1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian văn hóa cồng chiêng tây nguyên từ góc nhìn văn hóa học

243 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án này nghiên cứu vấn đề không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học, chủ động liên kết các cách tiếp cận, các hướng nghiên cứu và sử dụng tối đa thành quả ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

NGUYỄN PHƯỚC HIỀN

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHƯỚC HIỀN

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

Chuyên ngành: Văn hóa học

Mã số: 62.31.70.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Phan Thị Thu Hiền

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc

nhìn văn hóa học là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao

chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác

Tác giả luận án

Nguyễn Phước Hiền

Trang 4

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

4 Khung lý thuyết, giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu 15

5 Kết quả đóng góp của luận án 18

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 22

1.1 Hệ thuật ngữ và khung lý thuyết 22

1.1.1 Khái niệm “Cồng chiêng” và “Không gian văn hóa” 22

1.1.2 Âm nhạc dân gian, văn hóa dân gian, văn hóa tộc người và hướng tiếp cận 26

1.1.3 Văn hóa vùng, vùng văn hóa và hướng tiếp cận 31

1.1.4 Di sản, bảo tồn di sản và hướng tiếp cận 35

1.2 Định vị không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 40

1.2.1 Khu vực không gian 40

1.2.2 Các tộc người chủ thể 44

1.2.3 Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên 46

Tiểu kết 53

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN55 2.1 Nhạc cụ cồng chiêng 55

2.1.1 Nguồn gốc, cấu tạo nhạc cụ cồng chiêng 55

2.1.2 Phân loại và biên chế bộ cồng chiêng 58

Trang 5

3

2.1.3 Chế tác và chỉnh âm cồng chiêng 64

2.1.4 Chức năng của nhạc cụ cồng chiêng 66

2.2 Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng 69

2.2.1 Bài bản cồng chiêng 69

2.2.2 Tổ chức diễn tấu cồng chiêng 75

2.2.3 Người biểu diễn và người thưởng thức cồng chiêng 83

2.2.4 Không gian, thời gian biểu diễn cồng chiêng 85

2.2.5 Chức năng của biểu diễn nghệ thuật cồng chiêng 90

2.3 Nghệ thuật cồng chiêng với các loại hình nghệ thuật khác của Tây Nguyên 93

2.3.1 Cồng chiêng với các nhạc cụ khác 93

2.3.2 Cồng chiêng với ca hát 95

2.3.3 Cồng chiêng với vũ điệu 96

2.4 Nghệ thuật cồng chiêng với tín ngưỡng, phong tục, lễ hội của Tây Nguyên 98

2.4.1 Cồng chiêng với tín ngưỡng 98

2.4.2 Cồng chiêng trong các phong tục, nghi lễ, lễ hội cộng đồng 100

2.5 Cồng chiêng gắn kết với không gian văn hóa Tây Nguyên 104

2.5.1 Cồng chiêng với văn hóa sinh thái Tây Nguyên 104

2.5.2 Cồng chiêng với sinh hoạt văn hóa cộng đồng Tây Nguyên 105

Tiểu kết 114

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN 116

3.1 Đặc điểm của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 117

3.1.1 Tính nguyên hợp 117

3.1.2 Tính thống nhất và đa dạng 119

3.1.3 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như một “di sản sống” 122

Trang 6

4

3.2 Giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 123

3.2.1 Giá trị nghệ thuật đặc thù mang tầm kiệt tác của nhân loại 123

3.2.2 Giá trị đặc trưng bản sắc văn hóa vùng, văn hóa tộc người 126

3.2.3 Giá trị cố kết cộng đồng 129

3.2.4 Giá trị lịch sử và truyền thống 131

3.3 Thực trạng bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 133

3.3.1 Những biến đổi của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 133

3.3.2 Công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 135

3.4 Phân tích SWOT đối với vấn đề bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 137

3.4.1 Điểm mạnh (Strengths) và Điểm yếu (Weaknesses) 137

3.4.2 Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) 144

3.4.3 Ma trận SWOT 148

3.5 Giải pháp bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 149

3.5.1 Bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhìn từ văn hóa nhận thức 150

3.5.2 Bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhìn từ văn hóa tổ chức 156

3.5.3 Bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhìn từ văn hóa ứng xử 162

Tiểu kết 166

KẾT LUẬN 168

TÀI LIỆU THAM KHẢO 173

PHỤ LỤC 192

Phụ lục 1: Danh mục sơ đồ, bảng, hình ảnh 192

Phụ lục 2: Danh sách phỏng vấn bảng hỏi 195

Trang 7

5

Phụ lục 3: Bảng hỏi xây dựng box phỏng vấn 201

Phụ lục 4: Kết quả phân tích box phỏng vấn 208

Phụ lục 5: Cồng chiêng trong giáo dục nhân cách con người 217

Phụ lục 6: Cồng chiêng với ca hát 221

Phụ lục 7: Hình ảnh minh họa 227

Trang 8

Á và Jrai, Êđê, Churu, Raglai… thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo Những đặc điểm địa lý và lịch sử của vùng đất Tây Nguyên đã sản sinh ra các giá trị văn hóa phong phú và độc đáo cho người Tây Nguyên, từ phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội đến nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, nghệ thuật dân ca dân vũ Đặc biệt là nghệ thuật cồng chiêng và những sinh hoạt gắn liền với không gian văn hóa cồng chiêng như nhà rông, nhà dài, nhà mồ, bến nước, rượu cần, cây nêu… đã góp phần làm cho không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên thêm phong phú, đa dạng và giàu bản sắc

Cồng chiêng là di sản văn hóa quý báu của cộng đồng các tộc người tại chỗ Tây Nguyên Từ bao đời nay, cồng chiêng đã gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, với các nghi lễ, lễ hội của các tộc người nơi đây thể hiện niềm tin, sức sống, thế giới tinh thần và là bản sắc văn hóa của người Tây Nguyên Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian (folklore), dân tộc học, sử học, âm nhạc, đều khẳng định Tây Nguyên có một vùng văn hóa cồng chiêng vô cùng đặc sắc Sinh hoạt cồng chiêng

là một phần không thể thiếu trong không gian văn hóa của cộng đồng các tộc người tại chỗ Tây Nguyên Với ý nghĩa nhân văn sâu sắc trên, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại vào ngày 25 tháng 11 năm 2005 Những đặc trưng tiêu biểu và độc đáo của vùng đất và con người Tây Nguyên hoàn toàn hội đủ điều kiện

và xứng đáng trở thành trường hợp nghiên cứu điển hình (case study) về không gian văn hóa cồng chiêng

Trong những thập niên gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Trên thực tế, không gian văn hóa cồng

Trang 9

7

chiêng Tây Nguyên ngày càng bị thu hẹp, mất dần bản sắc Một số kết quả nghiên cứu ít nhiều đề cập hoặc phần nào liên quan tới công tác bảo tồn không gian văn hóa này hầu như đều chưa đạt được tính nhất quán trong một cái nhìn tổng quan, dù những nghiên cứu trên là cơ sở dữ liệu vô cùng quý giá Luận án này nghiên cứu vấn đề không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học, chủ động liên kết các cách tiếp cận, các hướng nghiên cứu và sử dụng tối đa thành quả nghiên cứu của người đi trước để phác họa một bức tranh tổng thể, khoa học về hệ thống không gian và đặc điểm, giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Từ đó, cố gắng tìm ra giải pháp góp phần vào công tác bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Kết quả nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ giúp khái quát nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa không gian văn hóa

và bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Trên đây là lý

do của việc lựa chọn đề tài luận án “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

từ góc nhìn văn hóa học”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

“Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học” là một đề tài nghiên cứu không quá mới mẻ nhưng khá rộng, phong phú và phức tạp Trong phạm vi tư liệu bao quát được, chúng tôi nhận thấy, ở lịch sử nghiên cứu đề tài này và những vấn đề có liên quan, nổi lên một số hướng tiếp cận sau: a) Về văn hóa Tây Nguyên nói chung; b) Về cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; c)

Về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

a Về văn hóa Tây Nguyên nói chung

Các công trình của các tác giả nghiên cứu về văn hóa Tây Nguyên thường tập trung giới thiệu những khám phá các tộc người tại chỗ Tây Nguyên, về lịch sử phát triển tộc người, văn hóa truyền thống Tây Nguyên và phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên Đầu tiên phải kể đến công trình của những nhà nho thời phong kiến

như Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục (1776), Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến

Trang 10

8

chương loại chí (1819), Nguyễn Siêu trong Phương Đình dư địa chí (1882) hay

Quốc sử quán nhà Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí (1882) Trước và trong

thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1858 - 1945) phải kể đến các học giả phương Tây như Condominas, Guilleminet, Dourisboure đã có những ghi chép và để lại một

số công bố có giá trị cho nghiên cứu về Tây Nguyên

Trước 1975, công trình được đánh giá là cơ bản, toàn diện và tỉ mỉ về Tây

Nguyên cần kể đến Les jungles Mois (Rú Mọi) xuất bản năm 1912 do Henri Maitre

phụ trách Công này trình gồm hai phần, phần đầu là nhật ký về hành trình xuyên suốt Tây Nguyên, phần hai là tổng kết các khảo sát và dựng nên bức tranh khá toàn diện về Tây Nguyên

