Để nâng cao nhận thức đạo đức và góp phần nâng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, chúng tôi biên soạn “Tập bài giảng Đạo đức học và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông”’ Tập bài giả
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ThS Chu Thị Diệp
TẬP BÀI GIẢNG ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
(Lưu hành nội bộ)
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ThS CHU THỊ DIỆP
TẬP BÀI GIẢNG ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
(Tài liệu dùng cho hệ cử nhân chuyên ngành giáo dục công dân)
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Đạo đức có vai trò to lớn trong đời sống xã hội của con người Đạo đức là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, tạo nên sự hài hòa và tiến bộ
xã hội Con người muốn có cuộc sống tốt đẹp, bình an phải có sự tham gia của đạo đức
Để có hành vi đạo đức tốt đẹp, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội con người phải có những tri thức đạo đức cơ bản làm định hướng cho hành vi và chủ thể phải không ngừng tự giáo dục, rèn luyện mình Để nâng cao nhận thức đạo đức và góp phần nâng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, chúng tôi biên soạn “Tập bài giảng Đạo đức học và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông”’
Tập bài giảng trình bày một cách khái quát các vấn đề về nguồn gốc, bản chất, chức năng của đạo đức; đi sâu phân tích, làm rõ những phạm trù cơ bản của Đạo đức học Mác – Lênin và những chuẩn mực đạo đức mới, đạo đức Cộng sản làm cơ sở cho chủ thể đạo đức nhận thức đúng đắn những chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội từ
đó định hướng hành vi đạo đức của mình sao cho phù hợp với yêu cầu xã hội Đối với công tác giáo dục đạo đức nói chung Tập bài giảng hệ thống các phương pháp giáo dục đạo đức Tập bài giảng đi sâu phân tích về mục tiêu, nội dung, các hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay
Tập bài giảng Đạo đức học và giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông được biên soạn trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những giáo trình đã có của nhiều tác giả, những kiến thức hiện nay Chắc chắn trong quá trình biên soạn còn nhiều hạn chế, chúng tôi mong nhân được sự góp ý quí báu của các độc giả và các bạn đồng nghiệp Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Trang 4
MỤC LỤC
Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ 4
CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC MÁC - LÊNIN 4
1.1 Đạo đức và cấu trúc của đạo đức 4
1.1.1 Khái niệm đạo đức 4
1.1.2 Cấu trúc đạo đức 6
1.2 Đối tượng và nhiệm vụ của đạo đức học Mác - Lênin 11
1.2.1 Đối tượng 11
1.2.2 Nhiệm vụ 14
1.3 Phương pháp nghiên cứu của đạo đức học Mác - Lênin 17
1.3.1 Một số nguyên tắc phương pháp nghiên cứu của đạo đức học Mác - Lênin 18
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu đạo đức học 20
1.4 Các giai đoạn phát triển của đạo đức học 20
1.4.1 Đạo đức học thời kỳ Hy Lạp cổ đại 20
1.4.2 Đạo đức học thời kỳ Phục hưng 25
1.4.3 Đạo đức học thế kỷ XVII - XVIII 27
1.4.4 Sự ra đời và phát triển của đạo đức học Mác – Lênin 29
Chương 2 NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC 31
2.1 Nguồn gốc của đạo đức 31
2.1.1 Các quan niệm trước Mác về nguồn gốc của đạo đức 31
2.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức 33
2.2 Bản chất của đạo đức 34
2.2.1 Các quan niệm trước Mác về bản chất của đạo đức 34
2.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của đạo đức 35
2.3 Chức năng của đạo đức 37
2.3.1 Chức năng điều chỉnh hành vi 37
2.3.2 Chức năng giáo dục 38
2.3.3 Chức năng nhận thức 39
2.4 Vai trò của đạo đức 40
2.4.1 Đạo đức là động lực phát triển của xã hội 40
2.4.2 Đạo đức tạo nên sự hài hòa và tiến bộ xã hội 41
2.5 Mối quan hệ giữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác 42
2.5.1 Mối quan hệ đạo đức với chính trị 42
2.5.2 Mối quan hệ giữa ý thức đạo đức với ý thức pháp quyền 43
2.5.3 Mối quan hệ đạo đức và tôn giáo 45
Trang 52.5.4 Mối quan hệ giữa đạo đức với nghệ thuật 46
2.5.5 Mối quan hệ giữa đạo đức với khoa học 47
Chương 3 MỘT SỐ PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC 50
3.1 Một số vấn đề chung về phạm trù đạo đức học 50
3.1.1 Quan niệm về phạm trù đạo đức học 50
3.1.2 Đặc điểm của phạm trù đạo đức 50
3.2 Một số phạm trù đạo đức học cơ bản 51
3.2.1.Phạm trù lẽ sống (ý nghĩa cuộc sống) 51
3.2.2.Phạm trù hạnh phúc 55
3.2.3 Phạm trù nghĩa vụ 58
3.2.4 Phạm trù lương tâm 59
3.2.5 Phạm trù thiện, ác 63
Chương 4 NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC 67
4.1 Khái niệm truyền thống và những tiền đề, điều kiện hình thành đạo đức truyền thống Việt Nam 67
4.1.1.Truyền thống và đạo đức truyền thống 67
4.1.2 Những tiền đề, điều kiện cho việc hình thành đạo đức truyền thống Việt Nam 69 4.2 Chuẩn mực và một số chuẩn mực cơ bản của đạo đức truyền thống Việt Nam 74
4.2.1 Một số vấn đề lý luận chung về chuẩn mực đạo đức truyền thống 74
4.2.2 Một số chuẩn mực đạo đức truyền thống Việt Nam cơ bản 75
Chương 5 NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA ĐẠO ĐỨC MỚI 91
5.1 Đạo đức mới và vai trò của đạo đức mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội 91 5.1.1 Khái niệm “đạo đức mới” 91
5.1.2 Vai trò của đạo đức mới 92
5.2 Nội dung của nguyên tắc đạo đức mới 96
5.2.1 Chủ nghĩa tập thể là cơ sở của đạo đức mới 96
5.2.2 Lao động tự giác sáng tạo 97
5.2.3.Chủ nghĩa nhân đạo 99
5.2.4 Chủ nghĩa yêu nước kết hợp chủ nghĩa quốc tế vô sản 101
5.3 Quy luật hình thành đạo đức mới 103
5.3.1 Đạo đức mới là sự phát triển tiếp theo của đạo đức giai cấp công nhân đã được hình thành trong chế độ tư bản chủ nghĩa 103
5.3.2 Đạo đức mới là kết quả tổng hợp của quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội104 6.3.4 Đạo đức mới là kết quả tổng hợp của quá trình rèn luyện và tự rèn luyện106 Chương 6 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 108
6.1 Khái niệm giáo dục đạo đức và nội dung giáo dục đạo đức 108
6.1.1.Khái niệm và mục tiêu giáo dục đạo đức 108
6.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức 109
Trang 66.2 Các hình thức giáo dục đạo đức cơ bản 112
6.2.1.Giáo dục đạo đức thông qua lao động và hoạt động xã hội 112
6.2.2 Giáo dục đạo đức thông qua truyền đạt các tri thức đạo đức 114
6.2.3 Giáo dục đạo đức thông qua tấm gương đạo đức 114
6.2.4 Giáo dục đạo đức thông qua hình tượng nghệ thuật 115
6.3 Học tập đạo đức Hồ Chí Minh 116
6.3.1 Vai trò của đạo đức Hồ Chí Minh 116
6.3.2 Một số nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 117
Chương 7 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 127
7.1 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông 127
7.1.1 Khái niệm phương pháp giáo dục đạo đức 127
7.1.2 Phân loại phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông 127
7.2 Hoạt động giáo dục đạo đức ngoài giờ lên lớp, người giáo viên trong quá trình giáo dục đạo đức 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
Trang 7Chương 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC MÁC - LÊNIN 1.1 Đạo đức và cấu trúc của đạo đức
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa là có liên quan với lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lý” được xem như đồng nghĩa với "đạo đức" có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos - lề thói, tập tục Khi nói đến đạo đức tức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm: moral là đạo đức còn ethicos là đạo đức học
Trong triết học phương Đông
Khổng Tử quan niệm đạo đức là đường đi lối lại, là quy luật Đức được quan niệm là luân thường mà con người phải tuân theo Đạo đức được quan niệm là luân thường đạo lý, là quan niệm về tốt, xấu, đúng sai Con người phải làm theo cái đúng, cái tốt, tránh những cái sai
Kinh dịch lại cho rằng, đạo là con đường, là quy luật Đức là mức độ tập trung đạo ở con người, đức là năng lực của con người vận dụng cho đúng quy luật1 Không
có đạo thì cũng không có đức, vì nếu không học tập rèn luyện thì cũng không thể hình thành được những phẩm chất cần thiết trong con người Đức là kết quả của đạo
Phương Tây, đạo đức theo tiếng Anh, tiếng Nga và nhiều ngôn ngữ khác, tuy cách viết khác nhau, nhưng đều là moral, là những chuẩn mực chung nhằm điều chỉnh hành vi của con người, sao cho tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con người với nhau
và giữa mỗi người với xã hội
Ở Việt Nam hiện nay có một số quan niệm về đạo đức như sau:
Từ điển Tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng 1997) khẳng định, đạo đức theo hai nghĩa:
1 Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành
vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội
2 Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức
mà có2
Khi xem xét đạo đức là một hình thái ý thức xã hội lại có thể khẳng định: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực
xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau
và quan hệ với xã hội Chúng thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hộ”3
Trong cuốn sách “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn mực xã hội” tác
giả cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm: những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ xã hội, trong quan hệ người - người”4
1
Quang Đạm: Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,1999, tr 21
2 Hoàng Phê (Chủ biên): Từ điển tiếng Việt Nxb Đà Nẵng 1997, tr.280.
3
Giáo trình Đạo đức học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 8
4 Huỳnh Khái Vinh (Chủ biên): Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn mực xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nôi,2001, tr 44
Trang 8Một tác giả khác lại cho rằng: “Đạo đức là một quan hệ xã hội có quy tắc, có chuẩn mực, có đánh giá, có giá trị, nhưng nó không ghi thành văn bản pháp quy mà thông thường là nếp sống, phong tục, tập quán do một cộng đồng nhất định tạo thành khi chung sống với nhau Các quan hệ đạo đức trong xã hội thường được điều chỉnh bằng dư luận xã hội”1
Qua các ý kiến trên chúng tôi có thể khẳng định, đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, bao gồm hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hành vi và cách ứng xử của con người, được thực hiện bởi niềm tin, trách nhiệm, lương tâm của mỗi cá nhân, bởi phong tục tập quán và dư luận xã hội, đảm bảo hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội; là một lĩnh vực hoạt động của đời sống tinh thần xã hội
Trong khái niệm trên đạo đức được xem xét với ba dấu hiệu đặc trưng nhất:
Thứ nhất, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội nhằm phản ánh
tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội được thể hiện trong niềm tin, lý tưởng, hệ thống các chuẩn mực trong phong tục, tập quán chuẩn mực trong phong tục, tập quán, ý chí thể hiện lý tưởng đạo đức
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và ngyên tắc bao gồm cả triết học và luân lý học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các
tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của con người Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, đều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc của quan điểm về đạo đức con người Các quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó
Sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định
Thứ hai, Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người
Con người ngay từ khi sinh ra đã sống thành xã hội Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong xã hội, con người phải điều chỉnh hành vi của mình sao cho tạo nên sự phù hợp giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của xã hội Tham gia vào điều chỉnh hành vi của con người có nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức… Mỗi lĩnh vực có vai trò vị trí khác nhau trong điều chỉnh hành vi của con người nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển Kinh tế điều chỉnh hành vi của con người thông qua lợi ích kinh tế Pháp luật điều chỉnh hành vi của con người thông qua
hệ thống các quy chuẩn pháp luật, buộc người ta phải tuân theo, mang tính chất cưỡng bức Đạo đức dùng một hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc, các chuẩn mực, tạo thành những khuôn mẫu để mọi người noi theo Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng niềm tin, lý tưởng, bằng lương tâm, trách nhiệm, bằng dư luận xã hội Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người mang tính tự giác, vừa nhẹ nhàng, vừa sâu sắc
Thứ ba, Đạo đức là một hệ thống các giá trị
Các hiện tượng đạo đức thông thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một lợi ích chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó Nghĩa là nó bày tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hay hanh vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là một nội
1 Vũ Trọng Dung (Chủ biên): Giáo trình Đạo đức học, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005, tr.11
Trang 9dung hợp thành hệ thống giá trị xã hội Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức
1.1.2 Cấu trúc đạo đức
Đạo đức vận hành như một hệ thống tương đối độc lập của xã hội Cơ chế của
nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của các yếu tố hợp thành đạo đức Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.Nếu xét nó trong quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, cái phổ biến với cái đặc thù và cái đơn nhất thì đạo đức
được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
1.1.1.1.Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại bao gồm cảm xúc tình cảm của con người, từ đó hình thành niềm tin, lý tưởng đạo đức của họ vào những điều tốt đẹp, thông qua đó hướng dẫn hành động của con người sao cho phù hợp với những yêu cầu chung của xã hội
Ý thức đạo đức thể hiện ở 2 cấp độ: cảm tính và lý tính
Ở cấp độ cảm tính ý thức đạo đức biểu hiện ở tình cảm đạo đức Tình cảm đạo đức vừa thể hiện ra như là sự nhận thức, đánh giá các hiện tượng đạo đức trong xã hội, vừa là sự biểu hiện thái độ của chủ thể đạo đức đối với hiện tượng đó
Ví dụ: trước những điều thiện, những việc làm tốt trong cuộc sống con người tỏ thái độ đồng tình ủng hộ, ngược lại trước những cái ác con người phản đối, trước những bất hạnh của người khác con người có sự thương cảm, sẻ chia…
Tình cảm đạo đức của con người có xu hướng vươn đến cái thiện, là thái độ của con người về hệ thống yêu cầu đạo đức, là cảm xúc cá nhân trước hành vi của người khác hay hành vi của chính bản thân mình Tình cảm đạo đức đó là điểm phân biệt giữa con người với con vật Nếu một người không còn day dứt lương tâm khi làm một việc sai trái, không thấy xấu hổ khi không hoàn thành nghĩa vụ đạo đức thì sẽ rơi xuống ở trình độ con vật và chỉ là con vật không hơn không kém
Ở cấp độ lý tính, ý thức đạo đức gồm: tri thức đạo đức, chuẩn mực đạo đức và
tư tưởng đạo đức
Tri thức đạo đức là tri thức của con người về phương diện đạo đức, được hình thành qua quá trình học tập hay thông qua thực tiễn cuộc sống Cũng như tri thức khác, tri thức đạo đức gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận Tri thức kinh nghiệm là những tri thức đạo đức thông thường mà bất cứ người nào cũng có thể hiểu như cái ác, cái tốt, cái xấu, cách thức ứng xử đáp ứng yêu cầu thông thường của cuộc sống Tri thức đạo đức kinh nghiệm cần thiết trong cuộc sống nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống hàng ngày
