chính giá trị đạo đức này đã góp phần to lớn trong việc tạo sự ổn định hợp lí và bình đẳng xã hội, là điều kiện cơ bản đảm bảo cho xã hội phát triển trong sự ổn định Song, sự
ổn định này không thể tiếp tục kéo dài mãi tổ chức XH CSNT được Và như vậy, theo tiến trình
Trang 13phát triển của lịch sử, một xã hội mới sẽ ra đời thay thế XH CSNT Đó chính là xã hội chiếm hữu nô lệ
1.4.2 Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội dẫn đến sự xuất hiện chế độ sở hữu TLSX Từ đó
đã tạo nên sự khác biệt giữa quyền lợi và nghĩa vụ cũng như vai trò và địa vị của từng cá nhân trong xã hội Chính thời điểm này đã đánh dấu sự xuất hiện của nền đạo đức mới, đạo đức mang tính giai cấp, đạo đức chủ nô
Được hình thành trên cơ sở kinh tế - xã hội có sự phân chia giai cấp, đạo đức trong XH CHNL mang những đặc trưng sau:
Thứ nhất, tính chất đối kháng về đạo đức xuất hiện Đó là sự đối kháng về đạo đức của
chủ nô và đạo đức của nô lệ Sự đối kháng này trước hết biểu hiện ở thái độ đối với lao động Chính chế độ sở hữu chủ nô dẫn đến sự phân phối không công bằng tức là sự chiếm đoạt của cải
do cả cộng đồng làm ra của một lớp người đã dần phá vỡ tính hợp tác, công bằng, bình đẳng của công xã thị tộc Sự khác biệt này là một trong những nguyên nhân làm cho giai cấp thống trị và những nhà tư tưởng của họ ngày càng xa lánh lao động (đặc biệt là lao động chân tay) và không quan tâm gì đến người lao động
Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi tự cho phép mình là người đức hạnh, còn nô lệ là
kẻ thấp hèn, hạ ngu, không có phẩm hạnh
Sự nô dịch của số ít đối với số đông giờ đây được bảo đảm bởi một lực lượng xã hội mới – nhà nước Tình trạng bình đẳng nhường chỗ cho đẳng cấp Nội dung cơ bản của đạo đức được đẩy tới hai cực đối lập gay gắt: chủ - tớ, trên – dưới, mệnh lệnh – phục tùng Điều này có thể thấy ngay từ thời kì tan rã của chế độ công xã thị tộc
Thứ hai, nếu ý thức đạo đức trong xã hội nguyên thủy là sự hòa trộn giữa ý thức và hành
vi muốn vươn tới điều thiện, thì trong XH CHNL, quá trình tách biệt đạo đức khỏi sự hỗn dung nguyên thủy ngày một tăng lên Con người đã biết làm các thử nghiệm đầu tiên, khái quát về mặt triết học đối với các qui định phát triển của đời sống đạo đức và biện minh có tính triết học cho quá trình phát triển đó
Trong XH CHNL, trình độ nhận thức của con người ngày càng được nâng lên, quá trình phân công lao động giữa lao động trí óc và lao động chân tay ngày càng sâu sắc đã làm xuất hiện tầng lớp những người lao động trí óc có khả năng xây dựng nên các lí thuyết đạo đức để cuối cùng hình thành nên ngành Đạo đức học Đến đây, người ta đã biết phân biệt ý thức đạo đức với thực tiễn đạo đức Với sự phân biệt này, tính hỗn dung trong đạo đức của người nguyên thủy coi như chấm dứt
Ngoài hai đặc trưng cơ bản trên, những quan niệm về thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, hạnh phúc và bất hạnh, cũng là những vấn đề nóng bỏng đặt ra cho xã hội đương thời về mặt đạo đức
1.4.3 Đạo đức trong xã hội phong kiến
Yêu cầu chung của nền đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ Do đó, quan điểm đạo đức của giai cấp phong kiến và quan điểm đạo đức của nông dân về thực chất vẫn đối lập nhau
Trang 14Tuy nhiên sự đối lập đó đã có những biến đổi nhất định Những mâu thuẫn trái ngược và những
sự khác biệt trong quan điểm đạo đức giai cấp đã thu hẹp lại, những yếu tố giống nhau được mở rộng ra Điều đó chứng tỏ, về hình thức những quan hệ giữa giai cấp phong kiến và nông dân
“hòa bình” hơn so với chủ nô và nô lệ Tuy nhiên không phải điều đó làm giảm nhẹ xung đột giai cấp, trái lại nó tăng thêm mâu thuẫn đối kháng giai cấp Bởi vì, người nông dân một mặt ý thức được quyền của mình, tự do hơn nô lệ; mặt khác, chính có quyền tự do tương đối lớn hơn
đó đã kích thích người nông dân bộc lộ nhiều năng lực và nghị lực hơn trong cuộc đấu tranh với bọn phong kiến
Ở phương Tây, tư tưởng đạo đức trong xã hội phong kiến thường xuất hiện từ những tín điều tôn giáo (Thiên Chúa giáo, Hồi giáo) Những giáo lí của giáo hội đồng thời cũng là những định lí chính trị, những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật phát và ngay cả khoa học trong một thời gian dài vẫn còn đặt dưới sự giám hộ của thần học Còn ở phương Đông (chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam), tư tưởng đạo đức không hoàn toàn hay đúng hơn là ít phụ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên, được nhìn nhận qua lăng kính học thuyết Nho giáo của Khổng Tử
Lẽ sống của người quân tử mà Nho giáo nêu lên là: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Với những luân thường đạo lí, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín đã đòi hỏi mọi người từ vua chúa đến người bình dân phải luôn luôn rèn luyện và nghiêm khắc với bản thân trong cuộc sống hàng ngày Khổng Tử không chỉ khuyên mọi người mà ông còn là một tấm gương sáng trong việc thực hiện các điều “nhân”, “lễ” để mọi người noi theo Ví như, để tỏ lòng kính cẩn, khi lễ quỷ thần ông coi quỷ thần đang ngồi tại đó Để giữ lòng mình trong sạch và thẳng thắn, chiếu trải không ngay ngắn ông không ngồi, thịt thái không vuông vắn ông không ăn Ông nêu lên những yêu cầu chi tiết trong việc tiếp đón khách khứa, thăm viếng bạn bè Giáo huấn của ông về “lễ”
đã đạt tới mức độ sâu sắc, đã trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người ông
Tuy nhiên, bên cạnh một số mặt tích cực (tuy không phải là cơ bản, tư tưởng đạo đức phong kiến cũng bộc lộ mâu thuẫn, biểu hiện tình trạng đối kháng với những quan điểm đạo đức của nhân dân lao động, đó là: tư tưởng địa vị, đẳng cấp, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, thói đạo đức giả, bệnh gia trưởng – gia đình chủ nghĩa, khuyên người ta phục tùng các đấng bề trên một cách mù quáng)
Nhìn chung, đạo đức phong kiến phương Đông trói buộc con người vào các mối quan hệ: ngũ luân, tam cương, ngũ thường và coi đó là sức mạnh để quản lí và cải tạo xã hội
Có thể nói, so với đạo đức trong XH CHNL, hình thái đạo đức trong XHPK đã đạt được những tiến bộ nhất định Tiến bộ lớn nhất là sự giải phóng con người về mặt thể xác và trong những giới hạn nhất định, một số quyền lời của con người cũng được thực hiện
1.4.4 Đạo đức trong xã hội tư bản chủ nghĩa
Thay thế cho đạo đức trong XHPK là đạo đức của GCTS trong XHTBCN
Khi mới xuất hiện, GCTS từng đóng vai trò tiến bộ cách mạng trong lịch sử như: đập tan xiềng xích của chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ phong kiến, tạo điều kiện mở rộng thị trường trong nước và thế giới, quyền con người được mở rộng hơn, cá nhân được giải phóng, năng suất lao động cao, khoa học phát triển,
Trang 15Gắn liền với thắng lợi đó, GCTS đã thẳng tay xóa bỏ quan hệ đạo đức phong kiến Bên cạnh những mặt tiến bộ, GCTS và XHTB đã tạo nên nhiều bất công cho xã hội
Khi quan hệ hàng hóa, tiền tệ thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội; khi mà GCTS
đề cao vị kỉ, vị lợi; khi mà chủ nghĩa cá nhân trở thành nguyên tắc đạo đức đặc trưng cho hệ tư tưởng và luân lí tư sản thì “tự do, bình đẳng, bác ái” chỉ còn là danh nghĩa, những sợi dây đạo đức trói buộc con người bị phá tan GCTS đề cao lẽ sống: mỗi người vì mình, Chúa vì tất cả, lợi nhuận là cái đáng quý nhất và là mục tiêu của thời đại này
Cơ sở lí luận của lí thuyết đạo đức này là sự thừa nhận sự tự trị và những quyền tuyệt đối của các cá nhân trong xã hội Với tư cách là một nguyên tắc đạo đức, chủ nghĩa cá nhân đem cá nhân đối lập với tập thể, với xã hội, đòi hỏi lợi ích xã hội phải phục tùng lợi ích cá nhân Đạo đức tư sản coi chủ nghĩa cá nhân là “bản tính tự nhiên của con người”, bản tính ấy là bất biến
Xã hội tư bản hiện đại đã và đang sản sinh ra một lớp người sống xa hoa trên sự đau khổ của người khác, đó là thái độ của những kẻ vô tâm về đạo đức Nền đạo đức bị suy thoái, nhân cách con người ngày càng bị tha hóa Mối quan hệ giữa người với người là mối lợi lạnh lùng và lối trả tiền ngay không tình, không nghĩa Tất cả các hoạt động, cùng với trí tuệ và tình cảm, danh dự và lương tâm con người đều trở thành đối tượng mua bán
Xã hội tư bản đã làm cho LLSX phát triển nhanh, cùng nền sản xuất nhỏ, phân tán được
xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực đó, GCTS đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lí và nền đạo đức trong xã hội không được bảo đảm bình thường, con người trở nên ích kỉ, đạo lí trong xã hội ngày càng suy giảm
Hiện nay CNTB đang có những sự điều chỉnh nhất định về các mặt trong QHSX của mình, nhưng dù điều chỉnh thế nào đi chăng nữa thì bản chất của nó vẫn không thay đổi, đó vẫn
là xã hội dựa trên quan hệ người bóc lột người Những mâu thuẫn trong nền đạo đưc của XHTB cần phải được khắc phục, được xóa bỏ bởi sự ra đời của một nền đạo đức mới tiến bộ hơn: đạo đức cộng sản chủ nghĩa