Sau năm 1975 có công trình của Hà Văn Thư, Võ Văn Nhơn, Y Điêng

(1975-1976) về truyện cổ của các dân tộc Tây Nguyên Trong những năm đầu thống

nhất đất nước (30/04/1975), các nghiên cứu sưu tầm của Đặng Nghiêm Vạn, Đặng Văn Lung, Tăng Kim Ngân (trong các truyện dân gian các dân tộc Trường Sơn -

Tây Nguyên); Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum (Đặng Nghiêm Vạn, 1981) giới thiệu khái quát về đời sống của các tộc người ở Gia Lai và Kon Tum; Dân ca Tây

Nguyên (Võ Quang Nhơn, 1986) giới thiệu những bài ca về cuộc sống, đất nước,

con người với nỗi niềm vượt qua những khó khăn, vất vả trong lao động và môi

trường sống ở Tây Nguyên; Văn hóa dân gian M’nông (Ngô Đức Thịnh, 1993); Văn

hóa dân gian Êđê (Sở VHTT Đắk Lắk, 1995); Cơ sở Văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc

Thêm, 1996) tuy không nhiều nhưng đã có đề cập đến văn hóa của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên liên quan đến các khía cạnh như: quan hệ với môi trường tự nhiên, cách tổ chức cộng đồng, sông nước, lúa và kỹ thuật trồng lúa, âm dương, ngôn ngữ,

tổ chức bộ máy ; Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (Lưu Hùng, 1996) giới thiệu khái

quát về Tây Nguyên và cư dân Tây Nguyên, các lĩnh vực của văn hóa cổ truyền Tây Nguyên như văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần đồng thời đưa ra

nhận định văn hóa cổ truyền Tây Nguyên trong thời cuộc mới; Văn hóa học đại

cương và cơ sở văn hóa Việt Nam (Tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập

trong các trường đại học, Trần Quốc Vượng 1996) bên cạnh những khái niệm và

Trang 11

9

vấn đề chung về văn hóa, giao lưu văn hóa và văn hóa Đông Nam Á, diễn trình lịch

sử văn hóa Việt Nam, đã đề cập đến phân vùng và tiểu vùng văn hóa Tây Nguyên

và nước ta; Văn hóa dân gian những thành tố (Lê Ngọc Canh 1999) bên cạnh việc

giới thiệu những lý luận, khái niệm cơ bản về thành tố văn hóa dân gian là những khảo cứu, phác thảo diện mạo các thành tố văn hóa dân gian Việt Nam trong đó có

đề cập đến thành tố của văn hóa dân gian Tây Nguyên; Trung Trung bộ và Tây

Nguyên đặc sắc liên vùng văn hóa (Nhiều tác giả 1999) cung cấp những thông tin

về những đặc sắc của liên vùng văn hóa Trung Trung bộ và Tây Nguyên; Văn hóa

truyền thống các dân tộc Kon Tum (Đào Huy Quyền, Ngô Binh 2003) giới thiệu

văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng của các tộc người tại chỗ tỉnh Kon

Tum; Tây Nguyên cuối thế kỷ XX - Vấn đề cư dân và nguồn nhân lực (Nguyễn Tuấn

Triết, 2003) đã có những giới thiệu khái quát về cư dân, tộc người tại chỗ ở Tây

Nguyên; Người Êđê một xã hội mẫu quyền (Anna de Hautecloque Howe 2004)

nghiên cứu và giới thiệu về cơ cấu tổ chức, các quan hệ xã hội của dân tộc Êđê -

một xã hội mẫu quyền điển hình nhất ở Tây Nguyên; Văn hóa vùng và phân vùng

văn hóa ở Việt Nam (Ngô Đức Thịnh, 2004) bên cạnh các lý thuyết và khuynh

hướng nghiên cứu văn hóa đã phát thảo phân vùng và một số vùng văn hóa ở Việt

Nam, trong đó có vùng văn hóa, vùng thể loại Tây Nguyên; Văn hóa xã hội và con

người Tây Nguyên (Nguyễn Tấn Đắc, 2005) giới thiệu văn hóa truyền thống Tây

Nguyên, những điều cần làm để đưa Tây Nguyên vào con đường hòa nhập và phát triển cùng với những nhận định và kiến nghị đối với văn hóa Tây Nguyên trong đó

có liên quan đến văn hóa cồng chiêng; Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng

ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến năm 1975, (Phan An, 2007) giới thiệu đại cương về

người Stiêng, những vấn đề về sở hữu đất đai, hoạt động kinh tế và sự phân hóa xã hội của người Stiêng cùng hệ thống xã hội, tộc người của người Stiêng từ giữa thế

kỷ XIX đến năm 1975; Đất và Người Tây Nguyên (Nhiều tác giả, 2007) giới thiệu bài viết của nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà khảo cổ viết về Tây Nguyên; Nghi

lễ đời người Jrai huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (Nguyễn Xuân Phước, 2007) giới

thiệu hệ thống nghi lễ đời người Jrai cùng thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát

Trang 12

10

huy nghi lễ đời người; Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên (Ngô Đức Thịnh,

2007) giới thiệu những bài viết phác họa văn hóa Tây Nguyên, luật tục và quản lý cộng đồng cùng sử thi Tây Nguyên hoặc của Rơmah Deh, Đinh Hoàng Tiệp về

Những giá trị văn hóa dân gian, văn học dân gian Tây Nguyên (Hoàng Lâm, 2012); Các vùng văn hóa Việt Nam, Văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên (Lý Tùng Hiếu,

2012 - Giáo trình nội bộ) đã đề cập và trình bày các khái niệm, lý thuyết về phân

vùng văn hóa ở Việt Nam, trong đó có vùng văn hóa Trường Sơn và Tây Nguyên

Ngoài ra còn có một số luận án, luận văn viết về văn hóa Tây Nguyên như:

Buôn làng cổ truyền các tộc người Trường Sơn - Tây Nguyên, Luận án Phó Tiến sĩ

Khoa học Lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học, Viện Dân tộc học, Hà Nội (Lưu Anh

Hùng, 1992); Nhà ở và sinh hoạt trong nhà của người Êđê ở Việt Nam, Luận án Phó

Tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, TP

Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội (Nguyễn Thị Hòa, 1996); Đạo Tin Lành trong

đời sống tinh thần của dân làng dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay, Luận văn

Thạc sỹ Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh

(Nguyễn Văn Lai, 2006); Biến đổi kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói của các dân

tộc thiểu số tại chỗ ở Đắk Lắk trong 20 năm đổi mới (1986 - 2006), nghiên cứu trường hợp dân tộc Êđê và Jrai huyện Ea H’leo, Luận văn Thạc sỹ Dân tộc học,

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị Thanh Vân, 2009)

Nhìn chung, điểm mạnh về phương pháp nghiên cứu của các tác giả đối với các công trình trên là điền dã, dân tộc học Hầu hết các công trình nêu trên đã mô tả, tìm hiểu hoặc nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên từ các khía cạnh khác nhau của vấn

đề như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa tộc người, lịch sử phát triển tộc người, phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên

b Về cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Việc nghiên cứu về cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể lấy mốc từ khi nhà nghiên cứu người Pháp Condominas phát hiện ra đàn đá ở làng Ndut

Trang 13

11

Lieng Krak thuộc tỉnh Đắk Lắk vào năm 1949 Sau đó Jacques Dournes và các nhà nghiên cứu của Pháp có nhiều chú ý hơn đến cồng chiêng trong các nghiên cứu của mình về Tây Nguyên

Khi nghiên cứu về Tây Nguyên, nhà nghiên cứu là người Pháp chỉ xem xét cồng chiêng như là một môn giải trí tập thể, một phong tục tấu nhạc với những chiếc cồng có bướu (có núm) và cồng phẳng (không có núm) chứ chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc học hay văn hóa học

Sau năm 1975, nhờ sự quan tâm đầu tư của các tỉnh Tây Nguyên, các chương trình hợp tác nghiên cứu với Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), Viện Văn hoá Nghệ thuật (Bộ Văn hoá Thể thao

và Du lịch) và một số tổ chức quốc tế, đã thu hút nhiều người nghiên cứu văn hoá cồng chiêng

Các công trình nghiên cứu cồng chiêng có thể kể đến như, Tô Vũ (chủ biên)

trong Nghệ thuật cồng chiêng (Pleiku 1986); Nhạc khí dân tộc ở Gia Lai (Nxb Giáo dục, 1993); Nhạc khí dân tộc Jrai, Bana (Nxb Trẻ, 1998) của Đào Huy Quyền; Âm

nhạc dân gian của người Stiêng ở Bình Phước (Sở VHTT Bình Phước, 2000); Vũ

Hồng Thịnh, Bùi Lẫm với Nghệ thuật cồng chiêng Stiêng (Nxb Tổng hợp Sông Bé, 1995); Tô Đông Hải với Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ người M’nông (Nxb VHDT, 2003); Phùng Đăng Quang với Nhạc khí dân tộc Stiêng (Nxb Trẻ, 2003) Lều Kim Thanh với Tiếng chiêng trong lễ hội Bana (Sở VHTT Gai Lai - Kon Tum,

1988)