Ở trình độ lý luận tri thức đạo đức tồn tại dưới dạng những tư tưởng, khái niệm, quan điểm, học thuyết…những tri thức đạo đức ở tầm lý luận được hình thành thông qua học tập, nghiên cứu công phu của những nhà triết học, đạo đức học Chúng ta cũng cần phân biệt tri thức đạo đức và tri thức đạo đức học Tri thức đạo đức là toàn
bộ hiểu biết của con người về đạo đức từ phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng
Trang 10xử… Tri thức đạo đức học chỉ là một phận của tri thức đạo đức, cụ thể hơn nó là thành
tố của đạo đức ở trình lý luận, là hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật
Chuẩn mực đạo đức là hệ thống qui tắc xác định mẫu hành vi đạo đức mà con người phải tuân theo, nhằm khẳng định lợi ích xã hội, là cơ sở để xác định phương án điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Nhờ chuẩn mực đạo đức mà con người hành động theo những khuôn mẫu nhất định và những xu hướng nhất định Chuẩn mực đạo đức xác định mẫu hình con người phải theo trong những tình huống cụ thể Những chuẩn mực đạo đức bao gồm chuẩn mực khuyến khích và chuẩn mực ngăn cấm Chuẩn mực đạo đức là sự phản ánh tồn tại xã hội, vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì những chuẩn mực đạo đức cũng thay đổi theo Để chuẩn mực đạo đức phát huy tác dụng trong cuộc sống, được nhân dân tiếp nhận biến thành hiện thực trong đời sống, cần phải thường xuyên quan tâm, bổ sung, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức xã hội Ở Việt Nam hiện nay, chúng cần quan tâm tới xây dựng những chuẩn mực đạo đức phù hợp với những yêu cầu kinh tế thị trường, đặc biệt những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
Lý tưởng đạo đức là tư tưởng về tương lai của của đạo đức với mức độ hoàn thiện, hoàn mỹ Nó bao gồm hệ thống các mục đích để đạt đến lý tưởng đạo đức cao
cả Lý tưởng đạo đức cũng là một dạng chuẩn mực đạo đức nhưng không phải của hiện tại mà là tương lai, thể hiện khát vọng của con người Chuẩn mực đạo đức là những yêu cầu cần thiết cho hiện tại còn lý tưởng đạo đức phản ánh xu thế phát triển của xã hội, phản ánh khát vọng của con người Giữa lý tưởng đạo đức và chuẩn mực đạo đức có mối quan hệ khăng khít với nhau Lý tưởng đạo đức định hướng cho chuẩn mực đạo đức Trên cơ sở lý tưởng đạo đức trong mỗi giai đoạn lịch sử con người xây dựng những chuẩn mực đạo đức mọi người làm theo Ngược lại, chuẩn mực đạo đức là
sự cụ thể hóa, từng bước biến lý tưởng đạo đức thành hiện thực cuộc sống Nếu không
có một lý tưởng đạo đức đúng đắn cũng không thể xây dựng được chuẩn mực đạo đức đúng đắn Ngược lại nếu như những chuẩn mực đạo đức không đúng đắn hoặc không được thực hiện thì những lý tưởng đạo đức cũng được không hiện thực hóa từng bước trong cuộc sống
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc sống
Thực tiễn đạo đức đòi hỏi phải có hoạt động và hành vi, phải được thể hiện thành hoạt động cụ thể của con người Tuy nhiên không phải mọi hành vi của con người đều được coi là thể hiện thực tiễn đạo đức Hành vi đạo đức trước hết phải có mục đích đạo đức Mục đích của hành vi đạo đức phải góp phần làm tăng lợi ích xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển Song cũng không phải mọi hành vi làm tăng lợi ích xã hội đều được coi là hành vi đạo đức Những hành vi lấy sự gia tăng lợi ích xã hội làm phương tiện, nhưng để thực hiện những mục đích ngoài đạo đức cũng không được gọi
là hành vi đạo đức
Mục đích của hành vi đạo đức phải phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định Như vậy, thông thường ý thức đạo đức đúng đắn là cơ sở cho hành vi đạo đức đúng đắn Không có ý thức đạo đức đúng đắn cũng không thể tạo ra hành vi đạo đức đúng đắn Song đôi khi có người có ý thức đạo đức đúng đắn, có quan niệm đúng về cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác… nhưng do lợi ích cá nhân họ lại không có hành vi đạo đức đúng đắn Ví dụ hiện nay nhiều người biết lấn chiếm đất đai là sai, tham nhũng là sai, là trái đạo đức, nhưng vì lợi ích cá nhân che
Trang 11mắt, họ vẫn nhắm mắt làm Nhiều người biết đi trên xe buýt nhường ghế cho người già, trẻ nhỏ là cần thiết, nhưng nhiều bạn trẻ cố tình làm ngơ, coi đó là chuyện của người khác
Thực tiễn đạo đức góp phần củng cố, phát triển, hoặc là suy giảm ý thức đạo đức Nếu trong đời sống những giá trị, những chuẩn mực đạo đức được tôn trọng sẽ góp phần củng cố phát triển ý thức đạo đức Ngược lại, khi những chuẩn mực đạo đức
xã hội không được tôn trọng thì sẽ làm cho ý thức đạo đức bị mờ nhạt
Hiện nay ở Việt Nam tình trạng làm việc thiếu nghiêm túc diễn ra ở không ít cơ quan, tham nhũng chưa được ngăn chặn, nên nhiều người quan niệm rằng, làm việc tốt việc đúng ở nước ta hôm nay không phải dễ Thật đau lòng trước thực trạng những người làm việc tốt như: những chiến sĩ bắt cướp, những người thu dọn đinh do những kẻ
vô lương tâm rải ra đường, một cách không công để bớt đi những tai họa cho người khác
đã bị hành hung và bị đe dạo trừng phạt Xã hội hội cần phải phê phán gay gắt những kẻ
vô lương tâm đó, phải có cơ chế bảo vệ những việc làm tốt Nếu không làm được điều
đó sẽ là nguy cơ cho xã hội Việc xấu không được ngăn chặn, việc tốt không được biểu dương, bảo vệ thì những quan niệm “người ngay kẻ gian” vẫn hiện hữu trong xã hội; sự bất an trong xã hội vẫn không được loại bỏ
Ý thức đạo đức phải được thực hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo
1.1.2.2 Quan hệ đạo đức
Quan hệ đạo đức là hệ thống quan hệ xác định giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người trên phương diện đạo đức Trong xã hội có nhiều mối quan hệ, quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật, quan hệ đạo đức…Các quan hệ trên nhằm điều chỉnh hành vi của con người phù hợp với yêu cầu chung của
xã hội Quan hệ đạo đức bao gồm quan hệ giữa người này với người khác, quan hệ mỗi người với cộng đồng, với xã hội
Quan hệ đạo đức là quan hệ tinh thần, do vậy nó bị qui định bởi quan hệ kinh tế
và chịu sự chi phối bởi những quan hệ xã hội khác Khi nghiên cứu quan hệ đạo đức đòi hỏi phải thấy được những mối quan hệ đó Một mặt thấy được vai trò quyết định của những quan hệ kinh tế với quan hệ đạo đức, mặt khác thấy được tác động của quan
hệ đạo đức đối với những quan hệ khác
Quan hệ đạo đức là quan hệ hai chiều Một mặt mỗi cá nhân thấy được trách nhiệm của mình đối với người khác, đối với xã hội như trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ những lợi ích của cộng đồng, của người khác Mặt khác xã hội có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân như: danh dự, nhân phẩm, tài sản, tôn trọng cá tính của mỗi cá nhân
Quan hệ đạo đức được tạo nên bởi 3 thành tố: chủ thể - đối tượng - liên hệ Ví
dụ quan hệ giữa mỗi người với Tổ quốc, trong đó công dân là chủ thể, tổ quốc là đối tượng, mối liên hệ là tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc
Quan hệ đạo đức được đặc trưng bởi tính tự giác, tự nguyện tính động cơ Tính
tự giác, khi con người tham gia vào quan hệ đạo đức cần hiểu được trách nhiệm của mình làm gì cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội Ví dụ cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc con cái một cách tự giác Con cái nuôi dưỡng cha mẹ già là một sự tự giác Tuy nhiên để thực hiện được điều đó đòi hỏi con người phải có tri thức hiểu biết
về đạo đức, phải hiểu được chuẩn mực, những yêu cầu của nghĩa vụ đạo đức Muốn có
Trang 12những hiểu biết đó thì phải thực hiện giáo dục trách nhiệm, nghĩa vụ đạo đức đối với mỗi người ngay từ nhỏ Hoạt động giáo dục trách nhiệm nghĩa vụ đạo đức được thực hiện qua giáo dục hàng ngày, cha mẹ phải thường xuyên giáo dục con cái đạo lý ở đời
và làm người Mỗi người phải quan tâm tới người khác vì con người không thể sống biệt lập Hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình phải đặt trong quan hệ với hạnh phúc
xã hội Song điều quan trọng trong giáo dục đạo đức là phải thông qua hoạt động thực tiễn, bởi lẽ chỉ có từng trải trong thực tiễn cuộc sống con người mới hiểu sâu sắc những triết lý răn dạy ở đời Trong lao động sản xuất, trong chiến đấu con người phải tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Một mình con người trong nhiều trường hợp không thể tự làm được, từ đó xuất hiện nhu cầu hợp tác giữa con người và con người
Tính tự nguyện của quan hệ đạo đức biểu hiện ở nhu cầu và mong muốn của con người có sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, mong muốn con người làm những cái thiện chống lại những cái ác trong xã hội Con người trong quá trình sống để chống chọi với những tác động của tự nhiên như bão lụt, chống chọi với thú rừng con người cần phải có sự liên kết giúp đỡ lẫn nhau mới tồn tại được
Khi quan hệ đạo đức được tự nguyện, tự giác thực hiện thì chuẩn mực đạo đức
sẽ tự nhiên đi vào trong cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy con người hành động tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa người này với người khác Cha mẹ tự giác chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục con cái, ngược lại con cái cũng tự giác quan tâm chăm sóc cha
mẹ Những hành động đó xuất phát từ tâm, không ai bị bắt ép, không vì một lợi ích nào khác Nhưng cái lợi đem lại cho mọi người là mỗi người cảm thấy yên tâm trong cộng đồng
Quan hệ đạo đức xuất hiện trong mọi môi trường gia đình, nhà trường và xã hội Trong gia đình là quan hệ giữa cha mẹ và con cái Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái khi còn nhỏ, tạo công ăn việc làm cho con cái; con cái có trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già yếu, ốm đau bệnh tật Vợ chồng có trách nhiệm tôn trọng, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau Anh có trách nhiệm với em, chăm lo cho em khi còn nhỏ, ngược lại em phải nghe lời anh
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội Bên cạnh việc nâng cao năng suất lao động cải thiện đời sống nhân dân thì cuộc cách mạng này cũng gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, sa mạc hóa vì vậy đòi hỏi con người có một quan hệ đúng đắn với tự nhiên Trong khai thác tài nguyên thiên nhiên cần chú ý tái tạo những nguồn tài nguyên đó Ví dụ khai thác rừng cần trồng lại rừng Thế hệ hôm nay cần có trách nhiệm với thế hệ mai sau Nguồn lợi thủy hải sản cũng phải được giữ gìn bảo vệ Việc khai thác đánh bắt thủy hải sản phải theo quy định chung, vừa vừa đảm bảo cho cuộc sống của người dân hôm nay, vừa đảm bảo tái tạo, tiếp tục phát triển những nguồn lợi
đó phục vụ cho cuộc sống ngày mai, cho thế hệ mai sau
Quan hệ đạo đức có sự gắn bó với mối quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật Nếu chúng ta xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa những người sản xuất với nhau, có niềm tin lẫn nhau, hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Hoặc xây dựng được quan hệ đạo đức tốt đẹp giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng, người sản xuất quan tâm tới nhu cầu của người tiêu dùng sẽ tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển Trong quan hệ chính trị cũng vậy, nếu Đảng, Nhà nước chăm lo tới nhân dân, cán bộ gắn bó với nhân dân thì nhân dân sẽ hết lòng bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, thực hiện nghiêm túc mọi chủ trương chính sách của Đảng,
Trang 13pháp luật của Nhà nước Đó là sức mạnh vô địch để chúng ta vượt qua mọi khó khăn thử thách Nông dân và công nhân quan tâm tới nhau, gắn bó với nhau sẽ tạo nên khối liên minh công nông vững chắc Muốn thay đổi quan hệ đạo đức trong xã hội cần tạo
ra sự thay đổi nhiều quan hệ xã hội khác như: quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật
1.1.2.3 Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân có quan hệ biện chứng với nhau Đó là quan
hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng Đạo đức xã hội là cái chung, đạo đức cá nhân là cái riêng
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội trong một cộng đồng nhất định như một quốc gia, một dân tộc là phương thức điều chỉnh hành vi đạo đức của mỗi cá nhân trong cộng đồng sao cho phù hợp với yêu cầu của cộng đồng đó nhằm không ngừng phát triển và hoàn thiện tồn tại xã hội
Đạo đức xã hội hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc về cộng đồng đó Trong quá trình sống và làm việc cá nhân hình thành những lợi ích chung đòi hỏi phải tuân theo Nó tồn tại trong phong tục tập quán, trong lối sống, trong chuẩn mực đạo đức như: tinh thần yêu nước, ý thức tự cường dân tộc, lòng nhân ái, sự thủy chung… Ngoài những cái chung của một quốc gia, đất nước còn những yêu cầu chuẩn mực ở một số dân tộc, một giai cấp, vì mỗi dân tộc, mỗi giai cấp lại có những lợi ích riêng của cộng đồng đó
Những chuẩn mực, những thang giá trị đạo đức xã hội, của cộng đồng hàng ngày tác động đến từng cá nhân từ đó hình thành đạo đức của mỗi cá nhân Tất nhiên ở mỗi cá nhân khác nhau việc tiếp nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo đức có mức
độ, cách thức khác nhau Điều đó phụ thuộc vào trình độ hiểu biết ý thức giác ngộ và
sự từng trải của mỗi cá nhân Đương nhiên những cá nhân có tri thức phong phú, có sự từng trải trong thực tiễn cuộc sống sẽ tiếp nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo đức để cá tính hóa chúng trở thành những phẩm chất đạo đức cá nhân
Đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ, phản ánh và khẳng định
sự tồn tại của cá nhân như là sự thể hiện riêng rẽ về lợi ích và hoạt động của cá nhân trong cộng đồng Đạo đức cá nhân là nội tâm hóa những chuẩn mực, phong tục tập quán thành thói quen, thành những hành vi đạo đức của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân là một nhân cách, có tri thức, có trình độ khác nhau, tính cách khác nhau do vậy việc tiếp nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lý tưởng đạo đức cũng có sự khác nhau, và sự biểu hiện của đạo đức ra bên ngoài cũng khác nhau Đạo đức cá nhân là vô cùng đa dạng và phong phú Cùng một chuẩn mực đạo đức, nhưng mỗi cá nhân lại có cách thể hiện khác nhau
Đạo đức cá nhân có những mức độ khác nhau:
Cấp độ hoạt động thực tiễn: ở cấp độ này, đạo đức cá nhân biểu hiện ở khả
năng và mức độ mà một chủ thể đạo đức có thể làm cho hành vi đạo đức có giá trị Đó
là khả năng ứng xử của chủ thể đạo đức trước những tác động và yêu cầu của xã hội sao cho phù hợp với những yêu cầu chuẩn mực đạo đức xã hội, ở việc tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức, biến chúng thành nhu cầu nội tâm, thành mong muốn, thành khát vọng của chủ thể đạo đức
Cấp độ tâm lý cảm xúc: cấp độ này của đạo đức cá nhân là toàn bộ nhu cầu tình cảm,
niềm tin, lý tưởng của mỗi cá nhân Đó là những tri thức, những hiểu biết của cá nhân về chuẩn mực đạo đức, thang giá trị đạo đức, là Ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ đạo đức trước các mối quan hệ gia đình và xã hội Trên cơ sở của Tri thức đạo đức, trước những yêu cầu của
Trang 14xã hội mỗi cá nhân định hướng hành vi đạo đức và cách hành động của mình sao cho phù hợp với yêu cầu đó Trên cơ sở hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, các quan hệ đạo đức cá nhân suy nghĩ cần phải làm gì, cần hành động như thế nào? đạo đức cá nhân là vô cùng đa dạng phong phú Đạo Đức cá nhân bao gồm những chuẩn mực đạo đức xã hội và đặc tính cá nhân Đạo
xã hội không bao gồm hết những nét độc đáo của cá nhân
Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, quan hệ với nhau, tác động qua lại với nhau Những chuẩn mực đạo đức, thang giá trị đạo đức, lý tưởng đạo đức tác động vào từng cá nhân Mỗi cá nhân từ thực tiễn cuộc sống, từ những tri thức đạo đức có được, sẽ tiếp nhận những gì phù hợp vừa đảm bảo những yêu cầu xã hội vừa thỏa mãn lợi ích cá nhân Đạo đức cá nhân một khi đã hình thành
