ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯƠNG THỊ QUỲNH CHI VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG BỐN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: NHÃ NHẠC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ QUỲNH CHI
VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG BỐN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT
NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ, KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN, QUAN HỌ, CA TRÙ
TRÊN BÁO IN VÀ BÁO ĐIỆN TỬ
(Khảo sát báo Tuổi Trẻ TP HCM, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Vietnamnet và
Vnexpress từ năm 2003 đến năm 2009)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội-2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ QUỲNH CHI
VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG BỐN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA VIỆT
NAM ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN: NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ, KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN, QUAN HỌ, CA TRÙ
TRÊN BÁO IN VÀ BÁO ĐIỆN TỬ
(Khảo sát báo Tuổi trẻ TPHCM, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Vietnamnet và
Vnexpress từ năm 2003 đến năm 2009)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN THỊ MINH THÁI
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CCTN : Cồng chiêng Tây Nguyên
2 DSVHPVT : Di sản văn hóa phi vật thể
9 TTĐC : Truyền thông đại chúng
10 UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
11 VHNT : Văn hóa nghệ thuật
12 VNN : Vietnamnet
13 VNE : Vnexpress
Trang 4DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 : Bảng cơ cấu thể hiện đã từng nghe đến Nhã nhạc Huế
Bảng 2.2: Mức độ quan tâm của những người chưa từng nghe tới Nhã nhạc Huế
Bảng 2.3: Mức độ quan tâm của những người đã từng nghe tới Nhã nhạc Huế Bảng 2.4 : Bảng cơ cấu thể hiện đã từng nghe về Không gian văn hóa CCTN Bảng 2.5 : Mức độ quan tâm của những người chưa từng nghe tới CCTN Bảng 2.6: Mức độ quan tâm của những người đã từng nghe tới CCTN
Bảng 2.7 : Bảng cơ cấu thể hiện đã từng nghe về di sản Quan họ
Bảng 2.8 : Bảng cơ cấu thể hiện đã từng nghe đến di sản Ca trù
Bảng 2 9 : Mức độ quan tâm của những người chưa từng nghe tới Ca trù Bảng 2.10: Mức độ quan tâm của những người đã từng nghe tới Ca trù
Bảng 2.11 : Bảng cơ cấu thể hiện từng đọc bài viết chuyên sâu/không chuyên sâu từ năm 2003 đến 2009 trên báo Tuổi Trẻ
Bảng 2.12 : Bảng cơ cấu thể hiện công chúng biết đến các di sản thông qua báo Tuổi Trẻ
Bảng 2.13: Bảng tổng hợp thể hiện sự đánh giá của công chúng về khả năng truyền thông của Báo Tuổi Trẻ về di sản văn hóa phi vật thể
Bảng 2.14 : Bảng cơ cấu thể hiện từng đọc bài viết chuyên sâu/không chuyên sâu trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Bảng 2.15 : Bảng cơ cấu thể hiện công chúng biết đến các di sản thông qua Tạp chí VHNT
Bảng 2.16: Bảng tổng hợp thể hiện sự đánh giá của công chúng về khả năng truyền thông của Tạp chí Văn hóa nghệ thuật về di sản văn hóa phi vật thể Bảng 2.17 : Bảng cơ cấu thể hiện từng đọc bài viết chuyên sâu/không chuyên sâu trên VNN
Trang 5Bảng 2.18: Bảng cơ cấu thể hiện công chúng biết đến các di sản thông qua VNN
Bảng 2.19: Bảng tổng hợp thể hiện sự đánh giá của công chúng về khả năng truyền thông của Báo Vietnamnet về di sản văn hóa phi vật thể
Bảng 2 20 : Bảng cơ cấu thể hiện từng đọc bài viết chuyên sâu/không chuyên sâu trên Vnexpress
Bảng 2.21 : Bảng cơ cấu thể hiện công chúng biết đến các di sản thông qua VNE
Bảng 2.22: Bảng tổng hợp thể hiện sự đánh giá của công chúng về khả năng truyền thông của Báo VNE về di sản văn hóa phi vật thể
Bảng 3.1: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ hiểu biết về di sản phi vật thể qua các năm khi được truyền thông
Bảng 3.2 : Bảng cơ cấu thể hiện mức độ hiểu biết theo nghề nghiệp người trả lời năm 2003
Bảng 3.3: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ quan tâm về di sản phi vật thể qua các năm khi được truyền thông
Bảng 3.4 : Bảng cơ cấu thể hiện mức độ quan tâm theo nghề nghiệp người trả lời năm 2003
Bảng 3.5: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ hiểu biết về di sản phi vật thể qua các năm khi được truyền thông
Bảng 3.6: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ quan tâm đến các di sản văn hóa phi vật thể qua các năm khi được truyền thông
Bảng 3.7: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ hiểu biết về di sản phi vật thể qua các năm khi được truyền thông
Bảng 3.8: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ quan tâm đến các di sản văn hóa phi vật thể qua các năm khi được truyền thông (từ 2003 đến 2009)
Trang 6Bảng 3.9: Bảng cơ cấu thể hiện nội dung công chúng sẽ tiếp tục tìm hiểu về
di sản phi vật thể sau khi được truyền thông từ năm 2003 đến 2009
Bảng 3.10: Bảng cơ cấu thể hiện mức độ đưa tin/ bài trước, trong và sau khi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời gian gần đây, DSVHPVT và việc bảo tồn những di sản này trở thành vấn
đề được nhiều người quan tâm Không chỉ ở Việt Nam, trên thế giới, mối quan tâm
và sự trân trọng đối với truyền thống văn hóa dân tộc, đặc biệt là DSVHPVT đã trở thành một trào lưu thời đại mang tính quốc tế Các giá trị văn hóa phi vật thể là báu vật vô giá Nó có thể bị lớp thời gian làm cho đóng bụi nhưng bên trong là cả một
sự kết tinh của tư tưởng tài năng sáng tạo của cha ông từ trước Báu vật đó được truyền lại từ đời này sang đời khác, đã chịu sự thử thách của thời gian và ngày nay, nếu bỏ lơ hay làm mất đi, có nghĩa là đã phủ nhận lịch sử, phủ nhận những nỗ lực của cha ông Ðể có thể duy trì sức sống cho các DSVH ấy thì nó phải được bảo tồn như nó vốn có, phải được "sống" và tôn vinh trong chính cộng đồng của nó Cho nên, cần bảo tồn và ứng xử với di sản văn hóa bằng lòng tự hào dân tộc, bằng hiểu biết và niềm đam mê cái đẹp, cái tinh túy của DSVH
Một thực tế trong thời đại ngày nay là văn hóa ngoại lai ở thế mạnh không ngừng xâm nhập vào văn hóa dân tộc Đứng trước nguy cơ bị tổn hại của văn hóa dân tộc, vì khả năng phát triển bền vững của xã hội, vì sự phát triển đa dạng của văn hóa nhân loại, sự quý giá của văn hóa truyền thống, đặc biệt là DSVHPVT, việc cấp cứu và bảo vệ những DSVH này, kế thừa và phát triển chúng đã trở thành tiếng nói tâm huyết của mọi người Đối với những nước đang phát triển, việc bảo vệ DSVHPVT và truyền khẩu của dân tộc mình là một nhiệm vụ rất quan trọng, được xem là cơ sở xây dựng văn hóa hiện đại mang bản sắc dân tộc Sự quan tâm và trân trọng tính chất đặc trưng của văn hóa dân tộc, bảo vệ DSVHPVT và truyền khẩu, không chỉ là nhiệm vụ vinh quang của toàn nhân loại, là con đường phát triển đa nguyên hóa về văn hóa của thế giới mà còn là trách nhiệm cần phải đảm đương của mỗi dân tộc đối với thế giới và thời đại Chỉ khi nền văn hóa dân tộc được phát triển mạnh mẽ với tiềm năng sâu rộng và có bản sắc thì mới có thể bảo vệ và thể hiện ở mức cao nhất được tính phong phú và đa dạng của văn hóa nhân loại
Trang 8Trong bối cảnh chung ấy, vấn đề bảo tồn các DSVH nói chung và các DSVHPVT nói riêng của Việt Nam cũng trở thành vấn đề hết sức bức thiết Tính đến thời điểm năm 2009, Việt Nam đã có 4 di sản được UNESCO công nhận là
DSVHPVT đại diện nhân loại: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù Bên cạnh bốn di sản này, Việt Nam
còn rất nhiều di sản khác xứng đáng và cần được UNESCO công nhận Điều này không chỉ để thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn mà quan trọng hơn cả là vấn đề bảo tồn sẽ được thực hiện một cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn Nếu không được bảo tồn và phát huy thì di sản sẽ dần mai một và mất dần những giá trị truyền thống Chính vì thế, Việt Nam cần làm nhiều hơn nữa, quan tâm hơn nữa đến vấn đề di sản Truyền thông là một trong những phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc đưa các
di sản trở nên gần gũi hơn với công chúng và khiến cho mối quan tâm của công chúng đến các vấn đề di sản bao gồm được UNESCO công nhận, bảo tồn và phát huy các giá trị …ngày càng nhiều hơn
Báo Tuổi Trẻ TP HCM (Tuổi Trẻ) là một trong số các tờ báo in có uy tín hàng đầu tại Việt Nam Báo Vietnamnet và Vnexpress là 2 tờ báo điện tử lớn của Việt Nam Tạp chí Văn hóa nghệ thuật là tạp chí chuyên ngành, chuyên sâu về các