Cũng mô tả về văn hóa cồng chiêng thời kỳ này có thể kể thêm Âm nhạc dân

gian M’nông (Sở VHTT Đắk Nông, 2006); Âm nhạc cồng chiêng các dân tộc Bắc Tây Nguyên và Nhạc khí các dân tộc ít người ở Nam Bộ Việt Nam (Viện VHNT

Việt Nam, 2009); Vũ Lân với Các nhạc cụ dân gian Êđê, M’nông (Nxb VHDT,

2009)

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, đáng lưu ý là công trình Các nhạc

cụ gõ bằng đồng - những giá trị văn hóa (Kỷ yếu hội thảo quốc tế Giá trị văn hóa

Trang 14

12

của các nhạc cụ gõ bằng đồng của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam

Á, Nxb VHDT, 2006) Các tác giả đã có những báo cáo khoa học liên quan đến nhạc cụ và văn hóa âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên như: Tô Ngọc Thanh trong

“Những nhạc cụ bằng đồng - di sản văn hóa chung của nhân dân vùng Đông Nam Á” cho rằng, cồng chiêng là loại nhạc cụ bằng đồng phổ biến nhất ở Việt Nam và chiêng cồng đã tràn vào mọi khía cạnh cuộc sống con người và của cộng đồng Tây Nguyên Jose S Buenconsejo (người Philippines - Trường Đại học Hồng Kông) nêu lên “tính châu Á” về âm nhạc của bộ gõ bằng đồng gồm các chiêng bằng (gangsa), chùm chiêng (kulintang), chiêng núm treo (tagunggo) và chiêng nhỏ cầm tay cùng với những nhận định về giá trị văn hóa các nhạc cụ cồng chiêng Các báo cáo khoa học “Cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn âm nhạc học” (Đặng Hoành Loan);

“Cồng chiêng Tây Nguyên - thang âm và nghệ thuật diễn tấu” (Vũ Nhật Thăng);

“Cồng chiêng Tây Nguyên - Một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản” (Bùi Trọng Hiền);

“Phải chăng cồng chiêng Tây Nguyên là hậu duệ lịch sử của đàn đá” (Hoàng

Hương) đều dành sự quan tâm đến âm nhạc học của cồng chiêng Các tác giả này đã đặt cồng chiêng Tây Nguyên trong bối cảnh văn hóa, văn hóa âm nhạc, âm nhạc học

để tìm ra những khác biệt và tương đồng khi so sánh âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên với âm nhạc cồng chiêng của một số nước trong khu vực Đông Nam Á

Những báo cáo về cồng chiêng như “Cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn

âm nhạc học” (Đặng Hoành Loan); “Giá trị văn hóa của cồng chiêng ở Việt Nam” (Nguyễn Thụy Loan); “Những khía cạnh tín ngưỡng của cồng chiêng và việc bảo tồn âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” (Phạm Nam Thanh); “Tổng quan về văn hóa cồng chiêng và thực trạng văn hóa cồng chiêng trong đời sống các dân tộc tại chỗ Lâm Đồng” (Trần Cảnh Đào); “Đôi nét về giá trị nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng” (A Đôi); “Cồng chiêng trong đời sống tinh thần của dân làng M’nông tỉnh Đắc Nông xưa và nay” (Tô Đình Tuấn)… đã nêu lên giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật cùng các số liệu thống kê đáng suy nghĩ về sự biến đổi văn hóa và xu hướng mai một ngày càng tăng của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên [Nhiều tác giả 2006]

Trang 15

13

Các công trình đã nêu trên chủ yếu giới thiệu các giá trị về nhạc cụ cồng chiêng, về tình hình sử dụng và phát huy âm nhạc cồng chiêng của một số dân tộc ở Tây Nguyên ở những góc độ khác nhau Song, đa phần các tác giả thường nghiên cứu văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ cách tiếp cận đơn ngành hoặc đưa ra một

số định hướng giá trị ở dạng ghi chép, mô tả, giới thiệu về nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng

c Về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Tô Ngọc Thanh có công trình viết chung với Nguyễn Chí Bền về Không

gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (Nxb TG, 2006) Đặc biệt phải kể đến là hồ

sơ đệ trình UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới Trong đó đề cập đến không gian văn hóa cồng chiêng như là một đặc trưng cho văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Việt Nam và văn hóa khu vực Đông Nam Á

Các nghiên cứu trên có nói đến không gian văn hóa cồng chiêng là nơi sáng tạo cồng chiêng, nơi biểu diễn cồng chiêng, nơi lưu truyền cồng chiêng và nơi sản sinh ra những giá trị văn hóa tiêu biểu của cộng đồng các tộc người tại chỗ Tây

Nguyên được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể

của nhân loại”

Những công trình nêu trên đã nghiên cứu, trình bày các vấn đề cơ bản về cồng chiêng Tây Nguyên cùng với việc đánh giá khoa học về cồng chiêng theo khía cạnh về nguồn gốc, lịch sử ra đời cồng chiêng, phân loại hình thức cấu tạo cồng chiêng về màu âm, tầng âm, thang âm Nghiên cứu trình bày về kỹ thuật diễn tấu và bài bản của từng loại cồng chiêng trong các nghi lễ nói lên vai trò của cồng chiêng trong đời sống cộng đồng, cũng như nói về quan hệ của cồng chiêng với nhạc khí khác của cư dân trong khu vực và vùng Đông Nam Á…

Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về cồng chiêng và một số vấn

đề liên quan thể hiện công phu ở hầu hết các địa bàn không gian văn hóa Tây Nguyên Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về quá

Trang 16

14

trình hình thành và phát triển; hệ thống không gian văn hóa cồng chiêng; đặc điểm, giá trị và giải pháp bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Trong bối

cảnh ấy, luận án “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn

hóa học” sẽ là những cố gắng đáp ứng đòi hỏi từ góc nhìn văn hóa, góp phần bảo

tồn và phát huy không gian cồng chiêng ở Tây Nguyên

Tóm lại, chưa có những công trình chuyên sâu và có hệ thống nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

(1) Từ góc nhìn văn hóa học, mục đích của luận án là nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như một hệ thống, làm rõ những nét đặc trưng về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đồng thời làm nổi bật vị thế văn hóa của cồng chiêng trong hệ thống văn hóa truyền thống và những biến đổi của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay Qua

đó, cung cấp các luận chứng có cơ sở khoa học, thực tiễn về đặc điểm, giá trị, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và giải pháp bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cho công tác giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

(2) Đối tượng nghiên cứu của luận án chính là các thành tố trong cấu trúc không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bao gồm văn hóa nhận thức - văn hóa

tổ chức và văn hóa ứng xử về cồng chiêng trong không gian văn hóa Tây Nguyên Nghiên cứu các thành tố trong hệ thống không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vừa cho thấy tính đặc thù của văn hóa cồng chiêng, vừa phản ánh tính khách quan cồng chiêng là nhạc cụ tiêu biểu, trụ cột trong không gian văn hóa Tây Nguyên Bên cạnh đó, cồng chiêng Mường và một số khía cạnh có liên quan cũng là đối tượng tham khảo để chúng tôi so sánh đối chiếu

(3) Cồng chiêng là một loại nhạc cụ và là loại hình sinh hoạt văn hóa phổ biến không chỉ ở Tây Nguyên, người Khmer Nam Bộ, người Mường ở phía Bắc nước ta

Trang 17

15

mà còn có ở nhiều quốc gia Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar… Nếu xét văn hóa cồng chiêng trong hệ tọa độ: Chủ thể - Không gian - Thời gian cụ thể, cũng như tính chất, yêu cầu và đối tượng nghiên cứu của luận án, chúng tôi tiến hành giới hạn phạm vi nghiên cứu theo không gian, thời gian, chủ thể Việc xác định rõ phạm vi như vậy nhằm phục vụ tốt

nhất cho việc nghiên cứu thực hiện luận án đề tài “Không gian văn hóa cồng chiêng

Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học”

Về chủ thể, nghiên cứu tộc người Bana (Kon Tum), Jrai (Gia Lai), Êđê (Đắk

Lắk), M’nông (Đắk Nông) và K’ho (Lâm Đồng) Đây là các tộc người tại chỗ có số dân tương đối đông so với các tộc người khác ở Tây Nguyên, cũng như năng lực sáng tạo, lưu truyền văn hóa cồng chiêng của họ mang tính đặc trưng

Về không gian, nghiên cứu không gian liên quan đến cồng chiêng, văn hóa

cồng chiêng Tây nguyên Trong đó, tập trung chủ yếu ở 5 tỉnh Tây Nguyên gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng trong sự so sánh với cồng chiêng Mường và cồng chiêng một số quốc gia Đông Nam Á

Về thời gian, luận án nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của cồng

chiêng Tây Nguyên, đặc biệt tập trung giai đoạn từ sau 1975 đến nay, có so sánh với cồng chiêng Mường và các thời kỳ khác trong lịch sử hình thành, phát triển cồng chiêng Tây Nguyên

4 Khung lý thuyết, giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu

(1) Khung lý thuyết

Chúng tôi nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc

độ văn hóa học và hướng tiếp cận liên ngành, vận dụng các lý thuyết nghiên cứu văn hóa như chức năng luận (Functionism), cấu trúc luận (Structuralism), quá trình luận (Processualism/Transactionalism), chủ nghĩa vật chất văn hóa (Cultural materialism), “loại hình kinh tế - văn hóa” và “khu vực văn hóa - lịch sử” của dân tộc học Xô Viết để tìm hiểu vấn đề