nó lại ảnh hưởng tới đạo đức xã hội, tác động trở lại đạo đức xã hội Xã hội muốn tốt mỗi cá nhân phải tốt Chúng ta không thể hình dung được ở đâu có một xã hội tốt đẹp
mà trong đó lại bao gồm những con người vô lương tâm vô trách nhiệm, thờ ơ với số phận những người khác Tuy nhiên đạo đức xã hội không phải là tổng số đạo đức cá nhân mà nó là những chuẩn mực, những yêu cầu phản ánh những lợi ích chung của xã hội Từ mối quan hệ nêu trên chúng ta phải phải chăm lo xây dựng những chuẩn mực,
lý tưởng đạo đức phù hợp với yêu cầu của mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi một giai cấp, mỗi cộng đồng dân cư để định hướng hành động cá nhân Mặt khác phải tăng cường tuyên truyền, đẩy mạnh giáo dục đạo đức cho cá nhân để từ đó họ tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức xã hội biến thành nhu cầu nội tâm để cá nhân hành động sao cho đáp ứng được yêu cầu xã hội Nhiều cá nhân có đạo đức tốt, đạo đức xã hội sẽ tốt.Việt Nam muốn xây dựng được một xã hội nhân văn, nhân đạo, con người sống yên vui từ trong gia đình tới ngoài xã hội, không lo lắng mỗi khi ra đường, đòi hỏi mỗi gia đình phải quan tâm giáo dục con cái trở thành những con ngoan trò giỏi, biết quan tâm tới người khác, quan tâm tới số phận của người khác, sống có trách nhiệm với cuộc đời Xã hội phải tạo dư luận mạnh mẽ đấu tranh với những kẻ vô lương tâm, vô trách nhiệm với gia đình và xã hội, những kẻ chỉ biết vui sướng trên bất hạnh, trên đau khổ của những người khác, phê phán gay gắt lối sống thác loạn của một bộ phận thanh niên đang làm hủy hoại những truyền thống đạo đức quý báu của dân tộc
1.2 Đối tượng và nhiệm vụ của đạo đức học Mác - Lênin
1.2.1 Đối tượng
1.2.1.1 Những quan niệm trước Mác về đối tượng của đạo đức học
Trong lịch sử phát triển nhân loại, các thời kỳ khác nhau với thế giới quan khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, đứng trên những lợi ích khác nhau, có những quan niệm về đối tượng đạo đức khác nhau
Những nhà triết học duy tâm khách quan từ Platon đến Hêghen nghiên cứu đạo đức với pháp luật, với gia đình, nhà nước và công dân; gắn đạo đức với pháp luật với trật tự thiên định của các tầng lớp xã hội Platon cho rằng, con người ngay từ khi mới sinh ra có linh hồn khác nhau cho nên thuộc các tầng lớp khác nhau Trong xã hội cần
có những loại người khác nhau, làm những công việc khác nhau Những nhà thông thái triết học làm người lãnh đạo Những chiến binh dũng cảm có trách nhiệm bảo vệ đất nước Nông dân thợ thủ công có trách nhiệm sản xuất ra thức ăn vật dùng để nuôi sống
xã hội Nhà nước ra đời để đáp ứng yêu cầu đó Theo quan niệm của Platon cần làm rõ trách nhiệm của mỗi tầng lớp xã hội và mỗi tầng lớp cần hiểu được trách nhiệm của mình để thực hiện Các tầng lớp làm đúng trách nhiệm của mình thì xã hội sẽ ổn định
Đạo đức học của những nhà thần học gắn liền với ý niệm về chúa Theo quan niệm này chúa hiện thân cho cái thiện, cho lẽ phải Điều gì chúa muốn đó là đạo đức
Trang 15Theo quan điểm này, đạo đức cần đi sâu nghiên cứu hiểu được mong muốn, khát vọng của chúa để làm theo
Những nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng mệnh lệnh tuyệt đối, ý chí
tự do của con người là đối tượng nghiên cứu của đạo đức Đạo đức học của Cantơ cố chứng minh sự hòa giải giữa khoa học và tôn giáo, giữa trí thức và tín ngưỡng Khoa học dựa trên tri thức, hiểu biết của con người về những quy luật trong tự nhiên, trong
xã hội Tôn giáo giữa trên niềm tin của con người vào những đấng siêu nhiên Theo Cantơ
“chỉ có lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý và chuẩn mực đạo đức…Mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi mọi người thực hiện không phân biệt lứa tuổi, giới tính tầng lớp xã hội”1
Những nhà duy vật trước C.Mác coi đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là những quan hệ con người với con người trong ứng xử xã hội Nghiên cứu cách ứng xử trong gia đình, trong xã hội, ứng xử giữa cha mẹ và con cái, giữa anh em, bạn bè, vua tôi… Phoiơbắc nghiên cứu tình yêu vĩnh cửu như một tôn giáo Ông đã ca ngợi tình yêu, cho rằng tình yêu giữa con người với con người sẽ xóa bỏ được những bất hạnh, những đau khổ, đưa con người tới hạnh phúc Như vậy theo Phoiơbắc nhiệm vụ của đạo đức học là đi tìm thứ tình yêu vĩnh cửu đó Quan điểm của ông xóa nhòa sự khác biệt giữa các tầng lớp trong xã hội không thấy đạo đức này sinh từ quan hệ kinh tế - xã hội
1.2.1.2 Quan niệm chủ nghĩa Mác – Lênin về đối tượng của đạo đức học
C.Mác và Ph.Ănghen đã làm một cuộc cách mạng về tư duy đức Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử C.Mác và Ph.Ănghen đã tìm ra nguồn gốc đạo đức là xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, gắn với lao động sản xuất và đấu tranh xã hội Đạo đức học Mác -Lênin đã thấy được mối liên hệ giữa đạo đức với các hình thái
ý thức xã hội khác
Trong những tác phẩm: Gia đình thần thánh, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Chống Đuyrinh khi bác bỏ những quan điểm duy tâm coi đạo đức đứng trên và đứng ngoài lịch sử, không gắn với điều kiện kinh tế xã hội C.Mác và Ph.Ănghen đã đặt ra vấn đề, nghiên cứu đạo đức phải gắn với hiện thực đời sống xã hội, với lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội
VI.Lênin đã tiếp thu tư tưởng đạo đức của C.Mác và Ph.Ănghen đã gắn đạo đức với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, phục vụ đấu tranh của giai cấp công nhân và những người lao động Đạo đức học của VI Lênin nghiên cứu đạo đức trong phong tục tập quán, trong dư luận xã hội VI Lênin luôn luôn quan tâm chăm lo phát triển đạo đức cộng sản, nêu lên những chuẩn mực đạo đức như lao động kỷ cương và kỷ luật
Từ từ cách tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, đạo đức học Mác - Lênin khẳng định, đối tượng nghiên cứu của đạo đức học nguồn gốc, quy luật phát triển của đời sống đạo đức, những phạm trù, quy luật, những chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho con người suy nghĩ và hành động
Vận dụng quan điểm trên, có thể nói đối tượng nghiên đạo đức học Mác - Lênin là khoa học nghiên cứu tìm ra bản chất và quy luật hình thành phát triển của đời sống đạo đức xã hội, đặc biệt là đạo đức của giai cấp công nhân, làm rõ cấu trúc, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức học Mác - Lênin đã chỉ ra nguồn gốc của những hiện tượng đạo đức trong xã hội là từ thực tiễn lao động, chiến đấu của quần chúng nhân dân, nảy sinh từ
1 Trần Hậu Kiêm: Tập bài giảng lịch sử đạo đức học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.102
Trang 16điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội mà con người đang sống Các dân tộc khác nhau sống trong những điều kiện khí hậu, thời tiết đất đai khác nhau có những quan niệm đạo đức khác nhau
Đạo đức học Mác - Lênin cho rằng, những chuẩn mực đạo đức, những phong tục tập quán trong xã hội thường xuyên vận động và phát triển, vì điều kiện kinh tế xã hội luôn thay đổi Từ việc nghiên cứu như vậy, đạo đức học Mác - Lênin cũng chỉ ra, muốn thay đổi những quan niệm đạo đức trong xã hội phải thay đổi điều kiện sống của con người
Đạo đức học Mác - Lênin đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác như: chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật…
Nội dung đạo đức, những chuẩn mực đạo đức bị quy định bởi đường lối chính trị, mục đích chính trị xong đến lượt nó lại phục vụ lợi ích chính trị, củng cố và phát triển nền chính trị của một giai cấp nhất định Cán bộ đảng viên tiên phong gương mẫu, cán bộ công chức nhà nước có liêm khiết tạo ra niềm tin cho nhân dân sẽ trở thành sức mạnh to lớn để củng cố nền chính trị một quốc gia
Đạo đức và pháp luật đều nhằm điều chỉnh hành vi của con người Chúng có yêu cầu nhiệm vụ khác nhau, nhưng lại thường xuyên tác động tới nhau Muốn thực hiện tốt pháp luật trước hết phải có đạo đức tốt Con người trước hết phải biết được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với người khác, đối với xã hội, từ đó mới có ý thức tôn trọng kỷ cương pháp luật Ngược lại, pháp luật thực hiện nghiêm minh là điều kiện để củng cố, phát triển đạo đức Việc làm tốt được động viên, việc làm xấu bị trừng phạt thì những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp mới được củng cố và phát triển
Đạo đức học Mác - Lênin đi sâu nghiên cứu đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân Đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Cái chung thì khái quát, sâu sắc, cái riêng là đa dạng và phong phú
Đạo đức học Mác - Lênin cho rằng, thành tố văn hóa có vai trò quan trọng trong điều chỉnh hành vi của con người Để trở thành đạo đức, các hoạt động sống, sáng tạo của con người được kích thích bởi quan hệ vô hình, những quy tắc, những chuẩn mực cho phép, không cho phép; nên làm hay không nên làm Những điều đó trở thành những ràng buộc, quy định hành vi ứng xử của con người trong xã hội Một con người có hiểu biết về quy tắc ứng xử đó, họ sẽ biết phải làm gì trong những điều kiện
Tập quán khi trở thành phong tục thì ứng xử về mặt đạo đức ở mức độ mạnh mẽ hơn Việc vi phạm phong tục sẽ gặp phải sự phản ứng của cộng đồng, vì phong tục là những điều kiện sâu sắc gắn bó với những giá trị tinh thần của xã hội Ví dụ phong tục
ma chay, cưới xin… Nếu ai vi phạm những quy ước chung của cộng đồng sẽ bị mọi người phê phán lên án
Trong mỗi một nền văn hóa có nhiều hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụng đang kết các hoạt động đạo đức của con người Đó là hệ thống các chuẩn mực trong lao động, trong ứng xử giao tiếp, trong tôn giáo… Các chuẩn mực này có tính quy định, tính cấm đoán và tính điều chỉnh Ngoài chuẩn mực đạo đức trong xã hội còn nhiều loại chuẩn mực khác nhau như: chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực thẩm mỹ…
Trang 17Chuẩn mực đạo đức là sự áp dụng cụ thể các giá trị đạo đức vào trong đời sống
xã hội Giá trị đạo đức với tư cách là đối tượng của đạo đức học Mác - Lênin phải thông qua đánh giá mà có Giá trị đạo đức là những tư tưởng đạo đức bao quát được tin tưởng mạnh mẽ chung cho mọi người về cái thiện, cái ác; cái gì là hợp lý, cái gì là phi lý, cái gì là mong muốn, cái gì là không mong muốn
Trong xã hội có nhiều giá trị như giá trị kinh tế, giá trị khoa học, kỹ thuật, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức… trong đó giá trị đạo đức là có tính người nhất, vì nó mong muốn đưa lại những điều tốt đẹp cho con người
Giá trị đạo đức có tính khái quát cao hơn chuẩn mực đạo đức, nó không quy định cách ứng xử trong những trường hợp cụ thể của mỗi cá nhân đối với xã hội, mà
nó định hướng cho con người phải làm gì để những giá trị đó đi vào cuộc sống Trong cuộc sống có những giá trị đạo đức được sự hỗ trợ của một số chuẩn mực đạo đức Ví
dụ giá trị đạo đức của nhân dân Việt Nam là tính cộng đồng được thể hiện trong chuẩn mực đạo đức như đoàn kết và tình yêu thương con người
Các chuẩn mực và giá trị đạo đức là hệ thống các quan hệ khách quan được quy định bởi thực tiễn lịch sử và gắn với lợi ích xã hội, do vậy chúng mang tính lịch sử, tính dân tộc và tính giai cấp Các thời kỳ lịch sử khác nhau thì những giá trị và những chuẩn mực đạo đức có sự khác nhau Các dân tộc khác nhau có giá trị, chuẩn mực đạo đức khác nhau thậm chí đối lập nhau Các giai cấp khác nhau cũng có những giá trị và chuẩn mực đạo đức khác nhau
1.2.2 Nhiệm vụ
Cũng như bất cứ một khoa học nào khác, đạo đức Mác - Lênin có nhiệm vụ nhận thức đối tượng và trên cơ sở nhận thức ấy góp phần biến đổi, cải tạo, đổi mới đối
tượng cho phù hợp với nhu cầu của tiến bộ xã hội
Một là, phân tích và miêu tả đời sống đạo đức trong xã hội
Đạo đức là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, tồn tại trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong gia đình và trong xã hội; trong chính trị, trong kinh tế, trong y tế, giáo dục
và trong nhiều lĩnh vực khác
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, các thời kỳ lịch sử khác nhau, các quan điểm đạo đức khác nhau có sự giải thích khác nhau về đạo đức Cùng giải thích quan hệ giữa con người với con người, đạo đức học tư sản giải thích theo hướng biện hộ cho quan hệ bóc lột, lối sống cá nhân, họ giải thích “mỗi người hãy tự lo cho mình, chúa
lo cho tất cả” hay “người với người theo quan hệ một mất, một còn” Các giai cấp thống trị trong nhiều thời đại khác nhau cho rằng chỉ có người giàu mới có đạo đức, còn người nghèo không có đạo đức Vì vậy trong xã hội người giàu thống trị người nghèo là tất yếu khách quan Như vậy quan hệ giữa con người với con người trong các chế độ áp bức bóc lột được giải thích nhằm bảo vệ cho chế độ áp bức bóc lột đó
Ngược lại với những quan điểm đạo đức của giai cấp bóc lột trước đây, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích một cách khoa học mối quan hệ đạo đức trong xã hội Đạo đức học Mác - Lênin khẳng định đạo đức là sự phản ánh những quan
hệ kinh tế - xã hội Do vậy trong xã hội có giai cấp với những lợi ích khác nhau có những quan niệm đạo đức khác nhau Giai cấp thống trị xây dựng những quan niệm đạo đức nhằm bảo vệ chế độ chính trị đó, ngược lại giai cấp bị trị lại tạo dựng những quan niệm đạo đức nhằm chống lại sự bất công, các bước đó Xã hội được xây dựng trên cơ sở áp bức bóc lột, thì những quan hệ đạo đức trong gia đình cũng được xây dựng trên cơ sở thừa nhận sự bất bình đẳng giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng,
Trang 18trong đó con cái phải tuyệt đối phục tùng cha mẹ, vợ phải tuyệt đối phục tùng chồng
Đó đó là đạo lý trong chế độ phong kiến Ai làm trái sẽ bị lên án Trong chế độ xã hội chủ nghĩa những quan hệ này là bình đẳng dựa trên cơ sở tình thương và trách nhiệm
Đạo đức nảy sinh trong lao động sản xuất, trong đấu tranh xã hội Trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh xã hội, con người không thể hành động một mình
mà cần phải quan hệ với người khác Điều đó nói lên con người có nhu cầu hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, từ đó nảy sinh quan hệ đạo đức, cần người khác giúp đỡ mình Mà muốn người khác giúp đỡ mình thì trước hết mình phải giúp đỡ người khác
Các thời đại khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, do vậy đạo đức, chính trị, văn học nghệ thuật cũng có sự khác nhau Tuy nhiên đạo đức của xã hội sau bao giờ cũng kế thừa những giá trị đạo đức của những xã hội trước đó Trong
xã hội có giai cấp đối kháng, các giai cấp có lợi ích khác nhau, thì cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa những quan niệm đạo đức Nhiệm vụ của đạo đức học Mác - Lênin là phải làm rõ xu hướng biến đổi của những quan niệm đạo đức đó Ví dụ Việt Nam hiện nay đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế, do vậy cũng đang tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, trong đó đạo đức của giai cấp công nhân giữ vai trò thống trị Đạo đức của giai cấp công nhân ngày càng được củng cố và phát triển, đạo đức của những người sản xuất nhỏ ngày càng giảm đi cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đạo đức không tồn tại độc lập, mà tồn tại trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Điều đó được thể hiện trong thái độ lao động, trong ý thức đấu tranh, trong ứng xử giữa con người với con người trong cuộc sống Nhiệm vụ của đạo đức học Mác - Lênin là phải phân định rõ góc độ mà đạo đức học nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ đạo đức với những ngành khoa học khác Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, chịu