vấn đề văn hóa Cả 4 tờ báo đều đã có những phương thức nhất định trong việc truyền thông về di sản, góp phần đưa các di sản đến gần UNESCO và gần công chúng hơn Việc nghiên cứu những phương thức truyền thông của 4 tờ báo đại diện cho 2 loại hình báo chí (báo in và báo điện tử) về vấn đề di sản sẽ góp phần rút kinh nghiệm và tìm ra một số phương pháp truyền thông hiệu quả hơn Qua đó, góp phần nâng cao mức độ quan tâm và chú ý của công chúng đến các di sản để thông qua truyền thông, di sản được giữ gìn, phát huy tốt hơn
Với những lý do trên, luận văn xin được đề cập đến vấn đề: “ Vấn đề truyền thông bốn di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận:
Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan
họ, Ca trù trên báo in và báo điện tử (Khảo sát báo Tuổi Trẻ TP HCM, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Vietnamnet và Vnexpres từ năm 2003 đến năm 2009)
Trang 9- Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí học, có
tiêu đề: “Vai trò của báo chí trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa Việt Nam hôm nay” của tác giả Ngô Thị Phương
Thảo, bảo vệ năm 2001
- Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí học, có
tiêu đề: “Báo chí với công tác phản ánh, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống” (khảo sát báo Văn Hóa, Hà Nội Mới, Hà Tây, Bắc Ninh, Phú Thọ từ 1998 đến nay) của tác giả Chu Thu Hảo, bảo vệ
năm 2002
- Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí học, có
tiêu đề: “Báo chí Thừa Thiên Huế với công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa Huế” của tác giả Trần Văn Thiện, bảo vệ năm 2002
- Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí học, có
tiêu đề : “Báo chí với việc giới thiệu và góp phần bảo tồn di sản văn hóa ở
Hà Nội” (khảo sát báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, Văn Hóa từ năm 1992 đến 2002) của tác giả Đào Thị Minh Nguyệt, bảo vệ năm 2007
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học có tiêu đề: “ Báo Văn Hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trịnh Liên Hà Quyên, bảo vệ năm 2006
- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học có tiêu đề : “ Báo chí với vấn
đề bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam (khảo sát các báo Văn Hóa, Thể Thao và Văn Hóa, Vietnamnet) của tác giả Mai Trang, bảo vệ
năm 2009
Trang 10- Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học có tiêu đề : “ Báo chí Hà Nội với việc góp phần bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống của Thủ đô”
của tác giả Thu Lan, bảo vệ năm 2010
Tuy nhiên, các đề tài này không nghiên cứu sâu vấn đề phương thức, nghệ thuật cũng như giải pháp truyền thông của báo chí đối với vấn đề di sản, đặc biệt là với sự kiện các di sản được UNESCO công nhận Các đề tài cũng không đề cập trực tiếp đến hiệu quả truyền thông về vấn đề di sản nói chung và DSPVT nói riêng thông qua việc khảo sát và đánh giá mức độ quan tâm của công chúng đến 4
DSPVT được UNESCO công nhận là Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù
Như vậy, có thể khẳng định rằng, cho tới thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nào tại Việt Nam đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề truyền thông các DSVHPVT của Việt Nam được UNESCO công nhận Ngoài ra, luận văn cũng đưa
ra một vài kinh nghiệm truyền thông cần thiết đồng thời đưa ra một số giải pháp góp phần giúp trong hoạt động truyền thông về di sản của báo chí hiệu quả hơn Thông qua truyền thông, các di sản của Việt Nam đến gần công chúng hơn Quan trọng hơn, thông qua truyền thông, công chúng nhận thức và thay đổi nhận thức đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các DSVH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phần lý thuyết, luận văn nghiên cứu những vấn đề văn hóa và DSVH Luận văn nghiên cứu cụ thể về khái niệm, loại hình, bản chất của từng vấn đề lý thuyết Qua đó, hình dung về đề tài sẽ rõ ràng hơn
Phần thực tiễn, luận văn tập trung khai thác cách thức và nghệ thuật truyền
thông của các báo Tuổi Trẻ, Tạp chí VHNT, VNN và VNE qua từng thời kỳ các
di sản được công nhận theo trình tự thời gian Luận văn phân tích cách thức truyền thông của từng tờ báo qua từng giai đoạn các di sản được công nhận nhằm mang đến cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật truyền thông của báo chí Việt Nam đối với các sự kiện nói chung và sự kiện văn hóa nói riêng
Trang 11Ngoài ra, phần thực tiễn cũng đánh giá hiệu quả cũng như những kinh nghiệm trong việc truyền thông của các tờ báo trên Đồng thời, rút ra so sánh về phương thức truyền thông và hiệu quả truyền thông của hai loại hình báo chí riêng biệt là báo in và báo điện tử Từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của báo chí trong việc góp phần đưa các di sản văn hóa Việt Nam đến gần thế giới
và gần công chúng hơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phần nghiên cứu lý thuyết, chúng tôi hệ thống hoá tài liệu từ rất nhiều nguồn: sách trong nước, sách nước ngoài, một số website tin tức trong và ngoài nước… Luận văn sẽ tiến hành khảo sát trên 4 báo đại diện cho 2 phương tiện truyền thông báo in và báo điện tử Đó là: báo Tuổi Trẻ, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Vietnamnet và Vnexpress trong khoảng thời gian từ tháng 1/2003 đến tháng 12/2009
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn mong muốn làm sáng rõ phương thức truyền thông, nghệ thuật truyền thông và bài học truyền thông của báo chí Việt Nam, cụ thể là hai loại hình báo in và báo điện tử đối với vấn đề các DSVHPVT được UNESCO công nhận
Thông qua đó, luận văn muốn rút ra những bài học kinh nghiệm để góp phần đưa các di sản Việt Nam thuận lợi hơn trên con đường đến với thế giới
và được UNESCO công nhận cũng như thay đổi được phần nào nhận thức và hành
vi của người dân theo hướng tích cực hơn đối với di sản dưới tác động của truyền thông Nếu được, đây sẽ là những bước đi đúng đắn và có ích đối với di sản Việt
Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đó, luận văn triển khai những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu kỹ các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Trang 12- Khảo sát một số nhóm công chúng về hiệu quả truyền thông của các báo Tuổi Trẻ, Tạp chí VHNT, VNN và VNE đối với 4 di sản văn hóa phi vật thể
- Tìm hiểu phương thức truyền thông của hai loại hình báo chí là báo in và báo điện tử Việt Nam, cụ thể là tìm tin tức, bài viết, chuyên mục trên các báo Tuổi Trẻ, Tạp chí VHNT, VNN và VNE Tính số lượng bài viết từ khi di sản đầu tiên là Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận trên những tờ báo này
- Đánh giá hiệu quả của truyền thông của những tờ báo cụ thể và loại hình chung thông qua khảo sát
- Đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm cùng đưa ra những giải pháp tốt hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp sau:
- Phương pháp khảo sát - thống kê
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn giúp cho những cơ quan quản lý về văn hóa và những cơ quan báo chí có cách thức truyền thông tốt nhất về các DSVH nói chung và DSVHPVT nói riêng, góp phần phát huy giá trị và gìn giữ giá trị của những di sản này
Luận văn góp phần cung cấp kinh nghiệm cho những người làm báo trong việc thông tin về các DSVHPVT và các sự kiện văn hóa nói chung
Trang 13Đặc biệt, ý nghĩa lớn nhất của Luận văn là mong muốn tìm ra con đường để đưa DSVH của Việt Nam thuận lợi hơn trong việc trình hồ sơ và được UNESCO công nhận Qua đó, các di sản của Việt Nam được công nhận và có điều kiện được bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của mình và đặc biệt là được “sống” trong cộng đồng
Luận văn còn có ý nghĩa đối với bản thân học viên, góp phần giúp tác giả tự nâng cao trình độ và biết cách tổ chức một công trình khoa học
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương rõ ràng Cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết về truyền thông và di sản văn hóa
Chương 2: Tuổi Trẻ, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Vietnamnet và Vnexpress truyền
thông về bốn di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO công nhận
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp truyền thông hiệu quả cho các
sự kiện văn hóa