1.4.5 Đạo đức trong xã hội cộng sản chủ nghĩa
Với sự thắng lợi của cuộc CMVS, từ đạo đức giai cấp của GCVS, đạo đức CSCN biến thành quy luật đạo đức của toàn xã hội Cùng với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức cơ bản chung của loài người, GCVS đã nêu lên những quy phạm đạo đức riêng của mình, như: Tinh thần đoàn kết giai cấp; chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa tập thể; lao động sáng tạo với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Trong quá trình vận động
và phát triển, những nguyên tắc, quy phạm đạo đức cộng sản không ngừng được bổ sung (cả nội hàm lẫn ngoại diên) và được áp dụng với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo đức cộng sản thể hiện ra như là thành quả tiến bộ đạo đức của loài người, toàn bộ nội dung chân chính của nó, hợp với nhân tính chứa đựng trong nền đạo đức của các giai cấp tiến bộ trong tất cả các thời đại lịch sử trước đây, nay đã được phát triển cao độ
Đạo đức cộng sản là một nền đạo đức của tương lai, một nền đạo đức mang ý nghĩa nhân văn cao cả Tư tưởng nhân văn cốt lõi trong đạo đức cộng sản là: tất cả vì con người, tôn trọng con người, thương yêu con người, giải phóng con người, tạo mọi điều kiện cho con người được phát triển tự do và toàn diện trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng và tự nhiên Chỉ có CNCS mới đem lại hạnh phúc thực sự cho con người Trong XHCSCN, “mỗi
Trang 16người đều có thể tự hoàn thiện mình trong bất kì lĩnh vực nào thích” Đó chính là lúc chủ nghĩa nhân đạo cộng sản đạt đến mức “hoàn bị” nhất
Để có được một chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị, loài người phải trải qua quá trình đấu tranh lâu dài và vô cùng gian khổ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu – giai đoạn XH XHCN, một xã hội vừa thoát thai từ xã hội cũn, bản thân xã hội đó cũng như nền đạo đức của nó không thể không chứa đựng những tàn dư của xã hội trước đó để lại Để hình thành đạo đức mới – đạo đức trong CSCN, chúng ta phải tích cực đấu tranh với những quan điểm đạo đức lạc hậu, phản động đang ngăn cản quá trình phát triển lịch sử
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của nhân loại đang trở thành nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, thì cũng đang còn không ít những vấn đề thuộc về lĩnh vực đạo đức cần phải giải quyết Đó là cuộc đấu tranh giữa lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình người sâu sắc, với lối sống thực dụng, ích kỉ, chạy theo đồng tiền bất chính chà đạp lên nhân phẩm của người khác
Đứng trước sự suy thoái đạo đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách so với yêu cầu xã hội trong một bộ phận nhân dân đòi hỏi chúng ta “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội – đây là một trong nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
1.5 Vai trò của đạo đức
1.5.1 Đạo đức với sự phát triển nhân cách cá nhân
a Đạo đức góp phần định hướng mục tiêu hành động
Đặc điểm nổi bật của con người và cơ sở của sự phát triển nhân cách con người là luôn hướng tới chân, thiện, mĩ, luôn mơ ước và vươn tới tương lai: ngày mai tốt hơn hôm nay, năm tới thành công hơn năm qua, thế hệ sau trưởng thành hơn, phát triển hơn thế hệ trước Những mong muốn đó là một định hướng trong hành động của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội Vì vậy, đầu năm mới nhiều dân tộc trên thế giới thường chúc nhau hạnh phúc trong cuộc sống, thành công trong sự nghiệp như: “Vạn sự như ý”, “An khang”, “thịnh vượng”, “thành đạt” Hầu hết các dân tộc châu Á, đặc biệt là các quốc gia, các cộng đồng chịu ảnh hưởng của Phật giáo thì luôn hướng tới “Phúc, lộc, thọ” Ngay trong gian khổ, bần cùng vì mơ ước nước nhà được độc lập, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành mà Nguyễn Ái Quốc đã đi tìm đường cứu nước vượt qua bao gian khổ chông gai Trong những ngày chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất, Bác Hồ đã định hướng “Đến ngày chiến thắng ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” Và ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đang từng bước biến điều mong muốn của Bác Hồ trở thành hiện thực trên toàn quốc
b Đạo đức góp phần định hướng mục đích hoạt động của con người
Do đặc điểm tâm lí luôn hướng tới cái tốt đẹp nên con người nói chung (trừ một bộ phận
do nhiều lí do) luôn lấy những giá trị, những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của xã hội làm mục tiêu cho cuộc sống, rèn luyện cho bản thân
Quan trọng nhất là định hướng hoạt động nhận thức giá trị sống, giá trị đạo đức Đạo đức giúp cho mỗi người có chuẩn để lựa chọn giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu, giữa điều cần và nên
Trang 17làm với cái cần và nên tránh, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, giữa bổn phận và quyền hạn, giữa cộng đồng nhỏ và dân tộc
Cơ sở để lựa chọn các giá trị đạo đức của một cá nhân phụ thuộc vào nhận thức về quyền lợi và vị trí của họ trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội
Sự kết hợp lựa chọn giá trị đạo đức của cộng đồng nhỏ đối với cộng đồng dân tộc là một quá trình đấu tranh của mỗi cá nhân Sự lựa chọn đúng hay sai, chính xác hay thiếu chính xác phụ thuộc trước hết vào trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân về các vấn đề xã hội và một phương pháp luận hành động thực tiễn, chính vì vậy, việc tăng cường giáo dục nâng cao dân trí cho mọi người là một đòi hỏi để mỗi người có năng lực tự lựa chọn những giá trị đạo đức vô cùng phong phú, phức tạp trong hoàn cảnh mở cửa, hội nhập của nhiều cộng đồng, quốc gia để cùng tồn tại
và phát triển
Chưa bao giờ trong lịch sử đòi hỏi con người phải có khả năng phân tích, so sánh để lựa chọn các giá trị đạo đức và chính vì lẽ đó giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội phải trang bị cho thế hệ trẻ cơ sở lựa chọn các giá trị đạo đức, làm cho mọi người nhận thức đầy đủ trách nhiệm từng cá nhân trong một xã hội hiện đại, quyền lợi của cá nhân, của một tập thể nhỏ gắn liền với dân tộc và nhân loại Vì vậy, phải lấy các chuẩn mực đạo đức chung của dân tộc và nhân loại làm định hướng cho phối hoạt động nhận thực, định hướng cho hoạt động giao lưu, học tập, lao động và hoạt động xã hội của mỗi cá nhân
Việc giáo dục các giá trị đạo đức cho mọi người, đặc biệt thế hệ trẻ phải là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi cộng đồng, trước hết là trách nhiệm đó thuộc về nhà trường, gia đình, của Đảng, đoàn thanh niên, đội thiếu niên, của các thế hệ lớn tuổi Vì sự gương mẫu của các thế
hệ lớn tuổi là phương pháp giáo dục đạo đức có hiệu quả nhất, nó tạo ra dư luận và truyền thống tốt đẹp trong quan hệ xã hội
c Đạo đức góp phần điều chỉnh hành động
Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng dễ dàng thống nhất giữa nhận thức
và hành động, giữa “nói và làm” Nhiều khi trong hoạt động thực tế dẫn tới không thống nhất giữa nhận thức và hoạt động ở nhiều người Ví dụ, phải sống trung thực là một phẩm chất đạo đức, tất cả học sinh, sinh viên đều hiểu điều đó Nhưng trên thực tế không ít học sinh, sinh viên còn quay cóp trong kiểm tra, thi cử Nhiều người làm những điều sai trái nhưng không nhận lỗi, như thế là thiếu tự trọng, thiếu trung thực Những kẻ làm ăn phi pháp như làm hàng giả, mua bán ma túy, bọn lâm tặc, giết người cướp của, trái với chuẩn mực đạo đức xã hội
Nhìn chung, những chuẩn mực đạo đức xã hội luôn luôn là tiêu chí để mỗi nười so sánh kết quả của hành động, của hành vi để sửa chữa Một bộ phận lớn trong những người làm ăn phi pháp, phi đạo đức lương tâm bị cắn rứt, ân hận, có những người đến cuối đời phải tự sám hối về những lỗi lầm của bản thân Không ít những học sinh, sinh viên sau khi quay cóp được điểm cao thấy hổ thẹn với chính mình và tự hứa sẽ cố gắng hơn để không quay cóp;
Những chuẩn mực đạo đức xã hội luôn là chuẩn mực cho mỗi người nhận biết, xác định
vị trí của bản thân trong quan hệ xã hội Những chuẩn mực đạo đức xã hội giúp cho mỗi người biết lựa chọn hợp lí cách giải quyết các mâu thuẫn Song, việc điều chỉnh hoạt động của mỗi cá nhân lại phụ thuộc vào 3 điều kiện:
Một là trình độ nhận thức, khả năng phân tích để lựa chọn các giá trị của mỗi chủ thể
Trang 18Hai là phụ thuộc vào dư luận của cộng đồng
Ba là phụ thuộc vào định hướng giáo dục của nhà nước ở từng thời kì lịch sử
1.5.2 Đạo đức với sự phát triển xã hội
Đạo đức là một HTYTXH, nó phản ánh và luôn biến đổi theo sự biến đổi của những điều kiện KT-XH Hệ thống giá trị đạo đức phản án toàn bộ quan hệ của con người trong cuộc sống giao lưu, ứng xử, trong sản xuất, trong giáo dục văn hóa, chính trị xã hội
Nhưng suy cho cùng, hệ thống chuẩn mực đạo đức của một cộng đồng hay của một dân tộc dù ở thời kì nào thì cũng biểu hiện ở 5 quan hệ của con người với tư cách là chủ thể của quan hệ đạo đức, đó là:
- Quan hệ với bản thân: Đó là những giá trị hoàn thiện bản thân
- Quan hệ với mọi người: thể hiện ở hiện tại, quá khứ, tương lai, quan hệ trực tiếp hay gián tiếp
- Quan hệ với công việc: với tư cách là một thành viên phải thực hiện bổn phận, trách nhiệm trong việc xây dựng phát triển cộng đồng
- Quan hệ với môi sinh: với tư cách là một chủ thể phải tham gia vào việc giữ gìn, bảo
vệ, phát triển môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa xã hội
- Quan hệ với lí tưởng sống của dân tộc: dù ở bất kì thời kì nào thì mỗi công dân đều gắn liền với vận mệnh của dân tộc trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước Vì vậy, lí tưởng đạo đức của mỗi cá nhân không thể tách khỏi lí tưởng của dân tộc đó
Các chuẩn mực đạo đức thể hiện các quan hệ trên đây ở mỗi thời kì có khác nhau về mức
độ và nội dung giá trị cụ thể, nhưng các giá trị ấy đều góp phần giúp mỗi người điều chỉnh lẽ sống và điều chỉnh hoạt động nhằm vươn tới cái tốt đẹp của cuộc đời, nó sẽ làm cho mỗi con người sống có hữu ích hơn, góp một phần vào việc xây dựng xã hội, quan hệ xã hội tốt đẹp hơn
Có thể thấy, những giá trị đạo đức là một truyền thống nổi bật nhất trong những truyền thống của dân tộc Những truyền thống đạo đức đã thể hiện rất sâu sắc trong những câu danh ngôn, châm ngôn, ca dao tục ngữ của dân tộc Mỗi câu là một định hướng cho việc tu thân của mỗi người như:
“Chín bỏ làm mười”
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
“Đói cho sạch, rách cho thơm”
“Không thầy đố mày làm nên”
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Trang 19
Những giá trị đạo đức, những chuẩn mực đạo đức xã hội khi được thể hiện bằng danh ngôn, châm ngôn, ca dao tục ngữ dễ nhớ thì nó trở thành phương châm sống của mỗi cá nhân và mọi người trong cộng đồng xã hội, làm cho mọi người tự giác thực hiện để xây dựng quan hệ xã hội tốt đẹp hơn Khi những giá trị đạo đức biến thành nhận thức chung của mọi thành viên thì
nó trở thành truyền thồng, có sức mạnh vật chất điều chỉnh nhận thức và hành động chung của toàn xã hội Vì vậy, đạo đức có vai trò, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Chương 2 Một số phạm trù cơ bản của Đạo đức học
2.1 Khái niệm và đặc điểm của phạm trù Đạo đức học
2.1.1 Khái niệm
Phạm trù là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, bản chất, phổ biến giữa những sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định của hiện thực
Phạm trù đạo đức học là những khái niệm đạo đức chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, bản chất, phổ biến giữa các hiện tượng đạo đức của đời sống xã hội
2.1.2 Đặc điểm
Khi quan sát đời sống xã hội, mỗi người chúng ta đều nhận thấy có các hiện tượng thể hiện niềm vui sướng hay sự bất hạnh, sự thờ ơ hay sự tận tụy, tốt hay xấu… ở con người Những hiện tượng ấy được các nhà đạo đức học khái quát lên thành những phạm trù như lẽ sống, nghĩa vụ, hạnh phúc, lương tâm, thiện, ác… Những phạm trù này được coi như những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá những suy nghĩ và hành động của con người về mặt đạo đức Như vậy, không như các phạm trù của các khoa học khác, các phạm trù đạo đức học mang
tính phổ biến và khái quát cao
Ngoài ra, các phạm trù đạo đức học còn có những đặc điểm riêng biệt như:
Các phạm trù đạo đức học mang nội dung thông báo và đánh giá Một mặt, các phạm trù
đạo đức học thông báo về tính chất của hành vi con người như thiện, ác, có lương tâm hay vô lương tâm, tốt hay xấu… mặt khác chúng còn thể hiện thái độ của con người đối với các hành
vi đó Chẳng hạn, trước những hành vi thiện, có lương tâm, tốt, thì được dư luận xã hội đồng
Trang 20tình, cổ vũ, động viên, khích lệ, noi theo, còn trước những hành vi ác, vô lương tâm, xấu thì bị phê phán, lên án, đấu tranh để xoá bỏ…
Các phạm trù đạo đức học mang tính phân cực rất rõ rệt, mà ít có các phạm trù trung
gian Chẳng hạn:
Thiện - Ác Lương tâm - Vô lương tâm Hạnh phúc - Bất hạnh Trách nhiệm - Vô trách nhiệm
Các phạm trù đạo đức học là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan Tính
khách quan của các phạm trù đạo đức học chính là những mối quan hệ và hành vi của con người được phản ánh vào trong các phạm trù đạo đức học Còn tính chủ quan của các phạm trù đạo đức học chính là những xúc cảm, ý thức trách nhiệm và sự lựa chọn của con người trước những hiện tượng đạo đức cũng như sự nỗ lực phấn đấu của mỗi con người nhằm có được những giá trị đạo đức đích thực trong cuộc sống
Các phạm trù đạo đức học còn mang tính giai cấp và tính lịch sử, bởi các giai cấp khác
nhau thì có những quan niệm khác nhau về các phạm trù đạo đức học, thậm chí đối lập nhau, đồng thời các phạm trù đạo đức học không phải là nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội Qua các giai đoạn lịch sử, các phạm trù đạo đức học không chỉ phát triển về mặt số lượng mà cả về mặt nội dung - nội dung của các phạm trù đạo đức học luôn luôn được bổ sung, được làm giàu bởi những hiện tượng đạo đức xã hội, con người ngày càng trở nên đa dạng, phong phú
2.2 Một số phạm trù cơ bản của Đạo đức học
2.2.1 Lẽ sống
Mỗi người trong chúng ta, nhất là khi còn trẻ sắp bước vào cuộc sống tự lập thường có nhiều mơ ước, khát vọng như muốn trở thành người thầy giáo, kỹ sư, bác sỹ, nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà kinh doanh giỏi, anh phi công hay nhà du hành vũ trụ cũng có người lại ước muốn một cuộc sống vật chất dư dả, có nhà lầu, xe hơi, có những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, vợ đẹp, con khôn những ước mơ, khát vọng này của con người là những biểu hiện của lẽ sống
Lẽ sống hay ý nghĩa cuộc sống, có thể nói, là vấn đề trung tâm của đời sống con người
Nó chi phối và liên quan mật thiết rất nhiều đến định hướng sống của mỗi con người Người có
lẽ sống tốt đẹp sẽ có khả năng vượt qua mọi khó khăn, thử thách để vươn lên trong cuộc sống, hướng tới cái đẹp, cái thiện, cái tiến bộ, loại bỏ được sự thấp hèn, xấu xa, đê tiện Ngược lại, sự khủng hoảng về lẽ sống có thể sẽ dẫn con người tới sự đổ vỡ, mất niềm tin vào cuộc sống, chao đảo tinh thần, rối loạn hành vi, dẫn tới những hậu quả khó lường
Lẽ sống được coi là một trong những phạm trù trung tâm của đạo đức học Nó là phạm trù có tính chất xuất phát điểm quy định, chi phối nội dung và tính chất của các phạm trù khác trong đạo đức học (ví dụ: Phạm trù hạnh phúc và phạm trù nghĩa vụ) Chính do vị trí và vai trò lớn lao của vấn đề lẽ sống trong đời sống xã hội như đã trình bày ở trên, mà từ xưa đến nay trong lịch sử tư tưởng đạo đức đã từng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về lẽ sống
Trang 21Ở thời kỳ cổ đại Êpiquya cho rằng, lẽ sống là làm được nhiều việc tốt để giúp ích cho đời, rằng ý nghĩa cuộc sống của con người là niềm vui do sự thanh thản đem lại
Ở Trung Hoa cổ đại, các đại biểu của Nho giáo như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử thì cho rằng con người lý tưởng của xã hội là người quân tử và lẽ sống của người quân tử là: "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Người quân tử phải biết chăm lo, tu dưỡng các điều nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, hiếu, dũng
Thời kỳ Phục hưng và cận đại ( TK XV - TK XVIII), cùng với sự xác lập PTSX TBCN, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự khẳng định vai trò của tri thức khoa học trong đời sống xã hội thì các nhà triết học và khoa học quan niệm lẽ sống của con người là quá trình tìm kiếm, trau dồi tri thức khoa học Họ rất đề cao giá trị của con người ở sự tồn tại Đềcáctơ đã từng nói: "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại"
Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, đặc biệt khi CNTB đã phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi lối sống cá nhân, vị kỷ đã bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội thì nhiều người quan niệm lẽ sống của con người là tiền và đã gán cho nó một sức mạnh vạn năng theo kiểu “tiền là tiên là phật, là sức bật tuổi thơ, là giấc mơ tuổi trẻ, là sức khoẻ tuổi già ”
Các tôn giáo lại quan niệm lẽ sống được xác lập ở bên ngoài cuộc sống, chứ không phải trong đời sống hiện thực của con người, rằng giá trị cao nhất của con người là cuộc hành hương đến Thiên đàng, đến cõi Niết bàn… còn cuộc sống hiện thực chỉ là sự chịu đựng và chuộc tội
mà thôi