sự chi phối của kinh tế, của những ngành khoa học khác, một số lĩnh vực khác, song đạo đức cũng tác động tới các lĩnh vực khác Đạo đức học Mác - Lênin có nhiệm vụ phải làm rõ mối quan hệ này Không thấy được những mối quan hệ đó chúng ta không thể giải thích được nhiều hiện tượng đạo đức trong xã hội
Hai là, đạo đức học Mác - Lênin góp phần vào việc hình thành phát triển đạo đức mới, đạo đức của giai cấp công nhân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Muốn xây dựng Chủ nghĩa xã hội, trước hết cần
có những con người xã hội chủ nghĩa” Con người xã hội chủ nghĩa là người phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân Trong đầu óc mọi người đều có sự đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, hoặc nói theo cách mới là sự đấu tranh giữa tư tưởng cộng sản và tư tưởng cá nhân
Như vậy muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa Con người xã hội chủ nghĩa là những người mang phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân, có lòng yêu nước nồng nàn, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần đấu tranh chống áp bức bất công, là những con người có tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa, có tinh thần yêu thương đồng chí, đồng đội, yêu thương quần chúng nhân dân, sống tình nghĩa trong gia đình, với cộng đồng và bạn bè
Những phẩm chất đạo đức đó chỉ có thể được thông qua quá trình lao động sản xuất, đấu tranh xã hội và trong giao tiếp hàng ngày Để cho mỗi người có thể tiếp nhận những tri thức, hình thành phẩm chất đạo đức cần xây dựng những chuẩn mực đạo đức trong từng lĩnh vực
Đạo đức trong lao động, đòi hỏi người lao động phải lao động có kỷ luật, có kỹ
Trang 19thuật, có năng suất cao, lao động khẩn trương, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, có tinh thần hợp tác trong lao động Đây là những phẩm chất đạo đức chung Những chuẩn mực chung đó lại phải cụ thể hóa thành những chuẩn mực phù hợp với từng ngành nghề, từng công việc Phạm trù trung tâm trong đạo đức lao động
là nghĩa vụ xã hội Mỗi người trong xã hội vừa với tư cách là chủ thể lao động, sản xuất, vừa với tư cách là người tiêu dùng Khi là người lao động sản xuất tạo ra những sản phẩm có chất lượng, thì khi là người tiêu dùng mới được hưởng những sản phẩm
có chất lượng Cần phải xây dựng lương tâm, trách nhiệm cho người lao động, Việt Nam mới có điều kiện mở rộng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mới giành thắng lợi trong cạnh tranh quốc tế
Đạo đức học giao tiếp hướng tới các chuẩn mực về sự tôn trọng các giá trị đạo đức và sự ứng xử tôn trọng lẫn nhau giữa con người và con người trong cuộc sống Trong ứng xử phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh: “đối với mình phải nghiêm khắc, đối với người phải khoan dung” Điều đó có nghĩa đối với mỗi người luôn phải nghiêm khắc với chính mình, phải thường xuyên học tập phấn phấn đấu vươn lên, luôn tự phê bình, kịp thời rút ra những ưu khuyết điểm, để phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế thiếu sót Đối với người khác phải tôn trọng, phải đối xử bình đẳng, phải kính trọng người già, yêu thương trẻ nhỏ, thân thiện với đồng chí, đồng nghiệp Phải luôn luôn tôn trọng người khác thể hiện trong lời nói và hành động Phạm trù trung tâm của đạo đức học giao tiếp là công bằng
Đạo đức học giáo dục tập trung xây dựng các nguyên tắc đạo đức theo mục tiêu
và chuẩn mực xã hội chủ nghĩa và lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa
Học sinh, sinh viên các cấp học khác nhau có lứa tuổi, có trình độ khác nhau, tâm lý khác nhau Vì vậy việc giáo dục đạo đức phải có nội dung, chương trình phù hợp Cần phải làm rõ chương trình tiểu học, trung học, Đại học giáo dục cái gì? Việc biên soạn nội dung giảng dạy đạo đức phải phù hợp với từng lứa tuổi Cần phải tìm ra phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất, tránh những điều sáo rỗng
Đạo đức học giáo dục cần kết hợp với 3 quá trình giáo dục: giáo dục, tự giáo dục, giáo dục lại Cần phải đẩy mạnh hoạt động giáo dục đạo đức từ trong gia đình tới nhà trường và ngoài xã hội Ba môi trường này có vai trò vị trí khác nhau, nhưng có quan hệ gắn bó với nhau Mỗi môi trường cần tìm ra những hình thức giáo dục sao cho
có hiệu quả, ba môi trường giáo dục này phải có sự đồng tâm nhất trí phối hợp hành động, tránh tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược
Tự giáo dục có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức Để thực hiện tượng giáo dục tốt cần đưa con người tham gia quá trình học tập, lao động và đấu tranh xã hội, có nghĩa là phải tạo ra môi trường xã hội để con người phấn đấu rèn luyện Chỉ trong môi trường xã hội, trong quan hệ với những người khác mỗi con người mới tự nhận thức được chính mình, hiểu được khả năng của mình trong quan hệ so sánh với những người khác Chỉ qua khó khăn, thử thách, qua thực tế cuộc sống con người mới
có hiểu biết những giá trị cuộc sống và tự nhận thức được mình, từ đó mà rèn luyện phấn đấu
Giáo dục lại là một yêu cầu khách quan, vì cuộc sống luôn luôn vận động và biến đổi Nhất là trong thời đại khoa học công nghệ hiện nay Tri thức ngày một đổi mới, có những vấn đề hôm nay là đúng, là phù hợp, nhưng cuộc sống thay đổi đến mức ngày mai chưa chắc còn đúng và phù hợp Hơn nữa những yếu tố bên ngoài luôn luôn tác động tới mỗi người do vậy, nếu không tự nhận thức, không giáo dục lại, kiến thức của chúng ta có thể lạc hậu so với cuộc sống
Trang 20Trong việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho mọi người dân, hiệu quả của nó phụ thuộc rất lớn vào sự nêu gương của người lãnh đạo trong quản lý, của người thầy, người cô, của các bậc phụ huynh
Hiện nay Việt Nam cần gắn giáo dục đạo đức với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cần làm rõ những tác động tiêu cực và tích cực của cơ chế thị trường đến đạo đức xã hội để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của nó
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn xác lập mối quan
hệ đạo đức mà ở đó cá nhân phải có trách nhiệm xã hội, con người phải trung thực, phải tuân thủ những quy luật kinh tế thị trường, làm ăn trung thực Đạo Đức học ở Việt Nam hiện nay phải xác lập cho được những chuẩn mực đạo đức phù hợp với nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong xu hướng không ngừng mở rộng quan
hệ quốc tế, vừa kế thừa giá trị của đạo đức dân tộc, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa đạo đức của các dân tộc khác
Ba là, đạo đức học Mác - Lênin có nhiệm vụ đấu tranh chống lại những quan niệm đạo đức không phù hợp
Trong xã hội Việt Nam thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đang tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau Đã tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau đương nhiên tồn tại nhiều quan niệm đạo đức, bao gồm đạo đức của giai cấp công nhân với những yêu cầu chuẩn mực như: yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa; lao động cần cù, có năng suất cao, chất lượng tốt; có ý thức kỷ luật; có tinh thần đoàn kết Bên cạnh đó trong xã hội Việt Nam hiện nay đang tồn tại những quan niệm đạo đức của những người sản xuất nhỏ với lối sống “trọng tình hơn trọng lý”, lối sống khép kín, lối sống tự ti, ghen ghét đố kỵ… Những điều đó đang ảnh hưởng tới lao động sản xuất, tới xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam hiện nay, cần phải đấu tranh khắc phục
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bên cạnh những mặt tích cực, trong xã hội cũng đang nảy sinh nhiều tiêu cực cần phải đấu tranh loại bỏ như lối sống thực dụng, ca ngợi đồng tiền quá mức, coi thường luân thường đạo lý, vì lợi nhuận người ta sẵn sàng làm hàng giả hàng nhái
Nhiệm vụ đạo đức học là phải phân tích làm rõ những cơ sở kinh tế - xã hội, tâm lý này sinh những quan điểm trên, trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp khắc phục, làm cho đạo đức của giai cấp công nhân ngày càng lan rộng và phát huy mạnh
mẽ trong xã hội Muốn khắc phục những quan niệm đạo đức không đúng, cần tạo ra những điều kiện kinh tế xã hội để xóa bỏ những quan niệm sai lầm đó là phải từng bước xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác cần phải định hướng dư luận đấu tranh phê phán những quan niệm sai lầm đó
1.3 Phương pháp nghiên cứu của đạo đức học Mác - Lênin
Mỗi ngành khoa học có phương pháp nghiên cứu riêng của nó Tuy nhiên phương pháp nghiên cứu và phương pháp luận nghiên cứu lại gắn với thế giới quan khác nhau
Phương pháp tiếp cận với đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin là một giai đoạn trong sự phát triển của đạo đức học Phương pháp tiếp cận đạo đức của chủ nghĩa Mác
- Lênin của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem đạo đức như một hiện tượng xã hội, là một hình thái ý thức xã hội, do điều kiện kinh tế - xã hội qui định và có mối quan hệ với các hình thái ý thức xã hội khác, luôn luôn vận động và biến đổi, có tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp Trong phương pháp tiếp cận
Trang 21đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin có các nguyên tắc, các quan điểm cho phép nghiên cứu đạo đức một cách khoa học, đúng đắn, làm rõ được bản chất, những tác động đến đời sống đạo đức trong xã hội, cho phép giải thích một cách đúng đắn những hiện tượng đạo đức trong xã hội
1.3.1 Một số nguyên tắc phương pháp nghiên cứu của đạo đức học Mác - Lênin
1.3.1.1 Nguyên tắc phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa cái phổ biến cái đặc thù và cái đơn nhất
Đối tượng nghiên cứu của đạo đức học Mác – Lênin là các chuẩn mực, các giá trị, các thang giá trị, các quan hệ đạo đức Các giai đoạn lịch sử khác nhau, các dân tộc khác nhau có những quan niệm đạo đức, các chuẩn mực đạo đức, các thang giá trị đạo đức khác nhau
Tuy các thời kỳ lịch sử khác nhau, các dân tộc khác nhau, nhưng nhìn chung con người đều ưa cái thiện, ghét cái ác Mỗi dân tộc, mỗi giai cấp trong các thời kỳ lịch sử khác nhau lại có những quan niệm đạo đức khác nhau
Trong một dân tộc lại có những chuẩn mực chung Ví dụ những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam là đoàn kết, yêu nước, cần cù… Song mỗi thời kỳ lịch sử quan niệm yêu nước lại có những nét riêng Trong mỗi một dân tộc lại có nhiều giai cấp Các giai cấp có lợi ích riêng, do vậy có những biểu hiện khác nhau trong các chuẩn mực đạo đức Cùng một chuẩn mức đạo đức nhưng các ngành nghề, công việc khác nhau cũng có sự khác nhau Ví dụ, cùng là lòng yêu nước nhưng biểu hiện giữa người chiến sĩ công an và bác sĩ là khác nhau Do vậy khi nghiên cứu đạo đức cần quán triệt nguyên tắc về mối quan hệ biện chứng giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất Có nghiên cứu như vậy mới tránh được giáo điều mày móc, mới hiểu được bản chất của các hiện tượng đạo đức, đồng thời thấy được tính đa dạng phong phú của những biểu hiện đạo đức ở trong xã hội
pháp diễn dịch và phương pháp qui nạp
Phương pháp diễn dịch là đi từ các khái niệm, phạm trù đạo đức học, trong quá tình nghiên cứu đòi hỏi phải thấy được sự biểu hiện đa dạng của nó trong cuộc sống, trong lao động sản xuất, trong đấu tranh xã hội, tránh giáo điều mày móc
Trong một xã hội có nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp xã hội khác nhau Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau, do vậy những biểu hiện trong những phạm trù đạo đức trong các ngành nghề có sự khác nhau Mỗi con người có những tính cách khác nhau, do vậy biểu hiện đạo đức có sự khác nhau Từ tính đa dạng trong những quan niệm đạo đức như vậy, đòi hỏi đạo đức học phải khái quát thành những khái niệm, phạm trù, qui luật đạo đức và rút ra bản chất của những hiện tượng đạo đức trong xã hội
Đạo đức là một phạm trù lịch sử, nó phát sinh, tồn tại và phát triển trong một giai đoạn lịch sử nhất định Do đó quan niệm về đạo đức trong lịch sử phải được xem như nấc thang có giá trị nhất định của xã hội loài người Nó luôn luôn bị phủ định, lọc
bỏ, kế thừa, phát triển không ngừng với sự tiến bộ xã hội nói chung Mỗi hiện tượng đạo đức hiện thực đều có cội nguồn từ cơ sở quá khứ, truyền thống lịch sử; đông thời đạo đức hiện tại là để phát triển trong tương lai như là quá trình phủ định biện chứng
Vì thế phương pháp lích sử, so sánh giúp ta thấy được cái logic bản chất hiện tượng đạo đức trong tiến trình lịch sử xã hội
Như vậy, phương pháp diễn dịch và qui nạp cho phép chúng ta nghiên cứu các hiện tượng đạo đức từ cái “trừu tượng đến cụ thể và ngược lại” Tính khái quát của
Trang 22những khái niệm, phạm trù đạo đức học phải dựa vào thực tiễn cuộc sống, phải xuất phát từ quá trình lao động, chiến đấu và giao tiếp hàng ngày của quần chúng nhân dân Khi xem xét các phạm trù, khái niệm, qui luật của đạo đức phải đặt trong hoàn cảnh cụ thể, gắn với từng thời kỳ lịch sử, từng dân tộc, từng ngành nghề, từng biểu hiện cụ thể
1.3.1.3 Nguyên tắc phương pháp luận về mối quan hệ giữa cái lịch sử và cái logic
Phương pháp lịch sử là khi nghiên cứu các quan hệ đạo đức, các chuẩn mực đạo đức phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội do tồn tại xã hội qui định Các thời kỳ lịch sử khác nhau có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, do vậy những quan niệm về thiện ác cũng khác nhau thậm chí đối lập nhau Vì vậy chỉ trên cơ sở nghiên cứu một cách cụ thể những điều kiện tự nhiên, khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của các dân tộc các quốc gia mới có thể giải thích đúng đắn những phong tục, tập quán, những chuẩn mực đạo đức được hình thành ở các dân tộc, các quốc gia
Các quan hệ đạo đức có logic nội tại của nó Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một mặt chịu sự qui định của tồn tại xã hội, mặt khác tác động trở lại tồn tại xã hội; đồng thời đạo đức cũng có quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác Để nghiên cứu các hiện tượng đạo đức, các quan hệ đạo đức một cách đúng đắn, cần phải có sự kết hợp giữa phương pháp logic và phương pháp lich sử Từ quan hệ đạo đức, từ những sự kiện, hiện tượng đạo đức cần phải khái quát thành các qui luật, các phạm trù đạo đức Việc khái quát các phạm trù, qui luật, các chuẩn mực đạo đức cần phải dựa trên cơ sở các hiện tượng đạo đức trong lịch sử, tránh tư biện rút ra từ đầu óc con người, xa rời thực tiễn cuộc sống
1.3.1.4 Nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn
Lý luận là sự khái quát thực tiễn khác quan, nên sâu sắc phản ánh bản chất của những hiện tượng đạo đức trong xã hội
Gắn lý luận với thực tiễn đòi hỏi phải gắn những phạm trù, qui luật, chuẩn mực đạo đức với thực tiễn lao động sản xuất, thực tiễn đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, chóng lại áp bức bóc lột của quần chúng nhân dân Cùng một phạm trù đạo đức, cùng một chuẩn mực đạo đức nhưng sự biểu hiện của chúng trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau có sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau
Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn giúp chúng ta tránh được bệnh giáo điều máy móc Vận dụng quan điểm này, khi xem xét các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam cần gắn với thực tiễn đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt và chống lại giặc ngoại xâm của dân tộc
Để nghiên cứu đạo đức một cách đúng đắn, khoa học bên cạnh các phương pháp nêu trên, chúng ta cần có quan điểm toàn diện, hệ thống, quan điểm phát triển Nghiên cứu một hiện tượng đạo đức trong xã hội phải xét tới tất cả các yếu tố từ kinh