Trang 18

16

(2) Giả thuyết khoa học

Giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau:

a Văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên có những đặc điểm riêng gắn liền với địa lý, môi trường và bản sắc văn hóa của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên

b Quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp -

đô thị đã và đang đem đến những biến đổi của văn hóa cồng chiêng và đặt ra yêu cầu cấp thiết cho việc bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

c Văn hóa cồng chiêng nói chung, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói riêng, với tư cách một tiểu văn hóa (sub - culture), là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ Muốn bảo tồn và phát huy hiệu quả không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần chú ý đến tính hệ thống này

(3) Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận liên ngành và lý thuyết hệ thống để xem xét

các thành tố của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tìm ra các đặc điểm

và mối quan hệ giữa chúng

Trong luận án, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu thực trạng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay Bên cạnh đó, chúng tôi có tham khảo kết quả, số liệu nghiên cứu của các tác giả khác về cồng chiêng Tây Nguyên hoặc các vùng miền, quốc gia khác

Ở kỹ thuật định tính, dựa trên bảng hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn nhà nghiên

cứu, cán bộ công chức - viên chức ở 5 tỉnh Tây Nguyên và dân làng tại địa bàn một

số huyện của 5 tỉnh Tây Nguyên như: Lâm Hà, Đức Trọng, Đam Rông (Lâm Đồng); Đắk Long (Đắk Nông); Lắk, Krông Buk, Krông Pắk (Đắk Lắk); Ayun Pa, Krông Pa (Gia Lai); Sa Thầy, Kon Plong (Kon Tum), số lượng phỏng vấn thu về 128 mẫu Nội dung tìm hiểu trong các cuộc phỏng vấn xoay quanh các chủ đề sau đây:

Trang 19

17

(1) Sự hiểu biết các phương diện của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

(2) Thực tiễn về nhận thức, tổ chức và ứng xử của quần chúng, cán bộ các cấp cũng như du khách đối với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

(3) Các phương diện bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Bên cạnh phỏng vấn bằng bảng hỏi, chúng tôi còn phỏng vấn sâu trực tiếp (được ghi âm, gỡ băng) Phần băng ghi âm chúng tôi đã gỡ có tổng lượng thời gian trên 1.500 phút cho 24 phỏng vấn sâu trực tiếp, trung bình mỗi cuộc trò chuyện kéo dài khoảng hơn 60 phút Cùng với phỏng vấn sâu, chúng tôi tiến hành kết hợp thêm

các thao tác như quan sát, ghi nhận và phân tích một số hoạt động có liên quan đến

công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay Kết quả thu được của phỏng vấn sâu và các thao tác nghiên cứu giúp đem lại những

tư liệu đa dạng và phong phú, đủ sức giúp cho chúng tôi thực hiện đề tài luận án Đối với bảng hỏi bán cấu trúc, chúng tôi xây dựng và xử lý bảng hỏi bằng ứng dụng Google Drive Do hạn chế vì khó khăn trong giao tiếp ngôn từ với đối tượng khảo sát, kết quả từ những bảng hỏi này chỉ được sử dụng như thông tin tham khảo

Phương pháp lịch sử cũng được chúng tôi áp dụng để đảm bảo tính khách

quan, chân thực cho những nhận xét, đánh giá quá trình chuyển đổi nhận thức, tổ chức và ứng xử trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên qua các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử - đặc biệt chính sách của Nhà nước liên quan đến văn hóa cồng chiêng từ sau năm 1975 đến nay

Cuối cùng, phương pháp so sánh trong văn hóa học, cả so sánh lịch đại (trước

và sau năm 1975) và đồng đại (trường hợp cồng chiêng Tây Nguyên trong sự so sánh với cồng chiêng Mường và cồng chiêng ở các quốc gia Đông Nam Á khác), được ứng dụng nhằm làm rõ quá trình chuyển đổi nhận thức về văn hóa cồng chiêng qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, các đặc điểm chung và đặc trưng riêng biệt của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Trang 20

18

Nguồn tư liệu phục vụ cho luận án khá phong phú, thuộc những lĩnh vực khác

nhau liên quan đến đề tài như dân tộc học, sử học, địa lý học, phong tục tập quán, tín ngưỡng liên quan đến văn hóa cồng chiêng; các kỷ yếu hội thảo cồng chiêng; hồ

sơ công nhận di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên… và một cơ sở dữ liệu về phỏng vấn sâu, quan sát, ghi nhận, phân tích Với cách thức, phương pháp nhận diện, phân tích về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên dựa trên hệ thống dữ liệu như văn bản, những phát biểu quan điểm về văn hóa cồng chiêng, dân ca, dân vũ và văn học viết (sử thi) vv chúng tôi có đủ nguồn tư liệu để thực hiện luận án

5 Kết quả đóng góp của luận án

(1) Về phương diện khoa học

a Luận án góp phần nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ góc nhìn văn hóa học Khi đặt trong hệ thống, do các thành tố có quan hệ biện chứng, nên thông qua việc nghiên cứu văn hóa tổ chức hay văn hóa ứng xử của cồng chiêng là có thể nắm bắt được chiều sâu văn hóa nhận thức, đã và đang chi phối công tác bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên Nói cách khác, tổ chức sinh hoạt cồng chiêng và văn hóa ứng

xử cồng chiêng là kết quả tất yếu, phản ánh nhận thức của các chủ thể trong những bối cảnh lịch sử nhất định Đến lượt mình, quá trình hoạt động văn hóa cồng chiêng, kéo theo đó là những thay đổi về văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, sẽ tác động và đòi hỏi những người tham gia công tác bảo tồn cồng chiêng phải có sự đổi mới nhận thức, tư duy sao cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn khách quan

b Từ việc xem xét không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên như một hệ thống - một tiểu văn hóa (sub - culture) bao gồm năm thành tố: (1) Nhạc cụ cồng chiêng; (2) Nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng; (3) Nghệ thuật cồng chiêng với các loại hình nghệ thuật khác của Tây Nguyên; (4) Nghệ thuật cồng chiêng với tín ngưỡng, phong tục, lễ hội của Tây Nguyên; (5) Cồng chiêng gắn kết với không gian

Trang 21

d Bổ sung tri thức, phương pháp, lý luận cho hướng nghiên cứu không gian văn hóa trong quan hệ với văn hóa cồng chiêng Bởi lẽ văn hóa cồng chiêng nói chung, văn hóa cồng chiêng trong không gian văn hóa Tây Nguyên nói riêng là một

đề tài gắn liền với thực tiễn cấp bách trong giải pháp bảo tồn đòi hỏi phải được tiếp cận bằng phương pháp luận khoa học

(2) Về phương diện thực tiễn

a Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi cũng nỗ lực xem xét vấn đề từ cách tiếp cận liên ngành, tiến hành khảo sát thực tế, phân tích SWOT để đánh giá thực trạng hoạt động không gian văn hóa cồng chiêng tại địa bàn cư trú của các tộc người Bana, Jrai, Êđê, M’nông, K’ho… ở Tây Nguyên, từ đó đưa ra những kết luận mang tính khái quát cả về lý luận và thực tiễn Đây là tính độc lập và mới tính của công trình này

b Luận án góp phần làm rõ hơn thực chất không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhấn mạnh vào những biến đổi, thực trạng bảo tồn, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong vấn đề bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

c Kết quả nghiên cứu của luận án có thể trở thành tư liệu tham khảo, bổ sung

cơ sở thực tiễn cho quá trình hoạch định chính sách, tìm kiếm giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn, phát huy hiệu quả không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Trang 22

20

6 Kết cấu và quy cách trình bày luận án

Ngoài dẫn nhập, kết luận, luận án được chia làm ba chương:

Chương 1, Cơ sở lý luận và thực tiễn, bao gồm hai nội dung chủ yếu là Cơ sở

lý luận với những khái niệm công cụ được áp dụng xuyên suốt luận án, và Cơ sở thực tiễn là những nhận định khái quát về văn hóa cồng chiêng từ góc nhìn văn hóa

học, qua đó phản ánh bức tranh về định vị không gian văn hóa cồng chiêng Tây

Nguyên qua các thời kỳ lịch sử

Chương 2, Hệ thống không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, đối tượng

nghiên cứu chính ở chương 2 là xem cồng chiêng như một hệ thống, bao gồm: nhạc

cụ cồng chiêng; nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng; nghệ thuật cồng chiêng với các loại hình nghệ thuật khác của Tây Nguyên; nghệ thuật cồng chiêng với tín ngưỡng, phong tục, lễ hội của Tây Nguyên; cồng chiêng gắn kết với không gian văn hóa Tây Nguyên

Chương 3, Đặc điểm, giá trị và vấn đề bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Trong chương này, luận án chủ yếu nghiên cứu đặc điểm,

giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Đánh giá thực trạng không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, từ đó phân tích SOWT, lý giải những nguyên nhân chiều sâu ảnh hưởng đến hiệu quả công tác bảo tồn di sản cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay Cung cấp thêm dữ liệu thực tiễn làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp bảo tồn trên ba phương diện văn hóa nhận thức, tổ chức và ứng xử nhằm góp phần lưu truyền, phát huy hiệu quả không gian văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên

Phần tài liệu tham khảo gồm 224 tài liệu tham khảo (trong đó, tiếng Việt: 196;

tiếng Anh và tiếng Pháp: 10 và một số tài liệu Internet)

Phần phụ lục, gồm Phụ lục 1: Danh mục sơ đồ, bảng, hình ảnh; Phụ lục 2:

Danh sách phỏng vấn bảng hỏi; Phụ lục 3: Bảng hỏi xây dựng box phỏng vấn; Phụ lục 4: Kết quả phân tích box phỏng vấn; Phụ lục 5: Cồng chiêng trong giáo dục nhân cách con người; Phụ lục 6: Cồng chiêng với ca hát; Phụ lục 7: Hình ảnh minh họa

Trang 24

22

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Hệ thuật ngữ và khung lý thuyết

Phần này xác định hệ thuật ngữ và khung lý thuyết để làm cơ sở cho việc nghiên cứu chương hai và chương ba

1.1.1 Khái niệm “Cồng chiêng” và “Không gian văn hóa”

Liên quan đến khái niệm “cồng chiêng”, từ điển Văn hóa dân gian có 3 định nghĩa như sau:

(1) CHINH CHIÊNG - Tên gọi bộ chiêng, cồng nhạc cụ của người Ba Na (Tây Nguyên) Một bộ chinh chiêng hoàn chỉnh thường gồm 5 chiếc cồng có núm

và 8 chiếc chiêng bằng không có núm Chỉnh chiêng chỉ được phép dùng trong các nghi lễ lớn, trọng thể của làng như lễ cúng trâu, bỏ mã, cúng bến nước, lên nhà mới, cưới [Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ 2002: 82]

(2) CỒNG (cũng gọi: chiêng) - Nhạc cụ thuộc bộ gõ, nguồn gốc phương Đông, làm bằng đồng, kích thước lớn hình lòng chảo, treo trên một cái giá gỗ, dùng dùi của trống lớn để gõ Cồng Tây Nguyên gồm 20 chiếc, đường kính 25 - 30 cm trở lên đến hơn 1m, có thể tạo thành những âm điệu phong phú, độc đáo [Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ 2002: 96]

(3) CỒNG CHIÊNG - Loại nhạc khí gõ của dân làng dân tộc ít người trong

cả nước Nhiều buôn làng, bản mường có số lượng cồng chiêng rất lớn (hàng ngàn bộ) Cồng chiêng được sử dụng trong các hội lễ lớn nhỏ: cầu mưa, cúng trâu, đám tang, bỏ mả Cồng chiêng quy tụ quanh mình nhiều loại hình nghệ thuật dân gian: nhảy múa, ca hát, tạo hình Cồng chiêng không riêng gì ở Việt Nam mà có địa bàn phân bố rất rộng trong cả vùng Đông Nam Á Cồng chiêng không chỉ có ở riêng miền núi, những câu thành ngữ cổ cho thấy cồng chiêng đã xuất hiện trong nhân dân từ những ngày lịch sử xa xôi: bà Triệu cưỡi voi đánh cồng Những lễ hội ở sân đình, ở đám rước có chiêng đi đôi với trống [Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ 2002: 96-97]

Trang 25

23

Định nghĩa thứ 3 cho chúng ta biết “cồng chiêng” là thuật ngữ chung, thuộc loại nhạc khí gõ, ai là chủ thể và được sử dụng trong dịp nào Như vậy, ở nước ta cồng chiêng là loại nhạc cụ xuất hiện từ rất sớm và từng phổ biến ở người Việt, người Mường và các tộc người thiểu số Tây Nguyên

Người Việt phân biệt “cồng” là loại có núm và “chiêng” là loại không núm

và cồng chiêng ngày nay chỉ còn lưu lại với tên gọi như: lệnh, thanh la, đồng la, phèng la… được sử dụng không thành dàn thành bộ và phổ biến như các dân tộc Tây Nguyên Đối chiếu với cồng chiêng Mường, cho thấy rằng, cồng chiêng Mường phần lớn là loại chiêng có núm, họ không dùng loại không núm cho dàn chiêng Mặc dù đôi khi và đôi nơi có dùng tên “cồng” nhưng tên gọi chủ yếu và phổ biến vẫn là “chiêng” [Kiều Trung Sơn 2009: 17] Phú Văn Hẳn (Viện KHXH Vùng Nam Bộ) khi nghiên cứu cồng chiêng Tây Nguyên cho rằng, cồng chiêng là tên gọi về loại nhạc cụ bằng đồng của người Tây Nguyên không phải “cồng” và “chiêng” là hai loại “có núm” hay “không có núm” như một số nhà nghiên cứu nói Theo Phú Văn Hẳn, “cồng” có gốc từ “gong” trong ngôn ngữ Nam Đảo, “chiêng” có gốc từ

“chiêng” hoặc “ciang” trong ngôn ngữ Nam Á

Linh Nga Niek Dam, tộc người Êđê ở Đắk Lắk thì cho rằng, các tộc người tại chỗ Tây Nguyên không có khái niệm “cồng” Những chiếc chiêng có núm (tạm gọi

là chiêng núm) được gọi là ching, chưng, hoặc goong Những chiếc không có núm (tạm gọi là chiêng bằng) có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau, tuỳ theo mỗi tộc người (thí dụ như dàn ching knah của người Êđê, ching Arap của Jrai, chêng của người Bana, Xơ đăng, chưng là cách gọi của người M’nông ) [Linh Nga Niek Dam 2009: 1-2] Tộc người Stiêng ở Bình Phước gọi cồng chiêng là gôông ching để chỉ hai loại cồng (gôông) có núm và chiêng (ching) bằng không có núm [Bùi Thị Hoa 2009: 2] Xét ở góc độ chữ Việt cổ, một số tộc người Tây Nguyên hay Mã Lai, Inđônêsia, Philippine gọi Cồng là Goong cũng như dàn nhạc giao hưởng hiện nay dùng là Tam tam hay Goong Điều này phải chăng chữ Cồng của người Việt cổ, người Mường ngày nay là từ cổ nhất của loại nhạc cụ này khi xét theo hướng lan tỏa của cồng chiêng văn hóa Đông Sơn biến thể thành Goong sang các tộc người

Trang 26

24

Đông Nam Á khác; Chữ Chiêng (Ciang) cũng của người Việt nhưng từ khi người Việt thành người Kinh (thế kỷ VII) thì trong dàn nhạc cổ không có Cồng chỉ có Chiêng đối đáp

Bên cạnh đó, các tộc người tại chỗ Tây Nguyên còn gọi tên cồng chiêng theo chất liệu chế tác, hoặc xuất xứ Chẳng hạn như chiêng Kur - chiêng có nguồn gốc từ Campuchia, chiêng Lào - chiêng có xuất xứ từ nước Ai Lao (Lào), chiêng Yoăn - chiêng mua của người Kinh ở miền xuôi

Cũng có khi dân làng Tây Nguyên gọi tên cồng chiêng theo hình thức và thể loại lễ nghi sử dụng của từng loại chiêng như: chiêng Arap - dùng trong lễ Pơthi (lễ

bỏ mả của tộc người Jrai), chiêng xoang sgơr - dùng trong lễ mừng chiến thắng của người Bana Nhưng đối với tên chung của các bộ cồng chiêng, mỗi tộc người Tây Nguyên có một cách gọi khác nhau: Tộc người Êđê gọi bộ chiêng của mình là ching char (chiêng núm gọi là ching, chiêng bằng gọi là knah) Tương tự, tộc người Jrai gọi là ching tơnah, ching kơ đơ hay ching arap Tộc người Bana và Chăm Hroi gọi

là ching chêng (ching cho những chiếc có núm và chêng dùng gọi những chiếc không có núm) Tộc người Mnông, K’ho gọi là Chưng goong, hoặc Goong chêng (goong dùng cho những chiếc chiêng có núm và chưng, chêng dùng gọi chiêng không có núm) Tộc người Xơ đăng gọi là ching goong (ching là những chiếc chiêng không có núm, goong là chiêng có núm) Tộc người Cơtu gọi Goong/Goòng Chiing (Goong/Goòng là chiêng núm, Chiing gọi là chiêng bằng không núm) Theo quan sát của chúng tôi, ngày nay đa số các tộc người tại chỗ Tây Nguyên cũng gọi theo cách của các nhà nghiên cứu văn hoá là “cồng chiêng”, ở một số vùng M’nông còn gọi là đồng la hoặc vùng Raglai gọi là mã la

Như vậy, các tộc người tại chỗ Tây Nguyên không phân biệt khái niệm là

“cồng” hay là “chiêng” mà “cồng chiêng” là cách gọi của các nhà nghiên cứu văn hóa và dần trở thành thuật ngữ quen thuộc khi nói đến loại nhạc cụ độc đáo này của người Tây Nguyên “Cồng chiêng” là loại nhạc khí thân vang gõ, với các đặc điểm:

là chất liệu hợp kim đồng; dạng phiến mỏng, bề mặt hình tròn; có núm hoặc không

Trang 27

25

có núm; có thành ở vành ngoài; đơn âm, đơn chiếc hoặc kết cấu thành dàn với nhiều kích cỡ Trong luận án này, chúng tôi dùng hai tiếng “cồng chiêng” như định nghĩa thứ 3 về cồng chiêng trong từ điển Văn hóa dân gian của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ và cách gọi của các nhà nghiên cứu để nói về các dàn/bộ chiêng Tây Nguyên Liên hệ với cồng chiêng Mường, có thể thấy, đây là cách dùng

từ giống với cách dùng từ trong dân gian của người Mường ở Hòa Bình: người Mường dùng cả hai từ “cồng” và “chiêng” để chỉ loại nhạc khí này [Kiều Trung Sơn