Như vậy, trước khi đạo đức học mácxít ra đời, đã từng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về phạm trù lẽ sống Mỗi quan niệm đề cập đến một mặt, một khía cạnh nào đó của vấn đề lẽ sống Nhưng tất cả những quan niệm này tựu trung lại hoặc rơi vào phái nghĩa vụ luận khi cho rằng cuộc sống con người chỉ có ý nghĩa khi làm tròn nghĩa vụ đối với người khác Ví dụ, cha mẹ hoàn thành nghĩa vụ đối với con cái và ngược lại, kẻ bề dưới hoàn thành nghĩa vụ đối với bề trên, tôi phục tùng vua, con cái phục tùng cha mẹ, vợ phục tùng chồng… Hoặc rơi vào phái hạnh phúc luận khi cho rằng toàn bộ hoạt động của con người chỉ cốt nhằm thoả mãn mọi khát vọng tinh thần hay vật chất của bản thân Cho nên, có những người dành cả cuộc đời, cả tâm trí, sức lực đi tìm kiếm hạnh phúc Họ say sưa trong những khát vọng tìm kiếm tiền bạc, thoả mãn dục vọng cá nhân, chạy theo danh vọng Hoặc rơi vào phái nguỵ biện khi cho rằng, trong cuộc đời con người làm gì có lẽ sống, con người cần cái gì thì hành động theo cái đó Con người chẳng cần làm nghĩa vụ với ai, và cũng chẳng bao giờ đạt đến hạnh phúc Những quan niệm như vậy đã làm cho con người không có được lẽ sống đúng đắn, chân chính, làm thui chột và triệt tiêu những động lực phát triển của con người, xã hội
Khắc phục những hạn chế trong các quan niệm trên, đạo đức học mácxít cho rằng lẽ sống
là quan niệm sống của mỗi người, trong đó có sự thống nhất giữa hạnh phúc và nghĩa vụ thông qua hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội của con người
Hoặc, lẽ sống chính là ý nghĩa cuộc sống mà con người tự nhận thức được và tự giác hành động vì nó Chính vì vậy, từ xưa đến nay, nhiều nhà tư tưởng đồng nhất lẽ sống với lý
tưởng tối cao
Lẽ sống không phải tự nhiên mà có, nó không phải là cái gì bẩm sinh, có sẵn, mà là kết quả của quá trình lao động gian khổ, sáng tạo và sự đấu tranh anh dũng, hy sinh của cá nhân, xã hội Vì vậy, cơ sở để hình thành lẽ sống chính là đời sống hiện thực của con người mà trước hết
Trang 22là lao động sản xuất, bởi lao động không chỉ là yếu tố giữ vai trò quyết định tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội, mà còn là cơ sở làm nảy sinh mọi nhu cầu, khát vọng cuộc sống của con người – một yếu tố rất cơ bản làm nên lẽ sống Chính trong quá trình lao động, con người thể hiện được những năng lực sáng tạo và phẩm chất của mình, đồng thời, con người cũng tự hoàn thiện bản thân Trong lao động, con người chẳng những loại bỏ được những thói xấu như tính lười biếng, ỷ lại, ăn bám, ích kỷ, ti tiện, mà còn kích thích tính năng động, tích cực cũng như những đức tính quí báu của con người, như lòng nhân ái, tính vị tha, sự cao cả và tính kỷ luật tự giác Mặt khác, khi con người đạt được nhiều thành tích trong lao động thì cảm thấy giá trị và ý nghĩa công việc của mình, cảm thấy hạnh phúc Chẳng hạn, một người lính chỉ cảm thấy hạnh phúc khi tự giác hoàn thành nhiệm vụ được giao, người nông dân chỉ hạnh phúc khi hoàn thành công việc lao động của mình trên đồng ruộng bội thu; người công nhân cảm thấy hạnh phúc khi sản xuất ra những sản phẩm bền, đẹp, có ích cho người khác, cho xã hội; người thầy giáo chỉ thấy hạnh phúc khi các thế hệ học trò của mình trưởng thành, làm được nhiều việc tốt cho đời… Chỉ trên cơ sở xác định lẽ sống cụ thể như vậy, gắn liền với công việc của mỗi cá nhân, con người mới không cảm thấy gánh nặng của công việc và tránh được những mặc cảm nghề nghiệp theo kiểu sang trọng, thấp hèn và một khi xác định được lẽ sống đúng đắn, con người sẽ tự giác hành động và luôn cảm thấy yêu đời, yêu nghề hơn
Tất nhiên, khi nói rằng lẽ sống được hình thành và phát triển thông qua lao động sản xuất, thì đó là muốn nói đến lao động của con người đã được giải phóng, lao động tự giác, sáng tạo và tự do Còn lao động bị bóc lột, bị cưỡng bức, lao động dưới làn roi vọt trong các chế độ dựa trên loại hình sở hữu tư nhân về TLSX tức là trong các chế độ có người bóc lột người như chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản, thì như Mác đã chỉ ra, đó là thứ lao động bị tha hoá Trong điều kiện đó, hoạt động lao động sản xuất của con người vẫn mang những ý nghĩa xã hội nào đó nhưng phiến diện, què quặt, không thể là điều kiện, môi trường làm nảy sinh ý nghĩa cuộc sống chân chính của con người
Đạo đức học mácxít cũng chỉ ra rằng trong các xã hội có giai cấp thì quan niệm về lẽ sống bao giờ cũng mang tính giai cấp, bởi các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau về lẽ sống Các giai cấp thống trị bao giờ cũng tự coi mình là những kẻ ăn trên, ngồi chốc, có sức mạnh cai trị dân, nên chỉ có họ mới có quyền và được quyền xây dựng cho mình một lẽ sống Còn những người lao động làm thuê chỉ có nghĩa vụ phục tùng, tuân theo Vì vậy, các giai cấp thống trị thường tìm mọi cách chạy theo danh vọng, quyền lợi và địa vị, hướng tới lối sống hưởng lạc
Còn quần chúng lao động trong bất kỳ hoàn cảnh nào, xã hội nào họ đều quan niệm ý nghĩa cuộc sống là ở lao động sáng tạo, ở việc tạo ra những của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội, đồng thời nuôi dưỡng ước mơ, hy vọng về một xã hội lý tưởng không còn áp bức, bóc lột, không có sự bất công, mọi người đều được hưởng hạnh phúc và tự do
Như vậy, lẽ sống của con người là ở sự lao động và sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội, là ở sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, dân sinh và tiến bộ xã hội,
ở sự nghiệp xây dựng CNXH và CNCS, ở cuộc đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phồn vinh của đất nước và nền văn minh nhân loại Và như thế, nó không hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào thời gian sống, mà phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng sống
2.2.2 Hạnh phúc
Trang 23Hạnh phúc là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học, là một trong những vấn
đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống con người, xã hội Nó là một trong những nền tảng tinh thần giúp con người từ đó xây dựng được những lý tưởng, mục tiêu, thái độ sống,
đồng thời là thước đo, định hướng giúp con người xác lập các quan niệm về Thiện, Ác, phẩm
giá và hàng loạt những quan niệm đạo đức khác, vì vậy nó tạo ra một động lực thúc đẩy con người hành động và tự hoàn thiện bản thân Vì thế, bất cứ người nào, sống ở bất cứ thời đại nào thì cũng khát khao hạnh phúc, mơ ước được hạnh phúc và luôn luôn kiếm tìm hạnh phúc
Vậy hạnh phúc là gì? xung quanh phạm trù này, từ xưa đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau
Chẳng hạn, ở Hy Lạp cổ đại, Xôcrat đã hướng triết học của mình vào tôn giáo và đạo đức, mà đạo đức tức là nhận thức được "cái Thiện" phổ biến, đó là hạnh phúc Đêmôcrit coi hạnh phúc của con người là không có những đau khổ, dằn vặt, mà là sự yên tĩnh, thanh thản của tâm hồn Arixtốt cho rằng, hạnh phúc của con người hoàn toàn phụ thuộc vào lí trí và quan điểm của mỗi người Theo ông, hạnh phúc là những điều tốt đẹp nhất, cao quí nhất, đồng thời là niềm vui sướng nhất trong hết thảy mọi sự Êpiquia cho rằng, hạnh phúc của con người là sức khoẻ Vì vậy theo ông, con người cần làm việc vừa phải, không nên cố quá
Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đều cho rằng hạnh phúc là cái gì đó không có ở trần gian, bởi cuộc sống của con người ở trần gian đầy rẫy những sự khổ ải, bất công và tai hoạ Theo họ, hạnh phúc chỉ có ở thế giới bên kia - thế giới sau khi chết như trên Thiên đàng, ở cõi Niết bàn hoặc ở kiếp sau Vì vậy Thiên chúa giáo hay Phật giáo… đều ra sức khuyến khích con người sống ép xác, khổ hạnh, nhẫn nhục ở trần thế, để được hưởng hạnh phúc cực lạc ở thế giới bên kia
Hoặc các đại biểu của Nho giáo ở Trung Quốc như Khổng Tử, Mạnh Tử… đều cho rằng hạnh phúc của con người là do Thiên định (“sống chết có mệnh, giàu sang tại trời”, “mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”)
Các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVII - XVIII như R.Đềcáctơ (1596-1650), Henvetiúyt (1715-1771) thì cho rằng hạnh phúc là sự thoả mãn thường xuyên các nhu cầu vật chất và tinh thần, là sự hùng mạnh và giàu có xuất phát từ lợi ích cá nhân, nhưng lợi ích cá nhân không thống nhất với lợi ích xã hội Họ cho rằng "Hạnh phúc xã hội là quy tắc tối cao" nhưng nó không phải là một khái niệm tuyệt đối, nhất thành bất biến Theo HônBách (1723-1789) thì trí tuệ giúp con người ta nhận thức được qui luật tự nhiên và sống hợp với qui luật tự nhiên, đó là hạnh phúc
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, Cantơ - nhà triết học cổ điển Đức coi hạnh phúc là do định mệnh (trời định), Hêghen lại khẳng định rằng chỉ những con người lao động trí óc mới có hạnh phúc, còn những người lao động chân tay thì không có quyền hưởng hạnh phúc
Như vậy, hạnh phúc là một phạm trù hết sức phức tạp, đã tồn tại vô số các quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề này
Furiê – một trong những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vĩ đại của Pháp ở thế kỷ XVIII đã làm một bản thống kê và nhận thấy rằng cho đến thời đại ông, chỉ tính riêng ở Rôm đã
có tới 278 ý kiến với những nội dung khác nhau, đối lập nhau về phạm trù này Vì vậy, khó có thể đưa ra được một định nghĩa nào về hạnh phúc mà thoả mãn được các ý kiến, các khuynh hướng khác nhau, chung cho tất cả mọi người, mọi thời đại được Tuy nhiên, trên bình diện khái