tế tới chính trị, văn hóa, thực thi pháp luật… xét cả các yếu tố chủ quan, khách quan, yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Có như vậy mới giải thích và đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong xã hội bên cạnh đó việc nghiên cứu đạo đức không chỉ thấy cái hiện tượng mà phải nhìn nhận xu hướng vận động và phát triển của nó trong tương lai Ví dụ, hiện nay đạo đức xã hội ở Việt Nam bên cạnh những tiến bộ đạo đức như tính năng động, quyết đoán, bình đẳng hơn trước đây, thì vẫn còn nhiều lĩnh vực đạo đức bị xuống cấp như lối sống thực dụng, lối sống ích kỷ, sự bàng quan… có xu hướng phát triển trong một bộ phận dân cư Nhưng chúng ta tin tưởng rằng, cùng với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, quá tình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì những tiêu cực dần dần được khắc phục
Trang 231.3.2 Các phương pháp nghiên cứu đạo đức học
Đạo đức học có mối quan hệ khăng khít với nhiều khoa học khác như: Xã hội học, Dân tộc học, Tâm lý học…cho nên nghiên cứu đạo đức học cần vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học để nghiên cứu đạo đức Vì vậy nghiên cứu đạo đức học cần sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đó là những phương pháp sưu tầm, đọc, phân tích tài liệu của các khoa học có liên quan để tổng hợp, khái quát những nét chung và nét đặc thù về hình thái đạo đức trong các giai đoạn khác nhau (từ quá khứ đến hiện tại và tương lai) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận cung cấp cho đạo đức học số liệu, sự kiện phong phú, đa dạng về những giá trị đạo đức ẩn chứa trong những khoa học khác Bởi vì quan hệ đạo đức không biểu hiện như một quan hệ riêng
lẻ thuần túy mà nó tiềm ẩn trong các quan hệ xã hội như: quan hệ kinh tế, quan hệ dân tộc, quan hệ pháp luật, quan hệ gia đình…
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đời sống đạo đức, giá trị đạo đức được con người sáng tạo ra không chỉ tồn tại trong ý thức, tư tưởng, mà cuối cùng phải được hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn của con người ở những giới hạn, thời gian, không gian cụ thể Do đó, đạo đức học nhất thiết phải vận dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn, nghĩa là tìm cách tiếp cận với đối tượng, tiếp cận với thực tế đang thường xuyên vận động, biến đổi không ngừng để phát hiện ra bản chất, tính chất đặc thù, tính qui luật trong quá trình phát sinh, phát triển của đạo đức Và cũng thông qua thực tiễn để kiểm định tính đúng đắn, tính khoa học của các giá trị đạo đức phổ biến trong điều kiện, lịch sử xã hội khác nhau
1.4 Các giai đoạn phát triển của đạo đức học
1.4.1 Đạo đức học thời kỳ Hy Lạp cổ đại
Thời kỳ cổ đại là cái nôi của toàn bộ văn hóa châu Âu sau này Chính ở đây đã sinh ra một loạt quan điểm triết học, đạo đức học, chính trị học, luật học, mà sau đó sẽ còn trải qua con đường lịch sử lâu dài Thời cổ đại như hiện tượng văn hóa đặc thù xuất hiện trên cơ sở các nhà nước - thị thành Hy Lạp cổ đại có cơ sở xã hội là chế độ chiếm hữu nô lệ Đạo đức học cổ đại xuất hiện như là ranh giới của phương thức lĩnh hội thế giới về tinh thần mới xuất hiện trong thời cổ đại là triết học Triết học ở đây chỉ vừa mới thoát thai từ lòng sâu của các quan niệm thần thoại, định hình những khái niệm chung đầu tiên, giải phóng tư duy khỏi sự hoang đường vốn đặc trưng cho thần thoại - sự hoà quyện bất phân các hình tượng hư ảo, các truyền thuyết, biểu trưng nghệ thuật Các nhà triết học đầu tiên: Talét, Anaximen, Anaximan quan tâm trước hết đến những vấn đề về thế giới, cơ sở đầu tiên của nó Đó là các nhà triết học tự nhiên mong muốn biết được cơ sở nền tảng của các sự vật, lúc này họ còn chưa quan tâm đến con người như vốn có
*Đặc điểm của đạo đức học Hy Lạp cổ đại
Thứ nhất, sự đối kháng đạo đức trong xã hội giữa giai cấp chiếm hữu nô lệ và
người nô lệ Chủ nô có đặc quyền đặc lợi và họ đã sử dụng người lao động như một công cụ Họ cho rằng người nô lệ là hạng người thấp hèn, không có phẩm hạnh Đó chính là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh đối kháng giai cấp giữa chủ nô và
nô lệ, người giàu và người nghèo, người có đức hạnh là người vô lương tâm Từ đó dẫn đến hình thành những quy tắc đạo đức thích hợp với từng tầng lớp người trong xã hội, tất nhiên quy tắc đạo đức đó khó phù hợp với ý muốn của giai cấp thống trị là chủ
nô
Trang 24Sự mâu thuẫn của hai hình thái đạo đức nêu trên thể hiện sự đối kháng trong một quá trình phát triển văn hóa nhân loại Nếu trong xã hội công xã nguyên thủy, ý thức và hành vi đạo đức của con người thể hiện một cách tự nhiên trong quan hệ giữa con người với con người, thì trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quy trình độ tư duy nhận thức đã phát triển cao hơn, nhưng sự đối lập trong quan hệ người người, giữa chủ nợ
và nô lệ, trên và dưới, giàu và nghèo, mệnh lệnh và phục tùng ngày càng rõ rệt Sự hình thành hai hệ thống đạo đức khác nhau, hai quan niệm, hai lý tưởng đạo đức đối lập nhau
Thứ hai, nội dung phẩm hạnh trong đạo đức của tầng lớp chủ nô Họ quan
niệm rằng: chế độ nô lệ là vĩnh cửu, đó là luận điểm nhằm duy trì sự áp bức bóc lột ngày càng khốc liệt hơn của chủ nô đối với người nô lệ
Đạo đức của giai cấp thống trị lúc bấy giờ là thứ đạo đức phản tiến bộ, phản ánh những thói hư tật xấu như: lòng tham, thèm khát tiền bạc, cuộc sống xa hoa trụy lạc, lừa đảo, hiếu danh, độc ác Nhiều nhà thơ nhà văn lúc bấy giờ đã lên án những thói hư tật xấu ấy
Như vậy, đạo đức cổ đại đã đưa đến những quan niệm nhân đạo về sứ mệnh của con người và về ý nghĩa cuộc sống của nó Mặc dù trong thời đại đó vẫn còn sự tách biệt giữa các nguyên tắc có tính tuyên ngôn với những phẩm hạnh nhưng việc đưa
ra yêu cầu bình đẳng trước nguyên tắc đạo đức và sự khẳng định phẩm giá của mỗi cá nhân đã chứng tỏ bước tiến lớn lao trong sự phát triển của tư tưởng đạo đức thời kỳ này
*Nội dung cơ bản
Đạo đức học Hy Lạp cổ đại đã chú ý đến vận mệnh của con người như một học thuyết Người có phẩm hạnh là người biết phân biệt những hành vi trong các mối quan
hệ xã hội và các tiêu chuẩn của nó như cái thật và cái giả, cái đúng và cái sai, cái thiện
và cái ác Vấn đề phẩm hạnh trong xã hội Hy Lạp cổ đại được hiểu như một thuộc tính đặc biệt thể hiện sự vươn tới hoàn thiện của tính cách con người Nó đòi hỏi mỗi
cá nhân cần có những hành vi tốt đẹp trong quan hệ giao tiếp giữa người với người
Có thể thấy các nhà tư tưởng đã khái quát bốn phẩm hạnh cơ bản của thời kỳ này đó là: sự điều độ trong đời sống, lòng dũng cảm, có trí thông minh và có sự công tâm Tuy nhiên, về nội dung, bốn phẩm hạnh trên có mang tính giai cấp nhằm bảo vệ giai cấp thống trị
Thứ hai, quan điểm đạo đức học Hy Lạp cổ đại còn được phát triển trên cơ sở
tổ chức đời sống chính trị xã hội Họ cho rằng cá nhân chỉ có thể phát triển các năng lực của mình và đạt đến sự hoàn thiện đạo đức khi người đó với tư cách là một công dân, một thành viên của xã hội Nhưng trong thực tế xã hội chiếm hữu nô lệ, cấu trúc quốc gia hết sức xa lạ với các cá nhân của nó Các cá nhân, trong đó có các công dân
tự do đã mất hết khả năng tự tổ chức cuộc sống riêng của mình một cách tự giác và tự chủ
*Quan điểm của một số nhà đạo đức học tiêu biểu
Xocrat (469 - 399 TCN), là nhà triết học đạo đức đầu tiên trong lịch sử châu
Âu đặt nền móng cho đường hướng khai sáng - duy lý trong đạo đức học muộn hơn sau này
Xocrat xuất phát từ việc coi phúc lợi (điều tốt) là thoả mãn, hài lòng, còn cái ác
là khổ đau Mỗi người đều hướng đến tiện lợi và hạnh phúc, cố trránh tất cả những cái xấu đối với mình Tuy nhiên, người ta thường mắc sai lầm và thay vì có sự hài lòng mong đợi và niềm vui thì lại thu được toàn những điều khó chịu Để không nhầm lẫn,
Trang 25thì cần phải biết rất rõ thế nào là hài lòng thực sự Chỉ có tri thức về những con đường
đáng tin cậy dẫn đến hạnh phúc mới giúp không bị chệch hướng Như vậy, đường đến hạnh phúc (thường đồng nhất với cái thiện, cái đức) là tri thức Tri thức về đường dẫn đến đức cũng chính là đức Hơn thế tri thức đó cần phải được chính con người thâu nhận trong tiến trình kiếm tìm căng thẳng, chứ không nên coi là chuẩn giản đơn được vay mượn tuỳ tiện từ truyền thống Ai tự đi đến tri thức, sẽ thừa sức đối lại những ý kiến giả dối của những người khác, thậm chí ngay cả khi họ rất nhiều và rất có thế lực Như vậy, một mặt, Xocrat kiên quyết bảo vệ tính độc lập của cá nhân trước dư luận và tập tục xã hội, mặt khác, lại mở đường cho các tư tưởng vô chính phủ trong đạo đức học bất chấp các quy định xã hội
Nhìn ra bốn phía, Xocrat thấy quanh ông đạo đức quá tồi tệ: người ta ganh đua giành quyền lực, vinh quang, khát khao thoả mãn những ham muốn thô bỉ Xocrat cho rằng, tất cả những cái đó chứng tỏ, đồng bào của ông không hiểu, thế nào là tốt thực
sự, thế nào đức Nhưng thông thái và đạo đức thực chất là thống nhất với nhau, và vì thế Ông có lời kêu gọi quan trọng cho con người: “Hãy tự biết mình!” Người ta không
đủ sức nhận thức tự nhiên, đó là việc của Chúa, nhưng họ tiếp cận được tri thức khác, quan trọng hơn - tri thức về cái tốt riêng của mình Cần phải hướng đến nó Xocrat cho rằng, ông cầu khẩn giúp đồng bào mình cái quý giá nhất đối với họ Phương pháp tìm kiếm cái tốt chân chính bằng đối thoại của ông cần phải thúc đẩy việc chỉnh sửa ý thức đạo đức
Xocrat nêu ra luận điểm nghịch lý rằng, người cố ý tạo ra cái ác (nếu việc đó là
có thể) còn tốt hơn kẻ thực hiện cái ác vì dốt nát Kẻ vô thức sa ngã vào cái ác, không phân biệt được nó với cái thiện và do vậy, không thể trở thành người có đức Còn kẻ
cố tình chọn lựa cái ác, thì ít ra cũng biết thế nào là thiện, và vì thế có khả năng đi con đường chính nghĩa Nhưng vấn đề chính là ở đó, theo Xocrat, con người không tự hại mình, vì thế mà không thể có cái ác định trước
Xocrat hoàn toàn tin tưởng rằng, đức, mà rất cần phải nhận thức, mang tính có ý nghĩa chung khách quan Vì thế cả cuộc đời ông đi tìm khái niệm dũng cảm, công bằng Vì việc đó Xocrat phủ nhận quan niệm về đức vốn có ở những người đối thoại với ông, và giúp họ định hình cái nhìn mới mà rồi sẽ lại phải chịu sự kiểm tra phê phán Tất cả các đối thoại của Xocrat đều đưa những người trò chuyện đến chỗ, không
ai lĩnh hội được chân lý đạo đức và nó cần phải được tìm tòi không mệt mỏi: “Tôi thừa biết là tôi không biết gì” Khi cố hiểu chân lý đạo đức tối cao, Xocrat cho rằng, linh hồn quan trọng hơn thể xác Ông cố gắng làm cho những người đối thoại và bạn bè của mình trở thành những kẻ thực sự đạo đức và hy vọng đạt tới điều đó, làm thay đổi phương thức tư duy của họ
Arixtốt (384 – 322 TCN) sinh ra ở Xtaghir, là người hệ thống hoá đạo đức học
cổ đại Đó là tác giả viết hàng loạt tác phẩm để đời, ông thực sự có bộ óc bách khoa thư Chính thuật ngữ “đạo đức học” cũng được Arixtốt đưa vào Ông là người phân loại các khái niệm đạo đức, xác định ranh giới của chúng, phân định các khía cạnh lý luận và thực tiễn của đạo đức học, định hình những vấn đề chính của nó “Đạo đức học Nikoma”, “Đạo đức học Edemôv” “Đạo đức học lớn” đều là các công trình của ông
Arixtốt cho rằng, đạo đức học là khoa học ứng dụng thực tiễn, là một biến thể của chính trị Nếu khoa học cho ta biết, các vật là gì, thì đạo đức học dạy ta phải ứng
xử với chúng thế nào Đối tượng mà nó tìm kiếm là cái thiện như mục đích tối cao của con người, vì thế chức năng quan trọng nhất của nó là khu biệt cái thiện và cái ác Khoa học dựa trên lý tính, còn đạo đức thì vừa trên phần lý tính, vừa trên phần không phải lý tính của tâm hồn, đạo đức học, như là môn khoa học thực tiễn, cần phải tính
Trang 26đến điều đó, phải thấy rằng, cơ sở lý tính trong hành vi con người thường bị quấy rầy
bởi cơ sở xúc cảm (pathos) biểu hiện trong đạo đức
Khi xét đạo đức như là bộ môn thực tiễn, Arixtốt khẳng định nó như là đạo đức học cho các công dân tự do của thành bang Ông cho chế độ nô lệ là dĩ nhiên, là tất yếu
và có thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, bởi, theo ý ông, một số người đã được phân định từ trước trở thành nô lệ, và thậm chí cấu tạo cơ thể của họ cũng tạo điều kiện cho việc này, còn số khác lại được định phận thống trị - họ không được sinh ra để lao động chân tay, nhưng lại thích hợp cho đời sống chính trị
Đạo đức học Arixtốt coi việc đạt tới thiện là mục đích tối cao, nhưng ông hiểu
từ đó như thế nào Đối với Arixtốt thiện không phải là trạng thái thụ động, mà là hoạt động, hoạt động có lý trí của tinh thần, là ý hướng thực tiễn của tâm hồn Chúng ta trở thành chính nghĩa, khi làm những việc công bằng Vì thế đạo đức học có sứ mệnh dạy bảo không phải tri thức tự thân, mà hành vi đúng đắn, hành động tốt Thiện vốn có ở con người, chứ không chỉ ở tính cách của họ
Khi dạy hành vi đạo đức, đạo đức học, tuy nhiên lại “làm việc” ở trình độ trừu tượng rất cao và không thể làm chỉ dẫn đơn nghĩa cho mọi trường hợp cá biệt Các kết luận đạo đức học là công cụ định hướng chỉ ra mục đích cuối cùng của hành động và những xu hướng chủ đạo của hành vi đạo đức
Arixtốt cho rằng đức không phải là tính bẩm sinh, mà là phẩm chất có được nhờ giáo dục trên cơ sở những tiền đề tự nhiên Các đức tính xuất hiện ở con người trên cơ
sở tồn tại tự nhiên của các xúc cảm (giận dữ, sợ hãi, sung sướng ) mà vốn dĩ tự thân thì không tốt cũng không xấu Các xúc cảm đầy mâu thuẫn, và sự hiện tồn, chẳng hạn như của sợ hãi đòi hỏi phải có ngay dũng cảm Các đức tính nảy sinh khi ta tiến hành đánh giá các cảm xúc, mà điều đó lại phụ thuộc vào trật tự tâm hồn ta Theo Arixtốt, giáo dục là làm cân bằng những xúc cảm mạnh nhất, là đấu tranh với những thái cực Chẳng hạn, nếu do bản tính mà ta thường có xu hướng tự hài lòng với bản thân, thì tính có đức sẽ là phải làm sao để có thói quen trung dung Không chỉ trẻ em, mà cả người lớn - những người hoàn thiện về đạo đức nhờ các đạo luật công bằng và hợp lẽ, cũng cần được giáo dục
Cần thấy rằng, đạo đức học Arixtốt hoàn toàn là trần thế, nó không dựa vào cái thiện ngoài giới hạn tồn tại kinh nghiệm, nó cũng xa lạ với thế giới các ý niệm kiểu Platôn, do đó nó hướng con người đi tìm kiếm ý nghĩa và phúc lộc tại đây, ở cuộc sống thế gian này
Từ đó, Arixtốt viết, để có hạnh phúc cần không chỉ đầy đủ đức tính, mà còn phải đầy đủ tràn đầy cuộc sống Những thứ kiểu như xuất thân thuận lợi, giàu có, danh
dự xã hội, sắc đẹp, nhiều bạn, đều thúc đẩy người ta thực hiện những hành vi tốt Trong khi đó những đòn số phận nghiệt ngã có thể trở thành trở ngại khó vượt qua trên đường đến hạnh phúc
Đạo đức học Arixtốt thấm nhuần sấu sắc tinh thần duy lý Arixtốt cho rằng, chỉ những người phù hợp với lý tính hành động một cách có lý trí, mới có thể đạt tới phúc lợi Đối với ông đức tính là khả năng trong tất cả những gì liên quan đến khoái lạc và khổ đau, hành động một cách tốt nhất, còn tính xấu là mặt đối lập của nó Đồng thời nhà triết học vĩ đại cũng rất ý thức được rằng, con người không chỉ có lý trí Ông chia các đức tính thành siêu đạo đức - mang chất lý trí - và đạo đức - ý chí (hay như ngày nay ta vẫn thường nói là ý chí - cảm xúc) Hành động đạo đức chân chính xuất hiện khi
lý trí được định hướng đúng đắn đồng thuận với sự vận động của các tình cảm, còn tình cảm, đến lượt mình, với lý trí Nhưng chính tính có hướng của sự vận động tình cảm (phần linh hồn phi lý trí) là cơ sở của đức tính Nếu mà nguồn gốc các hành vi là
Trang 27lý tính, thì tình cảm không phải lúc nào cũng tự nguyện tuân theo nó Tình huống tối
