1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Không gian văn hóa cồng chiêng tây nguyên

24 787 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 44,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu tạo bài: I Giới thiệu. II Những vấn đề chung. 1. Không gian tồn tại. 2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành. 3. Cấu tạo. 4. Quan niệm về cồng chiêng của người Tây Nguyên. III Đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên. 1. Đặc trưng về người diễn xướng. 2. Đặc trưng về cách thức diễn xướng. 3. Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc. 4. Hệ bài bản. IV Tiềm năng phát triển và những giải phát để gìn giữ và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. 1. Thực trạng 2. Tiềm năng phát triển 3. Các giải pháp Phần I Giới thiệu: Nhắc đến Tây Nguyên người ta sẽ nghĩ đến ngay mảnh đất cao nguyên đầy nắng và gió, những bản làng của người Gia Lai, Ê Đê, những câu truyện sử thi già làng kể mỗi đêm… hay chú voi con ở Bản Đôn đã nghe từ ngày còn nhỏ…. Đặc biệt nhất phải kể đến đó chính là không gian sôi nổi, vui vẻ với những điệu múa của những cô gái Tây Nguyên, của tiếng nhạc phát ra từ những chiếc cồng, chiếc chiêng làm nên bản sắc văn hóa của cả một dân tộc. Vâng đó chính là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25112005. Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới. Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy. Sau đây là những tìm hiểu của nhóm về kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng. Phần II Những vấn đề chung. 1. Không gian tồn tại: Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (AustroAsian) và Nam đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam, các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên như : Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai... Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới và cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, nó là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Trải qua bao năm tháng cồng chiêng đã trở thành nền văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên. 2. Lịch sử và nguồn gốc hình thành. Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa Đông Sơn_truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là hậu duệ của đàn đá. Bởi trước khi có văn hóa đồ đồng tức thời kì đồ đá, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá, …, hay chiêng tre,… Rồi theo tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, con người tìm ra đồng, tạo nên thời đại hoàng kim đồ đồng. Trong thời kì hoàng kim của đồ đồng, các vật dụng bằng đồng lần lượt được ra đời, trong số đó, chiêng đồng được coi là đỉnh cao với kĩ thuật chế tác tinh xảo. Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng,.. Nó là biểu hiện của tín ngưỡng là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên... Với âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, … hay trong một buổi nghe khan thì đều phải có tiếng cồng, tiếng chiêng dài hơn đời người. Tiếng cồng, tiếng chiêng nối liềnvà kết dính những thế hệ lại với nhau. Có một câu chuyện truyền miệng như sau : Người Xêđăng kể rằng: Thuở xa xưa có lần voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Con trai Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt mà thú dữ càng hung tợn. Họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng. Bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể. Gõ vào vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác. Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc Chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu…

Trang 1

Không gian văn hóa cồng chiêng

1 Nhóm trưởng: Nguyễn Thị Hồng Nhung

2 Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC S

tồn tại và lịch sử hìnhthành của CCTN

đúng hạn

của không gian vănhóa CCTN

đúng hạn

Lương Thái Bình

Tìm hiểu về quanniệm về cồng chiêngcủa người TâyNguyên

Hưng: 2/5*

Bình:0/5*

Hưng nộp muộn, thiếu ảnh

người diễn xướng

đúng hạn

về cách thức diễnxướng

muộn, thiếu ảnh

và tiềm năng

muộn, thiếu ảnh

Nguyễn Thị Vân Anh

V.Anh:5/5*

Tích cực

cực

11 Nguyễn Thị Hồng Nhung Phân chia công việc,

tổng hợp tài liệu,chỉnh sửa và hoànthiện word, thuyết trình, đánh giá

trưởng

Trang 3

Cấu tạo bài:

4 Quan niệm về cồng chiêng của người Tây Nguyên

III/ Đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên.