Trang 24quát, có thể thấy các quan niệm trên đây hoặc đã tách rời hạnh phúc với cuộc sống thực tại của con người, xã hội, coi nó là một cái gì đó xa lạ với cuộc sống thường nhật, không có nội dung xác định; hoặc coi hạnh phúc chỉ là sự thoả mãn những nhu cầu cá nhân, nhất là những nhu cầu vật chất (ăn, ở, mặc, sức khoẻ, tuổi thọ, đông con, nhiều cháu ); hoặc coi hạnh phúc là sự thoả mãn những nhu cầu tinh thần mà bản chất của nó là sự yên tĩnh, thanh thản của tâm hồn
Trái với những quan điểm trên, đạo đức học mácxít cho rằng, trong đời sống xã hội, con người, về cơ bản có thể phân chia thành hai loại nhu cầu: nhu cầu vật chất (ăn, uống, ở, mặc, đi lại…), và nhu cầu tinh thần (thưởng thức và sáng tạo ra cái đẹp, nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học, nhu cầu giao tiếp, giúp đỡ lẫn nhau…)
Trong đó, loại nhu cầu có ý nghĩa hơn, sâu sắc hơn, chiếm ưu thế hơn chính là những nhu cầu tinh thần, bởi những nhu cầu vật chất đến một lúc nào đó sẽ trở nên bão hoà và sự khoái cảm vật chất quá mức thường gây nên cho con người cảm giác khó chịu Nhưng việc thoả mãn những nhu cầu tinh thần chẳng những có tính xã hội cao, mà còn để lại cho con người những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc và có những cái sống mãi với thời gian, nhiều khi tạo nên những động lực xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ, hướng con người phấn đấu vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Hơn thế nữa, con người còn có thể hạn chế được những nhu cầu vật chất và bắt chúng phục tùng những nhu cầu tinh thần Như thế, rõ ràng các nhu cầu tinh thần phức tạp hơn
và là vô tận so với những nhu cầu vật chất
Từ đó có thể hiểu hạnh phúc là sự thoả mãn lâu dài và sâu sắc những nhu cầu của con
người về giá trị cuộc sống, về phẩm giá Nó là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan
Tính khách quan của phạm trù này chính là những nhu cầu vật chất và tinh thần được thoả mãn Đây là những nhu cầu được hình thành một cách khách quan, độc lập với ý thức của con người, tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi người
Tính chủ quan của phạm trù này biểu hiện ở chỗ bằng năng lực, ý chí và sự nỗ lực phấn đấu của mỗi cá nhân để thoả mãn những nhu cầu đó Điều này cũng nói lên rằng hạnh phúc không phải là cái gì có sẵn, bẩm sinh hay trời phú cho, mà nó được hình thành trong hoạt động thực tiễn của con người, đó là hoạt động lao động sản xuất, là đấu tranh xã hội, là hoạt động nghiên cứu khoa học, thực nghiệm khoa học… đó là cả một quá trình phấn đấu, kiên trì, bền bỉ
đôi khi có cả những mất mát, đau thương, đúng như quan niệm của Mác: "Hạnh phúc là đấu
tranh" Chính vì vậy, con người không thể thụ động chờ đón hạnh phúc và cũng không được
thoả mãn hoặc dừng lại khi nhu cầu được đáp ứng Muốn có hạnh phúc, con người phải không ngừng lao động, học tập và sáng tạo
Hạnh phúc không phải là cái gì đó chung chung, trừu tượng, cũng không phải là cái gì đó nhất thành bất biến, mà nó luôn luôn vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội Nó mang tính lịch sử, vì vậy khi xem xét hạnh phúc phải đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể Mỗi thời đại lịch sử, mỗi con người trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, có quan niệm khác nhau về hạnh phúc
Chẳng hạn, trong xã hội CSNT, do LLSX ở trình độ rất thấp, nên nhu cầu của con người cũng rất đơn giản Chính vì vậy, người nguyên thuỷ quan niệm hạnh phúc chỉ là sự thoả mãn những nhu cầu tối thiểu như được ăn no, sống được yên ổn, săn được nhiều thó rừng, hái được nhiều hoa quả, được sống trong những hang động ấm cúng…
Trang 25Trong các xã hội có đối kháng giai cấp (XHCHNL, XHPK, XHTBCN) thì hạnh phúc của người này có thể là nỗi bất hạnh của người khác Các giai cấp thống trị thường coi hạnh phúc là của riêng họ, đó là sự giàu có, là cuộc sống xa hoa, đồng thời lại là sự đau khổ, khèn khó của người lao động Còn người lao động quan niệm hạnh phúc là được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, khỏi những bất công xã hội, có được cuộc sống ấm no, tự do, dân chủ, bình đẳng
Trong xã hội XHCN thì hạnh phúc chân chính của mỗi cá nhân không mâu thuẫn với hạnh phúc của toàn xã hội, bởi mỗi cá nhân vừa là người tạo dựng hạnh phúc cho bản thân, lại vừa là người làm nên hạnh phúc của toàn xã hội, do đó hạnh phúc không chỉ qui tụ lại trong sự thoả mãn nhu cầu của cá nhân, mà một phần thuộc về xã hội Hạnh phúc của cá nhân là niềm tự hào chung của xã hội Đúng như Kalinin - nhà giáo dục học người Nga đã viết: "kẻ nào muốn
có hạnh phúc cá nhân, kẻ ấy phải là người tham gia vào việc xây dựng hạnh phúc của toàn dân" Như vậy, trong xã hội XHCN hạnh phúc của con người là được cống hiến nhiều nhất những giá trị của mình cho xã hội và được sống trong xã hội thực sự tự do, dân chủ, giàu mạnh và văn minh
Nhưng nếu quan niệm về hạnh phúc ở mỗi thời đại có những yếu tố căn bản thống nhất, thì ở từng con người cụ thể điều đó chỉ có tính chất tương đối Chẳng hạn, đối với anh A, khi được thoả mãn nhu cầu ăn, ở, mặc được coi là rất hạnh phúc, nhưng đối với anh B thì hạnh phúc
là được thoả mãn về nhu cầu đi lại bằng xe máy, có nhà cao tầng với những tiện nghi sinh hoạt hiện đại, còn hạnh phúc đối với chị C là gia đình sống trong không khí hoà thuận, con cái chăm ngoan, học hành tiến bộ… Vì vậy, khi nói về hạnh phúc phải xuất phát, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi cá nhân gắn với mức sống, lối sống, nhu cầu cụ thể… phản ánh sinh động, trung thực nhân sinh quan của người đó
Với những quan niệm như vậy, hạnh phúc không loại trừ hoàn toàn mọi nỗi đau khổ Nhiều khi chính nỗi đau khổ hay sự trăn trở của con người cũng tham gia vào làm thành một mặt của hạnh phúc Những nỗi trăn trở, đau khổ có tính tích cực là những trăn trở trong sáng tạo, đau khổ khi vượt qua lỗi lầm, đau khổ hy sinh vì nghĩa lớn, đau khổ vì nỗi khổ của người khác, những gian truân, khổ ải phải vượt qua trong lao động và cuộc sống Chính những niềm tin, niềm hạnh phúc mà con người nhận được lại phụ thuộc rất nhiều vào những trăn trở và đau khổ đó Đau khổ ở mức độ càng cao, mục đích hoạt động càng trong sáng, sự hướng tới cái tốt đẹp, cái thiện, cái cao cả càng lớn bao nhiêu, thì niềm vui, niềm hạnh phúc mà họ nhận được sau khi đã hoàn thành công việc càng lớn bấy nhiêu Như vậy, rõ ràng hạnh phúc không bao giờ biến mất trước bất kỳ sự đau khổ nào, nó chính là khả năng đi qua được những điều đau khổ riêng lẻ, biết chống lại những hoàn cảnh bất lợi, những tâm trạng tiêu cực, biết đi qua sự hiểm
nguy và biết huy động sức lực trong những giây phút cần thiết Đúng như ai đó đã nói: "Hạnh
phúc luôn mỉm cười với những ai kiên trì, dũng cảm, hăng say làm việc", "Nếu sợ bất hạnh thì không thể có hạnh phúc", “hạnh phúc là kết quả của hành vi đạo đức” Hạnh phúc đích thực và
bền vững đến từ nội tâm, từ chính suy nghĩ của mỗi con người Mỗi con người mới là người tạo dựng nên hạnh phúc, còn những yếu tố như cuộc sống giàu sang, cơ hội thăng tiến, sự nổi tiếng chỉ là những nhân tố bên ngoài không thể đem lại hạnh phúc thực sự Chúng chỉ có thể đem lại những cảm xúc hạnh phúc thoáng qua Vì vậy, nếu không tìm thấy hạnh phúc ngay trong chính bản thân mình thì không thể tìm được ở nơi nào khác Hạnh phúc ở ngay trên con đường chúng
ta đang đi, chứ không phải ở nơi chúng ta sẽ đến
2.2.3 Nghĩa vụ
Trang 26Nghĩa vụ là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học Nghĩa vụ là một trong những nét đặc trưng cơ bản của đời sống con người Chỉ có ở xã hội loài người mới có ý thức về nghĩa vụ, còn ở loài vật mọi hành động đều được thực hiện theo bản năng Phạm trù nghĩa vụ phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và giữa cá nhân với xã hội Nghĩa vụ có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội Việc thực hiện nghĩa vụ tốt hay xấu là thước đo đặc thù nói lên tình trạng tiến bộ hay suy thoái của một xã hội nhất định Chính vì vậy mà phạm trù này đã được nhiều nhà tư tưởng của các thời đại luận bàn, quan tâm sâu sắc
Ở thời kỳ cổ đại: người đầu tiên đưa phạm trù nghĩa vụ vào đạo đức học là Đêmôcrit, ông hiểu nghĩa vụ là động cơ sâu kín bên trong của con người, là động lực thúc đẩy con người
tự giác hành động
Các tôn giáo coi nghĩa vụ là ý thức trách nhiệm của con người trước đấng tối cao (Thượng đế, Chúa hay một lực lượng siêu nhiên nào đó) Nghĩa vụ của con người là hy sinh mọi quyền lợi và nhu cầu của mình trước các lực lượng siêu nhiên để sau này được hưởng hạnh phúc ở kiếp sau, đúng như kinh thánh đã viết: "… Chúa hãy sai khiến chúng con làm những gì mà Chúa muốn"
Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII coi nghĩa vụ đạo đức gắn liền với lợi ích cá nhân, vì cá nhân Họ không thấy được ý nghĩa xã hội của việc thực hiện nghĩa vụ, vì vậy họ đã khuyến khích tính vị kỷ thấp hèn, dung túng cho chủ nghĩa cá nhân