Trong đó, Chương 1 đưa ra một số khái niệm, cách phân loại DSVH và DSVHPVT cũng như những đặc trưng của DSVHPVT Nội dung Công ước của UNESCO về bảo vệ DSVHPVT và Luật Di sản văn hóa Việt Nam đồng thời chỉ ra mối tương quan giữa hai văn bản này trong vấn đề về DSVHPVT Bên cạnh một số vấn đề chung về di sản văn hóa, chương 1 cũng đưa ra một số vấn đề lý thuyết cơ bản về truyền thông như: quá trình truyền thông, mô hình truyền hông, hiệu quả truyền thông….Chương 1 cũng giới thiệu đôi nét về giá trị, đặc trưng của 4 DSVHPVT của Việt Nam được UNESCO công nhận (tính đến năm 2009) là: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa CCTN, Quan họ và Ca trù
Chương 2 phân tích khả năng truyền thông và sự thích nghi của 4 tờ báo: Tuổi Trẻ, Tạp chí VHNT, VNN, VNE về 4 DSVHPVT và mức độ quan tâm của công chúng đối với từng di sản thông qua truyền thông Việc phân tích được tiến hành thông qua khảo sát số lượng tin/bài, cách thức truyền thông và mức độ quan tâm của
Trang 144 tờ báo đồng thời thông qua một khảo sát của tác giả luận văn với 3 nhóm công chúng cụ thể
Chương 3 tiến hành so sánh đánh giá hiệu quả truyền thông giữa hai loại hình báo in và báo điện tử Đồng thời so sánh sự thay đổi về hiệu quả truyền thông của 4
tờ báo từ năm 2003 đến năm 2009 thông qua đánh giá mức độ quan tâm của công chúng đối với hoạt động truyền thông của 4 tờ báo về DSVHPVT Chương 3 cũng đưa ra một số kinh nghiệm truyền thông về DSVHPVT và một số giải pháp để truyền thông về DSVHPVT cũng như các sự kiện văn hóa nói chung hiệu quả hơn
Trang 15CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT
VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Những lý thuyết truyền thông cơ bản
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông (communication) là một hoạt động gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Trong xã hội loài người, truyền thông là điều kiện tiên quyết để
có thể hình thành nên một “cộng đồng” hay một “xã hội” Con người sở dĩ có thể sống được với nhau, giao tiếp được với nhau, trước hết là nhờ vào hành vi truyền và nhận thông tin giữa người này với người kia Có nhiều quan điểm khác nhau về truyền thông Truyền thông là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những giừ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm
và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ Theo định nghĩa của một số nhà khoa học, lý thuyết truyền thông thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người và truyền thông là một quá trình có liên quan đến nhận thức (thái độ) hoặc hành vi Giữa nhận thức và hành vi của con người bao giờ cũng có khoảng cách Và truyền thông chính là nhằm mục đích tạo nên sự đồng nhất hoặc ít ra là rút ngắn khoảng cách ấy [9]
Có một định nghĩ về truyền thông tương đối đơn giản, ngắn gọn và đầy đủ như sau: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin , tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [9] Theo định nghĩa này, truyền thông được hiểu là một hoạt động có quá trình, diễn ra trong một khoảng thời gian đủ dài và tương đối lớn; không phải một việc làm nhất thời, diễn ra trong phạm vi thời gian hẹp Quá trình này phải
Trang 16mang tính liên tục vì nó không kết thúc ngay khi sau khi chuyển tải thông điệp cần thiết mà còn tiếp diễn sau đó Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau và cuối cùng truyền thông phải đem đến sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của đối tượng tiếp nhận truyền thông Đây chính là hiệu quả lớn nhất của truyền thông Trong cuốn Xã hội học báo chí, tác giả Trần Hữu Quang có viết, quá trình truyền thông có thể diễn ra trong không gian (truyền thông giữa người ở nơi này với người ở nơi khác, hay giữa tổ chức này với tổ chức khác, hay diễn ra trong thời gian (truyền thông từ thời điểm này sang thời điểm khác nhờ những phương thức lưu trữ thông tin) Hành vi truyền thông thường được thể hiện thông qua ngôn ngữ (lời nói hay chữ viết), nhưng cũng có thể thông qua động tác, cử chỉ hay điệu bộ để biểu lộ một thái độ hoặc một cảm xúc nào đó Khi nói tới truyền thông, người ta thường hình dung 3 loại truyền thông, là truyền thông liên cá nhân, truyền thông tập thể và truyền thông đại chúng
1.1.2 Mô hình truyền thông
Bản thân truyền thông đã là một quá trình, diễn ra liên tục và trong một khoảng thời gian tương đối lớn Mục đích của truyền thông là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ thông điệp và có những hành động tương tự
Harold D.Lasswell đã phác thảo một công thức nổi tiếng: “Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai, và có hiệu quả gì” Công thức này đã liệt kê ra những điều cần xem xét trong nội dung một thông tin, bao gồm: nguồn thông tin, nội dung thông tin, các phương tiện thông tin, công chúng và các tác động của truyền thông nơi công chúng Tuy nhiên, công thức này có phần giới hạn khi hình dung truyền thông chỉ như một đường thẳng giữa một đầu là người phát tin và một đầu là người nhận tin [19]
Kênh truyền tin
Mô hình truyền thông theo Lasswell
Trang 17Sau công thức của Lasswell, các nhà nghiên cứu đã đồng tình hơn với quan điểm truyền thông theo mô hình khép kín của nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson
Mô hình khép kín gồm bốn giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) và phản hồi (feedback)
Mô hình truyền thông theo Jakobson do Michel de Coster phác họa thành sơ đồ
[19]
Đặc điểm của mô hình này là trình bày quá trình truyền thông như một chu
kỳ vòng tròn, thay vì chu kỳ tuyến tính như của Lasswell Trong đó, các giai đoạn được cụ thể như sau:
-Giai đoạn phát tin: Truyền thông là diễn tả một ý tưởng bằng một hệ thống tín
hiệu (signs) dưới dạng ngôn ngữ hoặc cử chỉ, nghĩa là bằng một thứ mã hóa
Người nhận tin Phản hồi
Phác thảo
thông điệp
tin
Giải mã
Phát tin Nhận tin Truyền tin
Trang 18(coding) Trong giai đoạn phát tin, có xảy ra hiện tượng nhiễu bởi đôi khi nội dung thông điệp sau khi được mã hóa không phản ánh hoàn toàn chính xác nội dung thông điệp vốn được hình dung trong đầu Hiện tượng này được gọi là “filtering”, tạm dịch là “hiện tượng bị lọc” [19] Sở dĩ có hiện tượng này là do người phát tin có thể chưa hoàn toàn làm chủ được ngôn ngữ mà mình sử dụng, hoặc có thể do chính bản thân ngôn ngữ thường không cho phép diễn đạt được hết tư tưởng, ý đồ mà người phát tin muốn trình bày
- Giai đoạn truyền tin: Giai đoạn này có thể diễn ra bằng hình thức tiếp xúc trực
tiếp nhưng cũng có thể thông qua một phương tiện kỹ thuật trung gian hay một kênh nào đó Khi thông điệp được chuyển qua một trung gian nào đó thì có nhiều khả năng sẽ bị nhiễu bởi những loại tiếng động hay tiếng ồn (noise) khác nhau và do đó, nội dung thông điệp bị sai lạc hay bị mất đi một phần nào đó
- Giai đoạn nhận tin: Ở giai đoạn nhận tin, sẽ diễn ra quá trình giải mã (decoding)
Sau khi giải mã thông điệp, người nhận tin sẽ tiến hành giải thích nội dung thông điệp để hiểu được ý nghĩa của nó Việc giải thích này được tiến hành dựa trên các khung quy chiếu về văn hóa của người nhận tin.[19] Khung văn hóa được quy định bởi nhiều yếu tố như: nguồn gốc xã hội, tuổi tác, trình độ, giới tính…Abraham Moles đã liệt kê một số trường hợp mô tả mức độ tiếp nhận thông điệp của người nhận tin như sau: hiểu hoàn toàn thông điệp, hiểu một phần thông điệp, hiểu gần như trọn vẹn thông điệp, hoàn toàn không hiểu thông điệp
- Giai đoạn phản hồi: Cuối cùng thông điệp do người phát tin chuyển đi thường
gây ra một hệ quả là làm cho người nhận tin có một phản ứng nào đó trở lại cho người phát tin Như vậy, lúc này người nhận tin cũng trở thành một người phát tin, tức là một nguồn thông tin mới Một cách trừu tượng, có thể định nghĩa sự phản hồi
là sự trả về một phần của xuất lượng của một hệ thống nhằm làm thay đổi nhập lượng của hệ thống này [19] Giai đoạn phản hồi đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền thông bởi có phản hồi, sự chia sẻ, trao đổi thông tin diễn ra tốt hơn, khiến cho quá trình truyền thông có hiệu quả hơn
Trang 191.1.3 Hiệu quả truyền thông
Hiệu quả truyền thông đo được thông qua điều gì và làm thế nào để nhận biết được truyền thông đã có hiệu quả? Muốn đánh giá được hiệu quả truyền thông phải hiểu được cơ chế tác động của truyền thông đến công chúng Trong luận án “ Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội”, tác giả luận án cho rằng,
cơ chế tác động của TTĐC được thể hiện thông qua mối quan hệ dưới đây:
Chủ thế - Thông điệp - Ý thức xã hội - Hành vi xã hội -Hiệu quả
xã hội
(Cơ chế tác động của truyền thông đại chúng Nguồn: Tạ Ngọc Tấn)
Phương thức tác động của TTĐC là thông qua (hoặc bằng) các phương tiện TTĐC để truyền tải thông tin trong các thông điệp, tác động đến ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay làm thay đổi nhận thức, thái độ cũ Bản chất của cơ chế tác động là từ chỗ làm thay đổi nhận thức xã hội sẽ làm thay đổi hành vi xã hội
Và khi đạt được mục đích ban đầu của mình, TTĐC đã tạo ra hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội có những mức độ khác nhau Theo PGS, TS Tạ Ngọc Tấn (2001), người
ta chia hiệu quả xã hội của TTĐC thành 3 mức độ:
- Mức độ thứ nhất là hiệu quả tiếp nhận: Đó là sự đánh giá về số lượng, cách thức tiếp cận và chấp nhận nguồn thông tin từ các phương tiện TTĐC Đây là cấp độ thấp nhất nhưng là điều kiện ban đầu để dẫn đến các cấp độ sau
- Mức độ thứ hai là hiệu ứng xã hội Đó là những biểu hiện của xã hội hình thành do
sự tác động của TTĐC (từ những phản ứng tâm lý, trạng thái tình cảm, dư luận xã hội) đến những xáo động trong sinh hoạt, sự thay đổi về cách ứng xử, những hành
vi cụ thể của các cá nhân và cộng đồng
- Mức độ thứ ba là mức độ cao nhất chính là hiệu quả thực tế Đó là những thay đổi, vận động thực tế của đời sống xã hội dưới tác động của TTĐC Đây là hiệu quả gián tiếp trong mối quán hệ với các tiến trình, các lĩnh vực khác nhau trong xã hội cùng tác động vào công chúng
PGS, TS Tạ Ngọc Tấn cũng nhận định: DLXH được cho là hiệu quả tức thì của truyền thông đại chúng Khi một sự kiện mới diễn ra, công chúng quan tâm đến
Trang 20hai vấn đề: Bản chất sự kiện ấy là gì và nó ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội Cơ quan có trách nhiệm sẽ xử lý nó như thế nào Ở cả hai nội dung này, báo chí đều có trách nhiệm thông tin và thông tin đầy đủ Sự phản ánh DLXH như một phần của tác phẩm báo chí đã tạo ra thông tin thú vị, thúc đẩy cách giải quyết của cơ quan chức năng theo đúng chiều hướng và mức độ cần thiết của nó Báo cũng là kênh để bạn đọc giải tỏa bức xúc, thể hiện vai trò “diễn đàn quần chúng nhân dân của báo chí” Báo chí không phản ánh đơn thuần mà luôn phản ánh có mục đích Mục đích của thông tin trước hết là nhằm để công chúng biết đến sự thật đang diễn ra xung quanh mình Nhưng sâu xa hơn là còn nhằm đến tích cực hóa đời sống xã hội Khả năng tác động của báo chí vào DLXH chính là ở vai trò chọn lựa thông tin hay góc
độ nào đó của thông tin nhằm tác động có lợi hay không có lợi cho đối tượng nào
đó, tùy mục đích của nhà truyền thông và nhóm đơn vị mà nhà truyền thông đó phục vụ
Cách đánh giá, phân tích cũng tạo nên những hiệu ứng khác nhau PGS, TS Mai Quỳnh Nam cho rằng: Các phân tích về cơ chế từ tác động truyền thông tới hành động của con người cho thấy, việc cung cấp thông tin, kiến thức, thông qua các kênh, hay một con đường nào đó đến với đối tượng tiếp nhận hiểu và có khả năng làm theo sự chỉ dẫn của thông tin đã tạo nên hành động của các cá nhân và các tập đoàn người Chìa khóa của vấn đề là ở nhận thức Thông tin chính là điều kiện
để thay đổi, định hướng hoặc làm sâu sắc hơn nhận thức của đối tượng và tự nhận thức (hiểu), mỗi cá nhân và cộng đồng sẽ hành động theo cách nhận thức của mình, phù hợp nguồn thông tin và hướng thông tin được tiếp nhận
Truyền thông có hiệu quả sẽ làm cho con người hiểu nhau, thông tin được truyền đạt một cách nhanh chóng, chính xác, lấp được khoảng cách giữa con người với con người
1.2 Một số vấn đề chung về di sản văn hóa phi vật thể
1.2.1 Tổ chức UNESCO là gì
UNESCO (viết tắt của United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization) là tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiêp quốc
Trang 21UNESCO được thành lập ngày 16/11/1945 với việc ký kết Công ước thành lập của UNESCO Ngày 4/11/1946, Công ước này được chính thức có hiệu lực với 20 quốc
gia công nhận
UNESCO được tổ chức với 1 Đại hội đồng, 1 Hội đồng chấp hành và 1 Ban Thư ký Đại Hội Đồng gồm các đại diện của các nước thành viên UNESCO (mỗi nước thành viên được chọn cử 5 đại biểu) Hội đồng chấp hành gồm các ủy viên được Đại hội đồng bầu ra trong số các đại biểu được các nước thành viên chọn cử; mỗi ủy viên của Hội đồng chấp hành đại diện cho Chính phủ nước mình Ban Thư
Ký UNESCO gồm có Tổng Giám đốc và số nhân viên được thừa nhận là cần thiết Tổng Giám đốc là viên chức cao nhất của UNESCO
UNESCO có 3 chức năng hoạt động chính, phục vụ cho mục đích của tổ chức, bao gồm:
- Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi; khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn ngữ và hình ảnh
- Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa bằng cách: Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của từng nước; Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ hoặc bất cứ sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội; Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhi toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do
- Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách: Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học, khuyến nghị với các nước hữu quan về các Công ước quốc tế cần thiết; Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí óc, trao đổi quốc
tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa kể cả trao đổi sách báo, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm và mọi tư liệu có ích;
Trang 22Tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc tiếp xúc với các xuất bản phẩm của mỗi nước thông qua các phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp
Tính đến năm 2009, UNESCO có 193 quốc gia thành viên Trụ sở chính đặt tại Paris, Pháp, với hơn 50 văn phòng và một số viện hay trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới Là tổ chức liên chính phủ duy nhất hoạt động trên cơ sở hệ thống các Uỷ ban Quốc gia tại các nước thành viên UNESCO cũng là tổ chức chuyên môn duy nhất trong hệ thống Liên Hợp Quốc có mạng lưới quốc gia và quốc tế gồm các tổ chức của quần chúng hoạt động theo tiêu chí của UNESCO mà được mang tên của UNESCO để hoạt động, đó là các Câu lạc bộ UNESCO, các Trung tâm UNESCO và các Hội UNESCO, tập hợp thành Hiệp hội UNESCO ở các quốc gia, Hiệp hội UNESCO khu vực ở các khu vực địa lý và Hiệp hội UNESCO thế giới
Tuy có đại diện tại từng quốc gia nhưng phương châm hoạt động của UNESCO là không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các quốc gia Một số các dự án nổi bật của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, DSVHPVT của nhân loại
1.2.2 Công ước của UNESCO về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
1.2.2.1 Khái niệm di sản văn hóa
DSVH là một cụm từ, được ghép bởi hai từ: di sản và văn hóa Để định nghĩa
di sản văn hóa là gì, trước tiên, chúng ta tìm hiểu khái niệm văn hóa Về khái niệm văn hóa, từ trước đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, Eduard Bur Tylor, nhà xã hội học về văn hóa người Anh là người đầu tiên cấp cho văn hóa một định nghĩa có thể chấp nhận được một cách rộng rãi: “Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực, thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội”.[32]
Theo Bách khoa toàn thư Pháp, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật cũng như
Trang 23toàn bộ việc tổ chức môi trường của con người, những công cụ, nhà ở…và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó [33]
Bách khoa toàn thư Liên Xô lại chỉ ra định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người, biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra Văn hóa có thể được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể (ví dụ văn hóa cổ đại, văn hóa Maya …) Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con người [34]
Theo Abraham Moles, nhà văn hóa học người Pháp, văn hóa đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người tạo dựng nên trong tiến trình đời sống
xã hội của mình Còn Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO quan niệm rằng, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, trải qua hàng bao nhiêu thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống…mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình…Văn hóa là thuộc tính bản chất của con người (xã hội) Con người vốn là quả tim đích thực của văn hóa, của một nền văn hóa [42] Trong khi đó, UNESCO đã nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này “ Đó là một phức thể - tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm…khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội…Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương
mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng…” [36]
Bên cạnh những định nghĩa trên, một số nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa về văn hóa Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
Trang 24thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [42]
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có VHVT (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày
về ăn, mặc, ở…), có VHPVT (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng
Theo GS Hoàng Trinh, văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị của một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định Văn hóa thể hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, tổ chức xã hội, mức sống, lý tưởng thẩm mỹ… GS Vũ Khiêu lại cho rằng, văn hóa thể hiện trình độ “vun trồng” của con người xã hội…Văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách khỏi giới động vật để khẳng định những đặc tính của con người GS Trần Quốc Vượng lại định nghĩa giản dị về văn hóa như sau: “ Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [25]
Đối với khái niệm di sản, theo cách hiểu thông thường, di sản là sản phẩm của thời trước truyền lại cho đời sau Di sản đi liền với văn hóa làm thành cụm từ
“di sản văn hóa” Văn hóa có thể hiểu khái quát là toàn bộ sự hiểu biết được đúc kết thành hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội, mà xã hội loài người đã đạt được
Trang 25trong quá trình hoạt động thực tiễn Nó có khả năng chi phối, điều tiết đời sống tâm
lý cũng như mọi hành vi, ứng xử của con người và tạo nên bản sắc cho mỗi cộng đồng xã hội Vậy có thể hiểu, DSVH là toàn bộ sản phẩm sáng tạo của con người hàm chứa những giá trị về chân thiện mỹ, thể hiện ra dưới dạng biểu tượng và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Di sản gắn với văn hóa nên cũng mang những đặc trưng của văn hóa, nhưng nó còn chứa đựng cả vốn kinh nghiệm, tri thức của loài người… DSVH mang dấu ấn của thời gian, là vật chứng cho một sự kiện, một nhân vật hay thời kỳ lịch sử nhất định
Cũng có nhiều quan niệm khác nhau về DSVH Ở mỗi quốc gia, khái niệm về DSVH cũng khác nhau Theo Công ước được thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Ðại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 16/11/1972, DSVH là:
- Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu
tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
- Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc,
sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan
- Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Trong khi đó, theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam, DSVH bao gồm DSVHPVT
và DSVHVT; là những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam [38]
Cần phân biệt “di sản văn hóa” và “tài sản văn hóa” DSVH là một thuật ngữ triết học, mang tính trừu tượng, chỉ toàn bộ tạo phẩm văn hóa do thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau Còn “tài sản văn hóa” chỉ những tạo phẩm văn hóa cụ thể, thuộc
về một chủ sở hữu nào đó, là danh từ luật học
Trang 261.2.2.2 Phân loại di sản văn hóa
DSVH là toàn bộ tạo phẩm, chứa đựng trong nó những giá trị mà con người đã tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là thành tựu của thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau
Có nhiều cách phân loại DSVH, mỗi cách cũng chỉ mang tính tương đối nhất định Tuy nhiên, DSVH thường được phân chia một cách khái quát thành DSVT và
DSPVT Theo UNESCO, toàn bộ di sản thế giới có thể chia thành 3 nhóm: Di sản văn hóa (nhân tạo); Di sản thiên nhiên (thiên tạo) và Di sản hỗn hợp (kết hợp giữa thiên tạo và nhân tạo) Tuy nhiên, riêng về DSVH lại được chia thành hai nhóm: Di sản văn hóa vật thể (còn gọi là hữu hình) và Di sản văn hóa phi vật thể (còn gọi là
vô hình) Tính đến năm 2011, theo thống kê của UNESCO, có tất cả 936 di sản
được liệt kê, trong đó có 725 di sản văn hóa, 183 di sản thiên nhiên và 28 di sản hỗn hợp Các di sản này hiện diện tại 153 quốc gia
Theo Luật Di sản văn hóa sửa đổi của Việt Nam, DSVH cũng được chia thành
2 nhóm là DSVT và DSPVT Theo đó, DSVHVT bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Các DSVHVT và DSVHPVT có thể được phân biệt theo nhiều cách khác nhau Nếu như DSVHVT là những hiện vật mang ý nghĩa lịch sử của nhân loại trong quá khứ thì DSVHPVT lại là những truyền thống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những trải nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như DSVHVT mang tính cố định và không thay đổi thì DSVHPVT lại mang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian Nói cách khác, nếu như DSVHVT là di sản chết thì DSVHPVT là di sản sống
Đương nhiên, nội dung các công ước bảo tồn hai loại hình DSVH này là khác nhau Công ước bảo tồn DSVHVT luôn nhấn mạnh tính xác thực và giá trị của hiện vật lịch sử Hay nói cách khác, tiêu chuẩn đánh giá dựa trên sự hiện diện của những cấu trúc lịch sử hoặc sự hiện diện của những đặc điểm đặc trưng của kỷ nguyên trên
di tích Ngược lại, bởi vì các DSVHPVT liên tục thay đổi theo thời gian, nên việc
Trang 27xác định tính xác thực của chúng dựa vào những đặc điểm đặc trưng của một kỷ nguyên nào đó là một việc làm gần như không thể thực hiện được
Hơn nữa, giá trị lớn nhất của các DSVHPVT là ở chỗ các di sản này thể hiện tính đa dạng và bình đẳng của chúng Không thể so sánh và đưa ra kết luận rằng DSVHPVT này quan trọng hơn hay có giá trị hơn di sản phi vật thể DSVHPVT kia Đây chính là điểm khác biệt lớn giữa Công ước 1972 về công tác bảo tồn di sản văn hóa và di sản thiên nhiên của thế giới và Công ước quốc tế 2003 về vấn đề bảo tồn DSVHPVT Trong Công ước năm 1972, điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ hai nói rằng, những hạng mục văn hóa được cộng nhận là DSVH của thế giới phải là những di sản “có giá trị nổi tiếng toàn cầu” Tuy nhiên định nghĩa DSVHPVT trong Công ước quốc tế năm 2003 lại không có tiêu chuẩn đánh giá như vậy Thay vào đó, Công ước quốc tế năm 2003 nói rằng cần phải biên soạn một bản thống kê các DSVHPVT bao gồm hai loại: (1) Danh sách các DSVHPVT đang đứng trước nguy
cơ biến mất và (2) Danh sách các DSVHPVT của nhân loại [35]
Vì một trong những tiêu chí xác định DSVHVT là DSVH của thế giới là “có giá trị nổi tiếng toàn cầu” nên Châu Âu vượt trội về số lượng các DSVH được công nhận Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, khi văn hóa phương Tây đang lan truyền khắp thế giới, thì các nền văn hóa truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ bị biến mất dần Việc bảo tồn DSVHPVT của mỗi quốc gia chính vì vậy là vô cùng quan trọng Tất nhiên, các nước phương Tây cũng đang mất dần nền văn hóa truyền thống, nhưng các nước này chỉ mất đi “những cái cũ”, còn nền văn hóa của họ vẫn liên tục phát triển và làm mới để phù hợp với thời đại Còn ở các nền văn hóa không-phương-Tây thì thay vào nền văn hóa truyền thống đang dần dần biến mất là những diện mạo văn hóa mới mang nguồn gốc Phương Tây Điều này hoàn toàn có thể diễn giải tại sao các quốc gia không-phương-Tây đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn DSVHPVT của dân tộc mình
Trang 281.2.2.3 Nội dung Công ước của UNESCO về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể
Công ước của UNESCO về bảo tồn và phát huy DSVHPVT được thông qua vào ngày 17/10/2003 trong phiên họp thứ 32 của Tổ chức này tại Paris (từ 29/9 đến 17/10/2003) Công ước được xây dựng do tầm quan trọng của DSVHPVT như là động lực chính của đa dạng văn hóa và là một bảo đảm cho sự phát triển bền vững, như đã được nhấn mạnh tại Khuyến nghị của UNESCO về Bảo vệ văn hóa truyền thống và dân gian năm 1989, trong Tuyên bố Toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hóa năm 2001 và trong Tuyên bố Istanbul được Hội nghị bàn tròn các Bộ trưởng Văn hóa lần thứ 3 thông qua năm 2002
Các hoạt động của UNESCO đã ảnh hưởng sâu rộng trong việc tạo ra các văn kiện quy chuẩn cho việc bảo vệ DSVH, đặc biệt là Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa
và Thiên nhiên năm 1972 Cùng với việc xét đến vai trò tối quan trọng của DSVHPVT là yếu tố đưa nhân loại xích lại gần nhau hơn và đảm bảo sự giao lưu và hiểu biết lẫn nhau giữa mọi người đồng thời xét đến việc phải nâng cao nhận thức
về tầm quan trọng của DSVHPVT và việc bảo vệ chúng, UNESCO đã xây dựng Công ước về bảo vệ DSVHPVT
Công ước năm 2003 của UNESCO được chia làm 9 chương, 40 điều với những quy định chặt chẽ về tất cả các vấn đề liên quan đến DSVHPVT Trong đó:
- Chương I: Các điều khoản chung, gồm 3 điều
- Chương II: Các cơ quan của Công ước, gồm 7 điều
- Chương III: Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể ở cấp quốc gia, gồm 5 điều
- Chương IV: Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể ở cấp quốc tế, gồm 3 điều
- Chương V: Hợp tác và hỗ trợ quốc tế, gồm 6 điều
- Chương VI: Quỹ Di sản văn hóa phi vật thể, gồm 4 điều
- Chương VII: Báo cáo, gồm 2 điều
- Chương VIII: Điều khoản chuyển tiếp, gồm 1 điều
- Chương IX: Các điều khoản cuối cùng, gồm 9 điều
Trang 29Trước Công ước này, chưa có một văn kiện ràng buộc đa phương nào cho công tác bảo vệ DSVHPVT Mục đích của Công ước này nhằm bảo vệ DSVHPVT; bảo đảm sự tôn trọng đối với DSVHPVT của các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan; nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế
về tầm quan trọng của DSVHPVT, để từ đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế
1.2.3 Các tiêu chuẩn về Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO
1.2.3.1 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể
Không giống như DSVHVT, DSVHPVT và những người biểu diễn loại hình DSVH này có thể di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác Mỗi DSVHPVT của mỗi quốc gia đều thể hiện sự cùng tồn tại của toàn bộ nhân loại và mang những nét đặc trưng của cộng đồng trong khu vực, nơi tạo ra và lưu truyền DSVH đó DSVHPVT có thể được cộng đồng dân cư địa phương lưu truyền hàng trăm năm nếu không muốn nói là hàng nghìn năm, và mang tính hiện thực lịch sử Đây là một truyền thống được chọn lọc bởi trong quá trình lưu truyền, nó luôn được thay đổi và thích nghi với thời đại Tương tự, truyền thống này cũng mang các đặc trưng của văn hóa khu vực Vì vậy, khi giới thiệu một DSVHPVT của vùng này ở vùng khác thì cần phải giải thích đầy đủ các đặc điểm địa phương của nó để khán giả của các vùng khác có thể lĩnh hội được ý nghĩa của DSVH đó Việc chỉ đơn thuần biểu diễn một DSVHPVT mà không giới thiệu về bối cảnh lịch sử cũng như
xã hội đồng nghĩa với việc chưa quan tâm đúng mức đến DSVH đó
Theo công ước năm 2003 của UNESCO, DSVHPVT được hiểu như sau: “
DSVHPVT được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, nhóm người và trong một số trường hợp là các
cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVHPVT được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
Trang 30và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [35]
Theo định nghĩa trên, DSVHPVT được thể hiện ở những hình thức sau:
- Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương
tiện của DSVHPVT Ví dụ như: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn…Các thể loại ngữ văn kể trên vốn hình thành, tồn tại thông qua hình thức truyền miệng và trí nhớ của nhân dân, nay ở một số vùng, một
số tộc người đã được văn bản hóa Có lẽ trong lĩnh vực ngữ văn dân gian kể trên, việc văn bản hóa truyện cổ, ca dao được thực hiện sớm hơn cả
- Nghệ thuật trình diễn bao gồm các hình thức ca múa nhạc, sân khấu (nghệ
thuật diễn xướng) Đó là hình thức hoạt động của con người thông qua âm thanh, ngôn ngữ, động tác, hành vi….để thông tin về một cái gì đó đến khán giả Diễn xướng dân gian là dạng chủ yếu của văn hóa dân gian Đặc trưng cơ bản của các loại hình diễn xướng dân gian là nghệ thuật gắn với thời gian, tức là hành động và lời nói (lời hát) của người trình diễn theo trình tự thời gian, có trước, có sau, khác với hội họa, điêu khắc, kiến trúc chủ yếu là nghệ thuật không gian
Sau mảng ngữ văn, các hình thức diễn xướng được giới nghiên cứu chú ý sưu tầm, trong đó tiêu biểu nhất là âm nhạc, múa, sân khấu Đối với ngữ văn, người ta tiến hành văn bản hóa, thì với loại hình diễn xướng trong nhiều năm nay, người ta cũng đang nỗ lực vừa kết hợp “văn bản hóa” vừa “băng hình hóa” thông qua các hình thức audio, video Cách “băng hình hóa” đối với diễn xướng dân gian cũng gây tác dụng hai mặt, vừa tích cực vừa tiêu cực Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng xu hướng là đó là tất yếu và bất khả kháng
- Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội: Những tập quán xã hội, tín
ngưỡng và các lễ hội xuất phát từ những hành vi và chuẩn mực xứng xử của con người Đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng Cộng đồng ở đây được hiểu với nhiều phạm vi và mức độ khác nhau như gia đình, dòng họ, làng xã, địa phương, tộc người, quốc gia, trong đó cộng đồng làng xã và gia tộc có vai trò quan trọng hơn cả Điều này càng trở nên quan
Trang 31trọng khi mà trong xã hội cổ truyền của các tộc người, tính cộng đồng luôn là nền tảng và đặc trưng cơ bản của xã hội
Đối với mỗi xã hội, những hành vi ứng xử của con người với môi trường tự nhiên hay xã hội thường được quy chuẩn hóa thành chuẩn mực, rồi từ những chuẩn mực đó, trong những mối quan hệ cụ thể, từng cá nhân biểu hiện ra hành vi ứng xử của mình Tuy nhiên, những chuẩn mực ấy không hoàn toàn cứng nhắc, mà tùy theo những điều kiện cụ thể, nó được vận dụng và thể hiện ra có khi là khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Thí dụ, ứng xử kiểu thân tộc là nền tảng ứng xử xã hội cố truyền theo kiểu “một giọt máu đào hơn ao nước lã” nhưng cũng có khi lại là “bán anh em xa mua láng giềng gần”, hay “không thầy đố mày làm nên” nhưng trong mối quan hệ cụ thể khác lại là “học thày không tày học bạn”…
- Tri thức dân gian và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ: Là toàn
bộ những hiểu biết của cộng đồng về tự nhiên, xã hội và bản thân con người, được tích lũy trong trường kỳ lịch sử qua kinh nghiệm (trải nghiệm) của bản thân cộng đồng đó Tri thức ấy được trao truyền cho các thế hệ kế tiếp thông qua trí nhớ, truyền miệng và thực hành xã hội Nó giúp con người có được những ứng xử thích hợp với môi trường tự nhiên, điều hòa các quan hệ xã hội, những hiểu biết cần thiết trong sản xuất, trong dưỡng sinh và trị bệnh Tri thức dân gian của mỗi cộng đồng tương thích với môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội và trình độ phát triển văn hóa nhất định
Có thể phân chia tri thức dân gian thành 5 nhóm chủ yếu: Tri thức về môi trường tự nhiên, Tri thức về bản thân con người, Tri thức về sản xuất, Tri thức về sáng tạo nghệ thuật, Tri thức về quản lý và ứng xử xã hội
Đây là lĩnh vực VHPVT còn ít được chú ý, tìm hiểu mặc dù nó rất dễ bị tổn thương trong quá trình biến động xã hội, nhất là trong điều kiện xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, việc phân chia 4 lĩnh vực mà ở đó DSVHPVT thể hiện một cách điển hình nhất cũng chỉ mang tính tương đối, mà giữa chúng không có ranh giới rạch ròi, mà thường lệch pha và chồng xếp, giao thoa với nhau Ví dụ giữa ngữ văn dân gian có sự giao thoa với tri thức dân gian, với ứng xử xã hội; cũng có
Trang 32sự giao thoa như vậy giữa diễn xướng dân gian với ứng xử xã hội và tri thức dân gian, nhất là về tri thức nghệ thuật …
Như vậy, DSVHPVT bao hàm toàn bộ những sáng tác, sáng tạo dựa trên cơ
sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, được nhìn nhận như là sự phản ánh sống động những khát vọng về mọi mặt trong cuộc sống của cộng đồng đó, được lưu truyền và biến tấu bằng nhiều phương thức khác nhau như truyền khẩu, mô phỏng, bắt chước…theo thời gian và thông qua một quá trình không ngừng được tái tạo mang tính tập thể rộng rãi Những sáng tác, sáng tạo đó đã xây dựng và hình thành nên một hệ thống các giá trị và chuẩn mực mà dựa trên đó, từng cộng đồng dân tộc tự khẳng định bản sắc văn hóa và xã hội của riêng mình
1.2.3.2 Đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể
Đặc trưng dễ nhận biết nhất của DSVHPVT là nó không tồn tại chủ yếu dưới dạng vật chất (không kể một số hình thức đã được văn bản hóa) mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ và tâm thức con người và chỉ bộc lộ ra thông qua hành vi và hoạt động của con người thông qua một môi trường diễn xướng nhất định Nói cách khác, nếu DSVHVT được khách thể hóa (tức tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người) thì DSVHPVT lại tiềm ẩn trong bản thân con người và thông qua diễn xướng thì các hiện tượng vốn tiềm ẩn ấy mới có thể bộc lộ, thể hiện ra như một hiện tượng văn hóa [1]
Văn hóa nói chung, đặc biệt DSVHPVT đều là của cộng đồng (gia tộc, làng
xã, địa phương, tộc người) nhưng nó tiềm ẩn trong trí nhớ và tâm thức của những con người cụ thể qua sự tiếp nhận và thể hiện của từng con người cụ thể, nên nó mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất rõ rệt Vì vậy, nó vừa mang tính bền chắc (tiềm ẩn trong tâm thức dân tộc), vừa mỏng manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc cuộc sống của một cá nhân với bao may rủi, bất ngờ) Cũng chính vì đặc trưng này, DSVHPVT không chỉ phụ thuộc vào từng cá nhân mà còn phụ thuộc vào các nhóm xã hội khác nhau, mà trước nhất là gia đình, dòng tộc, làng xã; phụ thuộc vào các nhóm tuổi: già trẻ; phụ thuộc vào giới tính …Tính cá nhân và tính nhóm xã
Trang 33hội khiến cho DSVHPVT phong phú và đa dạng hơn nhiều, nói cách khách tính dị bản của nó cao hơn văn hóa vật thể [1]
Khác với đặc điểm đơn nhất, không cùng tồn tại và không thể tái sinh ở một thời gian, không gian khác, không thể phục chế của văn hóa vật thể, bản thân DSVHPVT và truyền khẩu mang đặc điểm vốn có là tính chất sở hữu chung, tính dị bản Vì thế, DSVHPVT cũng có tính chất phổ biến, nhất là ở phương diện truyền
bá và kế thừa Tuy nhiên, cũng giống như các DSVH, DSVHPVT có đặc trưng lịch
sử Đặc trưng lịch sử của DSVH được biểu hiện trên rất nhiều khía cạnh Thứ nhất
là tác dụng minh chính lịch sử của DSVH Thứ hai là những tác dụng chính sử của DSVH và thứ ba là tác dụng bổ sung lịch sử của DSVH
Ngoài ra, DSVHPVT cũng có đặc trưng nghệ thuật Đặc trưng nghệ thuật không nhất định là tất cả của DSVH, nhưng thông thường, phần lớn các DSVH, trong đó cả di sản vật thể và phi vật thể đều tinh xảo, có tính thẩm mỹ và có giá trị nghệ thuật cao [1] UNESCO cũng hết sức coi trọng giá trị nghệ thuật của DSVH Mặc dù có một số di sản văn hóa không có giá trị nghệ thuật nổi bật, nhưng nếu có tính nghệ thuật đều sẽ được chọn là một tiêu chuẩn quan trọng của DSVH Việc xác định tiêu chuẩn lựa chọn này phản ánh nhu cầu thẩm mỹ của xã hội loài người Về khía cạnh ghi chép lịch sử phát triển thẩm mỹ của nhân loại, DSVH đã lấy tính chân thực của cái có thể nghe thấy, có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận thấy của nó để phát huy tác dụng
1.2.3.3 Các tiêu chuẩn về di sản văn hóa phi vật thể
Mục 2, Điều 2 của Công ước phát biểu rằng, DSVHPVT được chuyển giao
từ thế hệ này sang thế hệ khách và rằng nó được cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo và hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục Điều này thực sự quan trọng vì nó đưa ra một số tiêu chí chủ chốt, quy định việc nhận
diện DSVHPVT [35] Theo đó, DSVHPVT phải mang tính truyền thống, đang sống và phải được cộng đồng công nhận, không chỉ vì nó là tài sản của họ mà còn
vì nó quan trọng với bản sắc của họ Điều này không gây ra sự đóng băng các DSVHPVT, mà chúng cần phải mang ý nghĩa bảo vệ những điều kiện tạo thuận lợi
Trang 34cho các cộng đồng xã hội và các nhóm người tiếp tục trình diễn và thực hành, hơn
là đơn thuần bảo vệ các hình thức hoặc chức năng của các biểu đạt của DSVHPVT
Di sản phi vật thể sống được: nó sống trong tâm trí con người Đều đặn theo
định kỳ hoặc trong những dịp đặc biệt, nó được những người nắm giữ tri thức và kỹ năng thực hành, trình diễn và chuyển hóa Thường thì các biểu đạt của DSVHPVT không cần đến hỗ trợ mang tính vật chất Tuy vậy, nếu có thì những hiện vật và địa điểm đó không cần phải có giá trị nổi bật hoặc bao quát Thái độ của những người thực hành và nắm giữ truyền thống đối với các vật thể và không gian này được chi phối bởi những ý tưởng và giá trị Những ý tưởng và giá trị này về cơ bản có sự khác biệt so với ý tưởng và giá trị của những nhà nghiên cứu lịch sử, nhà bảo tồn, sưu tầm nghệ thuật và nhà nhân học
Di sản phi vật thể đồng hành cùng con người: Các loại hình DSVHPVT
thường được tìm thấy ở nhiều phía khác nhau thuộc ranh giới quốc gia, hoặc trong các cộng đồng nhập cư, rải rác khắp nơi trên thế giới Kết hợp cơ sở thực tế là việc nhận dạng các loại hình DSVHPVT này không phải lúc nào cũng dễ dàng Do vậy, trường hợp này đòi hỏi phải có những phương án cụ thể và những cân nhắc về các vấn đề chính trị nhạy cảm
Trong khi đó, theo Nghị định hướng dẫn Luật di sản văn hóa và Luật di sản văn hóa sửa đổi của Việt Nam, tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục DSVHPVT quốc gia như sau:
- Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương
- Phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ
- Có khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài
- Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ
Bên cạnh đó, tiêu chí lựa chọn và trình tự, thủ tục lập hồ sơ DSVHPVT tiêu biểu đề nghị UNESCO đưa vào Danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại và Danh sách DSVHPVT cần bảo vệ khẩn cấp như sau:
- Là DSVHPVT đã được đưa vào Danh mục DSVHPVT quốc gia;
Trang 35- Có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học;
- Thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo và là cơ sở cho sự sáng tạo những
giá trị văn hóa mới;
- Có phạm vi và mức độ ảnh hưởng mang tính quốc gia và quốc tế về lịch sử, văn
hóa, khoa học;
- Đáp ứng tiêu chí lựa chọn của UNESCO
1.2.4 Luật di sản Việt Nam về vấn đề bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa
phi vật thể
Việc có một bộ Luật quy định các điều về di sản văn hóa nhằm bảo vệ các
DSVH nói chung và DSVHPVT nói riêng là điều cần thiết đối với tất cả các quốc
gia Việt Nam không phải là một ngoại lệ Bởi, Luật Di sản văn hoá cũng là một
đảm bảo về mặt pháp lý giúp cho hoạt động hợp tác quốc tế được đẩy mạnh Thực tế, Việt Nam cũng đã xây dựng Luật Di sản văn hóa (DSVH) vào năm
2001, căn cứ vào Hiến pháp năm 1992 Sau quá trình áp dụng, một số điều Luật Di
sản văn hoá năm 2001 không còn phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội
của đất nước Do đó, ngày 18/6/2009, Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 đã thông
qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá năm 2009 Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 1/ 1/2010
Khi xây dựng Luật Di sản văn hóa năm 2000-2001, lúc đầu Ban soạn thảo
của Bộ Văn hóa-Thông tin (bây giờ là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có tổ chức
lấy ý kiến của một số hội khoa học, trong đó có Hội Khoa học lịch sử và các chuyên
gia trên những lĩnh vực liên quan như sử học, khảo cổ học, văn hóa dân gian Đây
là lần đầu tiên, nước ta xây dựng Luật di sản văn hóa Sau 7 năm thực thi (tính đến
năm 2009), Luật DSVH đã bộc lộ một số điểm bất cập, ảnh hưởng tiêu cực đến việc
bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của dân tộc nên dư luận rất đồng tình khi
tiến hành sửa đổi, bổ sung cho sát với thực tế
Tuy nhiên, điều đáng tiếc là khi chuẩn bị Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của luật di sản văn hóa năm 2009, lại tái diễn những khiếm khuyết trong xây dựng
Luật năm 2001 Ban soạn thảo chỉ lấy ý kiến UBND các tỉnh/thành và các Sở
Trang 36VH-TT-DL trong hệ thống ngành dọc của mình, hoàn toàn không tổ chức lấy ý kiến các
cơ quan nghiên cứu khoa học, các hội chuyên ngành và các chuyên gia Điều này góp phần khiến cho Luật DSVH sửa đổi còn nhiều bất cập, gây khó khăn trong quá trình thực hiện và bảo vệ giá trị các di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng
Theo Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể thuộc chương II Chương II gồm 6 điều (từ điều 5 đến điều 10), quy định các khoản liên quan đến vấn đề phát huy các giá trị của DSVHPVT của Việt Nam Cụ thể như sau :
- Điều 5 Tiêu chí lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
- Điều 6 Tiêu chí lựa chọn và trình tự, thủ tục lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc đưa vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp
- Điều 7 Khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu
- Điều 8 Thẩm quyền và thủ tục cấp phép cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam
- Điều 9 Danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú
- Điều 10 Chính sách đãi ngộ đối với Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú
Ở thời điểm năm 2001, nhận thức về DSVHPVT chưa rõ ràng, nên những điều luật còn chung chung, ít tác dụng, trong thực tế vẫn “tha thứ” được Nhưng đến năm 2009, khi công ước quốc tế của UNESCO về DSPVT đã rất phổ cập, Luật sửa đổi vẫn chưa rõ ràng và hết sức chung chung, dẫn đến nhiều bất cập khi Luật được đưa vào thực hiện Chính bởi những bất cập trong Luật Di sản sửa đổi năm 2009 nên nhiều vấn đề di sản không tìm được cách giải quyết thoải đáng, tiêu biểu là những chính sách giành cho các nghệ nhân – những báu vật sống – những người
Trang 37chịu trách nhiệm lưu giữ và truyền đạt di sản cho những thế hệ sau Nhìn chung, Luật Di sản văn hóa Việt Nam chưa thực sự đi vào đời sống di sản và chưa có tác dụng tích cực trong việc bảo tồn di sản
1.2.5 Mối tương quan giữa Công ước UNESCO và Luật Di sản văn hóa Việt Nam
Công ước UNESCO và Luật Di sản Việt Nam đều có điểm chung là đề cập đến các vấn đề về di sản văn hóa, trong đó có các khái niệm, phân loại…cũng như việc đề ra những quy định nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai văn bản này là ở sự rõ ràng, cụ thể và tính khoa học Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2009 của Việt Nam hết sức chung chung với những điều khoản, quy định thậm chí còn gây khó khăn trong quá trình bảo vệ giá trị của di sản Có thể thấy rõ Luật không đề cập đến những biện pháp, trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ DSVHPVT Luật cũng chưa có tính bao quát và có chiều sâu khi đề cập đến DSVHPVT Điều này khiến cho nhận thức của công dân về vấn đề này chưa thực sự xứng tầm
Trong khi đó, một loạt các chính sách của UNESCO về DSVHPVT của thế giới đều mang nhiều hàm ý sâu sắc, dựa trên tinh thần tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp Các chính sách ấy bao gồm những hàm ý sau đây Thứ nhất, thay vì quan niệm DSVHVT là loại hình văn hóa chính, cần phải nhận thức được rằng DSVHPVT cũng có giá trị và tầm quan trọng đối với nhân loại như DSVHVT Thứ hai, do các nước phương Tây sở hữu phần lớn các DSVHVT, nên việc công nhận các DSVHPVT ở các nước không-phương-Tây hiện tại lại được quan tâm nhiều hơn
Các chính sách về VHPVT mới được ban hành đã đưa ra những cách nhìn nhận và đánh giá các DSVH một cách mới mẻ hơn Thay vì nhìn nhận văn hóa theo quan điểm thứ bậc của giá trị và tính cạnh tranh, tất cả các DSVHPVT đều có giá trị riêng và cần phải được đánh giá dưới góc độ tương đối về văn hóa Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu – cha đẻ của khái niệm DSVHPVT, cần phải tìm hiểu
Trang 38về giá trị văn hóa của loại hình này Các DSVHPVT của thế giới cần phải được tìm hiểu và trân trọng ngang bằng với các DSVHVT
Với những điều khoản được quy định chặt chẽ, mục đích của Công ước của UNESCO nhằm bảo vệ DSVHPVT; đảm bảo sự tôn trọng đối với DSVHPVT của các cộng đồng, các nhóm người và các cá nhân có liên quan; nâng cao nhận thức ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế về tầm quan trọng của DSVHPVT, để từ đó đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong lĩnh vực này; tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ quốc
"trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia"
Nhã nhạc (Âm nhạc cung đình) là loại hình âm nhạc chính thống, được xem
là quốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế, lễ của triều đình Các triều đại quân chủ Việt Nam hết sức coi trọng, phát triển Nhã nhạc, và loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của triều đại Các quy định về quy mô dàn nhạc, cách thức diễn xướng, nội dung bài bản của Nhã nhạc đều rất chặt chẽ, phản ánh tính quy củ qua các định chế thẩm mỹ rất cao, có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết lý của chế độ quân chủ đương thời Theo sách sử, Nhã nhạc ra đời vào triều Lý (1010-1225) và hoạt động một cách quy củ vào thời Lê (1427-1788), là loại hình nhạc mang tính chính thống, với quy mô tổ chức chặt chẽ Các tổ chức âm nhạc được thành lập, đặt dưới sự cai quản của các nhạc quan Triều Lê đã định ra các loại nhạc như sau: Giao nhạc, Miếu nhạc, Nhũ tự nhạc, Cứu nhật nguyệt lai trùng nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều
Trang 39nhạc, đại yến nhạc, Cung trung nhạc Song, vào giai đoạn cuối của triều Lê, âm nhạc cung đình dần dần đi vào thời kỳ suy thoái và nhạt phai dần
Đến thời Nguyễn (1802-1945), vào nữa đầu thế kỷ XIX, điều kiện xã hội đã cho phép, âm nhạc cung đình phát triển trở lại Triều đình Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc, gần giống với các thể loại của triều Lê, bao gồm: Giao nhạc: Miếu nhạc: Ngũ tự nhạc: Đại triều nhạc: Thường triều nhạc: Yến nhạc: Cung trung nhạc: Dưới thời Nguyễn, Nhã nhạc được dùng trong các lễ tế đại triều 2 lần/tháng, thường triều 4 lần/tháng: Nam Giao, Tịch Điền, sinh nhật vua và hoàng hậu Tế bất thường: Đăng quang, lễ tang của vua và hoàng hậu, đón tiếp sứ thần Tùy theo từng cuộc tế
lễ mà có các thể loại khác nhau, như đai triều nhạc dùng trong lễ Nguyên đán, Ban sóc Đại yến cửu tấu nhạc dùng trong mừng thọ, chúc thọ, tiếp đãi sứ thần Cung trung nhạc biểu diễn trong trong các cung hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ vua, chúa Ngũ tự nhạc dùng trong tế Xã tắc, Tiên nông Nhã nhạc lúc này có hệ thống bài bản rất phong phú, với hàng trăm nhạc chương (lời ca bằng chữ Hán) Các nhạc chương đều do Bộ Lễ biên soạn phù hợp với từng cuộc lễ của triều đình Từ cơ sở kế thừa các triều đại trước, triều Nguyễn đã cho bổ sung thêm nhiều loại thể nhạc như : Huyền nhạc, Ty trúc tế nhạc, Ty chung, Ty khánh, Ty cổ
Vào cuối thế kỷ XIX, khi đất nước lâm vào nạn ngoại xâm, vai trò của triều đình mờ dần, âm nhạc cung đình cùng các lễ nghi cũng giảm dần Vào cuối thời Nguyễn, chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc (gồm trống, kèn, mõ, bồng, xập xõa) và tiểu nhạc (trống bản, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn tam, địch, tam âm, phách tiền) Ngoài ra, triều đình cho du nhập dàn Quân nhạc của phương Tây, làm cho vai trò của Nhã nhạc càng mờ nhạt thêm
1.2.6.2 Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
Không gian văn hóa CCTN được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu
và phi vật thể nhân loại vào ngày 15/11/2005 Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là
di sản thứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu này
Trang 40Không gian văn hóa CCTN trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như: Ê đê, Ba Na, Mạ, Lặc Không gian văn hóa CCTN bao gồm các yếu tố sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước ), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên, ) v.v Bản sắc văn hoá các dân tộc ít người Tây Nguyên thể hiện đậm đà nhất trong cồng chiêng và sinh hoạt văn hoá cồng chiêng Tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật tạo hình, múa dân gian và ẩm thực dân gian đều thể hiện, gắn bó mật thiết với cồng chiêng (các tượng tròn ở nhà mồ của các dân tộc Tây Nguyên chỉ trở nên đẹp hơn với ngày lễ bỏ mả trong một không gian huyền ảo đầy những tiếng cồng chiêng sâu lắng)
Giá trị nổi bật của Không gian văn hóa CCTN là nơi đây chứa đựng những giá trị sáng tạo mang tầm kiệt tác của nhân loại Chủ nhân của Không gian văn hóa CCTN là đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Cư dân Tây Nguyên không tự đúc được cồng chiêng, nhưng với đôi tai và tâm hồn âm nhạc nhạy cảm họ đã nâng giá trị của một sản phẩm hàng hóa thành một nhạc cụ trình diễn tuyệt vời Trong tay các nghệ sĩ dân gian tài hoa ở cộng đồng, mỗi chiếc chiêng giữ nhiệm vụ một nốt nhạc trong một dàn nhạc, để biểu diễn các bản nhạc chiêng khác nhau Ðồng thời, tùy theo từng dân tộc, họ đã sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau
CCTN giữ vai trò là phương tiện để khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa chung các dân tộc Tây Nguyên cũng như của từng tộc người trên mảnh đất Tây Nguyên Mỗi dân tộc Tây Nguyên có một cách chơi chiêng khác nhau Người dân bình thường ở Tây Nguyên tuy không phải là những chuyên gia âm nhạc, nhưng chỉ cần nghe tiếng chiêng là họ phân biệt được đó là dân tộc nào Âm nhạc của CCTN thể hiện trình độ điêu luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng chế tác