ưu nhất hình thành khi xung lực lan toả ngay từ cả hai phía, khi các đức tính vượt đạo đức và đạo đức biểu hiện trong sự thống nhất với nhau
Học thuyết Arixtốt về “trung điểm vàng” là phần quan điểm đạo đức thú vị và còn gây tranh cãi nhất Theo ông, thừa thãi và thiếu thốn - đều là khiếm khuyết, trong khi đức tính là “trung điểm vàng” giữa các phẩm chất Arixtốt cho rằng, có thể sai lầm theo nhiều cách khác nhau, nhưng hành động đúng chỉ có một, vì thế trung điểm là sự hoàn thiện Vả lại, sẽ là không đúng khi cho rằng, Arixtốt thấy “trung điểm vàng” theo kiểu “trung bình cộng” đơn giản Ông cho rằng, nó luôn ở gần một trong các cực hơn
Ví dụ: lòng dũng cảm là đạo đức; thừa thãi lòng dũng cảm - quả cảm quá thì đã không còn là đạo đức; còn hèn nhát - sự thiếu thốn lòng dũng cảm - là khiếm khuyết rất rõ Nhưng, dĩ nhiên, dũng cảm gần với quả cảm hơn là với hèn nhát Hoặc tính ôn hoà trong các khoái cảm - là đạo đức; không kiềm chế - sự thừa thãi trong khoái cảm là khiếm khuyết; còn ý hướng thiếu đối với khoái cảm thì lại là vô cảm - thì cũng đã thoát khỏi giới hạn của đạo đức Nhưng ôn hoà và vô cảm gần nhau hơn là ôn hoà và tính thiếu kiềm chế Vị trí thứ nhất trong số các đức tính theo Arixtốt là do tính công bằng chiếm giữ Ông phân biệt tính công bằng phân chia được biểu hiện trong chính trị, với công bằng cân đối vốn có trong kinh tế Công bằng phân chia khiến người ta chia phúc lợi phù hợp với cống hiến của từng người, vì thế nó chia cho một số người phần nhiều, số khác phần ít hơn Công bằng cân đối chủ yếu biểu hiện trong các quan
hệ trao đổi giữa con người trên cơ sở bình đẳng
Lần đầu tiên trong lịch sử đạo đức học Arixtốt biến vấn đề tính tự nguyện của các hành động đạo đức và về tự do lựa chọn thành đối tượng nghiên cứu Ông phân biệt các hành động tự nguyện và không tự nguyện Theo ông, chỉ có những hành động
tự nguyện mới đáng được ngợi khen hay khuyến khích, còn hành động diễn ra không phải do tự nguyện thì cần phải được cảm thông hoặc tha thứ Hành động tự nguyện cần phải là hành động tự do - có ý định từ trước Arixtốt phân biệt chủ định với mong muốn Có thể mong muốn điều gì cũng được, kể cả bất tử, nhưng ta không đủ sức đạt được điều đó Chủ định chỉ hướng đến điều mà ta có thể thực đạt tới, nó liên quan đến phương tiện, trong khi đó mong muốn là hướng đến mục đích Dấu hiệu quan trọng nhất của chủ định là sự cân nhắc trước các động cơ và sự lựa chọn tự giác Như vậy, chủ định, mà chỉ có thể đánh giá một cách đạo đức, giả định trước sự ra quyết định
Vả lại, mục đích - phúc lợi tối cao - cũng có thể được lựa chọn một cách có ý thức nhờ lý trí Nói riêng, những đức tính đạo đức bắt đầu nảy nở khi lý trí trở thành lãnh đạo tối cao của hành vi Chính nó cho phép phân biệt sự khoái lạc và khổ đau, ngăn chặn những cảm xúc thái quá, kiềm chế sự phát triển các xu hướng tiêu cực trong hành vi và không cho phép nó trở thành một phần bản tính riêng của ta Con người lý trí biết suy nghĩ luôn thiện, có lương tâm và có khả năng hướng đến tình bạn vô tư
Arixtốt đánh giá cao tình bạn Ông cho đó là quan hệ không tính toán, tình bạn chân chính bao gồm mục đích trong chính nó Tuy nhiên cần phải quan tâm không chỉ
về bạn bè, và nói chung không chỉ về những người khác Arixtốt tin tưởng rằng, con người cần thể hiện cả sự quan tâm đến chính mình, nuôi dưỡng bồi bổ thái độ ứng xử tốt của người khác đối với mình, một sự quảng giao thân thiện Người nào đối xử tốt với mình, không khi nào lại mong cho mình những phúc lợi hạng hai kiểu hãnh tiến hoặc danh vọng Nó muốn cho mình phúc lợi chân chính và lòng dũng cảm đạo đức
Nhưng lý tưởng Arixtốt về phúc lợi thực sự, về hạnh phúc đầy đủ, là gì? Phương châm của ông tập trung ở hoạt động trực quan - trí tuệ Hoạt động này đồng nhất với việc triển khai tự do các năng lực nội tại của con người Nếu các đức tính đạo
Trang 28đức có nhiệm vụ làm ôn hoà những xúc cảm về những khoái cảm trần tục thông thường vốn lôi cuốn các cá nhân đến các thái cực, thì hoạt động trực quan lại đưa chúng ta ra khỏi những giới hạn kinh nghiệm, ngắt đứt bản tính tự nhiên của con người
và làm cho nó trở lên độc lập với những hạn chế trần tục Nó mang lại những khoái lạc trí tuệ và tinh thần, mà về nguyên tắc không thể trở thành thái qúa
1.4.2 Đạo đức học thời kỳ Phục hưng
Triết học Phục hưng phát triển như một chỉnh thể các xu hướng đa dạng, trong
đó cả chủ nghĩa Arixtốt, lẫn chủ nghĩa Paltôn, cả triết học tự nhiên, lẫn các lý thuyết không tưởng, triết học chính trị và chủ nghĩa hoài nghi, đều tìm thấy chỗ đứng của mình Nhưng, tất nhiên, bộ mặt của thời đại, biểu tượng và ngọn kỳ đào của nó vẫn là những tư tưởng nhân văn
Các nhà nhân văn chủ nghĩa Italia thế kỷ XIV – XV đã tích cực lên tiếng
chống lại chủ nghĩa kinh viện giáo hội, vì một sự hồi sinh di sản cổ đại Họ phủ nhận những khuôn khổ giáo điều Trung cổ cứng nhắc, họ chỉ hướng đến các văn bản sách thánh và kêu gọi các nhà tư tưởng hãy hướng về chính cuộc sống, đến con người đầy
đủ, đang hoạt động tích cực Đã diễn ra sự tái định hướng của ý thức về phía trần thế Tất nhiên, nhân vật Chúa không biến mất khỏi sự sáng tạo của các nhà Phục hưng, nhưng nó dường như bị gạt xuống hàng sau, trong khi đó vượt lên tiền tiêu của tư tưởng triết học – đạo đức lại là cá nhân hữu hình, tích cực, tự do và sáng tạo
Picô Miranđon (1463 – 1494), một trong những đại biểu kiệt xuất của chủ
nghĩa nhân văn và của thuyết con người là trung tâm ở kỷ nguyên Phục hưng làTác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Về phẩm chất con người” Trong tác phẩm này Picô
kể lại đầy đủ tư tưởng cổ đại về con người như là tiểu vũ trụ Tư tưởng này được kết hợp trong cách trình bày của ông đối sánh với quan điểm Thiên Chúa giáo về nhân loại như là tâm điểm rực rỡ của toà nhà thế giới và trung tâm của thiên hà Khi khẳng định phẩm giá con người, Picô đã bày tỏ thái độ chống lại ma thuật đen vốn buộc ta làm nô
lệ cho những thế lực quỷ sứ đen tối, và chống lại “quyết định luận chiêm tinh” vốn phủ nhận tự do, gieo giắc cho con người quan niệm định mệnh về số phận do các vì sao trên trời quy định Ma thuật trắng, hay “tự nhiên” vốn mang lại khả năng nhận thức những bí ẩn “thánh thần” có ích thuộc về tự nhiên, cần phải đối lập với ma thuật đen Còn sự chuyên chế của chiêm tinh học bị phủ định bởi sự hiện tồn tự do ở con người
Khi suy ngẫm về phẩm chất thuộc về con người, Picô đã cải biến đáng kể và hiện đại hoá các quan điểm Thiên Chúa giáo Ông nói rằng, Chúa tạo cho bản thân con người khả năng sáng tạo hình ảnh riêng, cố ý tạo ra nó chưa hoàn chỉnh, để nó có thể trở thành người cộng tác và người làm công của Chúa Phẩm chất của con người tựu trung cũng chính ở khả năng này – sáng tạo ra mình, tiếp tục sự nghiệp của Đấng sáng tạo Điều diệu kỳ của tinh thần con người còn vượt quá những điều kỳ diệu của các thiên thể Trên trái đất không có gì vĩ đại hơn con người, hơn trí tuệ và tâm hồn của
nó Mà độ kỳ vĩ của chúng được xác định bởi tự do mà Chúa đã ban cho Con người có thể hạ xuống đến tận trạng thái súc vật thấp hèn nhất, nhưng cũng lại có thể biểu hiện
sự hoàn thiện thánh thiện nhất Trong trường hợp này nó đáng được khâm phục nhiều nhất, so với các thiên thần, bởi lẽ các thiên thần nhận được các thuộc tính tinh thần của mình ngay tức thì, còn con người cần phải nuôi nấng chúng, đấu tranh với tất cả những thói hư tật xấu trần thế
Tự do lựa chọn mà Picô nói đến, có nội dung đạo đức rạch ròi, nó cho phép đấu tranh với những tình cảm thấp hèn, trụ vững trong mọi chuyện ở trung tâm lý trí, lớn lên một cách có đạo đức
Trang 29Picô thừa nhận ở con người khả năng tiếp cận với hai dạng phúc lợi: phúc lợi tối cao và hạnh phúc tự nhiên Người ta chỉ nhận được hạnh phúc tối cao thông qua ơn mưa móc thánh thần Nhưng họ có thể có được hạnh phúc tự nhiên bằng những nỗ lực của mình: qua triết học, qua nhận thức bản tính riêng của mình và của giới tự nhiên xung quanh, thông qua việc klhám phá bí ẩn của toà nhà thế giới Không phải tiền và vinh quang, theo Picô, mà chỉ có chân lý mới làm cho con người trở nên hạnh phúc
Môngtenhơ Misenđơ (1533 – 1592), người nối tiếp xu hướng mới của tư tưởng
đạo đức ở thời kỳ hậu Phục hưng và Cải cách Ông là một nhà quý tộc Pháp, nhà hoạt động chính trị, thị trưởng thành phố Bocđô, Môngtenhơ đã không tham gia cả vào nhóm phản động Cơ đốc giáo, lẫn nhóm những người yếm thế an phận thủ thường, mà giữ lối suy nghĩ và lập trường chính trị độc lập của mình Ông ủng hộ sự nhẫn nại tinh thần và chống lại sự vô chính phủ phong kiến, ủng hộ chủ nghĩa tuyệt đối
“Các kinh nghiệm” là tác phẩm chủ yếu để đời của Mongtenhơ Ông viết tác phẩm này sau khi đã rời khỏi các công việc chính trị Cuốn sách phần nào là sự thách thức học thuyết quan phương vốn đang thống trị trong các giới triết học và thần học đại học tổng hợp hồi đó “Ngôn ngữ bác học latinh” không đủ để thể hiện những tư tưởng cháy bỏng mãnh liệt của Mongtenhơ và ông đã viết tác phẩm của mình bằng Pháp ngữ Cảnh đoạn của ông cũng mới và không quen thuộc tý nào đối với cuối thế
kỷ XVI – một kiểu thi ca triết học, trong đó không có dàn mục rõ ràng và trình tự chặt chẽ vốn thường là bắt buộc đối với các công trình khoa học “Các kinh nghiệm” là sự suy ngẫm nội tâm tự do về con người, về thế giới và trước tiên về chính mình Và mặc
dù thiếu tính chặt chẽ bề ngoài, nhưng văn bản của “Các kinh nghiệm” thống nhất từ bên trong bởi cái nhìn toàn diện của tác giả
Hướng đến “cái tôi” riêng, Môngtenhơ dõi theo những lối mòn quanh co của tinh thần
Trên bình diện nhận thức luận Môngtenhơ là người theo chủ thuyết hoài nghi Ông không có ý hướng tuyệt đối hoá uy tín của bất kỳ ai đó, cho dù là Arixtốt hay Platôn, ông không ưa gì chủ nghĩa kinh viện với những lối văn vẻ hoa mỹ nhàm chán của nó
Đối tượng chủ yếu của “Các kinh nghiệm” là cuộc sống đạo đức của con người Môngtenhơ muốn giúp cho sự xuất hiện của đạo đức thực tiễn có lý trí Trước hết ông cho rằng, hành vi đúng đắn không thể được xây dựng trên các quan điểm tôn giáo hay các tập tục Chúng quá là đa dạng và vì thế rất tương đối Quan trọng là phải tạo ra học thuyết đạo đức có khả năng đáp ứng một cách hiện thực những nhu cầu con người
Ông cho rằng, không thể nói về phúc lợi chỉ cho tâm hồn Nhà hoài nghi chủ nghĩa không tìm thấy cho mình những luận cứ đủ tin cậy để làm sáng tỏ sự bất tử ở thế giới bên kia, vì thế cho rằng, không thể trông cậy gì vào nó cả Cần phải quan tâm đến phúc lợi trên trái đất này, mà đó có nghĩa là đến phúc lợi của thể xác và tâm hồn được hợp nhất làm một Con người cần phải khước từ ý hướng muốn sống khổ hạnh trên trái đất như là một thứ ngu xuẩn, bởi lẽ cuộc sống kinh nghiệm hiện hữu - đó là “tất cả của chúng ta”
Theo ông, con người cần phải quan tâm đến thể xác của mình, rằng hưởng thụ khoái lạc là điều rất tự nhiên, rằng cần phải tận dụng hợp lý những phúc lợi của cuộc đời Khổ đau cũng góp thêm cho sự phong phú của cuộc sống như là bộ phận hợp thành, và nó cần phải chiếm vị trí dành cho nó Cuộc sống với tất cả sự phức tạp và đa giới hạn của nó cần phải được nếm trải với niềm vui và lòng quả cảm
Đạo đức học Môngtenhơ mang tính cá nhân chủ nghĩa Ông khước từ ngay từ đầu cả sự chuyên chế của các giáo điều tôn giáo, lẫn của các quy định xã hội Chỉ có
Trang 30kinh nghiệm cá thể của cá nhân vốn thường xuyên chịu sự nghi ngờ, chỉ có ý hướng tuân theo các quy luật tự nhiên, mới dẫn người ta theo con đường đúng Bản thân “Các kinh nghiệm” được xây dựng như là suy ngẫm về mình, về cuộc sống riêng, về những quan điểm, ấn tượng
Chủ nghĩa cá nhân Môngtenhơ đối ngược mạnh mẽ với thói hai mặt thống trị thế giới quanh ông Ông chỉ ra rằng, những đức tính mà người ta tuyên bố tuân theo thường không tương thích với đạo đức thực của họ vốn tựu trung ở ý hướng ích kỷ tước đoạt càng nhiều càng tốt cho bản thân mình Những câu chuyện về phục vụ xã hội
và tình yêu với người gần gũi – thực không hơn gì những chiếc mặt nạ hai mặt Theo quan điểm của Môngtenhơ, kẻ công khai vô lại vẫn chân thực hơn nhiều so với kẻ giả danh tử tế cứ nấp dưới cái vỏ đạo đức giả hiệu Cũng chính xác như vậy, ông phản đối việc con người bắt những lợi ích của mình chân thành phục tùng những lợi ích của nhóm Và mặc dù bản thân Môngtenhơ là người con mẫu mực, người chủ gia đình đầy quan tâm, nhà hoạt động chính trị đầy trách nhiệm, nhưng trong các suy ngẫm triết học của mình ông vẫn tuyên bố chân thành và không úp mở về sự ưu tiên cho cho cụôc sống cá thể của cá nhân trên những lợi ích của bất kỳ cộng đồng nào có khả năng quy định từ ngoài cho cá nhân những yêu cầu của mình
1.4.3 Đạo đức học thế kỷ XVII - XVIII
Thế kỷ XVII là sự tiếp tục các quá trình đã được khởi đầu ở thời kỳ Phục hưng – Cải cách, tại đây diễn ra sự đoạn tuyệt hẳn với di sản tinh thần của thời Trung cổ Khoa học nhanh chóng phát triển vượt lên trước Nó hướng con người chú ý không phải vào sách Thánh, mà phải “đọc cuốn sách của tự nhiên”
Nhà triết học lớn thời cận đại có ảnh hưởng nhiều đến tri thức đạo đức là nhà
duy vật người Anh Tomat Hôpxơ (1588 - 1679) Hôpxơ là nhà tư tưởng đa diện, ông
quan tâm cả đến những vấn đề cấu trúc thế giới (sự sống phục tùng các định luật cơ học), và cả đến vấn đề ý thức và tư duy (ông phát triển quan niệm dấu của ngôn ngữ),
và cả về những đề tài đạo đức và nhà nước Hôpxơ khảo sát hệ vấn đề đạo đức trong các tác phẩm “Leviaphan, hay Materi, hình thái và chính quyền nhà nước giáo hội và công dân”, “Về tự do và tất yếu”, “Các cơ sở triết học”
Trong đạo đức học của mình Hôpxơ khẳng định bản chất không đổi của con người: con người – sinh thể lý tính, chủ thể của đạo đức và chính trị Con người là kẻ ích kỷ bẩm sinh, ngay từ đầu nó đã được định hướng về phía vũ lực và sự thống trị Không nghi ngờ gì là, những quan điểm đó của Hôpxơ biểu hiện trạng thái khách quan của xã hội, khi cơ chế cạnh tranh tư sản bắt đầu vận hành hết công suất, xô đẩy các cá nhân đấu tranh với nhau vì sự sống xã hội
“Người với người là chó sói” – luận đề này của Hôpxơ đã thể hiện rất tập trung quan niệm của ông về con người Ngay từ đầu con người đã ở trong trạng thái “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, và mối đe doạ đầu độc lẫn nhau buộc họ phải ký kết với nhau một kiểu “khế ước xã hội”: họ tổ chức ra nhà nước vận hành thường xuyên
và bắt đầu tuân thủ “quy tắc đạo đức vàng”: đừng có làm cái mà ta không muốn cho bản thân Như vậy, nhu cầu phải sống tự nhiên đã dẫn đến việc tự hạn chế thói ích kỷ khởi đầu, mà trong đó mỗi người đều cho rằng, có tất cả các quyền Sự thù hằn lẫn nhau và sợ hãi tạo nền tảng cho trạng thái cân bằng tương đối
Xã hội vốn xuất hiện nhờ thoả thuận chung, nói chung không là vương quốc hạnh phúc hài hoà Khế ước ràng buộc một cách cưỡng ép các cá thể đơn lẻ vốn bị chia xẻ bởi các lợi ích riêng của mình về các hướng khác nhau Cái đó rất giống với lực hấp dẫn cơ học, mà khoa học đã khám phá đối với giới tự nhiên Trật tự được xác lập là trật tự của sức mạnh được gán cho số đông dường như từ bên ngoài, vũ lực và áp
Trang 31bức là biểu hiện bình thường của nó Nhưng đó là con đường duy nhất có lý trí dẫn nhân loại từ sự thù địch mang tính huỷ diệt từ đầu Leviaphan trong thần thoại kinh thánh là con vật biển kinh dị khổng lồ có sức mạnh thật to lớn Hôpxơ gọi nhà nước khắc phục được ý hướng hiếu chiến của mọi người là Leviaphan Hôpxơ chỉ ra rằng vũ lực tối đa của các cá thể trong quan hệ với nhau vào thời điểm nào đó cần phải biến thành sự đồng thuận có lý trí Chính lý tính đưa con người ra khỏi “trạng thái tự nhiên” hoang dã