1 Đặc trưng về người diễn xướng

2 Đặc trưng về cách thức diễn xướng

3 Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc

Nhắc đến Tây Nguyên người ta sẽ nghĩ đến ngay mảnh đất cao nguyên đầy nắng

và gió, những bản làng của người Gia Lai, Ê Đê, những câu truyện sử thi già làng

kể mỗi đêm… hay chú voi con ở Bản Đôn đã nghe từ ngày còn nhỏ… Đặc biệt nhất phải kể đến đó chính là không gian sôi nổi, vui vẻ với những điệu múa của những cô gái Tây Nguyên, của tiếng nhạc phát ra từ những chiếc cồng, chiếc chiêng làm nên bản sắc văn hóa của cả một dân tộc Vâng đó chính là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là kiệt tác văn hóa

Trang 4

phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 25/11/2005 Sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản của thế giới.

Điều đó khẳng định Việt Nam là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy

Sau đây là những tìm hiểu của nhóm về kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng

***

Phần II/ Những vấn đề chung.

1 Không gian tồn tại:

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và

đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam, các

dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn – Tây Nguyên như : Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theocách thức riêng để chơi những bản nhạc của dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới và cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, nó là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ Trải qua bao năm tháng cồng chiêng đã trở thành nền văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên

2 Lịch sử và nguồn gốc hình thành.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa Đông

Sơn_truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn đá Bởi trước khi có văn hóa đồđồng tức thời kì đồ đá, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá,

…, hay chiêng tre,… Rồi theo tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, con người tìm ra đồng, tạo nên thời đại hoàng kim đồ đồng Trong thời kì hoàng

Trang 5

kim của đồ đồng, các vật dụng bằng đồng lần lượt được ra đời, trong số đó, chiêng đồng được coi là đỉnh cao với kĩ thuật chế tác tinh xảo.

Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng,

Nó là biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên Với

âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ

mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu, … haytrong một buổi nghe khan thì đều phải có tiếng cồng, tiếng chiêng dài hơn đời người Tiếng cồng, tiếng chiêng nối liền và kết dính những thế hệ lại với nhau

Có một câu chuyện truyền miệng như sau :

Người Xêđăng kể rằng: Thuở xa xưa có lần voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn Con trai Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt mà thú dữ càng hung tợn Họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng Bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể

Gõ vào vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc

Chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu…

3 Cấu tạo của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, nó là tiếng nóicủa tâm linh, tâm hồn con người, nó diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng-chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước ), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ,các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên, )

Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản vô giá Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệ thuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh của hồn thiêng sông núi

Trang 6

qua bao thế hệ Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh".

Hiện tại, ở các vùng có Cồng Chiêng trên Tây Nguyên, Lễ Hội Cồng Chiêng được

tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm dành cho du lịch rất thịnh hành

Lễ Hội Cồng Chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá Cồng Chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu vực Tây Nguyên nơi có nhiều Cồng Chiêng nhất ở Việt Nam

Và ở mỗi một dân tộc khác nhau lại có những quy định khác nhau về cách tổ chức

và người chơi cồng chiêng Điều này liên quan đến phong tục tập quán và tín ngưỡng của từng dân tộc, những kiêng kị trong sử dụng cồng chiêng cũng khác biệt ở mỗi dân tộc

Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha vàng, bạc hoặc đồng đen Cồng là loại có núm, chiêng thì không có núm Nhạc cụ này có nhiều kích cỡ, đường kính dao động từ 20cm đến 60cm, loại cực đại lên tới 90cm hoặc đến

120cm Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, bộ bao gồm từ 2đến 12 hoặc 13 chiếc, thậm chí có nơi từ 18 đến 20 chiếc

Cồng chiêng Tây Nguyên là loại nhạc cụ độc đáo, đặc sắc và đa dạng Các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang bồi âm tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âmcủa riêng mình Trong đó, mỗi biên chế của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3

âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản Song, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm

cơ bản bao giờ cũng vang kèm một vài âm phụ khác Chính vì vậy trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho ta tối thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa Điều đó lý giải là tại

vì sao mà âm sắc cồng chiêng nghe thật đầy đặn và có chiều sâu đến như vậy.Đặc điểm nổi bật nhất của cồng chiêng Tây Nguyên đó là trong cấu tạo Cấu tạo của cồng chiêng Tây Nguyên không tách ra đơn lẻ mà thành dàn và dàn cồng chiêng được diễn tấu bởi một tập thể người_mang tính cộng đồng dân tộc sâu sắc Nghĩa là ở đây mỗi nhạc công chỉ chơi một chiếc cồng hoặc một chiếc chiêng, tức

là mỗi người chỉ đảm nhiệm một nốt nhạc trong một bản nhạc Bởi vậy, khi hoà tấucồng chiêng, các thành viên phải diễn tấu, kết hợp với nhau theo từng đơn vị tiết tấu nhất định để tạo nên bài bản Đó là một kỹ thuật không dễ thực hiện, đòi hỏi nhạc công phải có một bản lĩnh tiết tấu vững vàng Trong bài bản cồng chiêng, chúng ta thấy có tầng giai điệu trên, tầng giai điệu dưới, có phần hòa âm, có phần

Trang 7

bè trầm đan xen hòa quyện; bởi vậy mỗi thành viên khi diễn tấu phải kết hợp với nhau theo một quy luật nào đó để cấu thành nên những bài cồng chiêng khác nhau v.v… Trên một nền kinh tế nương rẫy còn nhiều khó khăn đói nghèo, việc đồng bào Tây Nguyên sở hữu một nền nghệ thuật như vậy quả là điều thật kỳ vĩ Với đồng bào Tây Nguyên, kỹ thuật tiết tấu dường như là bản năng của họ Ở đây, do mỗi người chơi một chiếc cồng, chiêng tức là mỗi người chơi một nốt nhạc nên chúng ta có cảm giác dàn cồng chiêng trải dài trong không gian Nó giống như mộtcây đàn khổng lồ mà mỗi người chỉ chơi 1 phím đàn thôi Bởi vậy, nếu người nghe đứng giữa dàn cồng chiêng, tức “chiếc đàn khổng lồ” này thì họ sẽ cảm thấy giai điệu bài bản chạy qua, chạy lại, đi vòng quanh

Ví dụ: nếu họ đứng ở khúc giữa thì sẽ nghe giai điệu bản nhạc diễn ra ở một vài cáichiêng ở trước mặt thôi còn ở phía xa hơn về bên tay phải hoặc tay trái sẽ khó nghethấy toàn bộ sự hiển thị giai điệu cân bằng Khi hoà tấu, âm thanh của dàn cồng chiêng chuyển động, chúng ta sẽ cảm thấy bản nhạc thực sự chuyển động trong không gian và đấy chính là hiệu ứng của âm thanh vòm (surround sound) rất là thú vị

Qua những điều nói ở trên, có thể khẳng định rằng “cồng chiêng Tây Nguyên” là một nền nghệ thuật đồ sộ, vĩ đại Vĩ đại ở chỗ người Tây Nguyên không sản xuất

ra cồng chiêng mà thu mua, gom lại của các tộc người khác sống quanh mình Họ mua lại của người Kinh, người Lào, người Khơ me, hay mua từ nhiều nguồn khác nhau, sau đó tập hợp lại thành bộ, căn chỉnh và xếp theo hàng âm sao cho phù hợp với thẩm mỹ của dân tộc họ Rồi từ đó dần dần hình thành nên một nền nghệ thuật cồng chiêng đồ sộ như ngày nay

Một số loại chiêng:

- Chiêng Lào: đã được đưa từ Lào sang, có người còn cho rằng chiêng Lào thực ra

đã được đúc từ Myanma, qua con đường trao đổi, buôn bán đã đến Tây Nguyên Đây là loại chiêng rất quý được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to và vang xa