Cantơ - nhà triết học cổ điển Đức coi nghĩa vụ là một mệnh lệnh tuyệt đối, là chân lý tất yếu con người bắt buộc phải làm, phải phục tùng dù muốn hay không, không được chống lại Đây chính là lý thuyết "Nghĩa vụ vì nghĩa vụ" của Cantơ Lý thuyết này của Cantơ sau này đã bị lợi dụng làm cơ sở biện hộ cho chủ nghĩa phát xít, chế độ nô lệ tàn bạo chống lại con người
Các nhà đạo đức học tư sản hiện đại giải thích phạm trù nghĩa vụ theo tính chất chủ quan cảm tính, không có nội dung khách quan Họ chủ trương trong giáo dục đạo đức chỉ dạy cho con người biết hành động chứ không cần giáo dục cho họ ý thức về nghĩa vụ vì lợi ích chung và
sự phát triển của xã hội
Đạo đức học mácxít cho rằng nghĩa vụ là một phạm trù dùng để chỉ trách nhiệm của cá
nhân đối với người khác và đối với xã hội, tùy theo địa vị của người đó và tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Mỗi cá nhân có thể gắn với nhiều nghĩa vụ khác nhau: Chẳng hạn, trong gia đình: nghĩa
vụ của cha mẹ đối với con cái và ngược lại, nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau, nghĩa vụ anh em đối với nhau; ngoài xã hội thì nghĩa vụ của công dân đối với đất nước, Tổ quốc như nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ đi bầu cử, nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước…; Trong quan hệ bạn bè thì có nghĩa vụ của người này đối với người khác Nói tóm lại, nghĩa vụ của con người bao gồm nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức
Nghĩa vụ pháp lý là những nghĩa vụ do pháp luật qui định, có tính chất bắt buộc phải thực hiện
Còn nghĩa vụ đạo đức là những nghĩa vụ do những yêu cầu của đạo đức qui định
Hay nói cách khác ở nghĩa vụ pháp lí chưa có sự thống nhất giữa lí trí của cá nhân với lí trí cuả toàn xã hội Con người hành động tự do, nhưng hành động tự do đó chưa trở thành cái tất
Trang 27yếu bên trong, chưa trở thành nhu cầu đạo đức của chủ thể Còn ở nghĩa vụ đạo đức đã có sự phù hợp giữa lý trí và tình cảm của cá nhân với những yêu cầu đạo đức của xã hội
Tuy nhiên, việc phân biệt nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Có những nghĩa vụ vừa là nghĩa vụ pháp lý vừa là nghĩa vụ đạo đức, hoặc có những chuẩn mực pháp lý mang tính cưỡng chế, bắt buộc chuyển thành các chuẩn mực đạo đức mang tính tự do, tự nguyện
Như vậy, có thể hiểu nghĩa vụ đạo đức là sự thể hiện trách nhiệm đạo đức của con người
trước lợi ích chung (cộng đồng, giai cấp, dân tộc, nhân loại) vì lợi ích của người khác, là ý thức
về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi ích đó
Để có nghĩa vụ đạo đức nhất thiết phải có 3 điều kiện: Tự giác, tự do và vì cái thiện
Tự giác tức là chủ thể nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của mình, nhận thức được
cái cần phải làm
Tự do là biểu hiện cao nhất của tính tự giác Ở đây chủ thể thực hiện hành vi đạo đức
không bị sức ép nào từ bên ngoài, mà hoàn toàn hành động theo tiếng gọi của lương tâm, của sự công bằng, bác ái, khát vọng được phục vụ, được cống hiến cho xã hội
Vì cái Thiện, cái tốt đẹp, đây là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt nghĩa vụ đạo đức với
nghĩa vụ pháp lý Nếu để mất đi tính Thiện thì không còn là nghĩa vụ đạo đức nữa, mà nó trở
thành nghĩa vụ pháp lý Chẳng hạn, một người thầy thuốc không thật sự làm việc với tinh thần
"lương y như từ mẫu", hoặc người thầy giáo không tận tuỵ với học sinh sẽ làm mất đi bản tính cao cả của nghề nghiệp, mà đơn thuần chỉ là người làm công, ăn lương
Để đạt được 3 điều kiện trên đây, đòi hỏi công tác giáo dục đạo đức phải được tiến hành thường xuyên và lâu dài, mặt khác các chủ thể đạo đức cũng phải không ngừng tự rèn luyện, tự
tu dưỡng Chỉ khi nào ý thức nghĩa vụ phát triển, chuyển thành tình cảm nghĩa vụ, thành niềm tin vững chắc như động cơ thôi thúc từ bên trong, thành bản tính thường trực của các chủ thể thì lúc đó cái tất yếu mới trở thành cái hoàn toàn tự do Từ đó mới có điều kiện để nảy sinh những giá trị đạo đức chân chính, lành mạnh
Ngoài ra, khi thực hiện nghĩa vụ, các chủ thể phải hiểu được mục đích và hậu quả của
nó Nếu không hiểu rõ được điều này, các chủ thể chẳng những không đem lại lợi ích cho xã hội, mà còn gây nên những thảm hoạ cho con người Thí dụ, những tên lính phát xít, những tên tội phạm chiến tranh đã tuân lệnh các thủ lĩnh của mình một cách tuyệt đối mà tàn sát nhà cửa, ruộng vườn và ngang nhiên chém giết biết bao người dân lương thiện Ngược lại, trong lịch sử nhân loại, chúng ta cũng bắt gặp nhiều danh nhân, nhiều nhà khoa học, chiến sỹ cộng sản, do nhận thức rõ mục đích và hậu quả của việc thực hiện các nghĩa vụ mà đã chấp nhận hy sinh, chấp nhận tù đày, chứ nhất định không chịu hợp tác với kẻ thù để giữ gìn phẩm chất đạo đức của mình và bảo vệ cuộc sống bình yên cho người lao động Chẳng hạn, Trần Bình Trọng đã khảng khái thét vào mặt kẻ thù mà rằng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”; Trần Quốc Tuấn, khi quân Nguyên xâm lược nước ta, vận mệnh của Tổ quốc đang bị lâm nguy, nhà vua đang cân nhắc nên hay không nên rút lui để bảo toàn lực lượng đã khảng khái tâu với nhà vua: “Xin bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng”; hoặc Brunô khi bị toà án giáo hội kết án tử hình, trên giàn thiêu ông đã thét vào mặt tên đao phủ: “Chúng mày tuyên bố bản án còn run sợ hơn là tao nghe bản án ấy”, hoặc Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Thà hy
Trang 28sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”… Họ là những người có nghĩa vụ đạo đức cao cả và tốt đẹp
Như vậy, động cơ thúc đẩy việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức không phải do sự ép buộc hay sợ hãi bị trừng phạt từ bên ngoài như hành vi thực hiện nghĩa vụ pháp lý Đó cũng không phải từ những động cơ vì lợi ích của bản thân chủ thể như mọi hành vi thông thường khác Hành vi thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng chứa đựng ý nghĩa trong sáng, cao thượng, gắn liền với những tình cảm thiêng liêng, sâu sắc Vì thế, điều quan tâm lớn nhất đối với người thực hiện nghĩa vụ đạo đức không phải là mong được xã hội tôn vinh, đề cao, để mọi người biết đến hay nhằm đạt được mục đích cá nhân (sự phú quý, sang giàu ) mà chính là niềm tự hào, niềm tin do họ có những cống hiến có giá trị đối với xã hội và được xã hội thừa nhận
2.2.4 Lương tâm
Cảm xúc lương tâm là một trong những tình cảm xuất hiện sớm nhất Có thể nói nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người và xã hội loài người và cũng chỉ mất đi khi nào con người không còn nữa, nó tồn tại vĩnh viễn trong đời sống xã hội Ngay từ thời kỳ tiền sử, khi con người vừa thoát thai khỏi thế giới động vật, còn đang sống trong trạng thái mông muội, người ta đã thấy xuất hiện các từ "xấu hổ", "hổ thẹn", "tự hổ thẹn" để chỉ những cảm xúc dằn vặt của sự tự trách mình Đến thời kì đầu của Hy Lạp cổ đại, các khái niệm "hổ thẹn", "tự hổ thẹn" vẫn được sử dụng với nội dung giống như khái niệm "lương tâm" Vì vậy, có thể coi, phạm trù lương tâm là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử tư tưởng đạo đức học
Lương tâm là một đặc trưng cơ bản nhất của hiện tượng đạo đức, nó là dấu hiệu, thước
đo sự trưởng thành của đời sống đạo đức cá nhân, xã hội Lương tâm luôn tồn tại như một minh chứng cho sự hiện diện của đời sống đạo đức cá nhân Các khái niệm “lương tâm” và “vô lương tâm” thường được sử dụng như sự khẳng định hay phủ định tình trạng có đạo đức hay vô đạo đức ở con người
Cũng như các phạm trù khác của đạo đức học, phạm trù lương tâm được nhiều nhà tư tưởng luận bàn và lí giải Chẳng hạn, Platon - nhà Triết học duy tâm khách quan của Hy Lạp cổ đại cho rằng lương tâm là tinh thần của Thượng đế nằm ngay trong bản chất tinh thần của con người mách bảo con người nhận ra những việc làm đúng, sai của mình
Đêmôcrit - Nhà triết học duy vật cổ đại Hy Lạp không thừa nhận nguồn gốc thần thánh của lương tâm, coi lương tâm chính là sự tự hổ thẹn, tức là hổ thẹn với bản thân mình Nhờ có
sự tự hổ thẹn này mà con người tránh được những suy nghĩ, những việc làm sai trái, thiếu đạo đức, giúp cho đời sống đạo đức xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
Sau này Cantơ - nhà triết học cổ điển Đức cho rằng lương tâm chính là sự thao thức của tinh thần con người, như là một cái gì đó bẩm sinh, có sẵn, như là người làm chứng của Chúa trời phán xét chúng ta
Hêghen - Nhà triết học duy tâm khách quan của Triết học cổ điển Đức cho rằng lương tâm chính là sản phẩm của tinh thần khách quan Ông là người đầu tiên đặt vấn đề về nội dung khách quan của lương tâm Tuy nhiên tính khách quan đó lại chỉ là sản phẩm của "tinh thần khách quan" thông qua sự "tự tha hoá" Theo ông, lương tâm có hai phần: đó là "chân lí" và "hình thức" biểu hiện của lương tâm "Chân lý của lương tâm" là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong các