Đối với Hôpxơ đạo đức biểu hiện như là mối liên hệ đặc biệt giữa các cá nhân ích kỷ bị ràng buộc với nhau bởi khế ước xã hội Tất cả các biểu hiện đạo đức, về thực chất, cũng đều là ích kỷ, thậm chí cả những thứ tưởng như rất xa với lợi ích tự khép kín như sự trung thành với khế ước xã hội, tính quảng giao và sự cảm thông Các quan
hệ giá trị (hàng hoá) là mô hình sản sinh đối với các quan hệ đạo đức Những đặc điểm đạo đức của cá nhân không phải là các thuộc tính chủ quan hay là sự phản ánh của những khởi điểm siêu nghiệm nào đó, chúng là giá trị của con người trong đời sống xã hội Còn giá trị, đến lượt mình, lại là giá của các phẩm chất con người phụ thuộc vào nhu cầu của những người khác, bị chúng xác định và phân bổ Đạo đức là hệ thống các mối lợi cùng nhau
Mục đích cuối cùng và phúc lợi tối hậu, mà toàn bộ đạo đức học duy tâm - tôn giáo nói đến, không tồn tại đối với Hôpxơ Ông cho rằng, người ta đơn giản nghĩ ra các tư tưởng đạo đức khách quan, mà trên thực tế chỉ thể hiện là kết quả tự ý thức của
họ Còn hiện thực không phải là khái niệm chung về phúc lợi hay đạo đức, mà hiện thực là cái giá cụ thể của phẩm chất này hay khác của ta trong con mắt của các chủ thể giao tiếp khác Chẳng hạn như phẩm giá, đó là cái giá mà con người được nhà nước ban tặng cho
Đối với Hôpxơ tính đạo đức hoá ra là mọc lên từ ý hướng muốn có quyền lực trên người khác: có giá trị đạo đức là thứ làm cho những người khác kính trọng, mà sự kính trọng - đó lại là biểu hiện của quyền lực (phục tùng – có nghĩa là biểu hiện sự kính trọng) Tình yêu và nỗi sợ trước người khác cũng gắn với các quan hệ quyền lực,
y hệt như tính tiết kiệm, công bằng và các tính khác của cá nhân đạo đức
Khi nói về đạo đức, Hôpxơ nhận xét rằng, các cảm xúc làm cho con người vận động Tại điểm này Hôpxơ xa rời đôi chút nguyên tắc duy lý chặt chẽ của mình Ông cho rằng, tình cảm, cảm xúc tạo thành động lực cho hành vi con người, chính chúng buộc các cá nhân phải hướng không mệt mỏi đến mối lợi riêng của mình, đến sự giàu
có, vinh quang, quyền lực Tư tưởng là những người lính trinh sát và tiên phong tìm kiếm con đường đi đến vật mong muốn, chúng được định hướng bởi những ước muốn
và cảm xúc của con người
I Căngtơ (1724 – 1804) chiếm vị trí đặc biệt trong đạo đức học thế kỷ XVIII
Là nhà tư tưởng lớn nhất thời mình, cho đến nay ông vẫn đang ảnh hưởng rất lớn đến triết học Căngtơ thảo luận những vấn đề đạo đức học trong các tác phẩm hàng đầu của mình: “Phê phán lý tính thực tiễn”, “Những cơ sở của siêu hình học đạo đức”, “Siêu hình học đạo đức”
Căngtơ đứng trên lập trường độc lập của đạo đức Trong cách hiểu của ông đạo đức không phụ thuộc gì vào thế giới kinh nghiệm, cũng không phụ tuộc vào các đức tin tôn giáo, cũng không vào các xúc cảm thẩm mỹ Nó tự đủ và tự thân có giá trị Không phải tình cảm con người, mà lý tính mới phán xét về các yếu tố đạo đức, chỉ có
lý tính mới đủ khả năng đảm bảo sự trong sạch của hành vi đạo đức, ngăn ngừa nó
khỏi những nhu cầu và ham muốn vị kỷ tầm thường
Trang 32Theo Căngtơ, có hai loại mệnh lệnh (sai khiến): các mệnh lệnh giả thiết và mệnh lệnh tuyệt đối Các mệnh lệnh giả thiết gắn với các mục đích thực tiễn của cá nhân và chỉ ra các điều kiện đạt được mục đích một cách tốt nhất: “Nếu anh muốn để người tin anh, thì hãy chân thật”, “Nếu anh muốn đạt kết quả trong công việc, thì hãy thận trọng và cần kiệm” Các mệnh lệnh đó phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và thay đổi tuỳ trường hợp Căngtơ gọi những hành vi nảy sinh do sự sai khiến của mệnh lệnh giả thiết là những hành vi công khai Chúng có thể đáng được ngợi khen, mang lại điều tốt thực, nhưng theo Căngtơ, không thể gọi chúng là những hành vi đạo đức theo đúng nghĩa
Chỉ có những hành vi được thực hiện theo mệnh lệnh tuyệt đối, tức là theo mệnh lệnh có nguồn gốc từ luật đạo đức tiên nghiệm (trước kinh nghiệm) mới mang tính đạo đức Quy luật này là tất yếu, phổ quát và vô điều kiện
Theo Căngtơ, việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức cần phải dựa trên sự tôn trọng mệnh lệnh tuyệt đối và thiện chí, không có bất kỳ sự vụ lợi tình cảm nào Đây chính là
sự nghiêm khắc của đạo đức học Căngtơ: “anh cần phải, nghĩa là anh có thể” Mọi sự thương cảm, xót xa, hài lòng nhận được từ sự rủ lòng tốt, cần phải bị loại trừ Trái lại thì hành vi sẽ thôi không còn mang tính đạo đức, bởi lẽ nó diễn ra không phải theo sai khiến của nghĩa vụ thuần tuý, do một tư lợi nào đó Người ta đã phê phán Căngtơ vì điều đó cười nhạo ông
Cũng chính xác như vậy ngay từ đầu Căngtơ đã đặt đối lập nghĩa vụ và hạnh phúc Ông giả định rất trên tinh thần khắc kỷ rằng, bản thân việc thực hiện nghĩa vụ mang lại sự hài lòng đầy đủ, mà cao hơn thế thì không còn cần gì nữa Mục đích cần phải là “sự hoàn thiện bản thân mình và hạnh phúc cho kẻ khác” Để có niềm vui thì chỉ cần có sự hoàn thiện
Về sau này Căngtơ có làm mềm hơn lập trường của mình Ông thừa nhận nghĩa
vụ con người bao gồm cả việc quan tâm đến sự bình an riêng mình (sức khoẻ, của cải, học vấn) ít ra là vì, việc đó tạo ra những điều kiện tốt nhất để thực hiện nghĩa vụ
1.4.4 Sự ra đời và phát triển của đạo đức học Mác – Lênin
Triết học của C.Mác (1818) -1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895) nói chung và đạo đức học của C.Mác, Ph Ănghen nói riêng là sự kế thừa những thành tựu vĩ đại của
tư tưởng triết học từ thời kỳ cổ đại cho đến cuối thế kỷ XVIII- đầu thế kỷ XIX Chủ nghĩa Mác là sự thống nhất chăt chẽ về mặt nội dung của các tư tưởng triết học với các mặt kinh tế - chính trị và xã hội - chính trị của thế giới quan cộng sản chủ nghĩa Mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác là đề ra và luận chứng lý luận về việc giải phóng nhân loại đang bị áp bức Tư tưởng cao cả này được thực hiện trong triết học thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn chung và kinh nghiệm tinh thần của nhân loại
Đạo đức học của C.Mác, Ph Ănghen ra đời là một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức học Các lý thuyết của đạo đức của C.Mác, Ph Ănghen đều phát triển sâu sắc các quan niệm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Khi nghiên cứu các quan hệ, những phương diện đạo đức của đời sống xã hội, những phương diện đạo đức của đời sống xã hội, hai ông đã nghiên cứu vấn đề nguồn gốc, bản chất, các chuẩn mực và vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội trên cơ sở quan điểm về mối liên hệ phổ biến và phát triển Vấn đề quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vấn đề kết hợp giữa lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội, các chuẩn mực các qui tắc, các phẩm chất đạo đức của con người
Phát triển tư tưởng đạo đức của C.Mác và Ph Ănghen, VI Lênin đã nghiên cứu vấn đề đạo đức trong sáng tạo, trong giao tiếp, các phhong tục, tập quán, các dư luận
xã hội, tính kỷ luật, các qui tắc lao động và lối sống gắn liền với chuẩn mực thiện ác
Trang 33VI Lênin đề xuất các vấn đề quan trọng mà Đạo đức học phải nghiên cứu đó là các vấn đề về lao động xã hội chủ nghĩa, năng suất lao động, các vấn đề về chủ nghĩa yêu nước, vấn đề chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân, hôn nhân gia đình, chủ nghĩa nhân đạo…
Câu hỏi ôn tập
Câu 1: Phân tích khái niệm đạo đức và cấu trúc của đạo đức
Câu 2: Nêu đối tượng nghiên cứu của đạo đức học Mác – Lênin
Câu 3: Nêu nhiệm vụ và các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đạo đức học Mác – Lênin
Câu 4: Khái quát sự phát triển của đạo đức học
Trang 34Chương 2 NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ
CỦA ĐẠO ĐỨC 2.1 Nguồn gốc của đạo đức
2.1.1 Các quan niệm trước Mác về nguồn gốc của đạo đức
Các nhà triết học, đạo đức học trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức ở ngay bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là coi đạo đức không phải là cái phản ánh cơ sở xã hội, hiện thực khách quan Các nhà triết học - thần học coi con người xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực đạo đức, do vậy là những chuẩn mực do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người do vậy đều là sự thể hiện cấi thiện tối cao từ đấng siêu nhiên; và tiêu chuẩn tối cao để thẩm
định cái thiên - cái ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó
+ Đạo Phật cho rằng đạo đức là do Phật tạo ra Chúng ta hãy làm theo lời Phật dạy con người sẽ thoát khỏi những đau khổ bất hạnh, sẽ được hạnh phúc Đạo đức Phật giáo cũng tìm con đường thoát khỏi những khổ ải, bất hạnh đó là trông chờ ở kiếp sau, là từ bỏ ham muốn, dục vọng, là cam chịu
+ Cơ đốc giáo cho rằng toàn bộ vũ trụ và cả con người đều do Chúa sáng tạo ra Trong sự sang tạo đó con người là gần với Chúa nhất nên được cai trị vạn vật và muôn loài Con người được ban năng lực: nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ và năng lực sáng tạo của chúa Nhưng ngay từ đầu con người đã dùng tự do của bản tính, không tuân theo điều Chúa dạy nên đã đắc tội với đấng sáng tạo Vì mắc tội nên con người bị đày đọa khổ sở Thiên Chúa đã cứu rỗi linh hồn con người bằng chính cái chết của ngài Thiên chúa chính là hiện thân của cái thiện và đức hạnh Cái ác và mọi cái xấu khác đều xuất phát từ “tội tổ tông” của con người Con người phải làm theo cái thiện của Chúa, phải tuân theo lời răn của chúa
Nho giáo cũng tìm nguồn gốc của đạo đức ở bên ngoài quan hệ kinh tế - xã hội, không gắn với điều kiện tự nhiên, với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nho giáo giải thích những xung đột trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ là do vua không ra vua, do tiếm ngôi liệt vị, vì vậy họ muốn dùng đạo đức để khôi phục lại trật
tự, kỷ cương Khổng Tử đã nêu lên yêu cầu về phẩm chất đạo đức cá nhân như: nhân, trí, dũng Ông cũng xây dựng nên những mối quan hệ xã hội, đề ra những yêu cầu trong các mối quan hệ xã hội đòi hỏi mọi người phải tuân theo Ông phản đối nhà cầm quyền dùng hình phạt để trị dân mà chủ trương dùng nhân trị, đòi hỏi mọi người phải chính danh Những quan hệ đạo đức được Khổng Tử đưa ra đều xuất phát từ mong muốn chủ quan của ông, không xuất phát từ thực tiễn khách quan
Quan điểm của các nhà duy tâm khách quan
Những nhà duy tâm khách quan, tiêu biểu là Platôn, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”, để lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức Họ cho rằng đạo đức là cái vốn có sẵn trong mỗi con người Con người khi sinh ra nếu có đạo đức thì vĩnh viễn như vậy, người nào không
có đạo đức thì vĩnh viễn cũng không có Người có đạo đức giữ vai trò thống trị, còn người không có đạo đức giữ vai trò bị trị
Platon (427 - 347 TCN) cho rằng linh hồn gồm ba bộ phận: lý trí, ý thức và cảm xúc Tương ứng với mỗi loại linh hồn là những con người ở các tầng lớp khác nhau Tri thức đúng đắn chỉ có thể có được sự thông thái thông qua sự “sự hồi tưởng của linh
Trang 35hồn về cái thế giới lý tưởng mà nó nảy sinh ra từ đó” Ông chia linh hồn thành ba bộ phận: phần khôn ngoan, phần mãnh liệt và phần khao khát Phần thứ nhất là cơ sở cho
sự thông thái, phần thứ hai là cơ sở cho lòng dũng cảm, phần thứ ba là cơ sở cho sự trân trọng hay chừng mực Kết hợp hài hòa ba bộ phận ấy sẽ đạt được sự đức hạnh, chính nghĩa và cái thiện Theo Platon, nhà nước lý tưởng được xây dựng từ các tầng lớp công dân khác nhau Sự xác định các tầng lớp công dân dựa trên sự phân chia linh hồn Nhà nước lý tưởng phải giải quyết các nhiệm vụ: an ninh xã hội cho mọi thành viên, đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho mọi con người và xã hội, khuyến khích sự sáng tạo khoa học Nhiệm vụ đó được giải quyết thì con người đạt đến cái thiện
Hêghen (1770 - 1831) cho rằng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới vật chất
là sự tha hóa, là phản ánh của ý niệm tuyệt đối Ông cho rằng cả thế giới vật chất và thế giới tinh thần đều vận động biến đổi, giữa chúng có sự chuyển hóa cho nhau
Trong tư tưởng đạo đức Hêghen đã chú ý tới mối liên hệ chặt chẽ giữa đạo đức và pháp quyền Ông đề cao tự do của con người, tự do ở đây là tự do ý chí Hêghen nghiên cứu pháp quyền, đạo đức, gia đình, xã hội công dân và nhà nước như là sự tiếp thu tinh thần đạo đức khách quan Theo ông nhà nước tồn tại vĩnh viễn, là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong xã hội, nhờ đó gia đình, xã hội công dân được bảo tồn, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp đuợc điều hòa Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp, mà là tổng thể qui chế, kỷ cương, chuẩn mực và mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, chính trị…
Hêghen đặc biệt quan tâm tới cái thiện, ông coi cái thiện là sự thể hiện trọn vẹn
ý chí của con người đối với đấng toàn năng, là sự thống nhất giữa đạo đức các nhân với quyền lợi chung Cái thiện và cái ác luôn biến đổi, cái thiện có thể trở thành cái
ác, cái ác cũng có thể trở thành cái thiện Với cách lập luận của Hêghen đạo đức là ý niệm độc lập với thế giới khách quan, độc lập với quan hệ xã hội hiện thực Tất cả những quan niệm đạo đức mà ông nêu ra không chút nào gắn với xã hội, tất cả được định sẵn ở mỗi người Mỗi người hãy chấp nhận số phận của mình
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Những nhà duy tâm chủ quan coi đạo đức như những năng lực “tiên thiên” của
lý trí con người Ý chí đạo đức hay là “thiên ý” theo cách gọi của I.Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm, nghĩa là có trước và độc lập với những hoạt động mang tính xã hội của con người
Ông cho rằng, chỉ có lý tính là nguồn gốc duy nhất sinh ra các nguyên lý và chuẩn mực đạo đức Ông đưa ra nguyên lý cơ bản của đạo đức, gọi là mệnh lệnh tuyệt đối Mệnh lệnh tuyệt đối đòi hỏi mọi người phải thực hiện không phân biệt lứa tuổi giới tính, tầng lớp xã hội, sống phù hợp với tự nhiên, tôn trọng mình, tôn trọng mọi người sống theo lẽ phải và tôn trọng sự thật, sống bình đẳng trong cộng đồng và mọi người có quyền lợi như nhau Quan niệm đạo đức của ông đầy tính nhân đạo, kêu gọi mọi người làm việc thiện, làm điều tốt cho người khác, cho xã hội Song đáng tiếc tư tưởng của ông không thể trở thành hiện thực trong xã hội có áp bức, bất công Giữa mong muốn của ông về những việc tốt và những việc tốt trong xã hội còn xa vời Điều
đó là đương nhiên bởi các giai cấp có lợi ích khác nhau, do vậy có quan niệm đạo đức khác nhau Điều là lợi ích của giai cấp này có thể là bất lợi với giai cấp khác Việc giải thích nguồn gốc đạo đức của I Cantơ không gắn với những điều kiện kinh tế - xã hội,
do vậy ông cũng không tìm ra những biện pháp đúng đắn để thực hiện điều tốt đẹp cho
xã hội
Quan điểm của các nhà duy vật trước Mác
Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L.Phoiơbắc đã nhìn thấy đạo đức
Trang 36trong quan hệ của con người, người với người, đó là mối quan hệ giữa anh và tôi Tuy nhiên ông đã qui tất cả những quan hệ của con người vào quan hệ đạo đức Đạo đức học của ông lấy sự yêu thương giữa mọi người là nguyện vọng tự nhiên của con người muốn hạnh phúc Ông cho rằng mọi người hãy yêu thương nhau sẽ có hạnh phúc, sẽ khắc phục được những bất công, tránh được đau khổ, những bất hạnh của con người
Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại Quan điểm của ông trong lĩnh vực tự nhiên là duy vật, nhưng trong lĩnh vực xã hội là duy tâm Mong muốn của ông về tình thương yêu giữa con người với con người để xua đi những bất hạnh là đầy tính nhân văn, nhân đạo, song đáng tiếc không thể thực hiện được trong thực tế Trong xã hội có áp bức, bóc lột, với quan niệm của giai cấp tư sản “hoặc anh diệt tôi hoặc tôi diệt anh”, không thể tìm ra một tình yêu như vậy