- Chiêng Gioăn: do người Kinh đúc Đây cũng là vấn đề còn được bàn luận khá sôinổi Tại sao người Kinh đúc chiêng mà lại không sử dụng? Có lẽ thuở bấy giờ người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng rồi sản xuất và đưalên Tây Nguyên trao đổi, luôn bán

- Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang

Trang 8

4 Quan niệm của người Tây Nguyên về cồng chiêng.

Trong xã hội cổ truyền, con người có ít nhất là ba mối quan hệ: đó là quan hệ với thiên nhiên-thông quá trình canh tác cây trồng, quan hệ với xã hội-thông qua các tập tục tín ngưỡng, quan hệ với dòng đời-mỗi con người thành viên Để hiện thực hóa các mối quan hệ đó, con người tổ chức các nghi lễ, các hoạt động văn hóa trong cộng đồng Đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, trong toàn bộ các nghi lễ đó cồng chiêng là một thành tố không thể thiếu Tiếng chiêng tiếng cồng được coi là một biểu hiện vô hình của đời sống cộng đồng Và trên hết, cồng

chiêng được tín hiệu nối kết mọi người trong một đơn vị lại với nhau Chỉ cần nghetiếng chiêng, những người trong buôn, trong vùng sẽ hiểu ngay ở phía đó đang xảy

ra chuyện gì, âm điệu và bài chiêng sẽ báo hiệu cho đó là chuyện lành hay diềm dữ

Chính vì cồng chiêng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, người Tây Nguyên có những quan niệm về cồng chiêng như sau:

• Do tín ngưỡng vạn vật hữu linh, Các tộc người tây nguyên quan niệm cồng

chiêng là “vật thiêng”, nơi trú ngụ của các vị thần linh, đằng sau mỗi chiếc cồng,

mỗi chiếc chiêng là 1 vị thần Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao Tuy nhiên, ngay từ đầu thì những bộ cồng chiêng mới chưa có được khả năng thần bí ấy Sau khi mua chiêng về, tiếp ngay sau công đoạn thẩm âm cho chiêng là đến nghi lễ đón hồn chiêng Người ta làm lễ hiến sinh và mời thần linh về giúp đỡ, bằng phép thuật, thần linh làm cho cồng chiêng có sức mạnh hơn, đủ khả năng thông linh với các tầng miền thế giới trong vũ trụ Đối với các tộc người Tây

Nguyên, lễ hiến sinh càng lớn cồng chiêng càng có sức mạnh và linh thiêng

Với quan niệm này cồng chiêng được sử dụng để thờ cúng

• Bên cạnh quan niệm bên trên, người Tây Nguyên còn coi cồng chiêng là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có Đã có thời một chiếc chiêng

có giá trị bằng hai con voi hoặc hai mươi con trâu

Với quan niệm này cồng chiêng được sử dụng làm vật trang trí

• Cùng với quan niệm coi cồng chiêng là vật thiêng để thờ cúng, hay là vật quý giá để trang trí và thể hiện đẳng cấp xã hội Người Tây Nguyên còn coi cồng chiêng như là công cụ để giải trí Đôi khi nó còn được dùng để đánh, để múa ,để hát, để vui chơi giải trí trong những lễ hội Trong mỗi lễ hội tiếng cồng chiêng là phương tiện kết nối thiêng liêng nhất và hiệu quả nhất giữa con người với con người và giữa dân tộc này với dân tộc khác Con người dường như tìm thấy một sự

Trang 9

giao hòa thực sự với nhau và với mẹ thiên nhiên vĩ đại khi họ cùng hòa chung trong những âm thanh sống động của cồng chiêng, nó đem đến niềm vui cho tất cả mọi người trong nghi lễ đâm trâu, lễ lập làng, lễ mừng nhà rông mới Cứ như vậy chiêng mải miết theo thời gian, đi hết vòng tròn này đến vòng tròn khác Mỗi thời khắc đi qua, chiêng mang đến cho mọi người biết bao điều như niềm vui có nơi ở mới, thành viên mới, lời cảm thông chia sẻ lỗi buồn và biết bao điều hy vọng.Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng,bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

***

Phần III/ Đặc trưng cơ bản của cồng chiêng Tây Nguyên.