2009: 17]

Không gian văn hóa có thể hiểu theo hai ý: cụ thể và trừu tượng Theo ý nghĩa cụ thể, Ngô Đức Thịnh nhận định rằng không gian văn hóa là một hiện tượng hay tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết nhau như một hệ thống Nếu theo ý nghĩa trừu tượng, thì không gian văn hóa chỉ một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng có khả năng tiếp nhận và lan tỏa, tạo cho nền văn hóa đó một không gian văn hóa rộng hay hẹp khác nhau [Ngô Đức Thịnh 2004: 6,7,8] Do vậy, không gian văn hóa là một tổ hợp văn hóa với nhiều hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với nhau như một thực thể hữu

cơ tạo nên không gian rộng hay hẹp có khả năng thâu nhận và lan tỏa khác nhau Thí dụ như văn hóa tộc người, văn hóa vùng, văn hóa cồng chiêng…

Từ Thị Loan thì cho rằng: “…không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm nhiều bộ phận cấu thành như: các loại nhạc cụ cồng chiêng; các bản tấu bằng cồng chiêng; các nghệ nhân cồng chiêng (gồm nghệ nhân chỉnh chiêng, nghệ nhân chơi cồng chiêng và nghệ nhân múa xoang); các nghi lễ và lễ hội sử dụng đến cồng chiêng; các địa điểm tổ chức những hoạt động diễn xướng đó như nhà rông, nhà dài, nương rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây

Nguyên…” [Từ Thị Loan 2009: 2] Theo Viện Văn hóa Thông tin trong sách “Kiệt

tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”: không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là vùng Tây

Nguyên của Việt Nam Địa bàn Tây Nguyên hiện nay gồm năm tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng… Ngoài ra, không gian văn hóa cồng chiêng

Trang 28

26

này còn bao trùm đến các tỉnh lân cận của miền Trung Bộ: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận; các tỉnh lân cận của miền Đông Nam Bộ như Bình Phước, Đồng Nai [Viện Văn hóa Thông tin 2006: 7]

Như vậy, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một tổ hợp chứa đựng các yếu tố bộ phận vừa thống nhất vừa đa dạng, trong đó cồng chiêng là nhạc

cụ trụ cột và tích hợp vào nó nhiều hiện tượng văn hóa như phong tục, tín ngưỡng, liên kết cộng đồng, quan hệ trao đổi, khung cảnh và thời gian thể hiện cấu thành nên không gian văn hóa mang tính đặc trưng ở Tây Nguyên

Tóm lại, dựa trên bình diện địa lý và văn hóa, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có một phạm vi rộng lớn hơn, là một vùng văn hóa gồm 5 tỉnh Tây Nguyên theo địa lý hiện nay: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và các tộc người cư trú ở phía Tây các tỉnh tiếp giáp đồng bằng duyên hải miền Trung từ Đèo Ngang trở vào cho đến tận Bình Phước Chủ thể của không gian văn hóa này là các tộc người tại chỗ Tây Nguyên, với khoảng hơn 20 tộc người có những đặc trưng về âm nhạc dân gian, văn hóa dân gian, văn hóa tộc người mang tính đặc trưng và độc đáo ở Tây Nguyên

1.1.2 Âm nhạc dân gian, văn hóa dân gian, văn hóa tộc người và hướng tiếp cận

Nghiên cứu văn hóa cồng chiêng, không gian văn hóa cồng chiêng đòi hỏi có những hiểu biết về âm nhạc dân gian, văn hóa dân gian và văn hóa tộc người bởi cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng các giá trị âm nhạc và văn hóa dân gian độc đáo Làm rõ những giá trị đó sẽ giúp chúng ta hiểu thêm và có thể hiểu đầy đủ về văn hóa cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

a Âm nhạc dân gian: Âm nhạc là nghệ thuật dùng những hình thức tổ hợp âm

thanh nhất định để diễn đạt tư tưởng và tình cảm hay âm nhạc là một môn nghệ thuật phối hợp âm thanh trong cuộc sống theo những quy luật nhất định

Nhiều dân tộc trên thế giới xem âm nhạc dân gian luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống của con người Âm nhạc dân gian là di sản vô cùng quí báu, tinh hoa

Trang 29

Dân làng Tây Nguyên canh tác nông nghiệp nương rẫy, ước vọng mùa màng luôn gắn chặt với thiên nhiên, cho nên những nhạc cụ mô phỏng tiếng giông, sấm, sét như cồng, chiêng, trống, thanh la,… ra đời từ rất sớm, gắn với các nghi lễ hiến tế cầu mùa, cầu an Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên vì thế đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên

Cồng chiêng Tây Nguyên thuộc âm nhạc dân gian mà âm nhạc dân gian lại thuộc văn hoá dân gian nên hướng tiếp cận nghiên cứu âm nhạc cồng chiêng trong không gian văn hóa Tây Nguyên phải chú ý đến các đặc điểm của văn hoá dân gian như tính cộng đồng, tính dị bản và tính nguyên hợp Ở Tây Nguyên, âm nhạc cồng chiêng luôn gắn với biểu diễn cộng đồng, sinh hoạt cộng đồng của các tộc người thiểu số nơi đây

Tuy nhiên ở mỗi tộc người, nhóm tộc người khác nhau, âm nhạc cồng chiêng lại khác nhau trong biên chế bộ, người biểu diễn và nghệ thuật biểu diễn… Tính dị bản này thể hiện tính đa dạng và độc đáo của nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên Bên cạnh đó, âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên còn có tính nguyên hợp

Có nghĩa là âm nhạc cồng chiêng không tách rời với ca - vũ; không tách rời với tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội cho nên hướng bảo tồn, phát huy không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên cần phải xem xét và chú ý đến bảo tồn nguyên vẹn tính nguyên hợp này

b Văn hóa dân gian: Văn hóa dân gian là diện mạo của văn hóa, là bản sắc

văn hóa của dân tộc từ xa xưa còn tồn tại cho đến ngày nay Theo Lê Ngọc Canh, văn hóa dân gian đã sinh ra, tồn tại và phát triển theo tiến trình lịch sử của loài người từ thời nguyên thủy Khởi đầu của nó là những hiện tượng đơn lẻ của các thành tố văn hóa dân gian đơ sơ, mộc mạc, có yếu tố văn hóa, yếu tố thẩm mỹ [Lê

Trang 30

28

Ngọc Canh 1999: 12] Văn hóa dân gian theo R H Winthrop là những giá trị được xác định từ nông thôn và nó tương phản với thành thị tiến bộ [R H Winthrop 1991: 120] Theo từ điển Pháp hiện đại năm 1980 thì văn hóa dân gian là toàn bộ những truyền thống, phong tục, bài ca, truyền thuyết của một dân tộc, của một vùng Và các thành tố của văn hóa dân gian ấy liên kết chặt chẽ với nhau [Larousse - nouvelle DFC Illustré 1980: 527]

Ở Việt Nam, văn hóa dân gian gắn với thuật ngữ "phôn-clo", được sử dụng

từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "văn học dân gian", "văn nghệ dân gian" và nay là "văn hóa dân gian" Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới

Văn hóa dân gian rõ ràng là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng Văn hóa dân gian cũng như văn hóa

là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là "nền tảng tinh thần của xã hội", là "động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội"

Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có những nét văn hóa dân gian đặc trưng Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành và phát triển

từ rất lâu đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra đời và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng như xã hội Việt Nam, đặc biệt là với quần chúng lao động

Như vậy, có thể nói văn hóa dân gian là cội nguồn văn hóa của người Tây Nguyên, của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên trước tiên là văn hóa của cộng

Trang 31

29

đồng các cư dân tại chỗ Tây nguyên Bên cạnh đó, văn hóa dân gian Tây Nguyên cũng là hệ giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc Tây Nguyên làm nên tâm thức dân gian, tâm hồn các dân tộc Tây Nguyên Do vậy, tiếp cận văn hóa dân gian Tây Nguyên sẽ là nền tảng giúp làm rõ văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

c Văn hóa tộc người: Ở nước ta, khái niệm dân tộc được dùng để chỉ dân tộc

Việt Nam, là tất cả những công dân Việt Nam, sinh sống trên đất nước Việt Nam Tuy thế, dân tộc cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc Sán Dìu,… Hay nói khác đi, ở nước ta, dân tộc có hai nội hàm: chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia - Nation (dân tộc Việt Nam) và chỉ một cộng đồng tộc người cụ thể - Ethnie (dân tộc Bana, Jrai, Êđê, M’nông, Lạch…)