xã hội khác nhau Còn "hình thức biểu hiện" phụ thuộc vào các cá nhân khác nhau Giữa chân lí
Trang 29của lương tâm và hình thức biểu hiện của nó có thể phù hợp hoặc mâu thuẫn nhau Điều đó phụ thuộc vào nhận thức và những đặc điểm cá nhân
Phoi-ơ-bắc không đồng thuận với quan điểm của Cantơ và Hêghen về lương tâm, ông cho rằng lương tâm có nội dung khách quan, đó là sự nhận thức về lợi ích của người khác Chính sự nhận thức đó giúp con người kiểm soát hành vi của mình trong quan hệ với người khác và với xã hội
Một số người theo khuynh hướng duy tâm chủ quan lại muốn giải thích sự xuất hiện của lương tâm như là một hiện tượng hoàn toàn chủ quan thuần cảm Nó là kết quả của những tình cảm có tính riêng biệt của từng cá nhân Như vậy, lương tâm không có nội dung khách quan, không mang ý nghĩa xã hội, chỉ mang tính cá biệt
Theo quan điểm của đạo đức học mácxít, lương tâm là một phạm trù đạo đức học thể hiện
năng lực của con người, tự kiểm tra, tự đánh giá hành vi đạo đức của mình trong mối quan hệ với người khác và với xã hội
Lương tâm vừa là một hiện tượng tình cảm, vừa là một hiện tượng trí tuệ Nó là một hiện tượng tình cảm bởi lương tâm chính là chức năng của tình cảm đạo đức, nó có mối liên hệ chặt chẽ với ý thức nghĩa vụ đạo đức Nếu ý thức nghĩa vụ đạo đức là kết quả nhận thức những yêu cầu đạo đức xã hội đối với các chủ thể đạo đức thì lương tâm là ý thức, là tình cảm, là sự thôi thúc bên trong của các chủ thể trước nghĩa vụ của bản thân mình Lương tâm còn là một hiện tượng trí tuệ vì nó thực hiện chức năng tự kiểm tra, tự đánh giá hành vi của con người là đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp với các yêu cầu đạo đức xã hội Thực chất lương tâm con người không chỉ chi phối các quan hệ tình cảm, mà nó còn chi phối cả nghĩa vụ đạo đức Nhờ có lương tâm trong sáng mà con người biết hướng thiện, tự thức tỉnh, tránh làm điều xấu xa, bỉ ổi, mong muốn làm những điều tốt đẹp Vì vậy ở đây có sự tham gia của yếu tố ý thức
Lương tâm không phải là cái có sẵn để rồi ban phát cho mọi người, cũng không phải là cái bẩm sinh ở mỗi con người, mà nó được hình thành gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người Đó là một quá trình phát triển lâu dài từ thấp lên cao Lúc đầu, con người nhận thức được cái cần phải làm vì sợ bị trừng phạt từ bên ngoài Chẳng hạn một chị thủ kho không dám lấy cắp của công vì sợ bị pháp luật trừng phạt nếu bị phát hiện Đó là ý thức pháp luật
Cùng với quá trình trưởng thành, con người nhận thức được cái cần phải làm vì xấu hổ trước người khác, trước dư luận xã hội Một học sinh, sinh viên không thể cứ đi học muộn mãi
vì xấu hổ trước thầy cô và bạn bè trong khi ngày nào cũng bị nhắc nhở Đó là bước đầu của ý thức nghĩa vụ đạo đức
Ở giai đoạn sợ bị trừng phạt và xấu hổ chưa phải là hành vi có lương tâm đạo đức Bởi
vì, chủ thể hành động chưa xuất phát từ tiếng gọi của trái tim hoặc của lý trí, mà chỉ do những tác động từ bên ngoài Ngay cả khi con người có cảm giác xấu hổ vì một cử chỉ không tốt đẹp trước bản thân mình, thì cảm giác xấu hổ chỉ là bước đầu của lương tâm, chưa phải là tình cảm đạo đức của lương tâm, vì cảm giác xấu hổ này chưa bền vững, nó có thể thoáng qua
Nói chung, người có lương tâm là người biết hổ thẹn, còn người biết hổ thẹn chưa chắc
là người có lương tâm Người biết xấu hổ là người có cảm giác trách nhiệm trước người khác là chủ yếu Người có lương tâm cũng xấu hổ, nhưng là cảm giác trách nhiệm trước bản thân mình
là chủ yếu Vì vậy, người ta nói sự hổ thẹn là nỗi tức giận quay về phía bản thân mình Đúng
như Lép Tônstôi đã từng viết: “Biết xấu hổ trước mọi người là một cảm xúc tốt Nhưng tốt hơn
Trang 30hết là biết xấu hổ trước chính bản thân mình” Cảm giác hổ thẹn giữ vai trò tích cực để điều
chỉnh hành vi của con người trong đời sống hàng ngày của mình và biết hướng tới sự chú ý của
dư luận xã hội Cảm giác tự hổ thẹn ngày càng cao, làm cho con người càng dễ thức tỉnh Đặc biệt, khi sự lừa dối bị bóc trần trước dư luận xã hội, trước những người quen và người có uy tín,
có vị trí trong gia đình và xã hội thì sự hổ thẹn càng cao
Như vậy, chỉ khi nào các chủ thể nhận thức được cái cần phải làm vì xấu hổ trước bản thân, tức là tự xấu hổ thì đó mới là bước đầu của cảm giác lương tâm và từ cảm giác lương tâm phát triển đến chỗ các chủ thể tự phán xét các suy nghĩ, hành vi và cách cư xử của mình trong mối quan hệ với người khác và xã hội Đây mới chính là lương tâm
Lương tâm đòi hỏi ở con người những yêu cầu rất cụ thể: phải bằng những hành động của mình để cho mọi người tin yêu, mến phục; phải có tinh thần phê phán, đánh giá như nhau đối với hành động của mình và của người khác, sao cho phù hợp với những yêu cầu khách quan của xã hội; phải có tinh thần trách nhiệm không những đối với hành động của bản thân mà còn đối với tất cả những gì xảy ra xung quanh mình
Lương tâm biểu hiện ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực (khẳng định và phủ định) Ở trạng thái khẳng định có sự thanh thản, thư thái, trong sạch của lương tâm Trạng thái này có được khi hành vi của cá nhân phù hợp với các chuẩn mực, quy tắc đạo đức chính thống của xã hội Trạng thái này có tác dụng nâng cao con người, làm cho con người sảng khoái, vui vẻ, tự tin vào mình, kích thích tính tích cực hoạt động của con người
Ở trạng thái phủ định thì có sự cắn rứt, sự không trong sạch của lương tâm Trạng thái này nảy sinh khi hành vi của cá nhân không phù hợp với các chuẩn mực, qui tắc đạo đức chính thống của xã hội, tức là các chuẩn mực yêu cầu một đằng, chủ thể lại làm một nẻo Tất nhiên cả trong hai trường hợp, đặc biệt là ở trường hợp thứ hai (trạng thái phủ định) cá nhân phải ý thức được các chuẩn mực đạo đức, bởi nếu không ý thức được điều này thì hành động của họ dù có
vi phạm các chuẩn mực đạo đức đi chăng nữa thì lương tâm cũng không hề cắn rứt Ở đây, cả trạng thái khẳng định lẫn phủ định của lương tâm đều có vai trò điều chỉnh và nâng cao tính tích cực trong hành vi đạo đức của con người Ngay cả những người mắc phải những lỗi lầm nếu người đó biết hối hận, sửa chữa thì vẫn trở thành người tốt và tiến bộ Những chủ thể đạo đức nào có trong mình cả hai trạng thái đó được gọi là con người có lương tâm Ngược lại, những chủ thể nào thường xuyên làm điều ác, gây nên những mất mát, đau thương cho người khác (như giết người, cướp của, hãm hiếp phụ nữ, trẻ em, tham ô, lãng phí, phá hoại tài sản của công ) mà không có cảm giác xấu hổ, không ăn năn hối hận thì bị coi là người không có lương tâm (bất lương), vô đạo đức Lương tâm xuất hiện và tồn tại trong suốt quá trình hành động từ lúc các chủ thể dự kiến cho đến sau khi kết thúc hành vi đạo đức Quan niệm này có thái độ tích cực và phù hợp với tình cảm và trách nhiệm của con người Điều này khác với ý kiến sai lầm cho rằng, lương tâm chỉ xuất hiện sau khi kết thúc hành vi (giết người rồi mới cắn rứt lương tâm); hoặc quan niệm lương tâm chỉ xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động (tự vẫn) Tình cảm của người có lương tâm thường bền vững và sâu kín trong tâm hồn Lương tâm được nảy sinh, xây dựng trên cơ sở của tình cảm tự giác, từ sức mạnh nội tại của chủ thể Vì thế, lương tâm không có tội, lương tâm là sự hối cải, biết phục thiện để nhanh chóng tiến bộ
Vì vậy, việc giáo dục lương tâm có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống đạo đức xã hội Giáo dục lương tâm gắn liền với giáo dục ý thức nghĩa vụ và làm cho ý thức nghĩa vụ trở thành tình cảm thiêng liêng, thành niềm tin, thành ý thức thường trực Sự hình thành lương tâm
Trang 31không thể một sớm, một chiều mà là quá trình phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, lâu dài, thường xuyên trong suốt cả cuộc đời mỗi con người
2.2.5 Thiện, Ác
Thiện, Ác là hai phạm trù xuất hiện rất sớm trong đời sống đạo đức xã hội Có thể nói
chúng xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người và xã hội loài người và chúng chỉ mất đi chõng nào con người và xã hội loài người không còn nữa Nói chung, từ khi con người thoát thai khỏi thế giới động vật cho đến nay, qua mọi thời đại, con người đều muốn sống thiện, khát khao làm việc thiện, ghét bỏ điều ác, đấu tranh để loại trừ cái ác ra khỏi đời sống xã hội để có một môi trường trong lành, bao dung, độ lượng
đế để sống thiện và làm điều thiện
Arixtốt thì quan niệm lòng tốt của con người là ở thiện tâm, thiện ý Còn ở phương Đông
cổ đại: Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là Thiện (nhân tri sơ, tính bản thiện) Trong tính
Thiện đã bao hàm đủ nhân, lễ, nghĩa, trí mà ông gọi là tứ đoan, đồng thời nó còn bao chứa cả
đức trung với bề trên (vua), đức hiếu với cha mẹ, người thân Còn ác chẳng qua là do hoàn cảnh, do vật dục mê hoặc, vì vậy ông ra sức tuyên truyền, đề cao đức “tính Thiện” với mong muốn giáo hoá con người để họ trở lại với bản chất thiện của mình