1 Đặc trưng về người diễn xướng.

Ở mỗi một dân tộc khác nhau lại có những quy định khác nhau về việc lựa chọn người chơi cồng chiêng Điều này liên quan đến phong tục tập quán và tín ngưỡng của từng dân tộc, những kiêng kị trong sử dụng cồng chiêng cũng khác biệt ở mỗi dân tộc

Ở phần lớn các tộc người, cồng chiêng là nhạc cụ dành riêng cho nam giới Đó là trường hợp của các tộc người như Gia Rai, Ê Đê Kpah, Ba Na, Xơ Đăng, Brâu, Cơ Ho Nhưng song song với những dân tộc đó, có những tộc người cồng chiêng được cho phép cả nam lẫn nữ đều có thể sử dụng, ví dụ như : Mạ, M’Nông Nhưngriêng một số ít tộc người như Ê Đê Bih thì chỉ có nữ giới mới được chơi cồng

chiêng

Văn hóa và âm nhạc công chiêng Tây Nguyên tồn tại dưới hình thức văn hóa và

âm nhạc dân gian Nó là sự sở hữu của cộng đồng và có năng lực xác định chuẩn văn hóa cho thành viên cộng đồng Chẳng hạn như: ở những tộc người, cồng

chiêng dành riêng cho nam giới thì tất cả nam giới trong tộc người đó phải biết đánh chiêng; ngược lại ở những tộc người cồng chiêng dành riêng cho nữ giới thì mọi cô gái của tộc người đó phải thực hiện nhiệm vụ này

Trang 10

Trang phục của nghệ nhân trình diễn cồng chiêng và những người nhảy múa bao giờ cũng là bộ sắc phục đẹp nhất và được dành riêng cho những khi tiến hành lễ hội mà thường ngày ít khi mặc và bắt gặp.

Ví dụ như bộ sắc phục của nam và nữ Ba Na:

Với nam giới: các chàng trai mặc áo ló (một kiểu áo chui đầu, không tay, có trang trí những đường viền đỏ xung quanh cổ, vai, gấu áo), mang khố hoa có trang trí nhiều họa tiết ở hai đầu và những hạt cườm trắng cầu kỳ Nam giới cũng thường chú ý làm cho tóc của mình trở nên hấp dẫn bằng cách sử dụng những dây buộc tócđược làm từ những sợi mây nhỏ tết lại theo các hình quả trám, cộng thêm những lông chim trĩ hoặc là lông đuôi gà rừng đực cắm ở phía sau gáy Bộ sắc phục này còn được trang hoàng thêm bởi những vòng đồng, bạc ở những thắt lưng, những vòng cườm quanh cổ và những vòng đồng ở cổ tay, cũng có trường hợp người ta còn buộc thêm những quả chuông đồng nhỏ ở quanh cổ chân, khiến cho những bước di chuyển của những nghệ nhân dẫn theo những tiếng va chạm của chuông đồng

Với nữ giới: Trang phục của họ cầu kì hơn, các cô gái mặc một cái áo dài tay bó sát thân hình có trang trí nhiều họa tiết ở vùng xung quanh ngực, gấu áo, cổ tay và hai bên vai Chiếc áo này có thể mặc bằng hai cách: áo luồn tay và áo không luồn tay, đối với áo không luồn tay thì phải có một chi tiết động là hai cánh tay thả lỏng