Dân tộc được hiểu là cộng đồng người chung một thể chế chính trị, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước Cũng có thể hiểu đó là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch

sử, với một lãnh thổ riêng, với một nền kinh tế thống nhất, với các đặc trưng văn hóa thống nhất, cùng một ngôn ngữ giao tiếp và được chỉ đạo bởi một nhà nước Đây là quan điểm được Liên hợp quốc và các nhà nghiên cứu dân tộc tán đồng

Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban đầu nó được

sử dụng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie) Mặc dù còn nhiều tranh luận, các trường phái dân tộc học đều thống nhất rằng: tộc người chỉ các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể của các quốc gia, và các cộng đồng tộc người thiểu số trong các quốc gia, vùng miền, không phân biệt đó là cộng đồng tộc người tiến bộ, hay cộng đồng tộc người còn đang trong quá trình phát triển.1

1 Trần Bình: Một số vấn đề về con người và dân tộc ở Việt Nam,

[http://huc.edu.vn/vi/spct/id43/mot-so-van-de ve-toc-nguoi -dan-toc-o-viet-nam/]

Trang 32

30

Văn hóa tộc người có một phạm vi rất rộng bao gồm toàn bộ các khía cạnh đời sống của tộc người nhưng không phải chung chung về văn hóa mà là những gì tạo nên sắc thái bản sắc riêng mà tộc người tồn tại như một thực thể, không bị hòa lẫn với tộc người khác Bản sắc văn hóa của một tộc người là tổng thể những tính chất, tính cách được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần trước những thử thách lớn lao của mỗi tộc người, tạo nên sự thống nhất văn hóa của một tộc người Mỗi một tộc người trong tiến trình lịch sử của mình đã hình thành nên bản sắc văn hóa của mình [Ngô Văn Lệ, 2004: 318] Diện mạo chính của văn hóa tộc người là văn hóa dân gian, những giá trị văn hóa ăn, mặc, ở, đi lại, những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, những dị bản văn hóa truyền khẩu, sử thi, cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ Văn hóa tộc người không bị ngăn cách bởi biên giới quốc gia Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa tộc người, không nhất thiết mỗi tộc người phải có riêng một nhà nước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển càng nhanh thì sự mai một của văn hóa tộc người cũng gia tăng, bản sắc văn hóa các dân tộc đang đối mặt với nguy cơ bị đẩy lùi Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, trong đó các giá trị văn hóa vật thể được tập trung đánh giá rất sâu, như một cuộc kiểm kê lại các giá trị văn hóa dân tộc để lên kế hoạch lưu giữ

Đặng Nghiêm Vạn, chuyên gia về dân tộc học và tôn giáo học, đã có nhiều bài viết súc tích, ngắn gọn về sự hình thành văn hóa tộc người trong quá trình phát triển tộc người Văn hóa tộc người đã được nhà nghiên cứu này tiếp cận ở nhiều khía cạnh kể cả khía cạnh lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán, lối sống văn hóa và nhất là có một ý thức tự giác tộc người, đây chính là cách hiểu trọn vẹn về tộc người và văn hóa tộc người

Sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, tự nhiên - con người và con người - con người trong cộng đồng tộc người là cái gốc của văn hóa tộc người Văn hóa tộc người đã được nhấn mạnh như một nhân tố không thể thiếu trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Văn hóa tộc người có một ý nghĩa vô cùng quan

Trang 33

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hoá của các tộc người, phản ánh đặc điểm bản sắc của văn hoá tộc người tại chỗ sinh sống lâu đời ở vùng đất Tây Nguyên Tìm hiểu, vận dụng hiểu biết khái niệm văn hóa tộc người, giúp cho việc bảo tồn, phát huy văn hoá cồng chiêng của cộng đồng các tộc người tại chỗ Tây Nguyên theo hướng phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, 54 dân tộc anh em Tôn trọng bản sắc văn hoá của các tộc người tại chỗ, không áp đặt lập trường, tiêu chí của dân tộc Kinh; không làm mất bản sắc văn hoá của các tộc người tại chỗ Công tác bảo tồn và phát huy trước hết và sau hết phải vì lợi ích vật chất và tinh thần của cộng đồng các tộc người tại chỗ Tây Nguyên - chủ thể sáng tạo cồng chiêng, văn hóa cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng

ở Tây Nguyên

1.1.3 Văn hóa vùng, vùng văn hóa và hướng tiếp cận

Nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng là tìm hiểu văn hóa vùng Vì vậy làm rõ các khái niệm và lý thuyết về văn hóa vùng sẽ giúp người nghiên cứu hiểu thêm không gian văn hóa Tây Nguyên, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên “Văn hóa vùng cũng là một dạng thức của không gian văn hóa, mà ở đó,

do quá trình giao lưu văn hóa lâu dài giữa các tộc người, đã tạo nên các sắc diện văn hóa chung ” [Ngô Đức Thịnh 2004: 7]

Như vậy, có thể hiểu văn hóa vùng là một thực thể văn hóa bao gồm những nét đặc trưng, những sắc thái riêng mà các vùng khác không có hoặc có mà không điển hình, không tiêu biểu, được tạo nên qua quá trình giao lưu văn hóa lâu dài giữa các tộc người Chẳng hạn như do điều kiện tự nhiên ưu đãi nên đặc trưng của làng

Trang 34

32

Nam Bộ khác với làng cổ truyền ở Bắc Bộ và hình thành tính cách người Nam Bộ phóng khoáng hơn Nếu như làng xã Bắc Bộ cổ truyền hoàn toàn khép kín trong

“lũy tre xanh” thì nét đặc trưng chung của thôn ấp đồng bằng Nam Bộ có “tính mở”

Liên quan đến văn hóa vùng còn có vùng thể loại “Vùng văn hóa thể loại là một không gian địa lý nhất định, mà ở đó từng thể loại văn hóa (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu, âm nhạc, ẩm thực, kiến trúc…) biểu hiện tính tương đồng, thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền…” [Ngô Đức Thịnh 2004: 292] Như vậy để tạo nên các thể loại văn hóa mang tính vùng thì các thể loại văn hóa như: truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấu, âm nhạc… cần phải có các nhân tố không gian địa lý, mối quan hệ nguồn gốc, lịch sử và các nhân tố giao lưu tiếp biến văn hóa

Bên cạnh văn hóa vùng, vùng thể loại còn có vùng văn hóa Nói như R H Winthrop, vùng văn hóa cung cấp một trật tự địa lý của xã hội có những điểm tương đồng đáng kể trong ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội [xem thêm R H Winthrop 1991: 61]

Vùng văn hóa được hiểu là một vùng lãnh thổ có những tương đồng điều kiện tự nhiên, các tộc người sinh sống ở đó từ lâu và đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa các tộc người đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân làng, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác

Như vậy phải có nhiều nhân tố tác động thì mới hình thành nên vùng văn hóa Đầu tiên là môi trường tự nhiên và các hoạt động sản xuất của dân làng Ở những môi trường khác nhau như đồng bằng, miền núi, cao nguyên, duyên hải… với những hoạt động kinh tế khác nhau như săn bắt, hái lượm, làm nương rẫy, đánh

cá, làm ruộng nước… thì sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa và các sắc thái văn hóa Như văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên gắn liền với núi rừng, nhà rông, nhà dài, rượu cần, cây nêu , ở Tây Nguyên

Trang 35

33

Mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử giúp giữ lại lâu bền những tương đồng về văn hóa Ví dụ như có trên hai mươi tộc người tại chỗ cùng sinh sống trong không gian văn hóa Tây Nguyên, nhiều tộc người có mối quan hệ về nguồn gốc lịch sử lâu đời, hiện tại tuy quá trình tộc người ở Tây Nguyên còn đang tiếp diễn phức tạp, do tác động bởi di dân những thập niên gần đây nhưng tính tương đồng văn hóa vùng Tây Nguyên vẫn còn rất rõ nét

Trình độ phát triển kinh tế, xã hội cũng góp phần quy định các đặc trưng vùng văn hóa Các tộc người ở Tây Nguyên còn ở trình độ phát triển tiền giai cấp nên văn hóa ở đây mang tính cộng đồng, thể hiện ở các hình thức lễ hội, sinh hoạt cồng chiêng, hát kể Khan và lưu truyền Khan (sử thi), cùng các hình thức sinh hoạt dân gian khác… Ngoài ra, trình độ xã hội còn ảnh hưởng tới trình độ tư duy văn hóa nghệ thuật, hình thành các hiện tượng và biểu tượng Như tư duy thần bí và điềm mộng ảnh hưởng đến đặc trưng văn hóa của các tộc người tại chỗ ở Tây Nguyên

Những biểu hiện của vùng văn hóa thể hiện ở các khía cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần của cư dân Tất nhiên, những đặc trưng văn hóa đó không phải lúc nào cũng biểu hiện như nhau ở tất cả các nền văn hóa khác nhau, mà mỗi vùng cụ thể có những đặc trưng “trội”, tạo nên cái hồn, cái “tính cách” riêng của vùng đó Đòi hỏi người nghiên cứu bắt được cái “tính cách” “trội” ấy”

Như vậy, có thể hiểu vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ được hình thành bởi tác động qua lại của nhiều nhân tố văn hóa của cư dân như môi trường tự nhiên và các hoạt động sản xuất; mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử; trình độ phát triển kinh

tế, xã hội; quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa; đặc trưng vùng văn hóa Trong đó đặc trưng văn hóa là nhân tố quyết định Cho đến nay, có nhiều lý thuyết nghiên cứu giúp tìm ra đặc trưng, diện mạo văn hóa và lý giải bản sắc văn hóa vùng Điều này cho thấy, mỗi một loại hình kinh tế xã hội luôn gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất của một tộc người cụ thể cũng như mối quan hệ khăng khít của cộng đồng đó với môi trường tự nhiên xung quanh vào một thời kỳ lịch sử nhất định

Trang 36

34

Bên cạnh lý thuyết loại hình kinh tế văn hóa, các nhà dân tộc học Xô Viết còn sử dụng lý thuyết vùng lịch sử văn hóa (hay vùng lịch sử - dân tộc học) để bao quát trong nhận thức các hiện tượng về sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn

hóa ở các cấp độ khác nhau như khu vực, vùng, tiểu vùng Vùng văn hóa lịch sử

(vùng lịch sử - dân tộc học) là một vùng mà ở đó sinh sống những tộc người Trong quá trình lịch sử lâu dài, giữa họ có những giao lưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ đó hình thành nên những yếu tố văn hóa chung thể hiện trong văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần [N.N Trêbôcxarôp, I.A Trêbôcxarôpva 1971]2 Như vậy, nếu như trong lý thuyết loại hình kinh tế văn hóa, điều kiện tiên quyết để hình thành nên những đặc trưng chung về kinh tế và văn hóa là sự tương đồng về điều kiện môi trường tự nhiên và trình độ phát triển xã hội thì ở lý thuyết vùng văn hóa lịch sử nhân tố cơ bản tạo nên tính thống nhất văn hóa vùng là mối quan hệ giao lưu ảnh hưởng lâu đời giữa các tộc người Nghiên cứu vùng văn hóa còn tiếp cận lý thuyết sinh thái (cả sinh thái tự nhiên và sinh thái văn hóa) trong quá trình con người thích nghi với tự nhiên để sáng tạo văn hóa mang diện mạo và bản sắc riêng Đồng thời yếu tố giao lưu và tiếp xúc văn hóa giữa các cộng đồng cư dân và dân tộc trong vùng diễn ra lâu dài trong lịch sử cũng tạo nên những đặc điểm văn hóa riêng mang diện mạo và bản sắc riêng của vùng này so với vùng khác

Tóm lại, khái niệm văn hóa vùng, vùng văn hóa, vùng thể loại cùng các lý thuyết nghiên cứu vùng văn hóa có liên quan bên trên (khu vực lịch sử văn hóa, sinh thái, giao lưu - tiếp xúc văn hóa) là nền tảng giúp chúng tôi nắm bắt được đặc trưng

“trội” của không gian văn hóa Tây Nguyên Nghệ thuật cồng chiêng là thể loại đặc trưng gắn với vùng văn hóa Tây Nguyên và vùng văn hóa Mường; Là vùng thể loại

có đặc điểm chung về nghệ thuật cồng chiêng nhưng lại có đặc trưng riêng về vùng cồng chiêng Mường và vùng cồng chiêng Tây Nguyên Các yếu tố như sinh thái, phương thức sản xuất, lịch sử văn hóa của vùng văn hóa Mường, vùng văn hóa Tây

2 nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-v%C4%83n-h%C3%B3a-v%C3%B9ng/page/17

Trang 37

http://www.wattpad.com/25225675-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-l%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-35

Nguyên có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của vùng thể loại cồng chiêng Đến lượt cồng chiêng lại phản ánh các yếu tố sinh thái, phương thức sản xuất, lịch sử văn hóa của vùng văn hóa Mường và Tây Nguyên

1.1.4 Di sản, bảo tồn di sản và hướng tiếp cận

Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, “Di sản văn hóa phi vật thể" được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức,

kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế

hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện Quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững "Di sản văn hóa phi vật thể" được thể hiện ở những hình thức sau: (a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; (b) nghệ thuật trình diễn; (c) tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; (d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; (e) nghề thủ công truyền thống.3

Luật Di sản văn hóa Nhà nước Việt Nam quy định: “Di sản văn hóa phi vật

thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian

văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

3 Trần Hải Vân: Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, (Bản dịch) -

[http://www.unesco.org/culture/ich/doc/src/00009-VI-PDF.pdf]

Trang 38

ra rằng họ không chỉ thuộc về mình mà còn thuộc về một cái gì rộng lớn, cao cả hơn nữa: thuộc về một dân tộc.4

Theo đó có thể hiểu, di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng là sản phẩm tinh thần, vật chất của con người có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Dương Phú Hiệp (Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á) thì quan niệm rằng: bảo tồn văn hóa thường được gắn với những đối tượng cụ thể như bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo, bảo tồn văn hóa nông thôn… Theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị văn hóa.5

4 Vương Trí Nhàn: Sơ bộ tìn hiểu di sản văn hóa Việt Nam –

[http://vuongtrihai.wordpress.com/s%C6%A1-b%E1%BB%99-tim-hi%E1%BB%83u-di-s%E1%BA%A3n-van-hoa-vi%E1%BB%87t-nam/]

5 Dương Phú Hiệp: Quan niệm về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt

Nam với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại –

[http://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&ved=0CCsQFjAA&url=http% 3A%2F%2Fwww.thongtinkhcndaklak.vn%2Fthanhtuu%2Fxhnv%2Fxhnv_38.doc&ei=ltmqUrryFKaSiQem3 4HoCw&usg=AFQjCNG4hpy5xF8b81Lvcq0_mkdZ3ZCb4g&bvm=bv.57967247,d.aGc].

Trang 39

37

Phát huy văn hóa là trên cơ sở những giá trị có trước, con người làm giàu hơn, làm phong phú, đặc sắc hơn những giá trị đó Phát triển văn hóa là một tất yếu khách quan trong sự vận động của xã hội nhằm hướng tới giá trị cao đẹp hơn cho cuộc sống của con người

Tương tự như vậy, bảo tồn, phát huy và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là cơ sở để cho văn hóa cồng chiêng đi theo đúng hướng Trong

đó, bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng gắn với gìn giữ, lưu truyền; phát huy không gian văn hóa cồng chiêng gắn với làm cho phong phú, đặc sắc; phát triển không gian văn hóa cồng chiêng gắn với biến đổi, thay thế Bởi quá trình phát triển của không gian văn hóa cồng chiêng tất yếu sẽ có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực xã hội, con người Tây Nguyên Giữa bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên với phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ không dẫn đến triệt tiêu sự phát triển của không gian văn hóa này và tương tự phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng sẽ không triệt tiêu bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Ngược lại, bảo tồn, phát huy và phát triển không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể được coi là thúc đẩy nhau Bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa cồng chiêng của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên Và thông qua phát triển không gian văn hóa cồng chiêng, người Tây Nguyên nhận thức việc thực hiện hoạt động bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng chính là nhằm phát triển bản sắc văn hóa riêng của dân làng mình Từ đó hình thành vị thế của yếu tố không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn

Phương pháp tiếp cận: để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn, phát

huy và phát triển di sản không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cần thiết tiếp cận một số quan điểm và phương pháp sau:

Trang 40

38

Tôn trọng sự đa dạng văn hóa cồng chiêng và bảo vệ, tôn vinh bản sắc không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để tạo nền tảng tinh thần cho các tộc người Tây Nguyên phát triển

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên Kinh tế Tây Nguyên và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau Việc bảo tồn di sản không gian văn hóa cồng chiêng là động lực cho phát triển xã hội, hình thành nhân cách con người Tây Nguyên

Di sản không gian văn hóa cồng chiêng là bộ phận quan trọng trong môi trường sống của người Tây Nguyên Di sản không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có đặc điểm không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự biến đổi xã hội, việc bảo tồn, phát huy thiếu chuyên nghiệp của con người

Con người là trung tâm của xã hội nên di sản không gian văn hóa cồng chiêng phải gắn với các tộc người tại chỗ Tây Nguyên - chủ thể sáng tạo văn hóa cồng chiêng nhằm đáp ứng nhu cầu, mục tiêu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên

Giữa cổ truyền và hiện đại luôn có sự kế thừa và bổ sung những giá trị không gian văn hóa cồng chiêng Công tác bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là hoạt động giúp cho việc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa cồng chiêng của các tộc người tại chỗ Tây Nguyên Làm cho văn hóa cồng chiêng không bị lạc hậu, mai một, mà luôn luôn mới và có vị trí xứng đáng trong đời sống hiện nay của cộng đồng các tộc người Tây Nguyên

Bảo tồn một di sản văn hóa phi vật thể như không gian văn hóa cồng chiêng

Tây Nguyên có thể thực hiện theo hai phương pháp sau, Bảo tồn tĩnh: thực hiện

quay phim, chụp ảnh, ghi chép, tư liệu hóa thật chi tiết những sinh hoạt văn hóa

cồng chiêng để khi có nhu cầu, thì căn cứ vào đó có thể phục dựng; Bảo tồn động:

đưa di sản văn hóa cồng chiêng về lại với cộng đồng Tây Nguyên Bởi, cộng đồng Tây Nguyên chính là chủ thể của di sản, không ai có thể thay thế họ Tuy nhiên, bảo

Ngày đăng: 22/01/2021, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w