Quan niệm ngoài Mác - xít về nguồn gốc của đạo đức, tiêu biểu là học thuyết Đácuyn xã hội
Những người theo thuyết Đácuyn xã hội đã đồng nhất những phẩm chất đạo đức của con người với bản năng bầy đàn của động vật Theo họ, những phẩm chất đạo đức của con người như trách nhiệm, nghĩa vụ, lòng dũng cảm, tính trung thực… chẳng qua chỉ là sự tích lũy mở rộng bản năng bầy đàn của động vật Những hành vi đạo đức của con người chẳng qua chỉ là sự thích ứng với môi trường Theo họ xã hội chẳng qua chỉ là sự liên kết tự nhiên giữa các cá thể cùng một chủng Quan niệm về nguồn gốc của đạo đức theo trường phái này đã phủ nhận hoạt động có ý thức của con người, không thấy đạo đức là hoạt động riêng có trong xã hội loài người và là đặc thù của xã hội loài người Chỉ trong xã hội loài người mới có tình thương, trách nhiệm, mới có quan niệm về nghĩa vụ đạo đức…
Qua nhiều thí nghiệm người ta chứng minh rằng chỉ có con người mới biết xấu
hổ Con người tiền sử vì xấu hổ khi cơ thể mình lõa lồ đã từng bước tìm ra những vật che thân Chính điều đó làm cho năng lực của con người ngày càng phát triển Người
ta đã làm thí nghiệm giết chết một con kiến các con kiến khác vẫn dửng dưng Vì vậy, xấu hổ, tình thương, trách nhiệm, lương tâm là cái riêng có của con người Đạo đức cũng là cái riêng có ở con người
Như vây, những quan niệm trước C.Mác và ngoài mácxít đều nhìn nhận đạo đức như một sức mạnh có trước, tồn tại bên ngoài quan hệ xã hội của con người hoặc
do lý trí của con người tạo ra, do vậy đều mang tính chất duy tâm
2.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức
Đạo đức học Mác - Lênin đã làm một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức Đạo đức học mácxít tìm thấy nguồn gốc của đạo đức trong lao động sản xuất và đấu tranh xã hội Con người muốn tồn tại và phát triển cần phải lao động Muốn lao động, chinh phục tự nhiên có hiệu quả con người phải quan hệ với nhau Khi quan hệ với nhau xuất hiện mối quan hệ lợi ích, là cơ sở xuất hiện các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ đạo đức
C.Mác đã chỉ ra rằng, hành động lịch sử đầu tiên của con người là lao động Trong quá trình lao động con người phải liên kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau mới có hiệu quả Vì vậy, đòi hỏi mỗi người phải hy sinh một phần lợi ích cá nhân cho người khác và cho xã hội Sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau đó ban đầu do tính tất yếu của lao động, của cuộc sống, lâu dần thành phong tục, tập quán, thành thói quen, nghĩa là con
người tự nguyện làm và do vậy trở thành đạo đức xã hội
Trang 37Đạo đức không phải là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người Với tư cách là sự phản ánh tồn tại
xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ
sở kinh tế - xã hội Ph.Ăngghen nhận xét: “xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ”1 Trên cơ sở phát triển của nền sản xuất vật chất mà đạo đức nảy sinh và hoàn thiện Trong đó sản xuất vật chất là nguồn gốc xét đến cùng của đạo đức và quan hệ sản xuất
là nền tảng quyết định sự hình thành, biến đổi của đạo đức trong lịch sử xã hội Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng
cao, phong phú, đa dạng và phức tạp
Ngoài ra, đạo đức nảy sinh, phát triển con chịu tác động của những yếu tố như:
Đạo đức chịu sự tác động trực tiếp của hoàn cảnh sống của con người, bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Con người ở môi trường sống khác nhau thì cảm xúc, tình cảm, quan niệm, hành vi của họ có biểu hiện khác nhau Chẳng hạn lời mời trước khi ăn là quy tắc đạo đức, ứng xử của người Việt Nam, còn đối với người
Phương Tây thì không coi là điều bắt buộc
Đạo đức chịu sự tác động của các phương thức điều chỉnh khác của xã hội như phong tục, tập quán; các nguyên tắc chuẩn mực pháp luật, các qui tắc sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, các nguyên tắc, qui chế, qui định của các tổ chức chính trị mà con người tham gia
Đạo đức luôn chịu tác động của triết học, pháp luật, nghệ thuật và khoa học Sự phát triển biến đổi các lĩnh vực này đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự biến đổi, phát triển của đạo đức trong lịch sử Nhưng xét đến cùng thì triết học, pháp luật, nghệ thuật và khoa học đều bị qui định bởi điều kiện kinh tế - xã hội
2.2 Bản chất của đạo đức
2.2.1 Các quan niệm trước Mác về bản chất của đạo đức
- Quan điểm tôn giáo
Xuất phát từ quan điểm đồng nhất tôn giáo với đạo đức và đạo đức nảy sinh từ lòng tin tôn giáo, cho nên các tôn giáo đều cho rằng bản chất của đạo đức là sự phản ánh ý chí của thần thánh, thượng đế chúa trời…các nguyên tắc đạo đức đều là sản phẩm sáng tạo của các đấng tối cao Họ sáng tạo ra các tôn giáo nhằm răn dạy, cứu vớt nhân loại Đây là quan điểm sai lầm, vì từ góc độ lịch sử, thì đạo đức ra đời và tồn tại cùng với con người và xã hội loài người, đạo đức ra đời trước tôn giáo Mặt khác đạo đức, phản ánh nhu cầu trần thế chứ không phải nhu cầu ở thế giới bên kia của con người
- Quan điểm tự nhiên
Từ chỗ cho đạo đức có nguồn gốc từ bản năng động vật, những người theo quan điểm tự nhiên đi tới khẳng định đạo đức mang bản chất tự nhiên Chẳng hạn “hổ dữ không ăn thịt con”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” Từ đó dẫn đến quan điểm sai lầm cho đạo đức của con người cũng giống như con vật mang bản chất tộc loài
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho cơ sở của đạo đức con người là
ở trong con người, từ đó học xem bản chất đạo đức như là những qui ước chung có
1 C.Mác và Ph Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002, tập 20, tr.137
Trang 38tính chất chủ quan của xã hội Các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực đạo đức tồn tại trong xã hội là do chủ quan của con người đặt ra gắn với tên tuổi của các vĩ nhân những người sáng lập Vì theo quan điểm duy tâm chủ quan, đạo đức là một thứ trí tuệ đặc biệt, một tình cảm nhân từ, một trách nhiệm cao cả, một lương tâm vị tha, một ý chí không khuất phục… Những phẩm chất đó không thể có ở những con người bình
thường, nhất là những người tự do, vị kỉ
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khách quan
Xuất phát từ tinh thần siêu tự nhiên gồm “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” là cơ sở của hiện thực, các nhà duy tâm khách quan đã khẳng định đạo đức mang bản chất của “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”, chứ không phải là sự phản ánh đời sống hiện thực Platon cho rằng cái thiện là “ý niệm tối cao” Đó là sự thông thái và lòng dũng cảm, là cái mà chỉ ít người như quý tộc mới có thể hướng tới, còn người lao động thì không thể có đạo đức vì
họ là “động vật biết nói” Heghen coi đạo đức là một giai đoạn phát triển của tinh thần khách quan, khi phát triển đầy đủ thì sẽ tha hóa thành hiện thực đạo đức và nhà nước
Phổ là hiện thân hoàn thiện của “ý niệm đạo đức ”
- Quan điểm đạo đức học và xã hội học tư sản
Các nhà đạo đức học và xã hôi học tư sản xem đạo đức là sản phẩm của xã hôi nhằm kiềm chế ham muốn vị kỷ của con người Trong thuyết “kẻ có của, người có công” quan điểm trên đã áp dụng theo nghĩa hai bên cùng có lợi Từ đó đi đến kết luận, chủ nghĩa cá nhân, đạo đức vị kỷ là bản chất vĩnh viễn của con người trước hết là sống vì “cái tôi”, cho “cái tôi” Đây là sự biện hộ cho chủ nghĩa cá nhân tư sản và sự
tồn tại của chủ nghĩa tư bản
2.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người với nhau và quan hệ với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, phong tục, tập quán, bởi thói quen Như vậy, đạo đức là một quan hệ xã hội, có qui tắc, có chuẩn mực, có đánh giá nhưng không ghi thành văn bản pháp qui mà tồn tại trong nhân dân thông qua nếp sống, phong tục tập quán trong một cộng đồng nhất định nhằm tạo nên sự hài hòa giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với xã hội
Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang bản chất xã hội
Bản chất xã hội của đạo đức được hiểu theo nghĩa:
- Nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội quyết định
- Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh đạo đức, làm cho
đạo đức tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần của xã hội
- Sự hình thành, phát triển, hoàn thiện bản chất xã hội của đạo đức được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Nói cách khác, nội dung của các quan niệm, quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức là khách quan biểu hiện của trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế
Bản chất xã hội của đạo đức còn được biểu hiện thông qua tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại
+ Tính giai cấp của đạo đức
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp mỗi giai cấp có vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống kinh tế - xã hội và do đó họ có lợi ích khác nhau và đối lập nhau Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ánh và khẳng định lợi ích
Trang 39của các giai cấp Ý thức giai cấp giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích của nó, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích của giai cấp Mặt khác mỗi
giai cấp đều sử dụng đạo đức của mình như công cụ bảo vệ lợi ích của mình Như vậy,
tính giai cấp của đạo đức là sự phản ánh và biểu hiện lợi ích giai cấp Tính giai cấp là biểu hiện đặc trưng của bản chất xã hội của đạo đức trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp
Giai cấp chủ nô trước đây giải thích, hợp lý hóa địa vị của họ bằng những quan niệm đạo đức của Aristot, Platon…Các quan niệm đó có thể giải thích khác nhau nhưng nhất quán, địa vị xã hội của mỗi con người trong xã hội vốn được tạo dựng ngay từ khi mới sinh ra; trách nhiệm của mỗi con người là tuân theo thứ bậc đó Giai cấp phong kiến phương Đông lấy Nho giáo, phương Tây lấy Công giáo để xây dựng những quan niệm đạo đức nhằm biện minh cho địa vị xã hội và quyền lực của nhà vua Ph.Ănghen đã khẳng định: “…cho đến nay xã hội vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức luôn luôn là đạo đức của giai cấp; hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị hoặc là khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống lại sự thống trị nói trên và tiêu biểu cho lợi ích tương lai của những người bị áp bức”1
Mỗi giai cấp có lợi ích riêng, do đó cũng có những quan niệm đạo đức, hệ thống đạo đức riêng Những hệ thống đạo đức này tác động khác nhau, triệt tiêu nhau (nếu đối kháng), do đó nó có thể tác động tích cực, hoặc tiêu cực đến sự phát triển và tiến bộ xã hội Tuy nhiên, hệ thống đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng
là hệ thống đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù, trong cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình
Do chiếm được địa vị thống trị trong đời sống xã hội, giai cấp thống trị luôn làm cho đạo đức của mình trở thành yếu tố thống trị trong đời sống xã hội Giai cấp thống trị nắm khâu tuyên truyền, điều khiển toàn bộ quá trình sản xuất tinh thần, thông qua nhà nước nó tiến hành định ra những nguyên tắc, qui tắc chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi đối với các thành viên trong giai cấp mình; đồng thời áp đặt buộc các giai cấp khác và mọi thành viên xã hội phải tuân thủ những chuẩn mực đó Từ đó, nó trở thành phổ biến trong xã hội và được củng cố thành thói quen, phong tục, tâm lý Vì vậy, đạo đức của giai cấp thống trị thường có sức sống dai dẳng trong tâm lý xã hội và
cá nhân Còn đạo đức của giai cấp bị thống trị thường bị đạo đức của giai cấp thống trị chèn ép Nó tồn tại như cái không chính thống, không phổ biến bằng đạo đức của giai cấp thống trị
Bản chất giai cấp của đạo đức còn được thể hiện trong toàn bộ cấu trúc của đạo đức từ ý thức, quan hệ đạo đức đến hành vi (thực tiễn) đạo đức
+ Tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản chất xã hội của đạo đức
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức vừa bị quy định bởi tồn tại xã hội vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, triết học, nghệ
thuật, tôn giáo…) Tổng thể những nhân tố ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau,
làm thành cái mà ngày nay chúng ta gọi là bản sắc dân tộc Bản sắc ấy được phản ánh
vào đạo đức tạo nên tính độc đáo của các quan niệm, các chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức, nghĩa là tạo nên tính độc đáo trong đời sống đạo đức của mỗi dân tộc
Ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa những giá trị đạo đức của dân tộc, để phù hợp với xu hướng hội nhập thế giới, Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã nêu
1C.Mác – Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 136
Trang 40những đặc trưng đạo đức của người Việt Nam
“- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu đoàn kết với nhân dana thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ
và tiến bộ xã hội
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng, kỷ cương, phép nước, qui ước của cộng đồng, ý thức bảo
vệ và cải thiện môi trường sinh thái
- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực”.1
+ Tính nhân loại của đạo đức
Đạo đức phản ánh quan hệ lợi ích giữa con người với nhau Các dân tộc trên thế giới có thể khác nhau về trình độ phát triển, về đặc điểm dân tộc nhưng vẫn có những điểm chung, điểm tương đồng như: đều ghét điều ác, ưa điều thiện, ghét điều xấu, ưa điều tốt Nhìn chung các dân tộc đều yêu chuộng hòa bình, ghét chiến tranh vì chiến tranh đem lại những tai họa, chết chóc cho con người Song chiến tranh cũng có chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa Cần ủng hộ các cuộc chiến tranh chính nghĩa, phê phán lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa Do đó, trên thế giới đạo đức có tính nhân loại Trong thời đại ngày nay đa số các dân tộc trên thế giới đều phấn đấu duy trì, giữ gìn, bảo vệ hòa bình, phản đối các cuộc chiến tranh trên thế giới Trước tác động của khoa học công nghệ trên thế giới, vấn đề bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường và những điều kiện sống ngày càng tốt đẹp là mong muốn của nhân loại hiện nay Tuy nhiên chúng ta cần phải nhận thức được rằng những quan niệm thiện, ác, tốt xấu các dân tộc khác nhau không phải bao giờ cũng hoàn toàn giống nhau Từ dân tộc này sang dân tộc khác những quan niệm này có thể khác nhau thậm chí đối lập nhau
2.3 Chức năng của đạo đức
2.3.1 Chức năng điều chỉnh hành vi
Điều chỉnh hành vi là chức năng cơ bản của đạo đức, một trong những phương thức không thể thiếu để điều chỉnh hoạt động của con người nhằm đáp ứng yêu cầu và lợi ích chung của xã hội Không có chức năng này đạo đức sẽ trở nên trừu tượng, vô nghĩa và không đạt tới giá trị Đạo đức điều chỉnh hành vi con người một cách tự giác thông qua những chuẩn mực đạo đức, giá trị đạo đức Toàn bộ các thành tố cấu thành ý thức đạo đức, từ tri thức, tình cảm, lý tưởng đến chuẩn mực đạo đức đều tham gia điều
chỉnh hành vi đạo đức của con người
Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)
Đối tượng điều chỉnh của đạo đức là hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng (gián tiếp)
Cách thức điều chỉnh, trên cơ sở giá trị đạo đức của xã hội, các chủ thể đạo đức lựa chọn chuẩn mực đạo đức phù hợp, trên cơ sở niềm tin, lý tưởng đạo đức, xác định
1 Đảng cộng sản Việt Nam (1998): Văn kiện hội nghị BCH Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.58-59