ở bên ngoài, chỉ đính vào thân áo ở cầu vai Phụ nữ đương nhiên có chiếc váy truyền thống trang trí rất nhiều hoa văn ở mông và những đường viền chạy quanh thân người Chiếc váy này không được may thành hình ống tròn mà chỉ là một tấm vải được dệt sẵn và khép lại ở phía trước Mỗi khi thực hiện bước múa, các cô gái cao nguyên xinh đẹp lại khéo léo để lộ ra một phần cặp chân của họ Phụ nữ Ba Nacũng thích làm đẹp hơn bằng cách đeo nhiều vòng đồng, bạc ở vùng quanh eo, cổ tay và trên cổ Những chiếc vòng này chỉ mang tính chất trang trí vì hầu hết những chiếc vòng này đều rộng hơn so với eo của những cô gái và họ thường cố tình để

nó trễ sang một bên hông Cách đây nhiều năm về trước, còn bắt gặp trong trang phục của người phụ nữ Ba Na những chùm chuông đồng nhỏ đính ở eo hoặc quanh

cổ chân

Trang phục lễ hội tạo cho những người dân cao nguyên vẻ đẹp khác thường và đó

là dấu hiệu bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác trong cùng một vùng sinh sống

Bên cạnh trang phục, người diễn xướng cần có những kỹ thuật nhất định và có sự cảm âm tốt, kết hợp với mọi người trong dàn nhạc

Trang 11

2 Đặc trưng về cách thức diễn xướng.

Cồng chiêng Tây Nguyên được bảo lưu dưới hình thức diễn xướng tập thể – cộng đồng:

Mỗi nghệ nhân chơi một nốt (một chiêng) và một mô hình tiết tấu, kết hợp thành bè, thành giai điệu Khi hợp tấu thì các nghệ nhân lắng nghe nhau tức là phải

có tâm linh cộng đồng Ứng vào trong quá trình diễn xướng, người đánh cồng chiêng luôn luôn di động còn động tác thì rất đa dạng như nghiêng mình, cúi

người, khom lưng

Trong dàn cồng chiêng, vị trí của mỗi cá nhân cũng hết sức đặc biệt: đối tượng quan trọng nhất bao giờ cũng ở giữa, dàn cồng đi vòng quanh đối tượng từ phải sang trái, ngược chiều kim đồng hồ, với ý nghĩa ngược thời gian trở về dĩ vãng, từ bên ngoài vào trong tim…

Về cách kích âm thì có 2 phương pháp kích âm cơ bản là chi dùi gõ (dành cho cả cồng lẫn chiêng) và chi đấm (chỉ dành cho chiêng) Theo thống kê, các dàn chiêng tộc người Mạ, M’nông, dàn chiêng đôi của người Chu Ru và Cơ Ho thuộc chi đấm.Còn tất cả các dàn chiêng khác đều thuộc chi dùi gõ

Tùy từng nơi, trong lúc diễn tấu, người ta thường sử dụng bàn tay đỡ vào mặt hay thành cồng chiêng để bịt hay mở tiếng nhằm tạo hiệu quả âm ngân vang hay âm ngắt Tay còn lại kích âm theo cách đấm hoặc gõ dùi Điểm kích âm của cồng bao giờ cũng là núm lồi Còn điểm kích âm của chiêng thì đa dạng hơn Với chi dùi gõ,người ta có thể đánh vào điểm gần hoặc chính tâm chiêng Còn với chi đấm, điểm kích âm bao giờ cũng nằm ở giữa tính từ tâm ra đến thành chiêng Nếu đánh ở điểm khác thì tiếng bị xịt Cũng cần nói thêm rằng dùng dùi thì gõ ở mặt nào cũng được, nhưng đấm thì người ta buộc phải đấm ở mặt ngoài của chiêng để cườm tay không bị chạm và cạnh của thành chiêng Mặt khác, qua thực nghiệm chúng tôi thấy đấm ở mặt ngoài, tiếng chiêng đẹp hơn

Trong chi dùi gõ, có thể chia 3 loại dùi:

+ Dùi cứng: làm bằng gỗ cứng như ở người Ê Đê Hiệu quả tiếng vang đanh,

cường độ lớn và bên cạnh âm cơ bản có rất nhiều tạp âm (dạng tiếng động)

+ Dùi vừa: làm bằng thân cây sắn như ở người Bahnar, Xê Đăng, Gia Rai Hiệu quả tiếng vang nét, âm cơ bản rõ ràng

+ Dùi mềm: làm bằng gỗ bọc da dái trâu, bò, dê hay vải hoặc cao su, chỉ thấy dùng

để đánh cồng Hiệu quả tiếng vang ấm, âm cơ bản rõ ràng

Trang 12

Trong chi đấm, người ta dùng một nắm tay đấm vào mặt chiêng Tay kia dùng bàn tay đỡ vào mặt trong của chiêng Kỹ thuật này là bắt buộc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng Với các ngón bịt, mở, xoa, miết bằng cườm tay, ngón tay với nhiều góc

độ và lực độ khác nhau, nghệ nhân diễn tấu sẽ tạo ra nhiều sắc thái khác nhau trên cùng một âm Bởi vậy, nếu chi dùi gõ tạo ra những âm thanh vang to, sắc nét thậm chí hoành tráng hay dữ dội thì chi đấm lại tạo ra những âm thanh huyền ảo, trầm mặc, vẻ như thủ thỉ dãi bày và dễ biểu cảm những sắc thái tinh tế

Về mặt kỹ thuật thì nhìn chung, kỹ thuật xử lý cồng chiêng chi đấm thuộc loại phức tạp hơn nhiều so với kỹ thuật cồng chiêng chi dùi gõ Đó là điều dễ nhận thấytrong thực tế Riêng với các dàn chiêng chi đấm của tộc người M’nông, chiếc chiêng thứ 2 tính từ thấp lên cao (chiêng Bố) thì bao giờ người đánh chiêng cũng đeo vòng ở cổ tay đỡ trong lòng chiêng Khi tay kia đấm chiêng, tay đeo vòng lúc bịt lúc mở Lúc mở, bàn tay rời khỏi mặt chiêng Lúc bịt, bàn tay ấp vào mặt

chiêng, đồng thời nghệ nhân vẩy cổ tay sao cho chiếc vòng gõ vào mặt chiêng tạo tiếng “cạch” đồng thời làm nhiệm vụ giữ nhịp Trường hợp không có vòng, nghệ nhân có thể đeo nhẫn thay thế như một vật dụng tương ứng để thực hiện kỹ thuật này

Để tạo ra một dàn diễn xướng cồng chiêng ăn ý, đòi hỏi mỗi người nghệ nhân phải có quá trình khổ luyện lâu dài, am hiểu nhau và luôn luôn lắng nghe âm điệu của người khác, phối hợp cùng nhau tạo thành 1 chuỗi thống nhất

3 Đặc trưng về biên chế và cơ cấu dàn nhạc

Ở mỗi dân tộc khác nhau, hay tùy theo yêu cầu của từng nghi thức lễ hội thì lại sử dụng các biên chế khác nhau Chính vì vậy, biên chế cồng chiêng ở Tây Nguyên rất đa dạng và phong phú

Về cơ bản thì có các loại biên chế như sau: biên chế từ hai đến ba chiếc, biên chế sáu chiếc( có khi lên đến bảy chiếc), biên chế từ tám đến chín chiếc, biên chế lớn

từ mười một đến mười hai chiếc

Đầu tiên, với biên chế từ hai đến ba chiếc: với biên chế thuộc loại nhỏ như thế này

thì chỉ yếu có chức năng giữ nhịp điệu rõ ràng cần thiết cho các hoạt động nghi lễ hoặc các bước múa, điệu múa bằng cách sử dụng các cao độ trầm bổng Biên chế này tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên thì đây chính

là biên chế cổ xưa nhất được dùng trong các nghi lễ quan trọng như: lễ đâm trâu, chúc sức khỏe, cầu an cho lúa và gia súc,

Ngày đăng: 18/08/2017, 15:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC - Không gian văn hóa cồng chiêng tây nguyên
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w