Khổng Tử - Người sáng lập ra đạo Nho thường nói nhiều đến nhân nghĩa Nhân trước hết được hiểu là lòng yêu người, thương người, muốn cho mọi vật luôn luôn tươi tốt Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác; mình muốn thành đạt, thì nên giúp người thành đạt; mình muốn lập thân, thì cũng nên giúp người lập thân Lòng mong muốn ấy là hoàn toàn tự nhiên, không miễn cưỡng, không điều kiện
Tuân Tử thì ngược lại, coi bản tính con người là ác, là tự tư, tự lợi (nhân tri sơ, tính bản ác) Theo ông, con người làm gì cũng có sự tính toán lợi hại cá nhân, vì vậy phải dùng đến luật pháp thì mới thay đổi được cái ác
Thời kỳ Phục hưng - cận đại ở phương Tây xuất hiện trào lưu tư tưởng nhân văn, đề cao cái thiện và đã lấy hình tượng người mẹ là biểu tượng của lòng nhân ái
Bên cạnh đó, Hốp xơ, lại cho rằng bản chất con người là ích kỷ, vì vậy cuộc đấu tranh giữa con người với con người là tất yếu, không tránh khỏi Ông hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Ploute cho rằng: "Người với người là chó sói" Chính vì vậy ông quan niệm: "Con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn" Hoặc Lépnít cũng quan
niệm Ác là sự thử thách của chúa trời đối với con người nhằm củng cố niềm tin của con người vào cái Thiện
Trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, Cantơ đã qui cái Thiện vào cái Thiện của ý chí Ông cho rằng trong thế giới này không ở đâu lại có thể hình dung được
Trang 32một cái gì khác hơn là cái Thiện vô hạn và cái Thiện vô hạn là cái Thiện của ý chí Cuối cùng ông giải thích cái Thiện này là Chúa ban cho con người
Hêghen thì ngược lại, phản bác việc qui cái Thiện vào chúa trời, nhưng ông lại cho rằng cái Thiện, Ác đều là kết quả tha hoá của "tinh thần tuyệt đối" Tuy nhiên, ông đã có công lao trong việc trình bày mối quan hệ biện chứng giữa Thiện và Ác, rằng chúng có thể chuyển hoá cho nhau Nhưng ông lại đề cao cái Ác, xem cái ác là hình thức thể hiện những lực lượng phát
triển lịch sử và bản thân nó có hai ý nghĩa tích cực và tiêu cực
Còn Phoi-ơ-bắc - đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác thì cho rằng cái
Thiện không phải là bản chất của thượng đế, chúa trời mà nó mang bản chất như đặc tính của
con người Ông tin tưởng rằng, con người bao giờ cũng tránh cái Ác và hướng tới cái Thiện Vì
vậy, ông kêu gọi mọi người hãy hạn chế mình một cách hợp lý để đi đến một tình yêu phổ biến theo kiểu: "Hãy yêu nhau đi, hãy hôn nhau đi, không phân biệt gái trai, già, trẻ, giai cấp" Như
vậy ông đã thừa nhận cái Thiện mang tính phổ quát
Các tôn giáo xem cái Thiện là những hành động từ bi, bác ái, là ý muốn của Thượng đế Abrelia cho rằng: "ý muốn Thượng đế, đó là cái Thiện", và giải thích rằng, Chúa là người duy
nhất sáng tạo và mang cái Thiện Xung quanh chúng ta toàn là cái Ác và do đó con người sa ngã
và mất hết tự do để vươn tới cái Thiện, nên Chúa phải cứu vớt con người ra khỏi cái ác và đó chính là cái Thiện của Chúa
Ở nước ta trong lịch sử thời phong kiến, các sĩ phu yêu nước cũng đã rất đề cao cái
Thiện Các vua nhà Trần (thế kỷ XIII) đã lấy Thiện để trị nước và tập hợp nhân dân tạo nên
sức mạnh của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Hưng Đạo Vương lúc lâm chung đã dặn lại: Trên thì luyện binh mã, dưới thì chăn dân, phải luôn luôn khoan thứ sức dân, đó là
kế sâu gốc, bền rễ, là thượng sách để giữ nước lâu dài vậy
Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) còn quan niệm: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; lấy chí nhân để thay cường bạo Vì vậy, các nhà cầm quyền phải chăn dân, an dân và huệ dân, để tận nơi hang cùng, ngõ hẻm không còn tiếng oán giận, than sầu
Như vậy, trước khi đạo đức học mácxít ra đời, đã có nhiều quan niệm khác nhau về
Thiện, Ác Mỗi quan niệm đề cập đến một mặt, một khía cạnh nào đó của Thiện, Ác, nhưng tất
cả những quan niệm đó đều bộc lộ một hạn chế là qui Thiện, Ác về những cái có sẵn trong tâm
con người, coi chúng là bản chất vốn có của con người hay của một lực lượng siêu nhiên nào đó
mà chưa hiểu được bản chất xã hội và tính lịch sử - cô thể của hai phạm trù này
Từ khi đạo đức học mác xít ra đời đã có cách lí giải đúng đắn về Thiện, Ác Thiện là tất
cả những gì tốt đẹp, những gì có ích cho con người và xã hội, phù hợp với tiêu chuẩn của sự tiến bộ xã hội
Với quan niệm như vậy thì cái thiện trước hết và cao cả nhất là giải phóng con người khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội không còn giai cấp để con người có những điều kiện kinh tế - xã hội phát huy mọi khả năng của mình, cống hiến nhiều nhất cho
xã hội, mang lại hạnh phúc cho nhân dân và như thế cái Thiện không chỉ là những giá trị hiện thực, mà còn hàm chứa trong mình những lý tưởng đạo đức cao quý
Còn Ác là cái đối lập với cái Thiện, có nghĩa là tất cả những gì gây trở ngại, có hại cho
con người và xã hội Còn như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta nhiều lần nói về điều
Trang 33Thiện, Ác với mong muốn mọi người nhận thức được điều đó để hướng tới cái Thiện và đấu tranh loại bỏ cái Ác, cái xấu ra khỏi đời sống đạo đức xã hội Theo Người, Thiện và Ác là hai cái mang tính phổ quát, chúng tồn tại không chỉ ở người này hay người kia, ở dân tội này hay dân tộc khác
mà có thể nói là ở cả thế giới
Vậy Thiện là gì? Ác là gì? Người chỉ rõ: “Thực hành chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính là Thiện Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng là Ác” Theo Người, Thiện và Ác “là hai cái mâu thuẫn luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau”, đây là “cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ Nhưng cuối cùng thì cái Ác nhất định bại, Thiện nhất định thắng” Mỗi chúng ta phải làm thế nào để cho phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần
đi, đó chính là thái độ của người cách mạng Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta như vậy
Đạo đức học mácxít cũng chỉ ra rằng Thiện - Ác không phải là sản phẩm thuần tuý của
tư duy con người, do con người ta nghĩ ra, hay của một lực lượng siêu nhiên nào đó, chúng cũng không phải là cái gì đó “nhất thành bất biến”, mà chúng là kết quả của những điều kiện kinh tế - xã hội của một thời đại nhất định và luôn luôn vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội Vì vậy, khi xem xét Thiện, Ác chúng ta phải quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể Có những cái hôm nay được mọi người coi là thiện, thì ngày mai có thể lại trở thành nếp sống của xã hội, trở thành những cái bình thường, thậm chí là cái ác và ngược lại Hoặc có những cái đối với dân tộc này, ở thời đại này là Thiện, nhưng đối với dân tộc khác, ở thời đại khác lại là ác và ngược lại
Điều đó cũng cho thấy, Thiện, Ác là hai mặt đối lập, nhưng sự đối lập giữa chúng không phải là tuyệt đối, mà chỉ là tương đối, bởi chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau Trong đời sống hiện thực, nhiều khi cái Ác còn là yếu tố tất yếu mà con người phải vượt qua để thực hiện cái Thiện Ví như người thầy thuốc buộc phải áp dụng những biện pháp gây đau đớn để cứu chữa bệnh nhân, hoặc các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận định: Chỉ có thể thoát khỏi tình trạng dã man bằng một hành động dã man, rằng cái Ác là cái đầu tiên bước vào lịch
sử, tức là chế độ chiếm hữu nô lệ, mà ở đó đại bộ phận dân cư không có quyền lợi gì, ngay cả quyền tự do thân thể Họ không được coi là con người, chỉ được coi là “công cụ biết nói”, là
“vật sở hữu” của chủ nô Tuy nhiên, các nhà kinh điển lại khẳng định rằng, nếu không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Tây thời cổ đại thì cũng không thể có được chủ nghĩa tư bản trong xã hội hiện đại
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp thì khi xem xét Thiện, Ác chúng ta còn phải gắn liền với quan điểm giai cấp, bởi các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau về Thiện, Ác Các giai cấp thống trị quan niệm Thiện chính là sự khuất phục người khác, giai cấp khác, bắt họ phải phục tùng, lệ thuộc vào mình Còn các giai cấp bị trị lại quan niệm thiện là được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, là công bằng
Cái Thiện còn là sự thống nhất giữa mục đích và kết quả, động cơ và phương tiện Điều này giúp chúng ta nhận thức rõ bản chất thật của cái Thiện Bởi trong cuộc sống của con người còn nhiều hiện tượng đạo đức giả và những suy nghĩ bệnh hoạn, những thói bất lương, nguỵ biện, cũng như sự thiện tâm, thiện ý của những người có đạo đức không phải lúc nào cũng được triển khai một cách thuận lợi, suôn sẻ trong thực tế Nhiều khi gặp phải mâu thuẫn giữa lòng tốt
và khả năng thực hiện lòng tốt, giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên Chính vì thế sự thống nhất giữa mục đích, động cơ, phương tiện và kết quả được đánh giá thông qua mối quan hệ giữa động cơ và kết quả như sau: